1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

che do bau cu Chế độ bầu cử Thư Viện Tài Liệu Tổng Hợp Com che do bau cu

14 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu hiện của nguyên tắc trong luật bầu cử:  Hiến pháp và các Luật bầu cử hiện nay của nước ta đều qui định : Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,

Trang 1

4 - CHẾ ĐỘ BẦU CỬ

I KN CHẾ ĐỘ BẦU CỬ :

 Bầu cử xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ

 Bầu cử là họat động trong đó nhân dân trong một nước (hoặc địa phuơng) lựa chọn người đại diện

 Bầu cử là chế định pháp luật quan trọng, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành các cơ quan đại diện

 Chế độ bầu cử là một chế định của ngành luật hiến pháp việt nam, bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến tiến trình của cuộc bầu cử để bầu ra một đại biểu dân cử ( từ lúc người công dân được ghi tên trong danh sách cử tri cho đến lúc bỏ lá phiếu vào thùng và xác định kết quả bầu cử ) chia làm ba nhóm:

 Nhóm QPPL liên quan đến việc trao quyền bầu cử cho công dân ví dụ qui định về trường hợp nào được đi bỏ phiếu, trường hợp nào không

 Nhóm qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự của một cuộc bầu cử ( từ phân chia đơn vị bầu cửkhu vực bỏ phiếulập danh sách cử tri3 lần hiệp thương để lập ra danh sách những người ứng cửvận động tranh cửcử tri đi bỏ phiếutính khách quan của bầu cửcông bố, bầu thêm, bầu lại, bổ sung… )

 Nhóm qui phạm xã hội xác định những nguyên tắc chung của một cuộc bầu cử: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín

II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT BẦU CỬ Ở NƯỚC TA :

 Chế độ bầu cử ở nước ta được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân, đánh dấu bằng Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời

về việc mở cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội để “Quốc dân đại hội sẽ có toàn quyền ấn định hiến pháp cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” Điều 2 Sắc lệnh qui định “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường”

 Tiếp đến là Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 ấn định thể lệ tổng tuyển cử Ngay Điều 1 qui định “Ngày 23 tháng 12 năm 1945 sẽ mở cuộc tổng tuyển cử trong toàn cõi Việt Nam dân chủ cộng hoà để bầu đại biểu dự vào quốc dân đại hội” (sau hoãn sang ngày 6/1/1946) Điều 2 Qui định; “tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ ra những người này: 1- Những người điên: những người mà dân địa phương đã công nhận là điên Danh sách những người trong làng hay khu phố do Uỷ ban nhân dân làng hay khu phố ấn định; 2- Những người hành khất chuyên môn, hay là những người do một hội thiện nào nuôi vĩnh viễn Danh sách những người này do Uỷ ban nhân dân làng hay khu phố ấn định; 3- Những người bị can án mà không được hưởng sắc lệnh đại xá của Chính phủ dân chủ cộng hoà

Hiến pháp 1946 : Điều 18 : “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt

gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử” (Điều 18)

Hiến pháp 1959: Điều 23 : Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân

tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mưới tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử

1

Trang 2

Hiến pháp1980: Điều 57 : Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,

tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó

Hiến pháp 1992 : Điều 54 : Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội,

tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật

 Để cụ thể hóa qui định của Hiến pháp 1992, Quốc hội ban hành luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm

2003 và đó là cơ sở pháp lý cho họat động bầu cử ở nước ta hiện nay

III CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ : ( CSPL : Đ7 LHP 1992)

 Nguyên tắc bầu cử phổ thông: bầu cử rộng rãi, đại trà

 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: cử tri phải tự mình bầu cử, không bầu thay, không qua trung gian

 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng: các cử tri và người ứng cử có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh như nhau

