1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể để phân tích tác động của sự biến động giá xăng dầu trên các ngành kinh tế việt nam

110 340 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 9,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của biến động giá xăng dầu tới sản xuất trong nước, nhập khẩu và xuất khẩu của các ngành kinh tế 58 3.2 Một số chỉ tiêu vốn và lao động của các ngành kinh tế 59 3.3.. Một khi gi

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thanh Nga

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Kết cấu dự kiến của luận văn 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM 6

1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 6

1.1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu ở trong nước 6

1.1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài 8

1.2 NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ XĂNG DẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2014 - 2017 11

1.2.1 Những diễn biến chính của giá xăng dầu Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 6/2017 11

1.2.2 Nguyên nhân cơ bản gây nên biến động giá cả xăng dầu thị trường trong nước giai đoạn 2014 – 2017 13

1.2.3 Ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu tới Việt Nam giai đoạn 2014 – 2017 19

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH 22

2.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 38

Trang 5

2.3 KỊCH BẢN MÔ PHỎNG 52

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CÁC NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM 53

3.1 TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NGÀNH KINH TẾ 53

3.2 TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH 64

3.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM 66

3.4 TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 67

CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 69

4.1 BÌNH ỔN GIÁ XĂNG DẦU 69

4.1.1 Phát triển các nhà máy lọc hoá dầu 69

4.1.2 Bảo đảm đầy đủ nguồn dự trữ xăng dầu trong nước 69

4.1.3 Quản lý gián tiếp doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 70

4.1.4 Xây dựng thị trường giao sau xăng dầu 72

4.2 KÍCH THÍCH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ 73

4.3 PHÁT HUY NHỮNG NGÀNH KINH TẾ ĐƯỢC LỢI TỪ CÚ SỐC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU 73

4.4 HẠN CHẾ, THÁO GỠ NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA CÁC NGÀNH KINH TẾ CHỊU BẤT LỢI TỪ CÚ SỐC GIẢM GIÁ XĂNG DẦU 77

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CGE Mô hình cân bằng tổng thể

2 CPI Chỉ số giá tiêu dùng

3 FTA Hiệp định thương mại tự do

4 GTSX Giá trị sản xuất

5 NHNN Ngân hàng Nhà nước

7 OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ

8 SAM Ma trận hạch toán xã hội

10 TCTK Tổng cục thống kê

11 TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

12 VAT Thuế giá trị gia tăng

14 VHLSS Bộ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu

2.2 Một số chỉ tiêu của các ngành kinh tế 50

3.1 Tác động của biến động giá xăng dầu tới sản xuất trong

nước, nhập khẩu và xuất khẩu của các ngành kinh tế 58 3.2 Một số chỉ tiêu vốn và lao động của các ngành kinh tế 59 3.3 Tình hình tiêu dùng xăng dầu theo các nhóm hộ gia đình 64 3.4 Kết quả mô phỏng kịch bản tác động lên một số chỉ tiêu

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

1.1 Biến động giá xăng dầu qua những năm 2014 – 6/2017 11 1.2 Biến động giá dầu thô thế giới năm 2014 – 1/2017 14 1.3 Sự biến động giữa giá trị EUR/ USD và giá dầu WTI 15

2.1 Mối liên hệ khái quát giữa các thực thể trong nền kinh tế

3.4 Kết quả mô phỏng sản xuất trong nước của các ngành

3.5 Tác động của biến động giá xăng dầu tới tiền lương người

3.6 Cơ cấu sử dụng các nhóm lao động của 25 ngành kinh tế 61 3.7 Thay đổi giá trị nhập khẩu của các ngành kinh tế 63 3.8 Thay đổi giá trị xuất khẩu của các ngành kinh tế 63 3.9 Mức độ tiêu dùng xăng dầu theo các nhóm hộ gia đình 65

