Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi công tác hợp tác quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng, Việt Nam vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trên nhiều lĩnh vực nói chung và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG CHU MAI KHANH
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUỐC TẾ HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƯƠNG CHU MAI KHANH
CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn: PGS, TS Bùi Thành Nam
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ 9
1.1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 9
1.1.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 9
1.1.2 Đối tượng và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 10
1.2 Cơ sở thực tiễn về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 14
1.2.1 Một số hiệp định, cam kết chuyên ngành bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 14
1.2.2.Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của một số nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới 17
1.2.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VIỆT NAM 36
2.1 Nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 36
2.2 Kết quả trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 52
2.2.1 Thành tựu trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 52
2.2.2 Hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế 57 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 61
3.1 Vấn đề đặt ra trong việc xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 61
3.2 Xây dựng mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 64
3.3 Một số giải pháp để chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế 71
3.3.1 Giải pháp về nhận thức 72
3.3.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách 74
3.3.3 Giải pháp thực hiện 75
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASSA ASEAN Social Security Association
Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN
ISSA International Social Security Association
Hiệp hội An sinh xã hội quốc tế
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế, là sự lớn mạnh của hệ thống an sinh
xã hội, đặc biệt là chính sách BHXH, BHYTđã phát huy vai trò trụ cột trong
hệ thống chính sách an sinh xã hội, góp phần vào ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn mình
Ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp về chính sách BHXH,
BHYT Hiến pháp xác định rõ: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật
không làm được việc thì được giúp đỡ Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.” Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký các Sắc Lệnh quy định về chế
độ BHXH, điều kiện nghỉ hưu, quỹ hưu trí, mức hưởng thụ và các cơ quan tổ chức thực hiện chính sách BHXH Đây là những định hướng về chính sách BHXH, BHYT đầu tiên của nước ta, mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc và cao đẹp, thể hiện được tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Xuất phát từ tầm quan trọng của chính sách BHXH, BHYT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã kịp thời ban hành các văn bản để tăng cường lãnh đạo và thực hiện các chế độ BHXH, BHYT trong tình hình mới như: Chỉ thị 15-CT/TW ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thực hiện chính sách BHXH; Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới”;… Đặc biệt, thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH năm 2006, Luật BHYT năm 2008
Do đó, hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 62
Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh
mẽ nên việc thực hiện đường lối và chủ trương của Đảng, chỉ thị và kế hoạch hành động của Chính phủ về hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/7/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, công tác hợp tác quốc tế trên lĩnh vực BHXH, BHYT trong những năm gần đây càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả cao Đồng thời, xuất phát từ yêu cầu thực tế, việc
mở rộng và nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHXH và BHYT
có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi công tác hợp tác quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng, Việt Nam vẫn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức trên nhiều lĩnh vực nói chung và trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT nói riêng.Ngành BHXH là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ thực hiện chính sách về BHXH, BHYT, hướng tới nền
an sinh xã hội bền vững Do đó, Ngành cần phối hợp với một số tổ chức quốc
tế thực hiện các dự án đào tạo, thu hút nguồn lực, xây dựng mô hình dự báo quỹ, xây dựng mạng điện tử,… để đáp ứng yêu cầu phục vụ khách hàng và người dân; đồng thời, cần có những nghiên cứu chuyên sâu để đề xuất mở rộng đối tượng và chính sách tham gia BHXH, BHYT, đặc biệt là chính sách BHXH, BHYT đối với ngườiViệt Nam làm việc ở nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Vì vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài “Chính
sách BHXH, BHYT của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” làm luận
văn Thạc sỹ Quốc tế học, chuyên ngành Quan hệ quốc tế của mình Luận văn tập trung nghiên cứu về những thực trạng và hạn chế của chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập; cũng như đưa ra một số mục tiêu, giải pháp nhằm xây dựng mô hình tổ chức BHXH, BHYT của Việt Nam phù hợp với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 73
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình triển khai đề tài luận văn, tôi đã tham khảo được nhiều tài liệu khoa học, công trình nghiên cứu có giá trị, cụ thể là:
Thứ nhất là các tài liệu nghiên cứu về bảo hiểm nói chung, bảo hiểm
xã hội và bảo hiểm y tế nói riêng
Một là cuốn sách “Understanding the Insurance Industry: An overview
for those working with and in one of the world's most interesting and vital”(Hiểu biết về ngành BHXH: Tổng quan cho những người làm việc và một trong những điều thú vị và quan trọng nhất trên thế giới) của A.M Best
Company(31/10/2014) Đây là tài liệu tổng quan về ngành công nghiệp bảo hiểm Tác giả đi vào tìm hiểu về ngành bảo hiểm để cung cấp một lời giải thích làm thế nào các ngành công nghiệp bảo hiểm hoạt động, tạo ra doanh thu và tạo cơ hội cho người dân của một loạt các tài năng và lợi ích Do vậy, cuốn sách được biên soạn để cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan của ngành công nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là cách thức hoạt động tại Hoa Kỳ
Nó giới thiệu về các ngành công nghiệp bảo hiểm cho sinh viên, nhân viên mới, triển vọng và những ai muốn tìm hiểu thêm về một trong các ngành công nghiệp dịch vụ tài chính lớn của thế giới
Hai là cuốn sách “Insurance for Dummies” (Bảo hiểm cho người mới
bắt đầu) của Jack Hungelmann(09/6/2009).Cuốn sách hướng dẫn và giải thích
tất cả mọi thứ cần biết về quy trình sử dụng bảo hiểm, từ việc nhận được bảo hiểm với mức giá tốt nhất đến việc nộp đơn khiếu nại, và nhiều hơn nữa.Cuốn sách cũng chỉ ra cách thức tìm kiếm bảo hiểm cá nhân hoặc doanh nghiệp tốt nhất, cũng như cách thức làm thế nào để tránh những cạm bẫy phổ biến, giảm chi phí và có được những gì xứng đáng vào thời điểm bồi thường
Ba là cuốn sách “Insurance: Concepts & Coverage” (Bảo hiểm: Khái
niệm và phạm vi) của tác giả Marshall Wilson Reavis III(23/10/2012) Cuốn
sách này cung cấp cách tiếp cận hành động đến các chức năng của ngành
Trang 8Một là, “Đề tài nghiên cứu khoa học chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Hùng Cường (2015) Đề tài
