1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các mô hình, dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi

36 306 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,26 MB
File đính kèm 8.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Với sự gia tăng của tuổi thọ và sự phát triển của xã hội, mỗi chúng ta đều được tận hưởng một cuộc sống lâu dài hơn, đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn. Già hóa dân số đang là một xu thế mang tính toàn cầu do giảm tỷ lệ sinh, tăng tuổi thọ bình quân và trở thành một vấn đề xã hội có tác động rất lớn tới tiến trình phát triển chung của tất cả các nước trên nhiều mặt: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật. Từ đó, nhận thức đầy đủ về quyền tự do cơ bản của người cao tuổi: gắn vấn đề người cao tuổi với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và quyền con người. Trong Văn kiện Venna về già hóa dân số mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua hơn 26 năm trước đây (1982) chưa nhận thức được một thực tế rằng phần lớn người già sẽ sống ở các nước đang phát triển chứ không phải là ngược lại. Tính toán thống kê cho thấy số người cao tuổi ở các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu người vào năm 2025, chiếm 12% tổng dân số các nước này. Vào năm 2050 tỷ lệ nói trên sẽ là 2%. Khác với sự già hóa đã và đang diễn ra trong các nước phát triển, trong phần thế giới đang phát triển, dân số đang già hóa với một tốc độ chưa từng thấy và phần lớn vẫn còn sống trong nghèo khổ. Việt Nam là một trong những nước như vậy. Trong bối cảnh toàn cầu hóa dân số, người cao tuổi ở các nước đang phát triển phải đối mặt với những khó khăn để đảm bảo cuộc sống. Các loại bệnh tật phổ biến, bệnh hiểm nghèo, bệnh mới và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống của người cao tuổi. Người cao tuổi cũng là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, do những thay đổi về tâm sinh lý, sức khỏe, vị thế trong xã hội và gia đình. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đương đầu với không ít khó khăn của cuộc sống hiện đại. Tuổi già đang là một thách thức lớn của nhân loại, cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người có tuổi là yêu cầu rất chính đáng của xã hội. Để giúp người cao tuổi phòng tránh và chữa trị được các căn bệnh tuổi già, sống vui khỏe hơn thì nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn và hỗ trợ điều trị cho người cao tuổi nhằm giúp người cao tuổi hạn chế được những khó khăn về tinh thần và vật chất trong cuộc sống. Tuy nhiên, đa phần người cao tuổi tại Việt Nam vẫn chưa nhận được nhiều sự trợ giúp từ các nhân viên CTXH. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Các mô hình, dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi” để hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Với sự gia tăng của tuổi thọ và sự phát triển của xã hội, mỗi chúng ta đềuđược tận hưởng một cuộc sống lâu dài hơn, đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn Già hóadân số đang là một xu thế mang tính toàn cầu do giảm tỷ lệ sinh, tăng tuổi thọbình quân và trở thành một vấn đề xã hội có tác động rất lớn tới tiến trình pháttriển chung của tất cả các nước trên nhiều mặt: Chính trị, kinh tế, xã hội, vănhóa, nghệ thuật Từ đó, nhận thức đầy đủ về quyền tự do cơ bản của người caotuổi: gắn vấn đề người cao tuổi với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội

và quyền con người Trong Văn kiện Venna về già hóa dân số mà Đại hội đồngLiên hợp quốc đã thông qua hơn 26 năm trước đây (1982) chưa nhận thức đượcmột thực tế rằng phần lớn người già sẽ sống ở các nước đang phát triển chứkhông phải là ngược lại Tính toán thống kê cho thấy số người cao tuổi ở cácnước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu ngườivào năm 2025, chiếm 12% tổng dân số các nước này Vào năm 2050 tỷ lệ nóitrên sẽ là 2% Khác với sự già hóa đã và đang diễn ra trong các nước phát triển,trong phần thế giới đang phát triển, dân số đang già hóa với một tốc độ chưatừng thấy và phần lớn vẫn còn sống trong nghèo khổ Việt Nam là một trongnhững nước như vậy Trong bối cảnh toàn cầu hóa dân số, người cao tuổi ở cácnước đang phát triển phải đối mặt với những khó khăn để đảm bảo cuộc sống.Các loại bệnh tật phổ biến, bệnh hiểm nghèo, bệnh mới và việc di dân cũng như

xu hướng đô thị hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống của người cao tuổi.Người cao tuổi cũng là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất,