Trang 9

Số hiệu

3.10 Mức thay đổi phúc lợi của các nhóm hộ gia đình 65 3.11 Tỷ lệ thay đổi phúc lợi so với năm gốc 66 3.12 Tác động của cú sốc giá xăng dầu tới GDP Việt Nam 66

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Xăng dầu là loại hàng hoá đặc biệt mang tính chiến lược không thể thiếu,

có tầm quan trọng và tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của một nền kinh tế Một thực tế rõ ràng rằng tất cả các ngành kinh tế đều chịu ảnh hưởng to lớn của ngành xăng dầu Không chỉ thế, đây còn là mặt hàng thiết yếu, phục vụ cho việc đi lại, học tập, làm việc,… của người dân Do đó, giá xăng dầu giảm cũng giúp hộ gia đình giảm chi tiêu cho việc đi lại hằng ngày, qua đó kích thích tiêu dùng nhờ khoản tiền tiết kiệm được Giá cước vận tải giảm cũng có thể giúp giá hàng hóa tiêu dùng giảm Như vậy, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi kép từ việc chi tiêu cho vấn đề năng lượng Khi đó, tình hình kinh doanh, làm ăn của doanh nghiệp và người dân sẽ thuận lợi hơn Cho nên hộ gia đình cũng là đối tượng vừa chịu tác động trực tiếp vừa chịu tác động gián tiếp từ biến động giá xăng dầu Một khi giá xăng dầu biến động, chắc chắn các ngành kinh tế cũng như giá cả các loại hàng hoá cũng sẽ biến động theo,

từ đó tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và cũng tác động đến tính

ổn định của nền kinh tế

Từ sau cú sốc giảm giá xăng dầu vào năm 2014, tính đến thời điểm hiện nay, giá xăng dầu liên tục được điều chỉnh giảm Có thời điểm giá xăng chỉ còn khoảng 14.450 đồng/lít (xăng RON 95), đạt mức thấp nhất trong 9 năm qua Trên thực tế, thời gian qua giá xăng dầu đã giảm tới khoảng 40% Đối với một nước nhập khẩu một lượng xăng dầu thành phẩm lớn (chiếm hơn 50%) như Việt Nam thì việc giá xăng dầu giảm mang lại rất nhiều tác động đa chiều Về mặt tích cực, khi chi tiêu cho xăng dầu giảm thì thu nhập khả dụng của người tiêu dùng còn lại cho các sản phẩm hàng hoá khác sẽ tăng lên và sự gia tăng sức mua cho người dân trong nước sẽ góp phần làm tăng GDP Đây cũng là cơ hội để phát triển các hoạt động sản xuất, chi phí đầu vào giảm làm

Trang 11

giảm giá bán sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, doanh nghiệp được kích thích tốt hơn kéo theo tăng trưởng kinh tế và tăng thu cho ngân sách từ thuế giá trị gia tăng, thuế sản xuất…Tuy nhiên, việc giảm giá xăng dầu không chỉ tạo ra lợi ích mà còn mang lại những tác động tiêu cực đối với các ngành kinh tế và cả nền kinh tế Việt Nam.Cú sốc giảm giá xăng dầu sẽ làm giảm thu cho ngân sách ở khâu nhập khẩu Hằng năm chúng ta cũng nhập về một lượng không nhỏ xăng dầu thành phẩm, và với mức thuế suất từ khoảng 10% đến 20% thì số thuế thất thu cũng không phải nhỏ Lúc này, mô hình cân bằng tổng thể là mô hình thích hợp để đo lường và phân tích tác động của cú sốc giá xăng dầu

Có thể nói, cú sốc giảm giá xăng dầu năm 2014 đã mang lại cho nước ta những tác động đa chiều Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam phân tích tác động của giảm giá xăng dầu đến các ngành kinh tế Việt Nam nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung, càng chưa có nghiên cứu nào mang tính thực nghiệm để đo lường về tác động của giá xăng dầu gây ra nhiều bất lợi hơn hay mang lại nhiều lợi ích hơn cho các ngành

kinh tế Đó là lý do để tác giả chọn đề tài “Ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể để phân tích tác động của sự biến động giá xăng dầu đến các ngành kinh tế Việt Nam” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Đánh giá tác động của sự biến động giá xăng dầu đến các ngành kinh tế Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp để hạn chế các tác động tiêu cực , đồng thời phát huy các tác động tích cực của biến động đó