tập trung nghiên cứu những nội dung chung về BHXH và chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Đây là những nội dung làm cơ sở cũng như kinh nghiệm được đúc rút để xem xét về chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phù hợp với thực tế; nội dung, thực trạng về chính sách và thực hiện chính sách BHXH đối với chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, qua đó, đánh giá những nội dung phù hợp và những nguyên nhân đối với từng loại chế độ Đề tài là căn cứ giúp các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu hoàn thiện chính sách trong tương lai
Hai là, cuốn sách “Bảo hiểm xã hội của Nhật Bản và một số gợi ý chính
sách cho Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Hạnh (2014) Công trình đã nêu
những chế độ cơ bản của BHXH của Nhật Bản, xu hướng cải cách trong thực hiện các chế độ BHXH ở Nhật Bản hiện nay; sự tương đồng và khác biệt giữa BHXH Việt Nam với BHXH Nhật Bản Qua đó, đưa ra một số gợi ý về chính sách để hoàn thiện các chế độ BHXH cơ bản của Việt Nam
Ba là, công trình “Hệ thống An sinh xã hội của EU và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Đinh Công Tuấn, (2008), Nhà xuất bản
Khoa học xã hội Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU điển hình như: Anh, Pháp, Đức,… tác giả đã phân tích, đánh giá những thành công và hạn chế của các hệ thống đó, từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 95
Bốn là, cuốn sách “Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cơ bản để
hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy
Ban (2006), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Đề tài đã nghiên cứu tình hình của Việt Nam trong quá trình hình thành hệ thống chính sách, pháp luật BHXH cho phù hợp với cơ chế mới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế -
xã hội lúc bấy giờ
Năm là, tài liệu liên quan đến các luật về BHXH và BHYT ở Việt Nam;
đó là cuốn sách “Bộ luật lao động, tiền lương 2011- 2012 chính sách bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, điều chỉnh tiền lương, tiền công mới nhất” do Nhà
xuất bản Lao động xuất bản vào năm 2011
Sáu là, cuốn sách “Bảo hiểm xã hội: những điều cần biết” do Bộ Lao
động, Thương binh và Xã hội biên soạn, Nhà xuất bản Thống kê ấn hành năm
2001 Cuốn sách này trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến BHXH, về khái niệm, các đặc điểm và các quy định, luật pháp, chính sách của nhà nước liên quan đến BHXH
Bảy là, cuốn sách “Đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội đối với
người lao động” của các tác giả Trần Quang Hùng, Mạc Văn Tiến biên
soạn, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1998 Nội dung của cuốn sách trình bày về chính sách BHXH đối với người lao động, phân tích những ưu điểm và bất cập của chính sách BHXH đã ban hành, từ đó đề xuất các biện pháp và nội dung đổi mới
Những cuốn sách trên là nguồn tài liệu chính mà nghiên cứu này sử dụng Các tài liệu đó đề cập đến các vấn đề chung nhất về bảo hiểm, BHXH, BHYT; các vấn đề về chính sách BHXH của Việt Nam và các vấn đề về chính sách kinh tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Từ việc nghiên cứu và phân tích các kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài, tôi rút ra một số nhận xét sau:
Trang 106
Thứ nhất,BHXH và BHYT là những đối tượng nghiên cứu được nhiều
học giả trong và ngoài nước quan tâm Đã có nhiều công trình tiếng Việt và tiếng nước ngoài được công bố đề cập tới những lĩnh vực này Các công trình này đã tiếp cận BHXH, BHYT với nhiều góc độ khác nhau, đưa ra bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu
Thứ hai, chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam đã được nhiều nhà
khoa học trong nước phân tích, nghiên cứu Số lượng các công trình được xuất bản liên quan tới vấn đề này ngày càng tăng lên trong những năm gần đây, tập trung nhiều vào việc phân tích những ưu, nhược điểm của hệ thống chính sách BHXH, BHYT Việt Nam, qua đó đưa ra những khuyến nghị chính sách để nâng cao hiệu quả chính sách BHXH, BHYT ở nước ta
Thứ ba, dù số lượng công trình nghiên cứu về BHXH, BHYT và chính
sách BHXH, BHYT ở Việt Nam ngày càng nhiều, tuy nhiên, chưa có công trình nào lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu BHXH, BHYT đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế Vì vậy, vấn đề nghiên cứu của luận văn này không bị trùng lặp với công trình nào đã công bố trước đó
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm rõ thực trạng, hạn chế chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam Từ kinh nghiệm quốc tế trong quá trình hội nhập chỉ ra các tác động ảnh hưởng đến một số nhóm đối tượng, chính sách thụ hưởng để từ đó, đề xuất những giải pháp xây dựng chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam tương đồng với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận liên quan đến chính sách BHXH, BHYT
- Mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam
- Tìm hiểu một số kinh nghiệm quốc tế đối với việc xây dựng và thực hiện chính sách BHXH, BHYT
Trang 11b Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y
tế của Việt Nam từ khi có Luật BHXH (2006) và Luật BHYT (2008) đến nay
- Địa bàn khảo sát đánh giá thực trạng chủ yếu là Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan hệ quốc tế
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc
- Phương pháp phân tích văn bản
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp phân tích lợi ích
- Phương pháp phân tích chính sách
- Phương pháp phân tích tác động
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm ba chương với các nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Trang 128
Chương 1 đề cập đến khái niệm, đối tượng, nguyên tắc, chế độ chính sách BHXH, chính sách BHYT của Việt Nam; một số hiệp định, cam kết của Việt Nam về chuyên ngành BHXH, BHYT khi tham gia vào quá trinh hội nhập quốc tế Đồng thời, đưa ra chính sách BHXH, BHYT của một số nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; nêu lên một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách BHXH, BHYT trong các cuộc hội thảo từ một số nước để học hỏi
và áp dụng phù hợp vào Việt Nam Từ đó, có cái nhìn bao quát, tổng thể về an sinh xã hội của Việt Nam và quốc tế
Chương 2: Thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam
Chương 2 nêu lên những nội dung cơ bản của chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam hiện nay; cũng như chỉ ra những thành tựu, hạn chế về chính sách BHXH, BHYT tại Việt Nam Từ đó, có giải pháp cụ thể sao cho trụ cột an sinh xã hội của Việt Nam ngày càng hiện đại và phù hợp với xu hướng của thế giới
Chương 3: Giải pháp xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Chương 3 trình bày một số vấn đề đặt ra trong việc xây dựng chính sách, mô hình chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế từ việc học hỏi kinh nghiệm, lựa chọn và chắt lọc những mô hình tổ chức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam để áp dụng; cũng như nêu ra một số giải pháp về nhận thức, cơ chế chính sách và thực hiện để chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam được đổi mới, tương đồng với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 139
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ CHÍNH
SÁCHBẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ
1.1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
1.1.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Khái niệm