do những thay đổi về tâm sinh lý, sức khỏe, vị thế trong xã hội và gia đình Tuynhiên, chúng ta cũng phải đương đầu với không ít khó khăn của cuộc sống hiệnđại Tuổi già đang là một thách thức lớn của nhân loại, cải thiện chất lượng cuộcsống cho những người có tuổi là yêu cầu rất chính đáng của xã hội Để giúpngười cao tuổi phòng tránh và chữa trị được các căn bệnh tuổi già, sống vuikhỏe hơn thì nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong việc tư vấn và hỗtrợ điều trị cho người cao tuổi nhằm giúp người cao tuổi hạn chế được nhữngkhó khăn về tinh thần và vật chất trong cuộc sống Tuy nhiên, đa phần người caotuổi tại Việt Nam vẫn chưa nhận được nhiều sự trợ giúp từ các nhân viênCTXH Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Các mô hình, dịch vụ công tác xã hội vớingười cao tuổi” để hiểu rõ hơn về vấn đề này

Trang 2

I – CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI: 1.Khái quát chung về người Cao tuổi:

a Khái niệm “Người cao tuổi”:

- Theo quan điểm y học, sự già hóa có đặc điểm vừa chung cho mọi người, vừa riêng cho mỗi người, không có một ngưỡng tuổi già duy nhất như nhau Nhưng nhìn nhung, theo quan niệm của y học thì NCT “đã lão hóa thực thể sống”.

- Xét theo quan niệm tâm lý học thì NCT là “cảm nhận về tri giác sáng tạo đã cạn nguồn”.

- Xét theo vận động cơ học thì NCT “đã vào thời kỳ di chuyển chậm, kém thích ứng với xã hội”.

- Theo Luật Người cao tuổi được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộ dân chủ Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hộ khóa XII thì: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 6o tuổi trở lên”.

b Vấn đề già hóa dân số:

*Trên thế giới:

- Theo báo cáo có tựa đề "Một Thế giới già hóa: 2015" của Cục Điều tradân số Mỹ công bố ngày 28/3, dân số toàn cầu đang già đi với một tốc độ chưatừng có

- Tới 8,5% người dân trên toàn thế giới, tương đương 600 triệu người,thuộc vào nhóm tuổi 65 hoặc trên 65 Nếu xu thế này tiếp tục, vào năm 2050,nhóm này sẽ chiếm tới 17% dân số toàn cầu, tương đương 1,6 tỷ người

- Báo cáo dự đoán vào năm 2050, tuổi thọ trung bình toàn cầu sẽ tăngthêm 8 năm, lên 76,2 năm so với mốc 68,6 năm của năm 2015 Nhóm dân cưcao tuổi nhất của dân số thế giới, bao gồm những người 80 tuổi và trên 80 tuổi,được dự đoán sẽ tăng hơn gấp 3, từ 126,5 triệu người trong năm 2015 lên 446,6triệu người vào năm 2050

(Nguồn: nhanh-nhat-the-gioi-356704.html )

http://bizlive.vn/song/10-nuoc-co-toc-do-gia-hoa-dan-so-*Tại Việt Nam:

- Già hóa dân số tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh,

Trang 3

quy mô ngày càng lớn Theo kết quả tổng cục điều tra dân số và nhà ở năm

1989, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 7,2% dân số; năm 2007 là 9,4% Hiện nay ViệtNam có 8 triệu người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên), chiếm khoảng 10% dân số(“Hội nghị chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” ngày 16/11/2009) Tỷ lệ ngườicao tuổi (trên 65 tuổi) tại Việt Nam cao hơn tỷ lệ chung của thế giới (5%)

- Do tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm cùng với tuổi thọ tăng, dân số caotuổi Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và tỷ lệ so với tổngdân số Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương củaLiên hợp quốc (UNESCAP), dân số một nước sẽ bước vào thời kỳ già hóa khi tỷ

lệ người cao tuổi chiếm hơn 10% tổng dân số Theo dự báo dân số của Tổng cụcThống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạtđến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giaiđoạn “già hóa” từ năm 2017 Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập

kỷ nữa dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng

từ 35,5 năm 2009 lên hơn 100 vào năm 2032 Xu hướng và tốc độ biến động dân

số theo hướng già hóa đang đặt ra những cơ hộivà thách thức lớn cho Việt Namtrong việc chuẩn bị nguồn lực để đón nhận số lượng dân số cao tuổi ngày càngtăng Phân tích thực trạng, dự báo về quá trình già hóa dân số và người cao tuổi

sẽ cung cấp những luận cứ quan trọng cho việc đề xuất các chính sách, chươngtrình thực hiện mục tiêu “già hóa thành công”, đó là mục tiêu đảm bảo an sinh

xã hội (nhằm đảm bảo thu nhập cho người cao tuổi thông qua lao động và hưởnghưu trí), dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phát triển (nhằm đảm bảo dân số caotuổi khỏe mạnh, tỷ lệ tàn tật, thương tật và đau ốm thấp) và hoạt động cộngđồng, xã hội phong phú (nhằm khuyến khích người cao tuổi chủ động tham giacác hoạt động xã hội, đóng góp cho cộng đồng và xã hội)