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Tìm hiểu về biến động giá xăng dầu Việt Nam trong giai đoạn 2012 cho tới nay

Trang 12

- Phân tích tác động của cú sốc thay đổi giá xăng dầu theo kịch bản mô phỏng đưa ra tới các ngành kinh tế của Việt Nam, thu ngân sách nhà nước, kim ngạch xuất nhập khẩu và tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Rút ra các hàm ý chính sách phù hợp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của biến động giá xăng dầu đối với nền kinh tế, đồng thời tận dụng

cơ hội từ cú sốc giá xăng dầu để góp phần thúc đẩy tăng trưởng các ngành, chuyển dịch cơ cấu và cải thiện hiệu quả kinh tế

3 Câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu

- Tình hình biến động giá xăng dầu trong giai đoạn 2014 – 2016 diễn ra như thế nào?

- Cú sốc giá xăng dầu ảnh hưởng như thế nào đến các ngành kinh tế của Việt Nam và các nhóm hộ gia đình?

- Những giải pháp hạn chế tác động tiêu cực và phát huy tác động tích cực?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về tác động của biến động giá xăng dầu trong giai đoạn 2014 – 2016 đến các ngành kinh tế của Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: nền kinh tế Việt Nam

- Về thời gian: số liệu sử dụng lấy từ năm 2014 tới tháng 6/2017 và SAM 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn niên giám thống kê, các công bố giá bán xăng dầu của Petrolimex, ma trận hạch toán xã hội SAM 2012 …

Trang 13

- Phương pháp phân tích thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê dữ liệu dãy số thời gian giá xăng dầu trong nước để qua đó có thể có cái nhìn tổng quan nhất về tình hình biến động của giá xăng dầu; từ đó xây dựng kịch bản mô phỏng về cú sốc giá xăng dầu, phục vụ cho các nội dung khác của luận văn

- Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng phương pháp đồ thị và bảng thống kê, tổng hợp các chỉ tiêu là số tuyệt đối và số tương đối, từ đó đưa ra nhận định mô tả thực trạng hiện nay về biến động giá xăng dầu trong nước

- Phương pháp so sánh: phương pháp sử dụng để so sánh một số chỉ tiêu

để thấy sự biến động qua các năm, tác động của biến động giá xăng dầu tới một số chỉ tiêu, ngành sản xuất nói riêng và nền kinh tế nói chung ở năm gốc

so với kịch bản mô phỏng

- Phương pháp phân tích tổng hợp: từ những số liệu thu thập, chọn lọc những kết quả nghiên cứu để đưa ra nhận định cụ thể Từ đó có được cái nhìn tổng quát về tác động của biến động giá xăng dầu lên toàn bộ các ngành kinh

tế của Việt Nam, đồng thời đưa ra kiến nghị và một số hàm ý chính sách cần thiết

- Áp dụng mô hình cân bằng tổng thể dạng tĩnh (CGE): Đây là phương pháp cốt yếu được sử dụng trong luận văn Từ việc khai thác dữ liệu nghiên cứu từ Ma trận hạch toán xã hội của Việt Nam 2012 để có thể xây dựng mô hình cân bằng tổng thể nhằm mô phỏng toàn bộ nền kinh tế, từ đó, sử dụng

mô hình GAMS để tính toán sự thay đổi các chỉ tiêu của nền kinh tế và các tác động của sự thay đổi giá xăng dầu đối với các ngành kinh tế Việt Nam theo kịch bản mô phỏng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Lượng hoá các tác động khác nhau của giá xăng dầu đến nền kinh tế Việt Nam Từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tận dụng cơ hội từ cú