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH – theo Khoản 1 Điều 3 của Luật BHXH quy định
BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia – theo Khoản 1 Điều 2 của Luật BHYT
Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH
Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định
và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định
Trang 14Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT
Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính
Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm
vi quyền lợi của người tham gia BHYT
Chi phí khám, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả
Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
1.1.2 Đối tượng và chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Đối tƣợng:
Điều 2 – Luật BHXH sửa đổi năm 2014 đã bao phủ gần như toàn bộ
người lao động có quan hệ lao động gồm:
Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa
vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng, áp dụng từ ngày 01/01/2018; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân
Trang 1511
dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động quy định tại Luật người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn
Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, áp dụng từ ngày 01/01/2018 Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động
Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH
BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc, tất cả công dân Việt Nam đều
có nghĩa vụ tham gia BHYT, theo Điều 12 của Luật BHYT, các đối tượng tham gia BHYT được chia thành 05 nhóm như sau:
a Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng bao gồm:
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động); Người hoạt động không chuyên trách
ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật
b Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bao gồm:
Trang 1612
Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng; Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc lao động nữ trong thời gian nghỉ chế độ thai sản;
c Nhóm do ngân sách nhà nước đóng bao gồm:
Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;Trẻ em dưới 6 tuổi;Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo và lực lượng
vũ trang (quân đội – công an); Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm trên khoản này;Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm đầu tiên
Trang 1713
Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam
d Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng bao gồm:
Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Học sinh, sinh viên
e Nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình gồm:
Những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các điểm trên
Tất cả thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại mục này phải tham gia bảo hiểm y tế Mức đóng được giảm dần từ thành viên thứ hai trở đi Người thứ hai, ba, tư trở đi đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất từ người thứ năm trở đi mức đóng bằng 40% mức đóng người thứ nhất
luật
Trang 1814
Còn chế độ BHYT là chăm sóc, bảo vệ sức khỏe; khám, chữa bệnh nội, ngoại trú và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh
1.2 Cơ sở thực tiễn về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
1.2.1 Một số hiệp định, cam kết chuyên ngành bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Trong hơn 20 năm xây dựng và phát triển, công tác hội nhập và hợp tác quốc tế luôn được BHXH Việt Nam coi trọng và tích cực thực hiện, phù hợp với những nhiệm vụ của Ngành trong từng thời kỳ Chiến lược Hội nhập quốc
tế đã trở thành chủ trương phát triển của ngành BHXH đến năm 2020 và định hướng 2030 theo Quyết định 146/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo
đó, mục tiêu của hội nhập quốc tế là phát huy tối đa nguồn lực và điều kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam bền vững, hiệu quả, hiện đại; xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách về BHXH, BHYT phù hợp với các chuẩn mực, điều ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên
BHXH Việt Nam được công nhận là thành thành viên chính thức của Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) tại kỳ họp lần thứ 2 Ban Chấp hành ASSA tổ chức ngày 12/9/1998 Đây là diễn đàn an sinh xã hội lớn nhất khu vực Đông Nam Á, với sự tham gia của trên 20 tổ chức an sinh xã hội từ 9 quốc gia thành viên ASEAN (thuộc 10 quốc gia ASEAN)
Từ năm 1999, BHXH Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) Ngay sau đó, BHXH Việt Nam 04 lần đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành ASSA các năm 1999, 2002, 2005 và 2010 Trong nhiệm kỳ 2010 – 2011, BHXH Việt Nam chính thức tiếp nhận chức Chủ tịch luân phiên ASSA Tại thời gian này, BHXH Việt Nam đã xây dựng Chương trình nghị sự hoạt động và chủ trì
02 Hội nghị Ban Chấp hành ASSA lần thứ 27 tại Singapore vào tháng 3/2011
và Hội nghị Ban Chấp hành ASSA lần thứ 28 tại Brunei Darusalam
Trang 1915
BHXH Việt Nam cũng đã chủ trì cải cách tần xuất tổ chức Hội nghị ASSA thường niên theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; tăng cường hợp tác giữa các thành viên ASSA và mở rộng hiệp hội Với nỗ lực, thiện chí và uy tín, BHXH Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đưa quỹ BHXH tới công chức chính phủ Campuchia, Quỹ BHXH cho lao động khu vực tư nhân Campuchia và Cơ quan
An sinh xã hội Myanmar trở thành thành viên của ASSA, hoàn tất mục tiêu mở rộng ASSA đến mọi quốc gia thành viên ASEAN, phù hợp với nguyện vọng và định hướng của Hiệp hội
Nhiệm kỳ chủ tịch này được đánh giá là một trong những mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành công tác đối ngoại của BHXH Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế và mở rộng tầm ảnh hưởng quốc tế của Ngành
BHXH Việt Nam còn là thành viên sáng lập của Diễn đàn Đền bù cho người lao động Châu Á (AWCF)1
Năm 2015, BHXH Việt Nam trở thành thành viên chính thức và đầy đủ của Hiệp hội Xã hội quốc tế (ISSA) Đây là tổ chức hàng đầu thế giới, quy tụ
340 cơ quan Chính phủ và các cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới Khi là thành viên chính thức BHXH Việt Nam sẽ
có cơ hội tham gia các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế để tiếp thu các kinh nghiệm về tăng cường quản lý an sinh xã hội, cũng như sử dụng các dịch
vụ tư vấn, hỗ trợ từ các chuyên gia quản lý và kỹ thuật về an sinh xã hội của các tổ chức thành viên ISSA trên toàn thế giới, giúp Việt Nam có thêm nhiều
cơ hội để nâng cao năng lực cán bộ, hướng đến sự hiệu quả trong quản lý và hoạt động; tăng cường khả năng thích ứng với các quá trình cải cách an sinh
xã hội; nâng cao khả năng hoạt động, hướng tới mở rộng đối tượng tham gia;
1 Diễn đàn Đền bù cho người lao động chấu Á (AWCF) được chính thức thành lập vào tháng 10/2012 tại Hội nghị toàn thể lần thứ nhất của AWCF diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc với sự tham dự của 10 tổ chức thành viên đến từ các quốc gia châu Á Mục tiêu của AWCF là thúc đẩy hợp tác chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức giữa các tổ chức thực hiện chương trình đền bù cho người lao động trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Trang 20hệ hợp tác với các tổ chức an sinh xã hội của các nước và tổ chức quốc tế trên thế giới Đến nay, BHXH Việt Nam đã thiết lập và duy trì mối quan hệ hợp tác với trên 40 đối tác quốc tế như: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO), Cơ quan phát triển năng lực quốc tế Đức (GIZ), Tổ chức Bảo đảm y tế quốc tế Pháp (GIPSI), Cơ quan Hợp tác phát triển Hàn Quốc (KOICA) và các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Bảo đảm Y tế Pháp (GIPSI), Cơ quan Hợp tác quốc tế Đức (GIZ), Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển quốc tế Australia (AusAid), Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA), Cơ quan Phúc lợi và Đền bù cho người lao động Hàn Quốc (COMWELL), Cơ quan Phát triển thương mại Hoa Kỳ (USTDA)
