không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật và ưu tiên than
Trang 1Một số vấn đề về xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
Phân nhóm: Dân sự
Mã tài liệu:
Tác giả/Chủ biên: TS Phan Hữu Thư
Nhà xuất bản: Tạp chí Luật học - Số 3/1997
Năm phát hành: 1997
Vật mang tin: Báo, Tạp chí
Nơi lưu trữ: Thư viện Học viện
Hình thức khai thác: Đọc tại chỗ
Download:
I Thực trạng vay vốn bằng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tại Ngân hàng
Trong những năm qua, khi cả nước bước sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc các đơn vị kinh tê, các cá nhân vay vốn để kinh doanh đã tạo nên một bầu không khí sôi động tại các Ngân hàng Tuy nhiên, qua một thời gian kinh doanh, do nhiều nguyên nhân khác nhau, không phải tất cả các đơn vị hoặc các cá nhân này đều trụ được với nền kinh tế thị trường Nhiều doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh bị lỗ, không đủ khả năng trả các khoản nợ đến hạn dẫn đến việc các Ngân hàng lâm vào tình trạng bị các con nợ gây phiền phức
Nói chung, khi vay vốn tại ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc cá nhân đều có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh tại ngân hàng Tuy nhiên, khi đến hạn phải trả nợ thì vấn đề xử lý các tài sản này có nhiều khó khăn
Có trường hợp Giám đốc doanh nghiệp cố tình tìm mọi cách để lẩn tránh việc trả nợ hoặc cố tình dây dưa kéo dài việc trả nợ (Vụ ngân hàng công thương Ba Đình-ICB kiện C và E) có trường hợp, con nợ bỏ trốn (Vụ Công ty TNHH Hoa Châu), có trường hợp con nợ dùng tài sản đã thế chấp tại ngân hàng để thế chấp tại một vài đơn vị khác nữa Có trường hợp, ngân hàng muốn xử
lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nhưng lại gặp khó khăn trong vấn đề thủ tục xử lý Có trường hợp tài sản thế chấp, hoặc bảo lãnh lại bị bán cho người khác (Vụ Công ty TNHH Hoa Châu)Ẫ Tất cả những trường hợp trên dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được vốn, gây rất nhiều khó khăn cho việc kinh doanh của ngân hàng
II Các quy định của pháp luật về thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh để vay vốn ngân hàng
Trước khi Bộ luật dân sự (BLDS) có hiệu lực pháp luật (01/7/1996) đã có quyết định số
156/QĐ-NH ngày 18/11/1989 của Tổng Giám đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy định về thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng, Quyết định số 185/QĐ-NH5 ngày 6/9/1994 của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế về dịch vụ cầm cố Từ ngày 01/7/1996, BLDS với các quy định về biệt tài sản dùng để thế chấp và tài sản dùng để cầm cố (Điều 329, Điều 346 BLDS) có hiệu lực pháp luật nên các quy định này không còn phù hợp nữa
Thống đốc ngân hàng Nhà nước cũng đã có quyết định số 217/QĐ-NH1 ngày 17/8/1996 thay thế quyết định số 156/QĐ-NH ngày 18/11/1989 Quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng được ban hành kèm theo quyết định này
BLDS dành một phần tương đối lớn để quy định về cầm cố (từ Điều 329-345), về thế chấp (từ Điều 346-362) và bảo lãnh (từ Điều 366-376) Tuy nhiên, các quy định của BLDS dù sao cũng chỉ dừng lại ở những điểm chung nhất và mang tính cơ sở do đó, quyết định số 217/QĐ-NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã hướng dẫn chi tiết về vấn đề này
BLDS phân biệt tài sản được dùng để thế chấp với tài sản được dùng để cầm cố Theo Điều 329 BLDS thì tài sản được cầm cố phải là động sản thuộc sở hữu của bên cầm cố tài sản Điều 346 BLDS quy định thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền
Các Điều 332, 334, 335, 351, 352, 353, 354, 371, 372 BLDS đã quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố, bên bảo lãnh Các quy định này đều thể hiện một quan điểm nhất quán của nhà làm luật là khẳng định cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh là những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ một cách hữu hiệu nhất Các quy định về quyền của bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp cho thuê trong trường hợp bên cầm cố, bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện
Trang 2không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố, bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật và ưu tiên thanh toán
III Xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
Điều 341 và Điều 359 BLDS quy định về phương thức xử lý tài sản cầm cố và thế chấp Điều 341 BLDS quy định là khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thỏa thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức
do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ Bên nhận cầm cố được
ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán đấu giá tài sản Điều 359 BLDS cũng quy định rõ là trong trường hợp đã đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ
mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Tuy nhiên, BLDS không cụ thể hóa các phương thức xử lý này Ví dụ, BLDS chỉ quy định "hoặc được bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ" hoặc "có quyền yêu cầu bán đấu giá" còn việc tổ chức bán đấu giá này như thế nào thì Bộ luật không đề cập