VẤN ĐỀ GIÀ HÓA DÂN SỐ

(Nguồn: Tổng cục Thông kê, Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1979,

1989, 2009 và dự báo dân số 2009 – 2049 (phương án trung bình)

Trang 4

Nhìn theo biểu đồ trên chúng ta thấy tỷ lệ số người già tăng dần theo từngnăm, kéo theo đó tỷ lệ phụ thuộc của người già cũng tăng dần Điều này đặt ranhiều thách thức cho những nhà hoạch định chính sách về đảm bảo an sinh xãhội.

Sau đây là những đặc trưng nổi bật của quá trình già hóa dân số, sức khỏe,đời sống gia đình, lao động, việc làm và an sinh xã hội của người cao tuổi ở ViệtNam

+ Thứ nhất, dân số cao tuổi Việt Nam tăng nhanh cả về số tương đối vàtuyệt đối, và tăng nhanh hơn các nhóm dân số khác Chỉ số già hóa tăng lênnhanh chóng So với các nước trong khu vực và trên thế giới, thời gian để ViệtNam chuẩn bị đón nhận già hóa dân số ngắn hơn rất nhiều Bên cạnh đó, dân sốcao tuổi Việt Nam có xu hướng “già ở nhóm già nhất”, tức là tỷ lệ người caotuổi ở nhóm lớn tuổi nhất (từ 80 trở lên) đã và đang tăng lên nhanh chóng

+ Thứ hai, đời sống gia đình, đời sống tinh thần và văn hóa của người caotuổi thay đổi nhanh chóng Tỷ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh,trong khi tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồngngười cao tuổi tăng lên đáng kể Phần lớn người cao tuổi sống ở khu vực nôngthôn Dân số cao tuổi phân bố không đồng đều và rất khác biệt giữa các vùng vàtỉnh Di cư từ nông thôn ra thành thị là một nguyên nhân của tình trạng này vàcũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi bị

Trang 5

“khuyết thế hệ”.

+ Thứ ba, mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người cao tuổi đang thayđổi nhanh chóng, từ bệnh lây nhiễm sang những bệnh không lây nhiễm theo môhình bệnh tật của một xã hội hiện đại Chi phí trung bình cho việc khám chữabệnh của người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí tương ứng của một trẻ em Mức

độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhóm dân số cao tuổi rất khác nhau,trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núi hoặc là dân tộc thiểu số có mức

độ tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng còn thấp Số lượng người cao tuổingày càng lớn nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi chưa thực

sự được coi trọng và đầu tư phát triển tương xứng Bản thân người cao tuổi cũngchưa ý thức được những nguy cơ bệnh tật Tuổi thọ của người cao tuổi tăng lên,nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại cải thiện chậm

+ Thứ tư, về lao động, việc làm và thu nhập: Theo số liệu Điều tra mứcsống hộ gia đình (VHLSS) năm 2008, khoảng 43% người cao tuổi vẫn đang làmviệc với các công việc khác nhau, nhưng hầu hết là trong các hoạt động sản xuấtnông nghiệp với mức thu nhập còn thấp và bấp bênh Tỷ lệ hoạt động kinh tếgiảm theo độ tuổi Người cao tuổi ở nông thôn tham gia hoạt động kinh tế nhiềuhơn đáng kể so với người cao tuổi ở thành thị

+ Thứ năm, tỷ lệ người cao tuổi đang tham gia hệ thống hưu trí và trợ cấp

xã hội còn thấp và mức hưởng còn thấp và chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng thu nhậpcủa hộ gia đình cao tuổi Tuy nhiên, hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổihiện nay lại không có tính hỗ trợ đối với phần lớn người cao tuổi, đặc biệt lànhóm người cao tuổi dễ tổn thương, vì họ không thể tham gia hệ thống hưu trí

do các quy định hiện hành hoặc nhận được mức trợ cấp xã hội quá thấp Hệthống hưu trí đóng góp vận hành theo cơ chế tài chính thực thanh thực chi nhưhiện nay sẽ nhanh chóng bất cân đối về tài chính và sự cân đối này sẽ khiến choquan hệ đóng - hưởng giữa các thế hệ và giữa nam và nữ trong các thành phầnkinh tế khác nhau trở nên bất công bằng

=>Các vấn đề Người cao tuổi đang gặp phải:

- Giảm sự hỗ trợ, chăm sóc ( từ con cái, di cư lao động, con bận rộn, sống một mình,…)

- Sức khỏe hạn chế, bệnh mãn tính (nhận thức, tiếp cận dịch vụ, BHYT).