Trong chiến lược hội nhập quốc tế, ngành BHXH đặt mục tiêu đến năm
2030 sẽ hoàn thiện mô hình quản lý BHXH hiện đại, phù hợp với xu hướng của thế giới và bối cảnh dịch chuyển lao động toàn cầu, phục vụ tốt hơn nhu cầu tham gia và thụ hưởng chính sách của người lao động, người sử dụng lao động với những điểm đột phá như: mở rộng đối tượng tham gia, những sửa đổi về chế độ hưu trí hướng đến việc bảo đảm nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng xã hội và cải thiện một bước tình hình tài chính quỹ hưu trí, tử tuất, quỹ BHYT để bảo đảm an sinh xã hội lâu dài cho người dân
Đồng thời, cần hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chính sách BHXH, BHYT phù hợp với các điều ước quốc tế về lĩnh vực BHXH, BHYT
Trang 2117
để tương đồng với quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, nhất
là trong bối cảnh hội nhập và di cư lao động quốc tế là rất lớn, ngành BHXH của Việt Nam đã tiến hành đàm phán với một số nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động nước ngoài khi sinh sống ở Việt Nam, cũng như lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài Đây không chỉ là hội nhập sâu rộng với quốc tế, mà còn là đẩy mạnh hội nhập ngay trong đất nước Việt Nam
1.2.2.Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của một số nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới
Hệ thống an sinh xã hội ở Malaysia
Chính sách an sinh xã hội ở Malaysia được thực hiện từ năm 1951 và vào năm này, Chính phủ ban hành chính sách BHXH với các chế độ hưu trí, tàn tật và tử tuất Người lao động và người sử dụng lao động đóng góp để hình thành quỹ tiết kiệm lao động do Bộ Tài chính quản lý Năm 1969, Malaysia bổ sung hai chế độ BHXH mới là chế độ tai nạn lao động và chế độ mất sức lao động Hệ thống BHXH lúc này chuyển cho Bộ Nguồn lực quản
lý Các chế độ ốm đau, thai sản và trợ cấp thôi việc do người sử dụng lao động trực tiếp chi trả Các chế độ BHXH dài hạn như hưu trí, tàn tật và tử tuất được thực hiện dưới hình thức bắt buộc, với mức đóng góp tương đương nhau giữa người sử dụng lao động và người lao động
Ngoài chính sách BHXH, ở Malaysia còn có chính sách BHYT toàn dân để chăm sóc sức khỏe cộng đồng bằng các dịch vụ y tế giá rẻ do Chính phủ đứng ra tổ chức
Bên cạnh các chính sách BHXH, BHYT, ở Malaysia còn tổ chức các loại hình bảo hiểm thương mại mà trong đó hệ thống bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động được thực hiện bắt buộc để bảo hiểm cho người lao động nước ngoài và người lao động của Malaysia làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức của nước ngoài Hệ thống bảo hiểm này rất phát triển và nguồn quỹ hình thành khá lớn
Trang 2218
Để cứu trợ cho những thành viên trong cộng đồng không may lâm vào những hoàn cảnh éo le, bất hạnh hoặc bị thiên tai, dịch bệnh, Chính phủ Malaysia cũng như Singapore còn tổ chức hình thành quỹ dự phòng Nguồn quỹ này chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nước và do Nhà nước trực tiếp quản lý
Có thể nói, các chính sách an sinh xã hội ở Malaysia được thực hiện khá tốt
và đáp ứng được nguyện vọng của các tầng lớp dân cư Diện bảo vệ ở nước này khá rộng và các mô hình tổ chức quản lý an sinh xã hội rất có hiệu quả
Hệ thống an sinh xã hội của Philippines
Hệ thống an sinh xã hội của Philippines (SSS) là một cơ quan Chính phủ, có hệ thống tổ chức độc lập tự quản thực hiện chính sách theo quy định của pháp luật Hội đồng quản lý là cơ quan hoạch định chính sách của hệ thống an sinh xã hội và có các quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại Luật
An sinh xã hội
Hệ thống an sinh xã hội của Philippines(SSS) có nhiệm vụ đóng góp thực hiện công bằng xã hội và cung cấp một sự bảo trợ có ý nghĩa cho các thành viên và gia đình của họ nhằm chống lại rủi ro về tàn tật, ốm đau, thai sản, tuổi già, tử vong hoặc các phát sinh khác do hậu quả, do mất thu nhập hoặc các gánh nặng tài chính.Mục tiêu của SSS là triển khai chương trình bảo trợ bền vững, toàn dân và công bằng thông qua một hệ thống dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế
Hệ thống an sinh xã hội của Philippines(SSS) đang điều hành hai chương trình cho các thành viên của mình gọi là chương trình An sinh xã hội
và chương trình bồi thường cho người lao động Để các chương trình của SSS
và các dịch vụ có thể tiếp cận được mọi thành viên, SSS đã mở rộng mạng lưới đến 156 văn phòng trên toàn quốc, ngoài ra để phục vụ người lao động Philippines làm việc ở nước ngoài SSS thành lập 14 văn phòng nước ngoài ở tại các nước có tỷ lệ người lao động Philippines làm việc cao
Trang 2319
Đối tượng tham gia bắt buộc với các doanh nghiệp tư nhân, người lao động ở các doanh nghiệp này và lao động thời vụ trong các doanh nghiệp cho đến đối tượng lao động tự do với điều kiện thu nhập hàng tháng tối thiểulà 1.000 Peso/tháng2 Hệ thống an sinh xã hội của Philippines(SSS) cũng cung cấp các dịch vụ cho các đối tượng tự nguyện là những người lao động chuyển dịch, người nội trợ không đi làm, người lao động Philippines ở nước ngoài
Thành viên của SSS được hưởng trợ cấp khi đã có đủ thời gian đóng dưới hình thức trợ cấp tiền mặt và trợ cấp hàng tháng, tai nạn nghề nghiệp hoặc bị chết Các thành viên không đáp ứng đủ thời gian đóng sẽ được hưởng trợ cấp một lần tương đương với quỹ bảo hiểm mà họ đã đóng và sinh lãi, ngoài ra còn có các hình thức khác như hình thức cho vay để đáp ứng nhu cầu tài chính khác của các thành viên Họ có thể hưởng các chính sách tăng lương,
đi vay để mua nhà, đi vay nếu như họ đáp ứng một số yêu cầu nhất định
Hệ thống an sinh xã hội Philippines là một cơ quan độc lập tự quản thực hiện chính sách theo đúng quy định pháp luật Hội đồng Quản lý là cơ quan hoạch định chính sách của hệ thống an sinh xã hội Philippines có các quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại Luật an sinh xã hội
Hội đồng Quản lý an sinh xã hội có quyền trình Tổng thống Philippines
để thông qua sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quy định và quy chế hiện hành, thực hiện các quy chế và điều khoản của Luật An sinh xã hội Thành lập một quỹ
dự phòng cho các thành viên Đây là quỹ tự nguyện của chủ sử dụng lao động
và mọi người lao động, lao động tự do và các đối tượng tham gia tự do khác nhằm chi trả trợ cấp cho các thành viên và gia đình của họ theo các quy định của Tổng thống Philippines Duy trì một quỹ dự phòng cho cán bộ và nhân viên của hệ thống, quỹ này do cán bộ và nhân viên của hệ thống đóng dựa
2 Philippines – Old Age, Disability and Survivors, 2011/asia/philippines.html
Trang 24https://www.ssa.gov/policy/docs/progdesc/ssptw/2010-20
trên thu nhập để chi trả cho họ và người thừa kế của họ theo đúng các quy định của điều khoản Thông qua các đề xuất tái cơ cấu được thanh toán cáckhoản phí trừ các trường hợp chưa đóng phí bảo hiểm, chưa thanh toán vào các khoản nợ trả dần theo đúng quy định của điều khoản
Ngoài ra, Hội đồng quản lý còn cho phép các hợp tác xã và các hiệp hội đăng ký với các cơ quan Chính phủ để làm chức năng như đại lý thu, đảm bảo quyền lợi cho các thành viên của mình, với điều kiện là SSS ủy quyền cho nghiệp đoàn hoặc hiệp hội đó