 Nguyên tắc bỏ phiếu kín: để khách quan, hỗ trợ cho nguyên tắc trực tiếp

1. Nguyên tắc bầu cử phổ thông:

Bầu cử phổ thông có nghĩa là bầu cử mang tính rộng rãi, mọi người đều có quyền đi bầu và có thể được bầu Bầu cử là họat động của các tầng lớp nhân dân, chứ không phải là hoạt động mang tính đặc quyền, đặc lợi của riêng giai cấp, tầng lớp, dân tộc nào

a. Nội dung:

 Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức các cuộc bầu cử, là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá mức độ dân chủ của bầu cử Cuộc bầu cử càng được mở rộng cho nhiều người tham gia bao nhiêu càng thể hiện mức độ dân chủ bấy nhiêu

 Cuộc bầu cử phổ thông là cuộc bầu cử được tổ chức cho nhiều người tham gia, tức là một hoạt động phổ cập, về nguyên tắc không hạn chế đối với bất kỳ một đối tượng công dân nào, nếu con người đạt mức độ trưởng thành hoàn chỉnh về mặt nhận thức – đạt 18 tuổi

b. Biểu hiện của nguyên tắc trong luật bầu cử:

Hiến pháp và các Luật bầu cử hiện nay của nước ta đều qui định :

Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật(Điều 54 HP 1992 )

Quyền bầu cử của công dân được các cơ quan phụ trách bầu cử ghi nhận trong danh sách

cử tri Tất cả mọi công dân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật , không bị pháp luật tước quyền bầu cử đều được ghi tên trong danh sách cử tri

Để đảm bảo nguyên tắc bầu cử phổ thông, Luật bầu cử quy định hàng loạt biện pháp nhằm khắc phục sự sai sót trong quá trình lập danh sách cử tri:

 Thông tin bầu cử công khai: ứng cử viên, danh sách bầu

 Việc niêm yết danh sách cử tri bằng các phương tiện thông tin đại chúng: Điều 25 Luật bầu

cử: “Chậm nhất là 30i ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh

2

Trang 3

sách đó tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn và những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi việc niêm yết để nhân dân kiểm tra danh sách cử tri.”

 Việc công dân có quyền kiểm tra, khiếu nại về cử tri và danh sách cử tri: Điều 26 – Luật bầu

cử: “Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai sót thì trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày

niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị bằng miệng hoặc bằng văn bản với cơ quan lập danh sách cử tri Cơ quan lập danh sách cử tri phải tiếp nhận và ghi vào sổ những khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị đó Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị biết kết quả giải quyết.”

Quyền cử tri được giới thiệu đến bầu cử nơi mới đến: Điều 27 – Luật bầu cử: ” Từ khi niêm yết

danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở nơi đã được ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đó để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu

ở nơi mới đến Khi cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban nhân dân phải ghi ngay vào danh sách bên cạnh tên cử tri "Đi bỏ phiếu nơi khác".

Nguyên tắc bầu cử phổ thông vẫn có những trường hợp ngoại lệ:

 Những trường hợp không được bầu cử ,bao gồm :

 Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp

luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri.

 Người thuộc các trường hợp trên nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi

phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được

phát thẻ cử tri

 Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước

quyền bầu cử,phải chấp hành hình phạt tù,bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực HVDS thì Uỷ ban

nhân dân xã,phường,thị trấn xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri

(Đ 23 luật bầu cử đại biểu quốc hội 1997 được sửa đổi bổ sung 2001)

 những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội:

 Người thuộc các trường hợp không được bầu cử;

 Người đang bị khởi tố về hình sự;

 Ngươi đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;

 Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án những chưa được xoá án;

 Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại

cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính

Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu

bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì

Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội

( điều 29 luật bầu cử đại biểu quốc hội 1997 được sửa đổi bổ sung 2001)

 Pháp luật bầu cử nước ta hiện nay đều qui định theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho cử tri đi bầu cử và thực tế các cuộc bầu cử cũng cho thấy tỉ lệ cử tri đi bầu cử ở nước ta và tỉ lệ cử tri so với dân số là rất cao

c. Ý nghĩa:

3

Trang 4

 Ngay từ thời non trẻ, Nhà nước VN đã áp dụng nguyên tắc bầu cử phổ thông cho mọi công dân

VN Nguyên tắc này đến nay vần giữ nguyên ý nghĩa của nó và được ấn định trong Hiến pháp 1959,1980 và 1992

 Quyền bầu cử phổ thông của nhà nước XHCN VN khác với quyền bầu cử phổ thông của nhà nước tư sản không những bằng việc không quy định hạn chế tiêu chuẩn người tham gia bầu cử, trừ việc quy định hạn chế ở dưới mức tuổi trường thành mà còn quy định sự tham gia bầu cử của tất cảc các quân nhân đang tại ngũ Hạn chế việc tham gia của quân đội vào các cuộc bầu

cử là đặc trưng của chế độ tư bản (quân đội không tham gia chính trị)

2. N guyên tắc bầu cử trực tiếp theo quy định của pháp luật hiện hành

Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri tự mình bầu người đại diện mà không qua tầng, nấc trung gian nào (phân biệt với bầu cử gián tiếp ở một số nước)

a. Nội dung: Cử tri tín nhiệm người nào thì bỏ phiếu thẳng cho người ấy làm đại biểu Quốc hội

hay đại biểu HĐND không thông qua người nào khác, cấp nào khác(những đại cử tri hoặc một

cơ quan nào khác gọi là cấp trung gian)

b. Biểu hiện của nguyên tắc trong Luật bầu cử:

Luật bầu cử của Nhà nước ta hiện nay có các quy định chặt chẽ để bảo đảm cho nguyên tắc trực tiếp được thực hiện:

 Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp phải được tiến hành vào ngày chủ nhật để nhân dân có điều kiện trực tiếp tham gia bỏ phiếu (Điều 54);

 trước ngày bỏ phiếu, nhân dân được thường xuyên thông báo địa điểm bỏ phiếu (Điều 56);

 cử tri phải tự mình đi bầu không nhờ người khác bầu thay hay bầu bằng cách gửi thư (Điều 58); không đồng ý ứng viên nào thì trực tiếp gạch tên của ứng viên đó lên phiếu bầu…

 cử tri phải tự mình đi bầu, tự mình viết phiếu bầu, nếu không viết được thi nhờ người khác viết

hộ, tự mình bỏ nếu vì tàn tật mà không bỏ được thì nhờ người khác bỏ hộ

 Miền núi, haỉ đảo chưa đến 300 cũng lập kv bỏ phiếu đơn vị vũ trang nhân dân lập kv bỏ phiếu riêng, nhà hộ sinh, bv, nhà an dưỡng, nhà nuôi người tàn tật tà 50 cử tri trở lên cũng lập kv

bỏ phiếu

 Chú ý rằng việc cử tri trực tiếp đến địa điểm bỏ phiếu chỉ là một cách thức áp dụng nhằm thực hiện nguyên tắc này, nhưng nguyên tắc này không lọai trừ việc bầu cử qua các phương tiện truyền thông (với bảo đảm việc quản lý chặt chẽ)

c. Ý nghĩa:

 Nguyên tắc trực tiếp bầu cử ra người đại diện cho mình trong các cơ quan quyền lực nhà nước, không thông qua một khâu trung gian nào khác là một nguyên tắc thể hiện rõ tính chất dân chủ trong sự hình thành bộ máy nhà nước Chính nguyên tắc này cho phép người đại diện được nhân dân trực tiếp bầu ra nhận được quyền lực nhà nước từ nhân dân

 Với nguyên tắc này, kết quả bầu cử phản ánh chính xác nhất ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong bầu cử

3. N guyên tắc bầu cử bình đẳng theo quy định của pháp luật hiện hành.

a. Nội dung:

Các cử tri được tham gia vào việc bầu cử, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần

xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, có quyền và nghĩa

vụ như nhau, các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử theo tỷ lệ như nhau, kết quả bầu chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ phiếu cho mỗi ứng cử viên, là cơ sở để xác định kết quả trúng cử

b. Biểu hiện trong Luật bầu cử:

4

Trang 5

Để đảm bảo cho nguyên tắc này, Luật bầu cử quy định:

 các cử tri và người ứng cử có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh như nhau

 Mỗi một cử tri được phát một phiếu bầu,lá phiếu của mỗi cử tri không ghi tên,giá trị của mỗi phiếu bầu là như nhau;

 Địa vị xã hội, tài sản…của cử tri không có ảnh hưởng gì đến giá trị của phiếu bầu Không vì địa

vị xã hội của mình mà cử tri không chấp hành đầy đủ các quy định về bầu cử;

 Mỗi cử tri chỉ được ghi tên một lần trong danh sách cử tri, chỉ được lập danh sách ứng cử viên

ở một đơn vị bầu cử trong một cuộc bầu cử

 Việc phân bổ số lượng đại biểu được bầu cho các tỉnh, tp Trực thuộc tw (đối với bầu Quốc hội), cũng như việc phân bổ cho các quận, huyện, xã … với tỉ lệ cử tri tương đương nhau

 Việc phân chia thành các đơn vị bầu cử phải đảm bảm hợp lý tỉ lệ dân cư như nhau

 Đảm bảo các điều kiện tự ứng cử, đề cử của các ứng cử viên như nhau

 Việc vận động tranh cử phải đảm bảo sự công bằng, không thiên tư, thiên vị, tạo điều kiện như nhau cho các ứng cử viên

Nguyên tắc này được bắt đầu bằng chia các đơn vị bầu cử cho các địa phương Việc chia đơn vị bầu cử phải căn cứ vào dân số các địa phương và tổng số các đại biểu phải bầu Mỗi đơn vị bầu cử được bầu ra số lượng đại biểu tỷ lệ thuận với số dân của mình Việc ấn định số lượng đại biểu phải bầu cho mỗi đơn vị dựa trên định mức bầu cử và số lượng cử tri của đơn vị bầu cử Định mức bầu cử bằng tổng số dân số có trên lãnh thổ diễn ra cuộc bầu cử chia cho tổng số đại biểu HĐND hoặc đại biểu Quốc hội phải bầu

 Thực tế:có nhiều cử tri không có phiếu bầu cử, người lại có nhiều phiếu bầu cử có thể là do sự thiếu ý thức trong đăng kí tạm trú tạm vắng, có thể là sự yếu kém trong quản lí,hiểu không đúng

về bình đẳng

c. Ý nghĩa:

 Đây là nguyên tắc đòi hỏi phải tuân thủ trong suốt quá trình tiến hành bầu cử từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi kết thúc, tuyên bố kết quả bầu cử Mức độ dân chủ của cuộc bầu cử phụ thuộc chủ yếu vào tiến trình thực hiện nguyên tắc này

 Trong một chừng mực nào đó, việc thực hiện nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu cử phổ thông cũng như nguyên tắc bầu cử trực tiếp cũng là để thực hiện nguyên tắc bình đẳng và ngược lại

4. N guyên tắc bỏ phiếu kín theo quy định của pháp luật hiện hành.

Bỏ phiếu kín có nghĩa là bảo đảm tính “kín” trong việc lựa chọn người đại mà cử tri tín nhiệm trong bầu cử

a. Nội dung:

Nguyên tắc này đòi hỏi cử tri khi bỏ phiếu phải tự mình viết phiếu, tự mình gạch tên người ứng cử nào mà mình không tín nhiệm ở phiếu bầu đã được in sẵn, tự mình bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu, không một người nào được xem cử tri viết phiếu Cử tri không viết được thì nhờ người khác viết nhưng phải tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu Nếu vì tàn tật không tự mình bỏ phiếu được thì

có thể nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm (Điều 59,60 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội).