Trang 6

- Khó tiếp cận quyền lợi ( Nhận thức, thủ tục, thwucj hiện).

- Ít có cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giao lưu, nâng cao kiến thức.

- Nữ hóa dân số cao tuổi.

- Ít có cơ hội phát huy ở cộng đồng.

- Thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa các thế hệ.

- Thu nhập hạn chế: khó tiếp cận vay vốn, ít được đào tạo nghề.

c Đặc điểm của Người cao tuổi:

* Đặc điểm sinh lý:

- Nhận thức của Người cao tuổi:

+ Ở giai đoạn đầu 60 -70 tuổi khả năng nghe nhìn của người cao tuổi vẫntốt, nhưng từ năm 70 tuổi trở đi thì khả năng này suy giảm mạnh Do đó tiếpnhận thông tin có nhiều sai lệch Độ nhạy cảm của các cơ quan suy giảm mạnh

+ Trí nhớ: thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn ởmức cao

+ Tư duy: kém năng động, kém linh hoạt, quyết định chậm hơn so với lớptrẻ Khó chấp nhận cái mới do họ trải nghiệm nhiều hơn, không thích thay đổi,thích tư duy cũ, truyền thống

- Thay đổi về hình dáng bên ngoài:

+ Tóc: Bạc tóc, rụng tóc, hói đầu,…

+ Da: Vằng trán nhăn nheo, da bị lão hóa, có các rạn ở đuôi mắt, da mặtmỏng, xệ,nổi nốt đồi mồi, xương nhô,…

- Thay đổi chiều cao: Càng nhiều tuổi chiều cao càng thu hẹp Trung bình

về già đàn ông thấp đi 2cm, đàn bà 1,5cm

- Thay đổi cân nặng: Thường sức nặng tăng lên ở tuổi trung niên và giảm

đi khi về già

Trang 7

+ Người cao tuổi có nhu cầu giao tiếp như người bình thường.

+ Phạm vi và môi trường giao tiếp của họ bị thu hẹp do đặc điểm sinh lý

có nhiều bất lợi gây cản trở việc giao tiếp, đi lại

+ Họ thích nói chuyện với con cháu, quan tâm tới gia đình

+ Họ quan tâm, tin tưởng nhiều tới yếu tố tâm linh

+ Thích tham gia các hoạt động hội

2 Công tác xã hội với người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam:

a Thế giới:

Từ ngày 13-15/ 7/ 2015, Liên hợp quốc (LHQ) đã tổ chức cuộc họp lầnthứ 6 của Nhóm công tác mở về người cao tuổi (NCT) để bàn về vấn đề NCT vàxây dựng Công ước về quyền của NCT Cuộc họp có sự tham gia của đại diệnhơn 100 quốc gia thành viên, 28 tổ chức Phi chính phủ, nhiều chuyên gia độclập, đặc biệt đã có đại diện của NCT của 4 nước ở Châu Á và Châu Phi là ViệtNam, Pakistan, Kenya và Zămbia Ngoài ra, vào cuối tháng 9/ 2015, tại phiênhọp của Đại hội đồng LHQ, Chính phủ các nước trên thế giới sẽ cùng ký camkết thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững tới năm 2030, trong đó NCT bắtđầu được công nhận trong Chương trình trên của LHQ Đây là một hành độngthiết thực để thực hiện lời tuyên bố của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban-Ki-Moon rằng “Không để bất kỳ một người nào bị bỏ lại phía sau” Mục tiêu pháttriển bền vững gồm 17 mục đích và 169 mục tiêu, kết quả của các mục tiêu sẽđược đạt vào năm 2030 Như vậy là, LHQ và nhiều nước trên thế giới đã ngàycàng quan tâm hơn tới vấn đề của NCT, họ đã nhận ra rằng, thế giới không thểphát triển bền vững khi mà đối tượng NCT bị bỏ qua Với khẩu hiệu “Tiến tớimột thế giới thịnh vượng cho mọi lứa tuổi”, LHQ đang hướng tới xây dựngnhững chương trình, kế hoạch, cam kết mà trong đó mọi đối tượng, từ trẻ emđến người già đều được tham gia và hưởng lợi Sự thay đổi trong quan điểm củaLHQ và các quốc gia về người cao tuổi (NCT) trong thời gian qua chủ yếu xuấtphát từ 2 lí do chính, đó là: Già hóa dân số trên thế giới ngày càng gia tăng vàcách nhìn nhận về NCT đã thay đổi