Hệ thống an sinh xã hội của Thái Lan
Cơ quan an sinh xã hội Thái Lan thuộc Bộ Lao động Thái Lan; có 19 đơn
vị trực thuộc, 113 văn phòng và 05 Trung tâm phục hồi chức năng.Quỹ an sinh xã hội Thái Lan được xây dựng trên cơ sở Luật an sinh xã hội 1990 (sửa đổi năm
1994, 1999) Nguồn thu được hình thành từ đóng góp của chủ sử dụng lao động, người lao động và Chính phủ
Qua quá trình phát triển từ năm 1990 đến nay, quỹ an sinh xã hội Thái Lan thực hiện chi trả 07 chế độ: ốm đau, thai sản, trợ cấp trẻ em, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp Chịu trách nhiệm quản lý quỹ an sinh xã hội là: Ủy ban
An sinh xã hội, Ủy ban Y tế và Ủy ban Khiếu nại
Đối tượng đóng quỹ an sinh xã hội được chia làm 03 nhóm: nhóm bắt buộc, nhóm tự nguyện và nhóm lao động phi chính thức Trong đó, nhóm bắt buộc là lao động trong các doanh nghiệp (có từ 01 lao động trở lên); nhóm tự nguyện là lao động bị chấm dứt việc làm, không được hưởng trợ cấp thất nghiệp; nhóm phi chính thức là lao động tự do từ 15 – 60 tuổi, tham gia trên cơ sở tự nguyện và được nhà nước hỗ trợ một phần đóng
Cơ quan an sinh xã hội Thái Lan còn thực hiện các chế độ bồi dưỡng cho người lao động, theo Luật đền bù của người lao động (1994) Các chế độ bồi thường gồm: các dịch vụ y tế; bồi thường tiền mặt, mất sức lao động; trợ cấp mai táng phí; các dịch vụ phục hồi (phục hồi sức khỏe và đào tạo nghề nghiệp, chi phí
Trang 2521
hoạt động) Quỹ đền bù cho người lao động do Ủy ban Bồi thường và Ủy ban Y tế chịu trách nhiệm quản lý; chủ sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng quỹ này theo tỷ lệ nhất định
BHYT Thái Lan là một trong những hệ thống BHYT phức tạp trong khu vực; được hình thành từ những năm 70 của thế kỷ XX với đối tượng ban đầu là người nghèo, cận nghèo và từng bước mở rộng tới các đối tượng khác Thái Lan bắt đầu triển khai BHYT toàn dân từ năm 1996 Đến năm 2001, Chính phủ Thái Lan chính thức có quyết định về BHYT toàn dân và thực hiện thành công quy định này
Để quản lý BHYT có sự tham gia của 04 bộ: Bộ Tài chính (thực hiện BHYT cho công chức, viên chức và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước), Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội (thực hiện BHYT thông qua cơ quan BHXH cho công nhân và làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước), Bộ Y tế (thực hiện BHYT cho người nghèo và BHYT tự nguyện), Bộ Thương mại (thực hiện bảo hiểm tai nạn giao thông) Việc quản lý phân tán quỹ BHYT gây khó khăn cho việc điều tiết quỹ khi cần thiết, đôi khi còn gây mất công bằng giữa những người tham gia BHYT
Đối tượng BHYT cho công chức bao gồm: công chức, người nghỉ hưu và thân nhân của họ (bố mẹ, vợ chồng, con) Mục đích BHYT là bù đắp một phần quyền lợi cho công chức (những người thiệt thòi nhất ở Thái Lan) Quyền lợi BHYT gồm: chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám, chữa bệnh ngoại trú và điều trị nội trú Phương thức thanh toán theo phí dịch vụ BHYT cho người lao động trong doanh nghiệp gồm người làm công ăn lương trong tất cả các doanh nghiệp cho thuê mướn từ 01 lao động trở lên Mức đóng bằng 4,5% lương, trong đó, mức đóng được chia đều cho chủ sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước3 Phương
3 Đình Thắng, BHYT Thái Lan, http://demo2.tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/bhyt-o-thai-lan-17000, 21/01/2012
Trang 26và theo nhóm chẩn đoán đối với khu vực nội trú bằng 45% quỹ
Sau nhiều nỗ lực nghiên cứu, thí điểm được thực hiện từ năm 1998 và đến năm 2004, Thái Lan đã chính thức trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á triển khai chính sách BHTN bắt buộc trên phạm vi toàn quốc Thái Lan cũng là một trong các quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất khu vực và thế giới Đây là yếu tố thuận lợi cho việc triển khai chương trình BHTN vì số người thất nghiệp hàng năm không cao; trong khi đó, số thu đóng góp ổn định, giúp quỹ BHTN tăng trưởng và chưa năm nào bị thâm hụt tài chính
Người lao động tham gia BHTN có quyền lợi khi đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp gồm: trợ cấp thất nghiệp theo tháng, tư vấn giới thiệu việc làm và tham gia khóa đào tạo nghề khi người thất nghiệp có nhu cầu Việc tham gia BHTN là bắt buộc đối với người lao động làm công ăn lương, có độ tuổi từ
15 đến 60 tuổi, trừ một số trường hợp: nông dân, công chức của các Chính phủ nước ngoài làm việc tại Thái Lan hoặc các tổ chức quốc tế, người lao động thời vụ hay tạm thời, công chức và người lao động của các doanh nghiệp Nhà nước được hưởng chế độ bảo hiểm từ chương trình khác Theo quy định hiện thời, quỹ BHTN được hình thành dựa trên sự đóng góp bắt buộc từ người lao động, chủ sử dụng lao động và hỗ trợ của Chính phủ
Chính sách BHTN ở Thái Lan được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao
là gắn kết chặt chẽ với chính sách dạy nghề và tạo việc làm trong nước, có đặc điểm tương tự như chương trình BHTN của Hàn Quốc và Nhật Bản Được biết
Trang 2723
trong quá trình thiết kế, triển khai chính sách BHTN, Thái Lan đã nhận được sự
hỗ trợ kỹ thuật tích cực từ Tổ chức lao động quốc tế, Ngân hàng thế giới và chuyên gia Nhật Bản
Hệ thống an sinh xã hội của Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hiến pháp của Nhật Bản có quy định
tại Điều 25 như sau: “Mọi công dân đều có quyền hưởng mức sống tối thiểu
lành mạnh và có giáo dục Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, Chính phủ đều cố gắng khuyến khích nâng cao hệ thống an sinh xã hội và y tế công cộng” 4 Với những quy định trên, lúc đầu mục đích của hệ thống an sinh xã hội ở Nhật Bản chủ yếu là giúp người dân nhanh chóng vượt qua những khó khăn sau cuộc chiến, sau đó được mở rộng ra nhiều lĩnh vực An sinh xã hội ở Nhật Bản bao gồm 08 chính sách xã hội có liên quan như: Bảo hiểm sức khỏe
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; Phòng ngừa các bệnh hiểm nghèo như ung thư, AIDS,… Chính sách lương hưu; Trợ cấp thu nhập; Dịch vụ cho người già; Trợ cấp người tàn tật; Hỗ trợ cho trẻ em; Bảo hiểm việc làm và tai nạn lao động
Cơ quan chịu trách nhiệm thực thi và giám sát các chính sách ASXH nói trên là Bộ Lao động, Sức khỏe và Phúc lợi Quá trình triển khai các chính sách diễn ra như sau:
Năm 1961, Nhật Bản ban hành 2 đạo luật: Bảo hiểm sức khỏe phổ thông và xây dựng hệ thống lương hưu phổ thông Hai đạo luật này được coi
là trụ cột cho hệ thống an sinh xã hội lúc bấy giờ Bởi vì đối tượng được bảo
vệ của hai đạo luật này mang tính phổ thông nên rất rộng, nhất là đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu, tối cần thiết của mọi tầng lớp dân cư Cùng với hai đạo luật này là Luật trợ cấp xã hội ra đời trước đó (năm 1946) và Luật bảo hiểm việc làm ra đời năm 1974
4 Hiến pháp Nhật Bản, https://diendancuachungta.com/tai-lieu-tham-khao/hien-phap-nhat-ban/
Trang 2824
Mục đích ra đời hai đạo luật này là nhằm giảm nhẹ nguy cơ khó khăn trong cuộc sống của người dân và nguy cơ thất nghiệp cũng như những khó khăn mà người lao động bị thất nghiệp sẽ gặp phải
Sau năm 1974, chương trình BHXH ở Nhật Bản chính thức được hoàn thiện trên cơ sở 4 đạo luật đã nêu ở trên Chương trình này mang tính bắt buộc đối với người lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở có quan hệ lao động (quan hệ chủ - thợ) Các đối tượng tham gia phải đóng góp vào chương trình BHXH Mức đóng góp tỷ lệ thuận với mức thu nhập của mỗi bên và mỗi người, nhà nước chỉ là người đứng ra bảo trợ