Ở phòng bỏ phiếu, tổ bầu cử phải kết hợp với UBND xã, phường, thị trấn bố trí nhiều nơi viết phiếu tách biệt nhau thành các buồng viết phiếu và hạn chế khả năng có mặt trong lúc cử tri viết phiếu của bất cứ ai

b. Biểu hiện trong Luật bầu cử:

5

Trang 6

Điều 59: Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự

mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu

Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu

cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu và bầu

Điều 60: Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được đến xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử; nếu

viết hỏng, cử tri có quyền đề nghị Tổ bầu cử đổi phiếu bầu khác

 Yêu cầu:có phòng viết phiếu riêng,Thùng phiếu kín,Không quay phim, chụp ảnh khi cử tri đang viết phiếu,Phiếu phải được in theo mẫu, không có dấu hiệu đặc biệt Không được mittinh cổ động khi đang bỏ phiếu, Cử tri trực tiếp viết phiếu và tự mình bỏ phiếu vào thùng phiếu.Có thể nhờ người viết hộ, hoặc đem thùng phiếu đến nơi ở trong một số trường hợp, nhưng phải tự cử tri bỏ vào thùng phiếu

 Thực tế:bị vi phạm từ các nhà báo,Cử tri không có thông tin của ứng viên nên hỏi thăm lẫn nhau

c. Ý nghĩa:

Nguyên tắc này bảo đảm cho cử tri tự do biểu lộ ý chỉ của mình trong việc lựa chọn đại biểu; tránh mọi sự áp đặt

- Nguyên tắc này nhằm phân biệt với việc bầu cử công khai

- Mục đích của nguyên tắc là đảm bảo tốt nhất tính tự do trong bầu cử - một tiêu chí rất quan trọng của một cuộc bầu cử dân chủ, tiến bộ

IV NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT BẦU CỬ NƯỚC TA HIỆN NAY :

1. Tiêu chuẩn của ứng cử viên: đ 23, đ 29 luật bầu cử đại biểu QH 1997(sửa đổi bổ sung

2001)

 Điều kiện cần:

 Là Công dân Việt Nam

 Đủ 21 tuổi trở lên

 Đại biểu Quốc hội và HĐND có những tiêu chuẩn sau đây:

1- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

2- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật;

3- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội/ĐBHĐND, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;

4- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; 5- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội/HĐND

 Những trường hợp không được tham gia ứng cử:

1-những người không được qưyền bầu cử;

2- Người đang bị khởi tố về hình sự;

3- Ngươi đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án;

4- Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Toà án những chưa được xoá án; 5- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính về giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tại

cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hoặc đang bị quản chế hành chính

6

Trang 7

Những người đã có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội mà đến thời điểm bắt đầu bầu cử bị khởi tố về hình sự, bị bắt giữ vì phạm tội quả tang hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Hội đồng bầu cử xoá tên trong danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội

2. Điều kiện của cử tri :

 Điều kiện cần

 Là Công dân Việt Nam

 Đủ 18 tuổi trở lên

 Những trường hợp không được tham gia bầu cử:

 Những người mất trí không tự chủ được suy nghĩ và hành động của mình, không phân biệt đúng, sai, có những rối loạn về mặt nhận thức;

 Những người bị giam để thi hành án phạt tù;

 Những người đang bị tạm giam theo quyết định của toà án hoặc theo quyết định hay phê chuẩn của viện kiểm sát

3. Những điều kiện của người trúng cử Đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại điện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội (Điều 43 – Luật về tổ chức Quốc hội)

Điều kiện cần và đủ để một người trúng cử đại biểu Quốc hội:

 Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi

 Đủ tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội

 Được đề cử: Được cơ quan tổ chức đơn vị giới thiệu ra ứng cử Trên cơ sở đó Mặt trận tổ quốc mới hiệp thương Đoàn chủ tịch UBND Mặt trận tổ quốc VN hiệp thương những người ở TW Ban thường trực UB MTTQ cấp tỉnh giới thiệu người ở địa phương ra ứng cử