=>Thế giới đang thay đổi nhận thức về NCT:

Từ trước tới nay, rất nhiều người coi NCT là lớp người già cần được chămsóc và trách nhiệm chăm sóc NCT thuộc về gia đình Từ đó, hầu hết các chương

Trang 8

trình, chính sách chỉ thiên về trợ cấp, ưu tiên, thăm hỏi v.v khiến cho nhiều NCT

ở trong hoàn cảnh khó khăn mà không được giúp đỡ đúng cách Rất nhiều nướcthiếu chính sách phù hợp với NCT, có rất ít hoạt động và các văn bản thỏathuận, hướng dẫn của LHQ có liên quan tới NCT Điều này đã khiến cho nhiềuNCT không được bảo vệ trước tình cảnh bị phân biệt đối xử, ít cơ hội hưởng lợi

từ các chương trình phát triển Những thiếu sót trên đã được nhiều quốc gia vàLHQ nhận ra và họ đã thống nhất quan điểm là: Cần phải thay đổi cách nhìn vềNCT, không chỉ thấy NCT là nhóm người dễ bị tổn thương, mà phải thấy NCTcũng là nguồn lực của xã hội, họ có kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, khả năng,nhiệt tình và lý do để tiếp tục đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng của xãhội” Chính vì vậy mà từ năm 2010, LHQ đã có những nỗ lực đáng kể trong việctìm ra các thiếu sót để sửa sai và đã có những tiến bộ như nhận xét của ôngEduardo Klien- Giám đốc tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc Tế khu vực Châu Á- TháiBình Dương là “Đã có tiến bộ trong nhận thức là phải thay đổi chiến lược tổchức xã hội để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong bối cảnh già hóa dân số nhanh

Cụ thể là, cần đáp ứng nhu cầu và phát huy tiềm năng của mọi lứa tuổi trong xãhội”

Trong thời gian qua, LHQ đã triển khai các hoạt động và ban hành cácvăn bản pháp lý liên quan tới NCT và bảo vệ quyền của NCT, cụ thể là:

+ 1982: Hội nghị thế giới lần I về Già hóa dân số; Hội nghị đã thông qua

Kế hoạch hành động Vienna về NCT Sau đó LHQ có Nghị quyết 37/51 ủng hộ

+ 2010: Thành lập nhóm làm việc của LHQ về NCT (OEWG on Ageing).+ 2011: LHQ chính thức lấy ngày 15.6 hàng năm là ngày Nhận thức vềchống Ngược đãi NCT thế giới (World day awareness of Elderly Abuse)

+ 2012: Ủy ban nhân quyền của LHQ công bố nghiên cứu về Thách thức

và những tồn tại về quyền của NCT

Trang 9

+ Đặc biệt, trong các văn bản của LHQ đã nêu lên các quốc gia cần bảođảm các quyền của NCT sau:

 NCT không bị bạo lực

 NCT được bình đẳng trước pháp luật

 NCT có quyền về tài sản

 NCT có quyền về thông tin

 NCT có quyền về an sinh xã hội

 NCT có quyền về việc làm

 NCT có quyền về sức khỏe

Đặc biệt, hiện Nhóm công tác mở phối hợp với nhiểu tổ chức NCT vàquốc gia trên thế giới xây dựng và thuyết phục LHQ thông qua Công ước vềQuyền của NCT Nếu Công ước được thông qua, NCT trên toàn thế giới, trong

đó có Việt Nam sẽ có được cơ hội đạt tới sự bình đẳng và bảo đảm quyền đượcchăm sóc và phát huy vai trò của mình đóng góp cho gia đình, cộng đồng và xãhội

b Tại Việt Nam:

Là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60 Sau năm

2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050 chiếm gần 30% dân số cả nước.