Bên cạnh chương trình BHXH bắt buộc, Nhật Bản còn thực hiện các chương trình khác để đảm bảo an sinh xã hội:
Chương trình trợ cấp công cộng nhằm duy trì mức thu nhập tối thiểu cho người nghèo; các chương trình phúc lợi xã hội giành cho người già, trẻ
em và người tàn tật Để thực hiện được những chương trình này, nguồn tài chính để lấy từ ngân sách nhà nước thông qua các chính sách thuế Các nhà cung cấp dịch vụ để thực hiện chương trình là các bệnh viện, các trung tâm an dưỡng, các trung tâm phục hồi chức năng, có thể của Nhà nước và cũng có thể của tư nhân Tuy nhiên, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ đều chịu sự giám sát của Bộ Lao động, Sức khỏe và Phúc lợi xã hội
Chương trình cứu trợ xã hội nhằm mục đích giúp những người không may gặp phải thiên tai, tai nạn bất ngờ nhanh chóng khắc phục hậu quả Chương trình này được thực hiện bởi quỹ dự phòng do Nhà nước đứng ra thành lập Do tốc độ già hóa trong dân số Nhật Bản diễn ra nhanh chóng, cho nên từ những năm 1990 trở lại đây, Chính phủ Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến hệ thống lương hưu
Việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Nhật Bản được thực hiện rất hài hòa cả ở cấp quốc gia, cấp địa phương và cấp các doanh nghiệp
Trang 2925
Trong điều kiện hiện nay, vấn đề lương hưu luôn là vấn đề nổi cộm nhất trong quá trình thực hiện và tổ chức thực hiện
Nhật Bản còn là quốc gia có hệ thống pháp luật về BHYT từ rất sớm và
có bề dày phát triển, Luật BHYT bắt buộc của Nhật Bản ban hành năm 1992
và là quốc gia châu Á đầu tiên ban hành luật BHYT bắt buộc Đến năm 1938, ban hành Luật BHYT quốc gia, năm 1939, ban hành Luật BHYT cho người lao động và ngư dân Sau đó, đến năm 1961, Nhật Bản thực hiện BHYT toàn dân Đối tượng tham gia BHYT theo quy định của pháp luật Nhật Bản rất rộng, bao gồm những người làm công ăn lương, lao động tự do, nông dân và người không có nghề nghiệp Tuy nhiên, pháp luật BHYT có những quy định phù hợp dành riêng cho từng đối tượng BHYT cho người lao động được thực hiện theo nơi làm việc Và đến năm 1983, tất cả những người cao tuổi đều được Chính phủ tài trợ BHYT Còn đối với người dân vùng nông thôn sẽ được mua BHYT với giá thấp hơn ở thành thị nhưng chất lượng dịch vụ như nhau Như vậy, Luật BHYT Nhật Bản cũng quy định bệnh nhân BHYT phải thực hiện trách nhiệm cùng chi trả Quy định này nhằm tăng thêm chi phí cho quỹ BHYT, cũng như hạn chế sự lạm dụng quỹ từ phía người thụ hưởng
BHYT ở Nhật Bản được chia thành 02 loại: BHYT quốc dân và BHYT của cơ quan dành cho nhân viên công ty, xí nghiệp Luật pháp Nhật Bản cũng quy định rõ người dân phải tham gia một trong hai loại bảo hiểm trên (kể cả những người định cư ở Nhật và người nước ngoài có thời hạn visa dài hơn 1 năm)
Khi có thẻ BHYT, những lúc cần chữa trị bệnh, thương tật đều được hỗ trợ từ 70 – 80% chi phí (tùy thuộc vào từng đối tượng)5 Ngoài ra, còn có các khoản được hỗ trợ về mai táng phí, trợ cấp sinh đẻ chi trả một lần, trợ cấp điều trị,…
5 Nhật Bản: Bảo hiểm y tế quốc gia,
http://nhatban.wikia.com/wiki/B%E1%BA%A3o_hi%E1%BB%83m_y_t%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_gia
Trang 3026
Hệ thống an sinh xã hội của Đức:
Hệ thống an sinh xã hội của Đức chủ yếu thực hiện theo mô hình Bismarck – lấy BHXH làm nòng cốt để thực hiện chính sách BHXH cho mọi người dân.Hệ thống BHXH ở Đức thể hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ”, thanh toán bảo hiểm trên nguyên tắc phụ thuộc Trong đó, thế hệ lao động trẻ đóng những khoản tài chính để cung cấp bảo hiểm hưu trí cho thế hệ già Đối tượng đóng góp chủ yếu là cá nhân người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Các hình thức an sinh xã hội cơ bản: BHYT và dự phòng bệnh tật
BHYT được thực hiện ở Đức từ năm 1883 và là một loại bảo hiểm bắt buộc Đối tượng hưởng BHYT bắt buộc là toàn thể người dân sống ở Đức: Đầu tiên, toàn thể công nhân, nhân viên đều có nghĩa vụ bảo hiểm, khi thu nhập hàng tháng của họ không vượt quá giới hạn nghĩa vụ bảo hiểm Sau đó, nông dân và các thành viên gia đình giúp việc, các nghệ sỹ và người xuất bản, người thất nghiệp, người tàn tật,người nghỉ hưu, sinh viên và những người đang học nghề thực hành Đối với những người không có nghĩa vụ bảo hiểm thì có thể tham gia bảo hiểm tự nguyện
BHYT bắt buộc phân thành các loại quỹ gồm: quỹ BHYT địa phương, quỹ BHYT doanh nghiệp, quỹ BHYT thủ công nghiệp, quỹ BHYT nhỏ, quỹ BHYT nông nghiệp và quỹ BHYT bồi thường
a Bảo hiểm tai nạn
Bảo hiểm tai nạn được thực hiện tại Đức năm 1894 với nhiệm vụ bảo hiểm cho các công nhân và viên chức chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp trong trường hợp có tai nạn lao động xảy ra Cơ quan quản lý và thực hiện bảo hiểm tai nạn là các hiệp hội chuyên nghiệp với hai chức năng chính là: Kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp với mục đích phòng tránh tai nạn Trong trường hợp mục đích cải thiện an toàn lao động không đạt được thì có thể áp dụng các biện pháp xử lý như phạt vàtruy tố trước pháp luật
Đối tượng được bảo hiểm là những công nhân và viên chức, cũng như nông dân, công dân làm việc tại nhà, các diễn viên, nghệ sỹ, những người lao động nghệ
Trang 3127
thuật và các doanh nghiệp nhỏ nhất định Những người được bảo hiểm còn là những người tù có năng lực lao động, những người cứu sống người khác, những người hiến máu và những người cứu nạn, những người tự vệ do bị tấn công phi pháp và những người cùng trợ giúp khi theo dõi hay bắt giữ một cá nhân bị tình nghi là phạm tội Ngoài ra, trẻ em gửi ở nhà trẻ, học sinh phổ thông, những người học nghề khi đào tạo nghề, các giáo viên cũng như các sinh viên trong khi đào tạo
và tiếp tục đào tạo tại các trường đại học
Các tổ chức có thẩm quyền bảo hiểm tai nạn là các hợp tác xã thủ công nghiệp và nông nghiệp được phân chia theo lĩnh vực ngành nghể và các tổ chức bảo hiểm cộng đồng
b Bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí lần đầu tiên được đưa vào hệ thống BHXH vào năm
1889 và cải cách nhiều lần trong quá trình thực hiện.Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm hưu trí gồm những người lao động, kể cả những người học việc
và người đi học Ngoài ra, những người lao động tự do, nội trợ, ngư dân ven biển, huấn luyện viên, ca sĩ, nghệ sĩ, thợ thủ công, y tá, y sĩ,… cũng là đối tượng của loại hình bảo hiểm này Ông bà, bố mẹ nuôi con không đi làm cũng được hưởng loại bảo hiểm này trong thời gian nuôi con theo luật định Bảo hiểm hưu trí cũng được áp dụng đối với những người được nhận trợ cấp ốm đau, trợ cấp thương tật, trợ cấp thất nghiệp, những người phục vụ trong quân đội và người thực hiện công vụ Ngoài ra, những người tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí gồm công dân quốc tịch Đức sinh sống và làm việc ở nước ngoài, người nước ngoài sinh sống tại Đức,…
Bảo hiểm hưu trí đem lại những biện pháp để duy trì bảo vệ và phục hồi khả năng lao động và trợ cấp về hưu cho các trường hợp giảm khả năng lao động hoặc trợ cấp cho thân nhân của người quá cố Các biện pháp bảo vệ
và phục hồi khả năng lao động ưu tiên hơn so với các khoản trợ cấp về hưu
c Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 3228
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời từ năm 1927 và đến năm 1952 mới chính thức đi vào hoạt động và tiếp tục hoàn thiện.Đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tất cả những người lao động trên cơ sở hợp đồng như: công nhân, nhân viên hoặc những người học nghề,…
d Bảo hiểm chăm sóc