 Tự ứng cử: phải lấy ý kiến của của cử tri nơi người đó cư trú và của cơ quan, đơn vị công tác (nếu có)

 Khi đưa ra bầu phải đạt quá bán số phiếu hợp lệ và nhiều phiếu hơn từ trên xuống (đa số tuyệt đối)

 Được UB thẩm tra tư cách đại biểu ra nghị quyết công nhận đủ tư cách đại biểu Quốc hội

Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, Quốc hội đã bầu ra UB thẩm tra tư cách ĐBQH Căn cứ vào kết quả điều tra của UB này, Quốc hội phê chuẩn ĐBQH

4. Số lượng đại biểu được bầu

 Tổng số đại biểu Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam không quá 500 người

 Căn cứ để phân bổ đại biểu QH của mỗi tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương:

 Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương;

 Số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương

 Thủ đô Hà Nội được phân bố số đại biểu thích đáng

 Số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số do UBTVQH dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm để các thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng

 Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch BCH T Ư Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng

 Căn cứ vào quy định trên, Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

7

Trang 8

 Số đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp được ấn định như sau:

 Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn:25 – 35 đại biểu

 HĐND huyện,quận,thị xã,thành phố thuộc tỉnh:30 -40 đại biểu (Đối với các huyện,quận,thị xã,thành phố thuộc tỉnh nếu có từ 30 đơn vị hành chính trực thuộc trở lên được bầu trên 40 đại biểu;số lượng cụ thể do UBTVQH quyết định theo đề nghị của Thường trực HĐND tỉnh,thành phố trực thuộc TƯ )

 HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: 50 -85 đại biểu (Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác có trên 3 triệu người được bầu không quá 95 đại biểu)

5. Đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu

 Định nghĩa : đơn vị bầu cử là lãnh thổ với một số dân tương ứng và được bầu ra một lượng đại biểu QH hoặc hội đồng nhân dân nhất định

 Cơ sở để phân chia đơn vị bầu cử cho các cuộc bầu cử khác nhau là tổng số đại biểu quốc hội hoặc hội đồng nhân dân phải bầu và số dân sống trên lãnh thổ của đơn vị phải phân chia Số đại biểu phải bầu cho mỗi đơn vị bầu cử phụ thuộc vào số lượng dân cư sống trên lãnh thổ đơn vị bầu cử

 Đại biểu Quốc hội được bầu theo đơn vị bầu cử Mỗi đơn vị bầu ko quá 3 đại biểu đối với đại biểu QH và ko quá 5 đối với đại biểu HĐND

 Tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương chia thành các đơn vị bầu cử (ĐBQH)

 Số đơn vị bầu cử, danh sách đơn vị, số đại biểu QH mỗi đơn vị được tính căn cứ theo số dân do UBTVQH ấn định và công bố chậm nhất 70ng trước ngày bầu cử

 Danh sách các đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp nào do UBND cấp ấy gửi đến hội đồng bầu cử cùng cấp chậm nhất là 50 ngày trước ngày bầu cử hội đồng bầu cử công bố danh sách các đơn vị bầu cử

 Mỗi đơn vị bầu cử chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu.Việc chia khu vực bỏ phiếu do UBND xã, phường, thị trấn quyết định và do UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn

 Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ 300 đến 2.000 cử tri

 Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tri cũng được thành lập một khu vực bỏ phiếu

 Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập những khu vực bỏ phiếu riêng

 Bệnh viện, nhà hộ sinh, nhà an dưỡng, nhà nuôi người tàn tật có từ 50 cử tri trở lên có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng

 Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng

6. Các tổ chức phụ trách bầu cử

 Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội gồm có:

 Hội đồng bầu cử ở Trung ương;

 Uỷ ban bầu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

 Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử;

 Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu

Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử ĐBQH ;

2- Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;

3- Chỉ đạo công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử;

8

Trang 9

4- Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, LLVT nhân dân, CQNN ở Trung ương giới thiệu ứng cử ĐBQH ; gửi tiểu sử tóm tắt của những người ứng cử đến Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

5- Nhận hồ sơ và danh sách người ứng cử ĐBQH do Uỷ ban bầu cử gửi đến;

6- Quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội;

7- Lập và công bố danh sách những người ứng cử ĐBQH theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước; 8- Xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do Uỷ ban bầu cử hoặc Ban bầu cử chuyển đến; xét

và giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử; 9- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước;

10- Xét và quyết định việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử; 11- Công bố kết quả bầu cử trong cả nước;

12- Cấp giấy chứng nhận cho đại biểu trúng cử;

Ban bầu cử (được thành lập ở các đơn vị bầu cử): có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của các Tổ bầu cử;

2- Kiểm tra, đơn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;

3- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;

4- Phân phối thẻ cử tri, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là năm ngày trước ngày bầu cử;

5- Niêm yết danh sách những người ứng cử trong đơn vị bầu cử;

6- Kiểm tra công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;

7- Nhận và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến; làm biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử để gửi đến Hội đồng bẩu cử, Uỷ ban bầu cử và thông báo kết quả đó;

8- Nhận và chuyển đến Uỷ ban bầu cử khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của các Tổ bầu cử;

9- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của Hội đồng bầu cử và Uỷ ban bầu cử;

10- Giao hồ sơ, tài liệu về bầu cử cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 11- Tổ chức việc bầu cử lại, bầu cử thêm

Tổ bầu cử (thành lập ở các khu vực bỏ phiếu):có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Tổ chức việc bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;

2- Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm phiếu;

3- Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử; phát phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ bầu cử;

4- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;

5- Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử;

6- Giao biên bản kết quả kiểm phiếu và toàn bộ phiếu bầu cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn;

7- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử theo quy định của các tổ chức phụ trách bầu cử cấp trên;

8- Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm

Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có:

9

Trang 10

1 Hội đồng bầu cử;

2 Ban bầu cử;

3 Tổ bầu cử

Các tổ chức phụ trách bầu cử làm việc theo chế độ tập thể;các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự.Các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

7. Danh sách cử tri

 Trong thời gian lập danh sách cử tri, công dân có quyền bầu cử ĐBQH (hoặc đại biểu HĐND ) đều được ghi tên vào danh sách cử tri.Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách ở một nơi mình thường trú hoặc tạm trú

 Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri

 Người thuộc các trường hợp quy định trên nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu hai mươi bốn giờ được khôi phục lại quyền bầu cử, được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự thì được bổ sung vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri

 Người đã có tên trong danh sách cử tri mà đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị Toà án tước quyền bầu cử, phải chấp hành hình phạt tù, bị bắt tạm giam hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xoá tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ

cử tri

 Danh sách cử tri do UBND xã,phường,thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu.Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do Chỉ huy đơn vị lập theo khu vực bỏ phiếu

8. Vai trò của MTTQ VN trong công tác bầu cử :

Trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ,quyền hạn của mình,theo quy định của pháp luật về bầu cử,MTTQ VN tổ chức hiệp thương,lựa chọn,giới thiệu những người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND,tham gia tổ chức phụ trách bầu cử,phối hợp với CQNN hữu quan tổ chức Hội nghị cử tri ở nơi cư trú,các cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử,tham gia tuyên truyền,vạn động

cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử,tham gia giám sát việc bầu cử ĐBQH,đại biểu HĐND

0 QUY TRÌNH CỦA CUỘC BẦU CỬ :

1. Ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử

 Việc lập danh sách ứng cử được tiến hành qua các bước:

+ Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất thường thoả thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Uỷ ban thường vụ Quốc hội gửi đến

10

Ngày đăng: 18/01/2018, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w