Lý do chọn chủ đề: “Những người con, người cháu do sự vất vả mưu sinh, do những hoàn cảnh khó nói ra được vì “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, mà đã có hay đang có những suy nghĩ , những lời nói,những hành động làm ông bà, cha mẹ phải phiền lòng, buồn khổ hãy có một phút tĩnh tâm lại để giật mình, để sửa mình, để bù đắp lại. Và cũng đến một ngày nào đó, họ sẽ trở thành bố, thành mẹ, thành ông, thành bà và sẽ mong muốn cháu mình, con mình như bây giờ ông bà, cha mẹ mình đang mong muốn.” Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có một câu nói thật hay và ý nghĩa để thức tỉnh nhận thức, suy nghĩ trong mỗi chúng ta. “ Yêu già già để tuổi cho Bất nhân bất hiếu rồi bò như sâu” Xã hội ngày càng có những thay đổi và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thay vì mỗi người chúng ta chạy theo xu hướng tích cực thì việc sai lệch về các giá trị đạo đức lại đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Người cao tuổi giống như một kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho thế hệ trẻ có một bến đỗ bình yên và hạnh phúc. Cuộc đời con người ai rồi cũng sẽ già đi, nếu may mắn thì được cả sức khỏe và tinh thần minh mẫn, còn nếu ngược lại thì chúng ta nên chấp nhận và sống theo quan điểm riêng, theo mong muốn riêng của bản thân mỗi người. Đảng và Nhà nước đã và đang tạo điều kiện hỗ trợ người cao tuổi khi về hưu hoặc không còn khả năng lao động. Xã hội quan tâm, Chính phủ quan tâm, vậy nên chẳng có lý do gì để những gia đình có người cao tuổi không làm tròn bổn phận của một người con, người cháu. Khi học môn công tác xã hội với người cao tuổi, bản thân tôi nhận ra có những điều thực sự đến tận bây giờ tôi mới có thể hiểu được, cảm nhận được và mong muốn thực hiện được nó. Tôi muốn dành thời gian của mình nhiều hơn với người cao tuổi, tâm sự, chia sẻ và trò chuyện để thấu hiểu những vất vả, lo toan, những kinh nghiệm sống từng trải của thế hệ các ông, các bà. Một thực tế là người cao tuổi chiếm một phần dân số khá đông nên việc có các chính sách, mô hình dịch vụ hỗ trợ cũng còn gặp rất nhiều khó khăn đối với Chính phủ. Đời sống hàng ngày của người cao tuổi sẽ thay đổi như thế nào nếu có sự xuất hiện của các mô hình dịch vụ dành cho người cao tuổi. Tôi luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với người cao tuổi, không chỉ dừng lại ở việc các mô hình mà có thể phát triển và trở thành các dịch vụ sẵn có và chuyên nghiệp. Từ những lý do trên, “Tình hình triển khai các mô hình dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” sẽ là đề tài mà tôi lựa chọn để tìm hiểu và có những đóng góp nhất định. Hiểu và thực hiện được sẽ là một tương lai mới dành cho những người cao tuổi. Họ sống cả cuộc đời chỉ mong đến lúc về già được yêu thương, chăm sóc, được sum vầy bên con cháu, gia đình. Và tôi hi vọng rằng những ước muốn đó sẽ được thực hiện để phù hợp với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
Lý do chọn chủ đề:
I Cơ sở lý luận công tác xã hội với người cao tuổi 1
1 Khái quát chung về người cao tuổi 1
1.1 Khái niệm người cao tuổi 1
1.2 Vấn đề già hóa dân số trên thế giới 1
1.3 Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam 3
1.4 Đặc điểm của người cao tuổi 6
1.4.1 Đặc điểm sinh lý 6
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi 7
2 Công tác xã hội với người cao tuổi 10
2.1 Công tác xã hội với người cao tuổi trên thế giới 10
2.2 Công tác xã hội với người cao tuổi ở Việt Nam 13
II Cơ sở thực tiễn 14
1 Quan điểm và định hướng của Chính phủ về vấn đề Người cao tuổi 14
2 Luật pháp, chính sách, chương trình, dịch vụ với Người cao tuổi của Việt Nam đang hiện hành 16
2.1 Luật pháp 16
2.2 Chính sách 17
2.3 Chương trình, dịch vụ với người cao tuổi của Việt Nam đang hiện hành 20
III Thực trạng về tình hình triển khai các mô hình, dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi của Việt Nam 23
1 Phân tích thực trạng đời sống người cao tuổi 23
1.1 Hoạt động lao động, nhu cầu lao động và thu nhập của người cao tuổi
23
1.2 Sức khỏe và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 24
2 Các mô hình,dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi 25
2.1 Các mô hình hỗ trợ người cao tuổi 25
2.1.1Mô hình chăm sóc tập trung 25
2.1.2 Mô hình chăm sóc tại nhà 28
2.1.3 Mô hình chăm sóc tại cộng đồng 30
Trang 22.1.4 Mô hình Trung tâm chăm sóc người cao tuổi ban ngày 302.2 Các dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi 312.3.Đánh giá những khó khăn, bất cập trong quá trình triển khai các mô hình, dịch vụ cho người cao tuổi 31
IV Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp với phương pháp tiếp cận của nghề Công tác xã hội trong bối cảnh Việt nam hiện nay 33
1 Với các mô hình, dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi 33
2 Phát triển nghề Công tác xã hội trong lĩnh vực làm việc với người cao tuổi 34Kết luận
Tài liệu tham khảo:
Trang 3Lý do chọn chủ đề:
“Những người con, người cháu do sự vất vả mưu sinh, do những hoàn cảnh khó nói ra được vì “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, mà đã có hay đang có những suy nghĩ , những lời nói,những hành động làm ông bà, cha mẹ phải phiền lòng, buồn khổ hãy có một phút tĩnh tâm lại để giật mình, để sửa mình, để bù đắp lại Và cũng đến một ngày nào đó, họ sẽ trở thành bố, thành
mẹ, thành ông, thành bà và sẽ mong muốn cháu mình, con mình như bây giờ ông bà, cha mẹ mình đang mong muốn.”