Những kết quả ban đầu trong phát triển Công tác xã hội chuyên nghiệp ởViệt Nam và những khó khăn đặt ra:

Trong thực hiện các chính sách xã hội, trợ giúp những đối tượng khókhăn, các nước phát triển trên thế giới đã sớm áp dụng các phương pháp khoahọc, mang tính chuyên nghiệp và vì vậy, kết quả đạt được cũng mang tính bềnbững, hiệu quả cao Phương pháp này được thực hiện đầu tiên ở các nước đitrước hàng trăm năm nay và ngày càng phát triển và hoàn thiện Đó là công tác

xã hội chuyên nghiệp Điểm khác nhau cơ bản ở Công tác xã hội chuyên nghiệpvới các phương pháp trợ giúp truyền thống, nhân đạo ở chỗ đây chính là "Nghềgiúp người khác tự giúp mình"

=>Công tác xã hội với người cao tuổi:

Trang 10

Mặc dù là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toànthế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên 60 Saunăm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có người cao tuổichiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050chiếm gần 30% dân số cả nước.

Dân số Việt Nam theo độ tuổi

Người cao tuổi có những ưu thế về những đóng góp của họ với gia đình,

xã hội, về kinh nghiệm sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình pháttriển Tuy nhiên, người cao tuổi cũng có nhiều vấn đề cần được quan tâm như:vấn đề sức khỏe, đời sống vật chất, tham gia giao thông, nuôi cháu thay cha mẹtrẻ do các nguyên nhân khác nhau Vì vậy, để trợ giúp người cao tuổi cần cócán bộ xã hội được đào tạo một cách chuyên nghiệp qua trường, lớp

Tuy nhiên Công tác xã hội với người cao tuổi tại Việt Nam vẫn chưa phổbiến và chưa được mở rộng, hầu hết chỉ tập trung các dịch vụ tại các thành phốlớn, còn ở nông thôn do đời sống nghèo nàn nên còn hạn chế trong việc teieespc

ận các dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi

II.CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1.Quan điểm và định hướng của Chính Phủ về vấn đề Người cao tuổi:

* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cao tuổi:

- Trong lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão, Chủ tịch Hồ ChíMinh viết: “Trách nhiệm của các vị phụ lão chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước

Trang 11

thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng Đất nước tồn tại dophụ lão giúp sức Nước bị mất, phụ lão cứu, nước suy sụp do phụ lão phù trì.Nước nhà hưng, suy, tồn, vong phụ lão đều gánh trách nhiệm rất nặng nề …Nước nhà lo, các cụ cùng phải lo Nước nhà vui các cụ đều cùng được vui ”.

Người lại nói: “Chúng ta là bậc phụ lão, cần phải tinh thành đoàn kếttrước để làm gương cho con cháu ta Vậy tôi mong các vị phụ lão ở Hà thành raxung phong tổ chức “Phụ lão cứu quốc Hội” để cho các phụ lão cả nước bắtchước và để hun sức gìn giữ nền độc lập nước nhà”

-Ngay sau cách mạng tháng Tám, Bác Hồ đã rất quan tâm đến sức khoẻnhân dân Trong “Thư gửi các vị phụ lão” ngày 21/9/1945, Bác đã chống quanniệm cổ xưa “lão lai tài tận, lão giả an chi” và trong bài “ Sức khoẻ và thể dục,ngày 27/3/1946, Bác viết: “…Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thànhcông… Vì vậy nên tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mọi người dânyêu nước Việc đó không tốn kém, khó khăn gì Gái trai già trẻ ai cũng nên làm

và ai cũng làm được… Dân cường thì nước thịnh…”

- Trong bài “Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn” Bác Hồ đã viết:Truyền thống “Điện Diên Hồng” là truyền thống yêu nước vẻ vang chung củadân ta và riêng của các cụ phụ lão ta

Mỗi khi có việc quan hệ lớn đến nước nhà nòi giống, thì các cụ khôngquản tuổi cao sức yếu, luôn hăng hái đứng ra gánh vác phần mình và đôn đốccon em làm tròn nhiệm vụ

Trong thời kì kháng chiến, chúng ta có những đội du kích “bạch đầuquân” Sự chiến đấu anh dũng và hy sinh oanh liệt của “những đội viên tóc bạcrăng long” đã làm cho lũ giặc kinh hồn và khuyến khích chiến sĩ ta càng thêmdũng cảm Các cụ đã góp phần không nhỏ vào cuộc thắng lợi vĩ đại của nhândân ta

Ngày nay, trong công cuộc xây dung chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làmnền tảng vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, các

cụ cũng tham gia rất hăng hái

“Càng già, càng dẻo lại càng dai,Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai

Đôn đốc con em làm nhiệm vụ

Trang 12

Vuốt râu mừng xã hội tương lai”.