Bảo hiểm chăm sóc được đưa vào thành Luật từ năm 1994 và đi vào hoạt động vào tháng 7/1996.Tất cả các công dân phải có nghĩa vụ tham gia đóng bảo hiểm chăm sóc và tất cả các thành viên của BHYT bắt buộc đều có nghĩa vụ đóng bảo hiểm chăm sóc Những người chồng hoặc vợ không đi làm
và con cái đều được đóng bảo hiểm mà không phải đóng phí Đối với những người dân không được đóng bảo hiểm theo diện BHYT bắt buộc thì phải có nghĩa vụ chứng minh họ có tham gia mua bảo hiểm chăm sóc tư nhân với hình thức và quy mô tương tự.Các quỹ chăm sóc được quản lý trong hệ thống quỹ y tế bắt buộc có thẩm quyền đối với bảo hiểm chăm sóc bắt buộc, nhưng độc lập về tài chính với BHYT bắt buộc
e Trợ cấp xã hội
Trong mô hình phúc lợi xã hội của Đức, cơ chế trợ cấp xã hội đóng một vai trò cơ bản Cơ chế xã hội ở Đức ra đời từ đầu thập kỷ 1960 dưới Đạo luật Liên bang về bảo trợ xã hội, nhằm mục đích đảm bảo cho tất cả người dân một mức thu nhập tối thiểu và trợ giúp những trường hợp đặc biệt Cơ chế gồm 02 hình thức: trợ giúp chung và trợ giúp những người đặc biệt khó khăn
Trợ giúp cho những người đặc biệt là sự giúp đỡ thường dành cho những người bệnh, người già, người không có BHYT hoặc những người thuộc các hình thức khác nhau nhưng có nhu cầu đặc biệt Còn trợ giúp chung dành để thanh toán trong các giai đoạn không giới hạn, nhằm đảm bảo cho mức sống tối thiểu
Hệ thống bảo trợ xã hội là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách an sinh xã hội ở Đức, góp phần ổn định cuộc sống của hàng triệu
Trang 33 Hệ thống an sinh xã hội của Pháp
Tại Pháp, hệ thống an sinh xã hội được phát triển từ năm1945 và đến tận cuối thập kỷ 1970 mô hình an sinh xã hội của Pháp vẫn áp dụng chủ yếu theo mô hình Bismarck (giống Đức)
Mô hình nhà nước phúc lợi của Pháp là mô hình điển hình cho hệ thống an sinh xã hội kiểu bảo thủ Pháp là điển hình kiên trì chính sách hỗ trợ chăm sóc trẻ
em và chính sách đối với trẻ em trước độ tuổi đến trường, trong đó, phụ nữ được hưởng mức độ trợ cấp an sinh rất cao trong thời kỳ con nhỏ.Vào cuối thập kỷ
1990, an sinh dành cho người về hưu mới bắt đầu được chú trọng nhiều hơn
Trong vấn đề về hưu trí, Chính phủ đã phê chuẩn việc sửa đổi dự luật an sinh xã hội năm 2002 thiết lập năng lực pháp lý cho việc trả lương đầy đủ cho người lao động dưới 60 tuổi và có trên 40 năm đóng góp
Các chương trình an sinh xã hội ở Pháp gồm:
Đối tượng được hưởng là tất cả những người lao động Người về hưu
và các nhóm người lao động cũng được hưởng lợi ích y tế Các hệ thống đặc biệt được dành cho những người làm nông nghiệp, tăng lữ, khai mỏ, đường sắt, dịch vụ công cộng, những người lao động ở khu vực công cộng, ngư dân, lao động bán nông nghiệp, lao động nông nghiệp làm nửa ngày
b Bảo hiểm hưu trí và trợ cấp tuổi già
Trang 3430
Bảo hiểm hưu trí được thực hiện dựa trên văn bản thành luật vào năm
1910 và được sửa đổi qua các năm Bảo hiểm hưu trí là một bộ phận của hệ thống BHXH và các hệ thống trợ cấp hưu trí bổ sung bắt buộc
Đối tượng được hưởng là tất cả những người đã cống hiến thời gian và sức lực lao động Các hệ thống hưu trí đặc biệt được dành cho ngành nông nghiệp, khai mỏ, đường sắt, dịch vụ công cộng, lao động công cộng, lao động bán nông nghiệp, lao động bán phi nông nghiệp Ngoài ra, trợ cấp hưu trí còn giành cho những người đứng đầu của một hộ gia đình không còn lao động (chỉ có trợ cấp hưu trí tuổi già), những cá nhân không lao động làm nhiệm vụ chăm sóc một thành viên trong gia đình đang ốm đau, những cá nhân làm việc bên ngoài Trợ cấp hưu trí tuổi già còn giành cho phụ nữ độc thân và giành cho những người phụ nữ chăm sóc người bị bệnh
c Bảo hiểm thương tật khi làm việc
Bảo hiểm thương tật là một bộ phận của hệ thống BHXH của Pháp và
ra đời từ năm 1898.Đối tượng được hưởng là tất cả người lao động, các sinh viên học nghề, những thành viên của tất cả các tổ chức dịch vụ xã hội không được trả lương ổn định Ngoài ra, bảo hiểm thương tật được dành cho ngành nông nghiệp, đường sắt, khai mỏ, dịch vụ công cộng, lao động trong lĩnh vực công cộng, ngư dân, lao động bán nông nghiệp, lao động nông nghiệp làm nửa giờ
d Bảo hiểm thất nghiệp
Luật Bảo hiểm thất nghiệp của Pháp ra đời từ năm 1905, BHTN là một
bộ phận của hệ thống BHXH và hệ thống đoàn kết của Pháp.Đối tượng được hưởng là các cá nhân lao động, trừ những lao động làm trong ngành công cộng được hưởng những quy chế bồi thường từ giới chủ doanh nghiệp Ngoài
ra, còn có các hệ thống BHTN đặc biệt dành cho công nhân xây dựng, công nhân sửa chữa tàu,phi công, công nhân trong nước,…
e Trợ cấp gia đình
Trang 3531
Ở Pháp, trợ cấp gia đình mang tính phổ biến áp dụng chủ yếu cho các gia đình có con và do người chủ cung cấp quỹ Trợ cấp gia đình bắt đầu thực hiện từ năm 1932 và là một lĩnh vực quan trọng trong chính sách an sinh xã hội Pháp.Đối tượng được hưởng là các gia đình sống ở Pháp ít nhất 3 tháng
1.2.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Ở các nước, an sinh xã hội bao gồm: BHXH, BHYT, bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội, trợ cấp gia đình,… nhưng ở Việt Nam, BHXH, BHYT lại được tách riêng với các loại hình an sinh xã hội khác và do BHXH thực hiện diện bao phủ BHXH, BHYT ở các nước cao Một số nước như Malaysia có thêm loại hình bảo hiểm thương mại để bảo đảm cho người lao động nước ngoài và người lao động của Malaysia làm việc trong các doanh nghiệp, các
tổ chức nước ngoài Ở Philippines, cung cấp dịch vụ cho đối tượng tự nguyện
là người lao động dịch chuyển, người lao động Philippines ở nước ngoài
Khi Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế sẽ mang lại nhiều thay đổi tích cực, tuy nhiên, sẽ có nhiều thay đổi về chính sách, thị trường lao động; mở rộng hệ thống an sinh xã hội (thêm các nhóm đối tượng tham gia và thụ hưởng); tăng nguồn thu nhập.Chính vì vậy, chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam cũng cần được nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện để tiến tới nền an sinh xã hội bền vững
Kinh nghiệm quốc tế về chính sách bảo hiểm xã hội
Hệ thống an sinh xã hội tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới đã giúp giảm nghèo và bất bình đẳng bền vững, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Mở rộng bao phủ BHXH cho tất cả mọi người là việc làm cần thiết, tuy nhiên, tại Việt Nam, diện bao phủ BHXH còn ở mức thấp so với các nước trên thế giới Nhiều người lao động chưa được tham gia BHXH và chưa được bảo vệ trước những rủi ro trong quá trình làm việc như: ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp; nhiều người già không có lương hưu phải tự lo hoặc sống phụ thuộc vào con cái; hệ thống các chế độ BHXH còn chưa đa dạng và
Trang 3632
linh hoạt cho nên thiếu hấp dẫn với người dân; hồ sơ, thủ tục thực hiện BHXH còn chưa thuận tiện, đôi khi gây khó khăn cho doanh nghiệp và người lao động
Vì vậy, tại hội thảo quốc tế về “Mở rộng diện bao phủ BHXH – kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam” vào sáng ngày 29/3/2017, đại diện Tổ chức quốc tế ILO cho rằng có 04 phương án để mở rộng diện bao phủ BHXH, đó là tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi đối với nam và nữ theo lộ trình cứ mỗi năm tăng lên một tuổi và bắt đầu thực hiện vào năm 2018; tăng tuổi nghỉ hưu và giảm tỷ lệ thay thế (tính bằng tỷ số giữa người thụ hưởng và người tham gia BHXH) bằng cách sử dụng tỷ lệ tích lũy ở mức 1,5% mức đóng BHXH trong vòng 40 năm; tăng tuổi nghỉ hưu, giảm tỷ lệ thay thế bằng cách