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có một câu nói thật hay và ý nghĩa đểthức tỉnh nhận thức, suy nghĩ trong mỗi chúng ta
“ Yêu già già để tuổi cho
Bất nhân bất hiếu rồi bò như sâu”
Xã hội ngày càng có những thay đổi và phát triển theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, thay vì mỗi người chúng ta chạy theo xu hướng tíchcực thì việc sai lệch về các giá trị đạo đức lại đang trở thành một vấn đề đángquan tâm Người cao tuổi giống như một kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối chothế hệ trẻ có một bến đỗ bình yên và hạnh phúc Cuộc đời con người ai rồicũng sẽ già đi, nếu may mắn thì được cả sức khỏe và tinh thần minh mẫn, cònnếu ngược lại thì chúng ta nên chấp nhận và sống theo quan điểm riêng, theomong muốn riêng của bản thân mỗi người Đảng và Nhà nước đã và đang tạođiều kiện hỗ trợ người cao tuổi khi về hưu hoặc không còn khả năng lao động
Xã hội quan tâm, Chính phủ quan tâm, vậy nên chẳng có lý do gì để nhữnggia đình có người cao tuổi không làm tròn bổn phận của một người con, ngườicháu Khi học môn công tác xã hội với người cao tuổi, bản thân tôi nhận ra cónhững điều thực sự đến tận bây giờ tôi mới có thể hiểu được, cảm nhận được
và mong muốn thực hiện được nó Tôi muốn dành thời gian của mình nhiềuhơn với người cao tuổi, tâm sự, chia sẻ và trò chuyện để thấu hiểu những vất
vả, lo toan, những kinh nghiệm sống từng trải của thế hệ các ông, các bà Mộtthực tế là người cao tuổi chiếm một phần dân số khá đông nên việc có cácchính sách, mô hình dịch vụ hỗ trợ cũng còn gặp rất nhiều khó khăn đối vớiChính phủ Đời sống hàng ngày của người cao tuổi sẽ thay đổi như thế nàonếu có sự xuất hiện của các mô hình dịch vụ dành cho người cao tuổi Tôiluôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với người cao tuổi, không
Trang 4chỉ dừng lại ở việc các mô hình mà có thể phát triển và trở thành các dịch vụ
sẵn có và chuyên nghiệp Từ những lý do trên, “Tình hình triển khai các mô hình dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” sẽ là đề tài mà tôi
lựa chọn để tìm hiểu và có những đóng góp nhất định Hiểu và thực hiện được
sẽ là một tương lai mới dành cho những người cao tuổi Họ sống cả cuộc đờichỉ mong đến lúc về già được yêu thương, chăm sóc, được sum vầy bên concháu, gia đình Và tôi hi vọng rằng những ước muốn đó sẽ được thực hiện đểphù hợp với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam!
Trang 6I Cơ sở lý luận công tác xã hội với người cao tuổi
1 Khái quát chung về người cao tuổi
1.1 Khái niệm người cao tuổi
- Theo Luật Người cao tuổi được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII thì :
“ Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.”
1.2 Vấn đề già hóa dân số trên thế giới
- Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trongnhững xu hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ 21, có tác động đến toàn bộ cáckhía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia Dân số già, điều
đó có nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và đó là hệ quả tích cực của phát triểnkinh tế, chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội Theo thống kê, hiện nay trên thếgiới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên Theo dựbáo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổitrở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao tuổi Vậy, thế nào làdân số già và già hóa dân số?
- Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơcấu dân số số người cao tuổi chiếm tỷ lệ ngày càng tăng lên Tuy nhiên, tỷ lệngười cao tuổi trong tổng dân số đến “ngưỡng” nào thì dân số được coi là giàhóa, hiện vẫn có sự khác biệt Theo một số tác giả, khi trong tổng dân số, sốngười từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% thì dân số đó được coi là bướcvào quá trình “già hóa” (theo Cowgill và Holmes, 1970) Một số tác giả và tổchức quốc tế lại cho rằng khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% trongtổng dân số thì dân số đó được coi là “già hóa” (Dương Quốc Trọng, 2011).Còn khái niệm dân số già là khi trong quy mô dân số, tỷ lệ người từ 65 tuổitrở lên chiếm từ 10%-19,9% (Cowgill) hoặc 14% (Dương Quốc Trọng).Ngoài ra, còn có khái niệm dân số “rất già” và “siêu già”… Để chỉ mức độ giàcủa dân số, còn có khái niệm tuổi thọ trung bình của dân số Hiện nay cókhoảng 33 nước có tuổi thọ trung bình của dân số trên 80 tuổi (trong khi 5năm trước đó, chỉ có 19 nước đạt được tuổi thọ này)
- Như vậy, có thể thấy rõ dù tỷ lệ có khác nhau, nhưng “già hóa” là chỉ “quátrình”, còn “dân số già” là chỉ “thời điểm” Quá trình chuyển từ già hóa dân
số sang dân số già ở các nước khá khác nhau; chẳng hạn ở Pháp kéo dài 115
1
Trang 7năm, ở Thụy Điển quá trình này dài 85 năm, Hoa Kỳ 70 năm, Nhật Bản 26năm… Mặt khác, tuổi để tính dân số già hóa hoặc già thường là 60 hoặc 65tuổi trở lên Ở Hàn Quốc, năm 2010 tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm 11%dân số Theo dự báo, đến năm 2016 tỷ lệ này là 18,1%, nhưng đến năm 2030
đã tăng lên 24,3%, 2040 tăng lên 32,5% Như vậy, đến năm 2016 Hàn Quốc
sẽ bắt đầu trở thành quốc gia “già”
- Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các Châu lục
và các quốc gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau Già hóa dân số đangtăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam Chẳng hạn để
tỷ lệ người già trong tổng số dân của Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất
có 18 năm, ở Nhật Bản mất 24 năm, thì ở Thụy Điển mất 85 năm, ở Hoa kỳmất 73 năm… Tương tự như vậy, để tỷ lệ người già tăng từ 14%- 20% HànQuốc chỉ mất có 8 năm, Nhật Bản là 12 năm, thì ở Thụy Điển mất 39 năm vàHoa Kỳ mất 21 năm
Trang 81.3 Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam
- Dân số Việt Nam đã già chưa? Chúng ta đã vào giai đoạn già hóachưa? Đây là câu hỏi rất đáng quan tâm, vì liên quan đến rất nhiều chính sáchkinh tế-xã hội trong đó có chính sách an sinh xã hội Theo tổng điều tra dân
số 1/4/2009, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên trong dân số Việt nam là 8,67%,còn tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên là 6,4% “Chiếu” theo các quy ước Quốc tếnên trên thì nước ta vẫn thuộc nhóm nước dân số trẻ hay chưa “già hóa” Tuynhiên, theo thống kê tại thời điểm 1/4/2010, số người từ 60 tuổi trở lên trongdân số nước ta đã chiếm 9,4% Như vậy, chỉ qua 1 năm, tỷ lệ người cao tuổiViệt Nam đã tăng 0,7 điểm phần trăm/năm, trong khi ba thập kỷ trước đó(1979-2009) chỉ tăng có 0,06 điểm phần trăm/năm Tức là một năm vừa qua
tỷ lệ tăng đã hơn gấp 10 lần so với giai đoạn trước đây (theo Dương QuốcTrọng, 2011) Với tốc độ này, dân số Việt Nam sớm bước vào giai đoạn giàhóa nhanh hơn so với dự báo Theo dự báo của Tổng cục Dân số, nước ta sẽbước vào giai đoạn “già hoá dân số” vào năm 2017 Tuy nhiên, nếu với tốc độgia tăng tương tự như năm 2010 thì đến 1/4/2011, tỷ lệ người từ 60 tuổi trởlên đã là 10,1%, người từ 65 tuổi trở lên đã là 7,2% và như vậy, dù theo tiêuchí nào, chúng ta cũng đã bước vào giai đoạn “già hoá dân số” ngay từ năm
2011 rồi, sớm hơn 6 năm so với dự báo trước đây Hơn nữa, quá trình chuyển
từ già hóa dân số sang dân số già ở nước ta cũng diễn ra nhanh hơn nhiều sovới các nước trong khu vực Theo dự báo của Tổng cục Dân số, để chuyển từgià hóa dân số sang dân số già ở nước ta chỉ mất khoảng 20 năm, thậm chítheo Dương Quốc Trọng, chỉ khoảng 17 đến 18 năm (trong khi đó Philippinmất khoảng 40 năm, Malaysia khoảng 26 năm) Theo dự báo, đến năm 2035trong cơ cấu dân số nước ta, tỷ lệ trẻ em (dưới 15 tuổi) và người già (từ 60tuổi trở lên) là 1/1, nghĩa là cứ có 1 trẻ em thì có 1 người già và đến năm