Như vậy, BLDS đã quy định những nét chung nhất nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cho vay vốn Quy định thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành kèm theo quyết định số 217/QĐ-NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cụ thể hóa các quy định liên quan đến việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp và bảo lãnh
Khoản a và khoản b Điều 131 quy chế trên quy định về xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh:
"xử lý tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh theo các phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng như: gán nợ cho bên thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản đó; tự đấu giá hoặc đề nghị
cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá
Đối với những tài sản của Doanh nghiệp Nhà nước mà pháp luật có quy định phải được cơ quan
có thẩm quyền cho phép thế chấp, cầm cố theo quy định của Chính phủ thì khi xử lý phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền đó
Trong trường hợp có tranh chấp thì các bên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện trước pháp luật"
Như vậy, BLDS không đề cập việc tự đấu giá như trong quy chế ban hành kèm theo quyết định
số 217/QĐ-NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam Trong quy chế về dịch vụ cầm
cố ban hành kèm theo quyết định số 185/QĐ-NH5 ngày 6/9/1994 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng không nói về việc tự đấu giá mà chỉ nói trong Điều 16 rằng việc bán tài sản cầm cố được thực hiện theo phương thức đấu giá công khai và theo đúng quy định của pháp luật
Rõ ràng, so với các văn bản khác cùng nói về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp hiện hành thì Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NH1 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam là đã cụ thể hóa quyền của người nhận cầm cố, thế chấp và điều đó tạo điều kiện bảo đảm thực hiện nghĩa vụ một cách có hiệu qủa hơn
Tuy vậy, kể cả Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NH1 cũng không đưa ra hình thức tổ chức đấu giá cụ thể nào Trong trường hợp ngân hàng là bên nhận cầm cố hoặc thế chấp có quyền tự đấu giá thì thành phần của Hội đồng bán đấu giá tài sản bao gồm những thành viên nào? Ngân hàng có quyền tự mình chỉ định thành viên hay bắt buộc phải theo "cơ cấu"? Và nếu trong trường hợp Hội đồng bán đấu giá tài sản được thành lập theo đúng quy định của pháp luật thì Hội đồng đó gồm những ai, do ai quyết định? Thực tiễn vừa qua cho thấy trong trường hợp Hội đồng bán đấu giá phải bắt buộc bao gồm các thành viên luật định thì vai trò của ngân hàng với tư cách là bên nhận cầm cố, thế chấp và đang là chủ nợ đối với bên cầm cố, thế chấp không còn ý nghĩa Thậm chí, trong nhiều trường hợp do bất đồng về định giá giữa các thành viên dẫn đến việc đấu giá bán không phù hợp với giá cả thực tế của tài sản
IV Một vài kiến nghị
Theo Điều 52 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 217/QĐ-NH1 thì Tổng Giám đốc (Giám đốc) các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Công ty tài chính, Quỹ tín dụng nhân dân và chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn trình tự nghiệp vụ cụ thể, hướng dẫn các mẫu hợp đồng thế chấp, cầm cố và tổ
Trang 3chức thực hiện trong hệ thống của mình đúng với quy chế ban hành Do đó, thiết nghĩ nên có sự thống nhất trong cách hiểu các quy định trình bày trong Quy chế để các văn bản hướng dẫn của các đơn vị trên phát huy được hiệu quả
Chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến liên quan đến thủ tục xử lý tài sản cầm cố, thế chấp như sau:
- Nên quy định cụ thể những phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp cụ thể mà các bên được thỏa thuận với nhau trong hợp đồng;
- Nên soạn thảo các hợp đồng mẫu về cầm cố, thế chấp, bảo lãnh trong đó nêu rõ phương thức hai bên thỏa thuận khi xảy ra vi phạm;
- Các hình thức này nếu đã do hai bên thỏa thuận với nhau trong hợp đồng thì khi xảy ra vi phạm, thì hai bên tổ chức thực hiện mà không cần đến sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức khác Ví dụ, hai bên thỏa thuận với nhau về phương thức tự bán đấu giá tài sản để thực hiện nghĩa vụ thì sau khi có vi phạm, bên nhận cầm cố, thế chấp tự đứng ra tổ chức Hội đồng bán đấu giá Hội đồng do hai bên thỏa thuận và hoạt động theo cơ chế công khai, quyết định theo đa
số và quyết định của Hội đồng có hiệu lực thi hành ngay, không cần đến sự can thiệp của Tòa
án, công anẪ
- Nên có văn bản hướng dẫn về thành phần của Hội đồng bán đấu giá để các bên dễ dàng tổ chức lấy việc bán đấu giá Hội đồng có thể chỉ bao gồm những thành viên của ngân hàng như đại diện Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát, Phòng Tài vụ, Phòng tín dụng và đại diện của bên cầm
cố, thế chấp và đại diện của ngân hàng cấp trên Hội đồng quyết định giá bằng cách bỏ phiếu kín trên cơ sở có tham khảo giá cả thị trường và tính theo nguyên tắc cộng chia bình quân;
- Trên cơ sở các hướng dẫn này của các đơn vị theo quy định tại Điều 52 nêu trên, Thống đốc ngân hàng Nhà nước nên có hướng dẫn thống nhất trong toàn quốc