áp dụng tỷ lệ tích lũy ở mức 1% đối với mỗi năm đóng góp, áp dụng cơ chế hưu trí toàn dân ở mức 50% lương tối thiểu khu vực Nhà nước; tăng tuổi nghỉ hưu, áp dụng mô hình tài khoản cá nhân tượng trưng trong vòng 40 năm chuyển đổi từ năm 2018
Mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp áp dụng từ 01/01/2018
Kinh nghiệm quốc tế về chính sách bảo hiểm y tế
Trên thế giới, hệ thống BHYT ở các nước có những điểm khác nhau nhưng đều mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc nhằm đảm bảo cho mọi người dân đều được chăm sóc và nâng cao sức khỏe Trong
đó, việc tiến tới BHYT toàn dân là mục tiêu hướng tới của tất cả nước khi thực hiện chính sách BHYT
Nhiều quốc gia khu vực châu Á đã thực hiện BHYT toàn dân từ vài năm đến vài chục năm nay, với độ bao phủ 80 – 90% dân số như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan tương ứng với các năm 1961, 1989 và 2002 Có thể thấy
Trang 37y tế toàn diện, liên tục Đây chính là sự thể hiện rất rõ định hướng xã hội chủ nghĩa, thực sự vì người dân, để từng người dân Việt Nam đều được theo dõi sức khỏe và khám sức khỏe định kỳ là mơ ước lớn nhất của rất nhiều anh em làm trong ngành bảo hiểm, y tế và cả nhân dân
Do đó, việc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là kinh nghiệm của các nước trong khu vực, có những nét tương đồng về chính sách và tổ chức thực hiện là điều rất cần thiết để Việt Nam tiến nhanh hơn đến đích BHYT toàn dân, phấn đấu đến năm 2020 có trên 90% dân số tham gia BHYT
Ngày 15/3/2012, tại Hội thảo Tiến tới BHYT toàn dân, hiện trạng Việt Nam và kinh nghiệm Hàn Quốc, ông Yang In-Seok đến từ cơ quan BHYT Hàn Quốc cho biết: Việc thực hiện BHYT ở Hàn Quốc được bắt đầu từ năm
1977, đi trước Việt Nam 15 năm và cũng phải mất 12 năm để Hàn Quốc đạt được mức bao phủ BHYT toàn dân, với 90,39% người dân tham gia BHYT năm 1989
Bên cạnh đó, quyền lợi của người tham gia BHYT ở Hàn Quốc khá toàn diện và được áp dụng như nhau với mọi thành viên, không phụ thuộc vào mức đóng mà người dân sẽ được đảm bảo quyền lợi theo 02 hình thức chi trả,
đó là chi trả bằng hiện vật như chi trả cho chăm sóc sức khỏe khám, điều trị,
Trang 3834
xét nghiệm, thuốc, vật tư, nằm viện,…và chi trả bằng tiền mặt như chi phí y
tế, chế độ giảm tối đa chi phí nộp bảo hiểm,… Tỷ lệ cùng chi trả của Hàn Quốc không xác định theo đối tượng như Việt Nam mà xác định theo hình thức điều trị, với điều trị nội trú, người tham gia BHYT cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh; với điều trị ngoại trú, cùng chi trả từ 30 đến 60% chi phí tùy theo từng cơ sở y tế Khác với Việt Nam đưa ra giới hạn trần thanh toán, Hàn Quốc đưa ra giới hạn trần cùng chi trả, những bệnh nhân có chi phí khám, chữa bệnh một năm lên tới 04 triệu won (gần 90 triệu Việt Nam đồng) thì không phải cùng chi trả, góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế cho những người mắc bệnh nan y, điều trị chi phí lớn Đồng thời, hệ thống bệnh viện cung cấp dịch vụ đến 70% là y tế tư nhân và chia làm 02 tuyến khám chữa bệnh Cùng với việc phát triển hệ thống công nghệ thông tin vào quản lý trong lĩnh vực BHYT ở tuyến khám, chữa bệnh ban đầu, người tham gia BHYT Hàn Quốc có thể đến bất cứ cơ sở y tế nào khám và điều trị đều được hưởng quyền lợi Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các cơ sở, mỗi cơ sở y tế đều phải nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực phục vụ để không bị mất bệnh nhân Chính sách tiến tới BHYT toàn dân của Hàn Quốc thực sự đã phát huy tác dụng tích cực, góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người dân đất nước
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để đặt mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân như sau: Trước hết là việc hoàn thiện hệ thống chính trị trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đổi mới chính sách tài chính y tế, bảo đảm ngân sách đóng BHYT cho nhóm đối tượng chính sách và những người yếu thế trong xã hội Hoàn thiện chính sách hưởng BHYT, nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh; xây dựng lộ trình đóng cho từng nhóm đối tượng, trong đó, có cả đối tượng tham gia BHYT là những người nước ngoài Từ đó, mở rộng đối
Trang 3935
tượng bền vững để thực hiện BHYT toàn dân Để làm được điều đó, ngành BHXH của Việt Nam cần thực hiện:
Một là, thay đổi nhận thức của người đân về BHYT thông qua các chế
tài và các kênh truyền thông đại chúng Thực hiện BHYT bắt buộc toàn diện,
có chế tài cưỡng chế, xử phạt đối với những hành vi trốn tránh tham gia Đồng thời, tăng cường thông tin, truyên truyền, vận động với nhiều hình thức phù hợp cho từng nhóm đối tượng
Hai là, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng dịch vụ y tế Xây dựng
và triển khai chương trình đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh; đưa ra tiêu chuẩn chất lượng đối với cơ sở khám, chữa bệnh BHYT Tăng cường đầu tư
và nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở
Ba là, phát triển công nghệ thông tin, không ngừng đẩy mạnh ứng dụng
tin học trong quản lý thu, chi trả khám, chữa bệnh BHYT
Tiểu kết: Trong chương này, đề tài đã đề cập và phân tích những lý luận cơ
bản về chính sách BHXH, chính sách BHYT của Việt Nam, cũng như một số hiệp định, cam kết của Việt Nam về chuyên ngành BHXH, BHYT khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Mặc dù có những cơ chế hoạt động, đối tượng thụ hưởng, mức đóng góp,… khác nhau nhưng hai loại bảo hiểm này
có mối liên hệ mật thiết, hỗ trợ cho nhau, đảm bảo cho đông đảo người dân có thể nhận được những lợi ích thiết thực từ chính sách an sinh xã hội của Nhà
nước
Bên cạnh đó, nội dung chương 1 cũng nghiên cứu chính sách BHXH, BHYT của một số nước trong khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Philippnines, Thái Lan) và trên thế giới (Nhật Bản, Đức, Pháp) Điều đó giúp luận văn có góc nhìn rộng, bao quát, qua đó, nêu lên một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách BHXH, BHYT có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT của Việt Nam
Trang 4036
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO
HIỂM Y TẾ CỦA VIỆT NAM
2.1 Nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Hệ thống an sinh xã hội là hệ thống gồm nhiều chế độ, chính sách với vai trò, chức năng và phạm vi hoạt động riêng, mang tính kết hợp nhằm tạo ra một mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp, bao trùm toàn bộ dân cư của một quốc gia Tuy nhiên, trong hệ thống an sinh xã hội, chính sách BHXH, BHYT
là những chính sách quan trọng, giữ vai trò trụ cột và bền vững nhất Nó tác động đến đời sống kinh tế và chăm sóc sức khỏe của hầu hết các thành viên trong xã hội
Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có
sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, cũng như góp phần bảo đảm an toàn xã hội
BHXH xuất hiện từ hàng trăm năm trước đây khi kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển Để có được sự phát triển hiện nay, BHXH đã trải qua một quá trình phát triển và thay đổi cả về mô hình và nội dung thực hiện Ngay từ những năm 50 của thế kỷ 19 dưới thời Tể tướng Bismarck của nước Đức cổ, tính xã hội của BHXH đã được chú ý đến Vào năm 1850, chế độ bảo hiểm đầu tiên được thực hiện là chế độ ốm đau, nhằm san sẻ rủi ro giữa những người lao động khi một số người trong số họ không may bị ốm đau phải tạm thời nghỉ việc Kể từ đó các xu hướng phát triển của BHXH được mở rộng dần và ý tưởng bảo vệ người lao động nghèo, thu nhập thấp cũng được hình thành Đặc biệt, từ cuối thế kỷ 19, BHXH đã phát triển mạnh mẽ ở các nước công nghiệp của châu Âu và sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã được thực