2049, tỷ lệ này là 1/1,41, nghĩa là cứ có 1 trẻ em thì có 1,41 người già
- Bên cạnh việc được coi là thành tựu của quá trình phát triển, già hóa dân sốcũng tạo ra thách thức về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ở các cấp độ cá nhân,gia đình, cộng đồng và xã hội trên toàn thế giới Thách thức lớn nhất là thayđổi cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60 tuổi) sẽ tăng lên và tỷ
lệ gia nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và như vậy, để đápứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao động già
3
Trang 9hơn (đồng nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nềnkinh tế) Về mặt kinh tế, già hóa dân số và dân số già có ảnh hưởng kép đếnnền kinh tế Một mặt, năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn sovới các nhóm tuổi trẻ khác trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập củanền kinh tế nói chung và của từng gia đình nói riêng bị ảnh hưởng Điều nàydẫn đến hệ lụy là những người trẻ tuổi phải làm việc nhiều hơn để bù đắpthiếu hụt thu nhập của gia đình Mặt khác, chi phí chăm sóc y tế và các phúclợi khác cho người cao tuổi tăng lên, ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển Vềmặt xã hội, trong một xã hội dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh nhưquan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng gia đình và xãhội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm Như cảnh báo của Tổngthư ký Liên hợp quốc “Ảnh hưởng về kinh tế và xã hội của hiện tượng già hóadân số có ý nghĩa vô cùng sâu rộng, không chỉ tác động tới cá nhân người caotuổi và gia đình họ mà còn tác động lan tỏa tới toàn xã hội và cộng đồng toàncầu theo những cách thức chưa từng được biết đến” (UNFPA, 2012)
- Các nhà khoa học trong và ngoài nước dự báo Việt Nam là một trongnhững quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới Các nước trên thếgiới phải trải qua nhiều thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ, nhưng Việt Nam chỉ mấtkhoảng 15 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già
Dự tính đến năm 2050, Việt Nam sẽ là quốc gia có dân số “siêu già”
- Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục KHHGĐ (Bộ Y tế) cho biết: Già hóa dân số nhanh sẽ tác động tới nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội, như hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hệ thống
DS-an sinh xã hội, việc làm, tuổi nghỉ hưu, quDS-an hệ gia đình, tâm lý, lối sống, làmthay đổi cơ cấu chi tiêu của mỗi gia đình và cơ cấu chi của toàn xã hội
- Theo ông Nguyễn Văn Tân, hiện nay, khoảng 70% NCT Việt Namsống ở nông thôn là nông dân và làm nông nghiệp; trên 70% NCT không cótích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% NCT sống bằng lương hưu hay trợcấp xã hội Điều đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng một xã hội thích ứng vớigiai đoạn già hóa dân số của đất nước
- Chia sẻ về vấn đề chăm sóc sức khỏe NCT tại các cơ sở y tế, GS.TSPhạm Thắng, Giám đốc Bệnh viện Lão khoa Trung ương cho biết: Một NCTtrung bình mắc 6,9 bệnh, trong đó chủ yếu là bệnh mạn tính như: đái tháo
Trang 10đường, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, ung thư, đột quỵ… cần nhiều thời gianđiều trị hay thậm chí phải điều trị suốt đời Mặt khác, NCT sử dụng đến 50%tổng lượng thuốc, do đó, chi phí y tế cho người già cao gấp 7 - 10 lần so vớingười trẻ tuổi Tuy nhiên, khả năng cung cấp dịch vụ y tế cho NCT còn nhiềuhạn chế, như thiếu các cơ sở y tế (bệnh viện, nhà dưỡng lão, trạm y tế…) vànguồn nhân lực chăm sóc NCT (bác sĩ, điều dưỡng chuyên khoa lão khoa) Hiệnnay, NCT vẫn chủ yếu dựa vào người nhà chăm sóc, thế nhưng nguồn nhânlực này đang ngày có xu hướng giảm đi trong tương lai Vì vậy, việc tăngcường mô hình Chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng là hết sức cần thiết.