Như vậy, ngay những ngày đầu thành lập nước, cách mạng còn đangtrong trứng nước, thù trong, giặc ngoài đe doạ cũng như trong thời kỳ khángchiến chống thực dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luônđánh giá cao vị trí, vai trò, tiềm năng của người cao tuổi và đồng thời quan tâm,tập hợp, xây dựng tổ chức của Hội người cao tuổi là “Hội Phụ lão cứu quốc”tiền thân của Hội người cao tuổi ngày nay

* Những chủ trương của Đảng:

- Sau khi Hội người cao tuổi Việt Nam được thành lập (10/5/1995), Ban

Bí thư TW đã ban hành Chỉ thị 59/CT-TW “Về chăm sóc người cao tuổi”, quyđịnh: “ Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là tráchnhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Hội người cao tuổi Việt Nam mớiđược thành lập, cần được nhanh chóng ổn định về tổ chức và mở rộng hoạt động

ở cơ sở Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc, các ban đảng, các đoàn thể nhân dân cầngiúp đỡ Hội hoạt động có hiệu quả thiết thực, phối hợp với Hội trong việc vậnđộng gia đình và xã hội chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy người cao tuổi phục vụcông cuộc đổi mới Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, các ban của Đảng, các ban cán sự đảng Chính phủ, Bộ Lao động- Thươngbinh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp phối hợp với Hội nghiên cứu, soát xét cácchính sách luật pháp hiện hành, đề xuất những văn bản pháp quy của nhà nướcnhằm bảo vệ, chăm sóc và phát huy người cao tuổi Nhà nước cần dành ngânsách để giải quyết các vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề chăm sóc người caotuổi Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơnkhông nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh, nhanh chóng xoá bỏ tình trạng ngườigià lang thang trên đường phố, ngõ xóm Đề nghị Chính phủ hỗ trợ Hội ngườicao tuổi Việt Nam về kinh phí và điều kiện hoạt động”

- Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã nêu: “Đối với các lão thànhcách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những ngườicao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng caođời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin,phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xãhội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên,

Trang 13

- Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế NCT(01.10.2002) do TW Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bíthư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước talại đông đảo như hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp ngườicao tuổi nước ta Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức vàlối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động và nghiệp vụphong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thànhnguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng vàphát huy nguồn lực ấy”…

- Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dântham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lãothành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xãhội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những ngườigià cô đơn, không nơi nương tựa…”

- Như vậy, từ Chỉ thị 59, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12của Ban bí thư TW Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng của giađình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội, vì thế,Chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp củachế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

2.Luật pháp, chính sách, chương trình, dịch vụ với người cao tuổi của Việt Nam đang hiện hành:

a Luật pháp của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi:

Trang 14

- Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm

1946, Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm đượcviệc thì được giúp đỡ” Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già,người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứutrợ xã hội…” Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệmnuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, chamẹ… ” Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côikhông nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”

- Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa vụ

và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu,tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chămsóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”

- Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng:Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quyđịnh:“người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiệnthuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”

- Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có tráchnhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sửdụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sứckhoẻ”

- Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều

152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó,luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”

b Chính sách của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi:

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sócngười cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam” Chỉ thịkhẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng vànhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần củangười cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng,toàn dân Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâmđó

Trang 15

Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sáchcủa đảng và hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng đã chỉ thị:

1 Về chăm sóc người cao tuổi:

Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộcquyền thường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi Côngtác này cần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn

và dài hạn của địa phương Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựngcuộc sống mới ở khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục vàđào tạo đẩy mạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ýthức, thái độ và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi

Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch địnhcác kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ýbồi dưỡng và phát huy nguồn lực người cao tuổi Hàng năm cần dành một tỷ lệthích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, pháthuy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi

2 Đối với Hội người cao tuổi:

Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp

và pháp luật dưới sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí

và điều kiện hoạt động

3 Đối với các Bộ, ngành:

* Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý về mặt nhà nước đối vớiHội người cao tuổi có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúngđường lối, chính sách, pháp luật của nhà nước…

* Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về

cơ sở vật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội người cao tuổi ởTrung ương, xã, phường và thị trấn

* Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đếnchính sách đối với người cao tuổi cần tham khảo ý kiến của Hội người cao tuổiViệt Nam trước khi trình Chính phủ và Quốc hội

* Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoahọc và Công nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục thể dục thể thao, Mặt trận tổ quốcViệt Nam… tạo điều kiện và phối hợp…chăm sóc và phát huy vai trò người cao

Trang 16

* Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được banhành năm 2000 Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bước đi thích hợp để chămsóc người cao tuổi

Pháp lệnh người cao tuổi đã dành chương 2: Phụng dưỡng, chăm sócngười cao tuổi (14 Điều) tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nước,các tổ chức, cá nhân trong việc phụng dưỡng chăm sóc người cao tuổi trong đóchính sách chăm sóc sức khoẻ được quan tâm khá toàn diện Điều này đượcminh chứng ở khoản 2 Điều 10; (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản 1, 2 Điều14); (Điều 15); (Điều 16)

* Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định vàhướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi” Điều 9 nêu rõ:người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻnhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi được hưởng dịch vụ ưutiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệkhám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên đư-

ợc cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế

* Căn cứ Nghị định số 30, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hànhThông tư số 16/TT năm 2002 “hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

số 30/CP của Chính phủ”

* Nghị định số120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghịđịnh số 30/CP năm 2002

* Nghị định của Chính phủ số 121/CP “Về chế độ, chính sách đối với cán

bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn” năm 2003 ghi rõ chế độ đối với Chủ tịchHội người cao tuổi cấp xã

* Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/ 2004/TT- BYT hướngdẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định:người cao tuổi được …chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau,bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tạicác cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm

Trang 17

sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phương

Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tếtheo quy định tại Thông tư số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày20/10/2003 của Chính phủ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước vànước ngoài, gia đình của người cao tuổi mua thẻ BHYT cho người cao tuổi

Có thể nói, thông tư 02/2004 của Bộ Y tế đã tiến một bước dài trong việcthể chế hoá chính sách y tế cho người cao tuổi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọngcho việc xây dựng chính sách y tế mới cho người cao tuổi khi Luật người caotuổi được Quốc hội thông qua

* Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thànhlập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”

* Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Về việc banhành quy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi”

* Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp cácđối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lênkhông có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đ/tháng

(Nguồn: sach-c%E1%BB%A7a-d%E1%BA%A3ng-nha-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-v

http://www.socialwork.vn/t%E1%BB%95ng-quan-chinh-%E1%BB%81-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-cao-tu%E1%BB%95i/ ).

Tuy nhiên, các chính sách của các văn bản quy phạm pháp luật về ngườicao tuổi hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về người caotuổi và những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn công tác người cao tuổi những nămqua, đó là:

+ Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ luậtDân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình… có đề cập đến người cao tuổi ở một sốđiều luật Pháp lệnh người cao tuổi và nhiều văn bản quy phạm pháp luật củaChính phủ quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi Các quyđịnh của pháp luật hiện hành đó chưa bao quát đầy đủ, toàn diện về quyền vànghĩa vụ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; phụng dưỡng, chăm sóc

và phát huy vai trò người cao tuổi; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước đối vớicông tác người cao tuổi trong điều kiện đất nước phát triển nền kinh tế thị

Trang 18

trường và hội nhập kinh tế quốc tế Một số quy định về công tác tổ chức Hộichưa được thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn rất khác nhau.

+ Thứ hai, mặc dù Pháp lệnh người cao tuổi và các quy định pháp luậtliên quan đến hoạt động của người cao tuổi đã được ban hành và tổ chức thực thitrong thực tế nhưng ở mức hạn chế vì các văn bản đó đều là các văn bản dướiluật Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về người cao tuổi còn chưa đầy đủ,thiếu hệ thống đồng bộ; các điều luật nặng về tuyên bố nên gặp rất nhiều khókhăn, hạn chế khi tổ chức thi hành trong thực tiễn Hơn nữa, Pháp lệnh ngườicao tuổi ra đời trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, tỷ lệ người caotuổi mới chiếm khoảng 8% dân số

Vì thế, việc nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật người cao tuổi, trên cơ

sở kế thừa Pháp lệnh người cao tuổi và các văn bản hiện hành sẽ góp phần thểchế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ViệtNam về người cao tuổi ở nước ta hiện nay, vừa đáp ứng được nhu cầu hội nhậpvừa có tính lâu dài

c Dịch vụ với người cao tuổi của Việt Nam:

- Dịch vụ tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

- Dịch vụ y tế chăm sóc người cao tuổi tại các bệnh viên công lập

- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện công lập

- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện, phòng khám tư nhân

- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà: Bác sĩ gia đình, Chăm sóc cả ngày,Chăm sóc theo giờ

- Các câu lạc bộ, Hội người cao tuổi

III.THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CÁC MÔ HÌNH DỊCH VỤ HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI CỦA VIỆT NAM:

1.Thực trạng đời sống người cao tuổi:

a Quy mô, cơ cấu NCT:

- Già hóa dân số diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày cànglớn

- Kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 1989, tỷ lệ NCT chiếm 7,2%, năm

2007 là 9,45% và hiện nay khoảng trên 10,5 triệu NCT, chiếm gần 11% dân số

Ngày đăng: 18/01/2018, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w