5
Trang 111.4 Đặc điểm của người cao tuổi
1.4.1 Đặc điểm sinh lý
a Nhận thức của người cao tuổi
- Ở giai đoạn đầu(60-70 tuổi) khả năng nghe nhìn của người cao tuổivẫn còn tốt, nhưng từ 70 tuổi trở đi thì khả năng này suy giảm mạnh Các cụnhìn sự vật, hiện tượng không rõ, nhiều cụ không nhìn thấy gì, nghe âm thanhkhông rõ Do đó, khi giao tiếp khả năng thu nhận thông tin có sự sai lệch Độnhạy cảm của các giác quan suy giảm mạnh( khứu giác, thị giác, mạc giác)
- Trong giai đoạn đầu tuổi già, người cao tuổi vẫn còn sức làm việc, cònnăng lực sáng tạo, thậm chí ở mức độ cao nhờ tích lũy kinh nghiệm, vốnsống Đồng thời tính ham hiểu biết vẫn còn, thể hiện ở chỗ họ hứng thú theodõi những tin tức thời sự, khoa học kỹ thuật, những trào lưu mới trong xã hội.Hoạt động ngôn ngữ tích cực hay nói, hay bình luận, nhận xét
- Trí nhớ thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn
ở mức cao Tuy nhiên, người cao tuổi hay quên, chính vì thế mà họ hay nói đinói lại Do đó họ sống nặng về nội tâm
- Tư duy của người cao tuổi kém năng động, kém linh hoạt, hoạt động
tư duy để ra quyết định chậm hơn so với lớp trẻ Nhưng do có nhiều kinhnghiệm và sự trải nghiệm nên các quyết định của họ thường chín chắn hơn.Mặt khác do sự từng trải và tuổi đã cao nên người cao tuổi thường khó chấpnhận cái mới, không thích thay đổi thói quen, cách tư duy cũ, mà đôi khi lớptrẻ cho rằng người cao tuổi bảo thủ và cứng nhắc trong giải quyết vấn đề
b.Các thay đổi về hình dáng bên ngoài
+ Rụng tóc: Hàng ngày tóc đều rụng nhưng tuổi cao tóc rụng nhiều hơnkhiến tóc thưa, có thể dẫn đến hói đầu
- Thay đổi về da:
+ Da có tác dụng góp phần chống vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể Da là
bộ phận có diện tích bề mặt lớn nhất trong cơ thể, nó có tính chất đàn hồi, dẻodai và nhạy cảm nhưng nó cũng là bộ phận sớm lão hóa
Trang 12+ Sự thay đổi về da thể hiện rõ nhất trên mặt như vầng trán nhăn nheovới các vết rạn ở đuôi mắt, da mặt mỏng Nhăn nheo, mềm xệ hoặc nổi nhữngnốt đồi mồi, xương mặt nhô, mạch máu lộ trên da, mí mắt xệ, quầng mắt thâmsậm đen, vành tai chảy xuống.
+ Khi bị lão hóa, lớp mỡ dưới da giảm làm người gia chịu lạnh kém, sựnhạy cảm trên da cũng giảm sút nên khi bị chấn thương, các vết thương lâulành do máu nuôi dưỡng da bị giảm bớt
- Thay đổi về chiều cao:
+ Càng nhiều tuổi chiều cao càng thu lại Trung bình về già đàn ôngthấp đi 2cm, đàn bà 1,5cm Đó là do ảnh hưởng của một số yếu tố như: nước
cơ thể giảm, các bắp thịt giảm sút, xương sống biến dang
- Thay đổi sức nặng:
+ Thường sức nặng cơ thể tăng lên ở thời trung niên và giảm đi khi già,
do tế bào mỡ tăng thay thế vào chỗ tế bào cơ giảm đi, mỡ nhiều ở cùng bụng
và mông
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi
a Tình cảm
- Người cao tuổi là người đã từng trải về cuộc đời, họ đã cống hiến cho
xã hội, nay về già là lúc họ được nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già Tuy nhiênkhông phải ai về già cũng có được một cuộc sống êm đẹp, đủ đầy, bình yên.Một số người cao tuổi còn gặp khó khăn trong cuộc sống và điều đó ảnhhưởng không nhỏ tới đời sống tình cảm của người cao tuổi
- Người cao tuổi có phản ứng xúc cảm nhạy bén, vui buồn dễ dàng, dễhờn dỗi, bởi người cao tuổi sống thiên về tình cảm hơn là vật chất nên họ dễ
có cảm xúc khi gặp tình huống lạ Tâm lý tiêu cực của người cao tuổi thể hiện
ở 1 số khía cạnh như:
7
Trang 13+ Tính tự ti:
Mặc cảm tuổi già, sức yếu, lực bất tòng tâm, các cụ có tâm lý bi quan,chán nản, hay giận dỗi, tự cái, cảm giác sống nhờ vào con cái, cảm giác làngười thừa, không có ích trong gia đình, rồi từ đó cảm thấy lạnh lùng, trốngrỗng và trầm lắng xâm nhập vào cõi lòng
Gắn liền với tinh thần tiêu cực đó là đa nghi, hay nghĩ ngợi, nhạy cảmvới mọi việc, hoài nghi người khác Cảm giác u uất, tự ti cũng từ đó mà nảysinh Do đó dễ dẫn tới xung đột giữa tuổi già và lớp trẻ, nếu bị hắt hủi ngườicao tuổi có thể bỏ nhà ra đi
+ Cảm giác mất mát, cô độc:
Sự xao xuyến, lo âu là tâm trạng thường xuyên của người cao tuổi.Người cao tuổi ý thức rằng cuộc đời đã xế chiều nên người cao tuổi sợ ốm, sợđau, sợ không có người chăm sóc, không đủ kiên nhẫn chịu đựng nỗi đau, sợbáo hại con cháu, làm khổ người xung quanh, sợ chuỗi ngày còn lại cô đơn vôdụng, Chính vì những trăn trở đó mà người cao tuổi giàu tình cảm, sốngthiên về tình cảm nhiều hơn Họ rất nặng tình cảm, hàm ơn người khác nếuđược ai giúp đỡ dù là việc nhỏ
Khi cao tuổi, con người thường gắn bó hơn với đời sống tâm linh,dòng họ, gia đình và con cháu Nhiều người thường đi thăm viếng, lễ bái ởcác đền, chùa, di tích, tham gia các lễ hội của làng, xã Những hoạt đông nàyvừa mang tính chất thư giãn, giải trí cao, vừa thỏa mãn tâm lý trở về cộinguồn của người cao tuổi Các cụ thường quan tâm tới lịch sử, gia phả củadòng họ, của gia đình, bỏ nhiều công sức để tìm hiểu, hoàn thiện những côngviệc mà trước đây do bận chưa làm được Điều này đem lại niềm vui, niềm tựhào cho chính họ
b Giao tiếp
- Do đặc điểm sinh lý của người cao tuổi có nhiều thay đổi, chức nănghoạt động của các cơ quan giảm sút, có nhiều bệnh tật về hô hấp, tim mạch,các cơ quan cảm giác suy giảm.Vì thế khả năng giao tiếp của người cao tuổicũng suy giảm không còn linh hoạt như trước Mặc dù vậy, nhu cầu giao tiếpcủa người cao tuổi lại rất cao, bởi đặc điểm của người cao tuổi là người trêntuổi lao động, độ tuổi đã nghỉ hưu, dó đó thời gian rảnh rỗi nhiều,hơn nữathông qua giao tiếp người cao tuổi sẽ tăng thêm sức khỏe và thấy mình có lợi
Trang 14ích cho xã hội.
- Trong quá trình giao tiếp do tư duy của người cao tuổi kém năngđộng, kém linh hoạt nên tốc độ nói của họ thường chậm Do thính giác suygiảm nên khi giao tiếp với mọi người đôi khi người cao tuổi không nghe rõthông tin, dẫn đến tiếp thu thông tin có sự sai lệch Đồng thời, với sự thay đổicủa trí nhớ, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức độ cao nênngười cao tuổi hay quên những gì mình vừa nói và hay nói đi nói lại, làm chongười khác ấn tượng “cây già lắm rễ, người già lắm lời”
- Người cao tuổi hay lưu luyến quá khứ, rất thích nhớ lại, kể lại nhữngchuyện đã qua Chính vì thế chủ đề giao tiếp của người cao tuổi thường xoayquanh những chuyện quá khứ như: những khó khăn, vất vả mà họ đã trải qua,những thành công mà mình đã đạt được
- Đối tượng giao tiếp của người cao tuổi cũng thể hiện đặc trưng riêng:người cao tuổi thích giao tiếp với con cháu trong gia đình, muốn quây quầnbên con cháu Qua đó nói lên tình cảm cũng như sự quan tâm của người caotuổi tới gia đình Họ gắn bó với đời sống tâm linh, đồng thời thích tham giacác hội như: Hội Người cao tuổi, Hội Phụ lão, Hội Cây cảnh,
- Người cao tuổi thích yên tĩnh, ghét sự ồn ào bởi đặc điểm sinh lý của
họ đã suy giảm nên rất nhạy cảm với tiếng động, âm thanh Người cao tuổikhông thích tiếp chuyện vào buổi tối, thích nghỉ ngơi vào buổi trưa
9
Trang 152 Công tác xã hội với người cao tuổi
2.1 Công tác xã hội với người cao tuổi trên thế giới
- Người cao tuổi trên thế giới Theo thống kê, thế giới hiện có 497 triệu,chiếm gần 2/3 NCT sống ở các nước nghèo và khoảng hơn 180 triệu ngườisống trong cảnh nghèo khó Theo dự báo, đến năm 2045, số người trên 60tuổi trên thế giới sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới 14 tuổi Ở các nước trung bình
và kém phát triển, hơn 50% người trên 60 tuổi vẫn làm việc, chủ yếu ở cácthành phần phi chính thức Thế giới cũng đang chứng kiến ¾ người cao tuổisống trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi thiên tai và biến đổi khí hậu; 2/3 sốNCT bị bệnh kinh niên sống ở các nước tủng binh và kém phát triển
- Ở nhiều nước Châu Phi, NCT là người chăm sóc chủ yếu đối với 40%người bị HIV/AIDS hoặc trẻ em bị mồ côi do AIDS Trong những thế kỷ qua,
sự gia tăng người cao tuổi trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quantâm Trong thế kỷ này, nó đặt ra những thách thức lớn nhưng cũng không ít
cơ hội Hàng triệu người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình và thu nhậpthấp đang đối mặt với những vấn đề về nghèo đói và bệnh tật
- Tuy vậy, các chính sách phát triển quốc tế và các hoạt động thườngkhông bao gồm người cao tuổi Chương trình phát triển Thiên niên kỷ khôngtrực tiếp liên quan đến tuổi già Trong khi cam kết giảm tỷ lệ người cực nghèoxuống 50% vào năm 2015, người cao tuổi hầu như dùng lại ở nửa còn lại củangười nghèo Khi nói về chăm sóc sức khoẻ, người cao tuổi vừa là người tựchăm sóc mình, lại vừa là những người chăm sóc người khác Sự gia tăng
“người cao tuổi già” là thách thức lớn, đặc biệt đối với gia đình và cộng đồng.Đồng thời, nhiều người cao tuổi phải chăm sóc cháu do bố mẹ các em rathành thị làm việc kiếm tiền hoăc bệnh tật-chết do HIV/AIDS hay các bệnhliên quan
- Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp, hàng triệu người cao tuổisống dưới mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu Họ không có cảlương hưu tối thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuộc sống và thường làmnhững công việc không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làmviệc được nữa hoặc bệnh tật, ốm đau Những người không làm việc được phảisống trong cảnh bần cùng Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự tăng giá
cả sinh hoạt, thức ăn, giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ
Trang 16Các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em tronggia đình Những người cao tuổi trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha
mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền Những người cao tuổi ở các nước cóthu nhập trung bình và thấp không có cơ hội cải thiện cuộc sống Vai trò của
họ đối với gia đình và cộng đồng thường không được biết đến và đánh giáđúng mức Đặc biệt, đối với những người sống ở các địa phương nghèo hoặc
bị tác động xấu của môi trường thường có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng củacác cuộc xung đột hoặc các nguyên nhân khác về chính trị, môi trường không
ổn định tạo ra sự thiếu an toàn cho họ
- Tuy vậy, người cao tuổi toàn cầu vẫn đang thể hiện các cơ hội về tiềmnăng,kinh nghiệm, khả năng sâu rộng của họ Thu nhập và sức khoẻ ở tuổi già
là mục tiêu, kể cả đối với các nước nghèo, để đảm bảo cho sự tham gia củangười cao tuổi đối với xã hội Đây cũng là một trong những lý do mà HAI đặtchủ đề cho chiến lược hành động đến năm 2015 là: “Khi người cao tuổi nói,chúng ta lắng nghe” Đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự gia tăng tỷ
lệ người cao tuổi, đại dịch HIV/AIDS, sự kỳ thị và bạo lực đối với người caotuổi, Tổ chức Người cao tuổi quốc tế sẽ đáp ứng với những nhu cầu và khảnăng của người cao tuổi cũng như nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổchức cũng như của toàn xã hội về những vấn đề sau:
1 Nâng cao năng lực người cao tuổi trong đảm bảo an sinh thu nhập
2 Nâng cao khả năng người cao tuổi và những người trợ giúp họ trongchăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ hỗ trợ
3 Nâng cao khả năng để người cao tuổi tham gia tích cực vào giảiquyết các trường hợp khẩn cấp và hồi phục
4 Tạo ra các phong trào mang tính quốc tế và quốc gia trợ giúp NCTvượt qua sự kỳ thị và bảo đảm các quyền của họ
5 Hỗ trợ mạng lưới toàn cầu của các tổ chức để các tổ chức của NCT
và làm việc cho NCT có hiệu quả
- Để làm được điều này, trong thời gian tới, Tổ chức NCT quốc tế dựkiến sẽ tăng 2/3 các dịch vụ trực tiếp hỗ trợ NCT và gia đình họ Đồng thờităng cường các hoạt động thúc đẩy cải thiện cách nhìn nhận về chế độ lươnghưu, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tăng thêm sự đáp ứng phù hợp trong nhữngtrường hợp khẩn cấp để đem lại lợi ích cho nhiều triệu người cao tuổi và tăng
11
Trang 17cường mở rộng chính sách, công tác vận động cùng với các hoạt động hỗ trợtrong các trường hợp khẩn cấp HAI cũng đã đặt ra 15 chỉ tiêu cụ thể trongnhững năm tới là:
- Trợ giúp để 20% NCT ở 30 nước có thu nhập trung bình và thấp đượcnhận trợ cấp của Chính phủ
- Các hộ gia đình có NCT ở 25 nước cải thiện được thu nhập và an ninhlương thực
- Người cao tuổi ở 15 nước có khả năng có khả năng phòng ngừa vàquản lý bệnh mãn tính
- Người cao tuổi ở 20 nước có khả năng đảm bảo tiếp cận miễn phí cácdịch vụ chăm sóc sức khoẻ thân thiện
- Các dịch vụ phù hợp phòng chống HIV/AIDS được cấp cho NCT ở 12nước
- Người cao tuổi ở 25 nước được nhận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻban đầu phù hợp
- Người cao tuổi được nhận các dịch vụ trực tiếp của HAI và các tổchức đối tác để phòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp
- Sẽ có 10 tổ chức nhân đạo được công nhận và đáp ứng nhu cầu trongphòng ngừa, đối phó và phục hồi với các tình trạng khẩn cấp của NCT -Người cao tuổi tổ chức các hoạt động để thực hiện quyền nhận dịch vụ, đượctrợ giúp ở 25 nước
- Người cao tuổi ở 15 nước được trợ giúp để ngăn chặn và giảm thiểu
sự kỳ thị liên quan đến tuổi già
- Các tổ chức chủ chốt của HAI sẽ phát triển liên minh toàn cầu gồmhàng triệu các tổ chức, cá nhân trợ giúp NCT
- 120 tổ chức, công nhận giá trị và tiêu chuẩn của HAI, hình thànhmạng lưới toàn cầu chia sẻ và thừa nhận chương trình, các sáng kiến mangtính quốc gia, khu vực và quốc tế
- Hoạt động ở 50 nước thể hiện sự thay đổi về luật pháp, chính sáchđáp ứng quyền của NCT
- Nhận thức của Anh và 5 nước OECD về Chương trình quốc tế vềNCT sẽ được truyền thông qua các cuọc vận động và chương trình đào tạo
- Tập huấn, chia sẻ thông tin và cơ hội hợp tác là những dịch vụ cơ bản
Trang 18của mạng lưới hỗ trợ NCT quốc tế do Ban thư ký quốc tế cung cấp.
tuoi-tai-dia-ban-thanh-pho-quy-nhon-khao-sat-tai-phuong-nguyen-van-cu-tp-quy-nhon-34980/
http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-ho-tro-xa-hoi-doi-voi-nguoi-cao-2.2 Công tác xã hội với người cao tuổi ở Việt Nam
- Mặc dù là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vitoàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên
60 Sau năm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có ngườicao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% vànăm 2050 chiếm gần 30% dân số cả nước
Dân số Việt Nam theo độ tuổi
Hướng phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi ở Việt Nam:
- Để Nghề Công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Namđược phát triển và phổ biến rộng rãi về lâu dài cần nằm trong tiến trình chungphát triển công tác xã hội và được coi như một nghề ở Việt Nam, theo các
13
Trang 19bước đi của đề án đã được Chính phủ phê duyệt
- Bước đi đầu tiên có thể là các hoạt động nâng cao năng lực chonhững người đang làm việc với người cao tuổi, cung cấp cho họ một số kiếnthức, kỹ năng cơ bản trong làm việc với người cao tuổi
- Bên cạnh đó, có thể xem xét, kết hợp đào tạo cán bộ xã hội tronglĩnh vực y tế với công tác xã hội với người cao tuổi Chú trọng công tác quản
lý ca và tham vấn trong làm việc với người cao tuổi Đa dạng hóa các loạidịch vụ trợ giúp người cao tuổi Đồng thời thiết kế các chương trình đào tạochuyên sâu về công tác xã hội với người cao tuổi
- Trong điều kiện già hóa dân số, nhiều vấn đề đặt ra đối với ngườicao tuổi trong điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù ở Việt Nam, cần sớm nhậnthức về sự cần thiết phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi và tạo cácđiều kiện cần thiết cho sự phát triển này
sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tưpháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét các chính sách luật pháp hiệnhành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nước nhằm bảo vệ, chăm sóc
và phát huy người cao tuổi Nhà nước cần dành ngân sách để giải quyết cácvấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người cao tuổi Trước hết cầnquan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nươngtựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng người già lang thang
Trang 20trên đường phố, ngõ xóm Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội người cao tuổi ViệtNam về kinh phí và điều kiện hoạt động”.
- Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với cáclão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu,những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sứckhoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứngnhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước
và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thốngcách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”
- Thông báo số 12-TB/TW ngày 13 tháng 6 năm 2001 đã khẳngđịnh Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có cácnhiệm vụ đã được quy định cụ thể tại Pháp lệnh người cao tuổi; Hội có Banđại diện ở cấp tỉnh và cấp huyện; Cấp tỉnh có từ 2 đến 3, cấp huyện có từ 1đến 2 cán bộ chuyên trách đồng thời khẳng định: “ Nhà nước tiếp tục trợ cấpkinh phí họat động cho Hội Các cơ quan có chức năng của Nhà nước tạothuận lợi, bảo đảm cấp kinh phí kịp thời cho Hội”
- Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT(01.10.2002) do TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổinước ta lại đông đảo như hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào vềlớp người cao tuổi nước ta Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chínhtrị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động
và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộphận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng,bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…
- Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàndân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối vớilão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách
xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là nhữngngười già cô đơn, không nơi nương tựa…”
- Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số
12 của Ban bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng củagia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì
15
Trang 21thế, Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốtđẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đạiđoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh.
2 Luật pháp, chính sách, chương trình, dịch vụ với Người cao tuổi của Việt Nam đang hiện hành
2.1 Luật pháp
- Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến phápnăm 1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làmđược việc thì được giúp đỡ” Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡngười già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sứckhoẻ và cứu trợ xã hội…” Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ
có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chămsóc ông bà, cha mẹ… ” Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàntật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”
- Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con cónghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau,già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổnphận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”
- Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng:Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật nàyquy định:“người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạođiều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”
- Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động cótrách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, khôngđược sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnhhưởng sức khoẻ”
- Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” vàĐiều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bêncạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội làngười già”
2.2 Chính sách