Trang 14

sốc giá xăng dầu để góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp

- Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, hay các chương trình cử nhân, cao học thuộc các chuyên ngành, lĩnh vực có liên quan

7 Kết cấu dự kiến của luận văn

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và tác động của biến động giá xăng dầu đến các ngành kinh tế Việt Nam

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả phân tích tác động của biến động giá xăng dầu đến các ngành kinh tế Việt Nam

Chương 4: Kiến nghị và hàm ý chính sách

Trang 15

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ XĂNG DẦU ĐẾN CÁC NGÀNH KINH TẾ

VIỆT NAM

1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay,tại Việt Nam vẫn chưa có các nghiên cứu thực nghiệm mang tính hệ thống về tác động của cú sốc xăng dầu đến các ngành kinh tế và toàn

bộ nền kinh tế Mặc dù có một số bài báo đề cập đến những tác động có thể có của thay đổi giá xăng dầu nhưng sử dụng các phương pháp VAR là chủ yếu Trương Văn Phước, Chu Hoàng Long (2005) sử dụng phương pháp VAR để đưa ra các lập luận về ước lượng trực tiếp tác động của các yếu tố lên CPI, trong đó có tác động của giá xăng dầu Kết quả cho thấy đã có mối quan

hệ dài hạn giữa CPI và giá xăng dầu Cụ thể là giá xăng thế giới không có tác động ngay lập tức đến CPI nhưng có độ trễ Tính trong dài hạn, giá xăng tăng 1% làm CPI tăng 0,16% Tuy nhiên chưa thể kiểm định thực nghiệm kết quả này Hơn nữa, việc tăng giá xăng dầu không có tác động ngay lập tức đến CPI

và tính động khá phức tạp của giá xăng dầu cho thấy ảnh hưởng của sự kiểm soát trực tiếp đối với xăng dầu Có thể các biện pháp này đã tạo ra độ trễ và làm thay đổi tác động của giá xăng dầu ở Việt Nam

Camen (2006) đã sử dụng một mô hình VAR nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam với số liệu tháng trong giai đoạn từ tháng 2 năm 1996 đến tháng 4 năm 2005 Kết quả cho thấy giá dầu và giá gạo quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với lạm phát và gợi ý rằng giá quốc tế và tỷ giá cũng có vai trò giải thích biến động của lạm phát (19%)

Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Đào Nguyên Thắng (2009) để xác định ảnh hưởng của việc tăng giá xăng đột ngột lên thêm 30% đến nền kinh tế Việt

Trang 16

Nam, đã sử dụng kết quả từ bộ điều tra mới nhất về mức sống hộ gia đình năm 2006 và các kỹ thuật phân tích bảng cân đối liên ngành (đầu vào – đầu ra) 2005 được phân theo 112 ngành sản xuất Kết quả cho thấy ảnh hưởng trực tiếp đối với các hộ gia đình đang sử dụng mặt hàng xăng dầu là sức mua của họ giảm khoảng 1%, mức giá sản xuất bình quân sẽ tăng khoảng 2,56%, mức giá tiêu dùng (CPI) có thể tăng gần 3,67% và tăng trưởng GDP đại khoảng 6,1%

Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) sử dụng mô hình

Mô hình Véc tơ điều chỉnh sai số (VECM) để đánh giá các nhân tố tác động những biến động hàng tháng của lạm phát trong nước giai đoạn 2000-2010, trong đó có biến số giá dầu thế giới được đo bằng chỉ số giá nhập khẩu chung

có tác động nhất định và mạnh hơn đối với chỉ số giá sản xuất (PPI) trong giai đoạn nghiên cứu Hai tác giả đã giải thích rằng các cú sốc giá thế giới ảnh hưởng đến người sản xuất nhiều hơn người tiêu dùng và những thay đổi trong giá dầu hay giá gạo thế giới có tác động nhỏ hơn nhiều so với tác động của chỉ số giá nhập khẩu chung và giá gạo thế giới có tác động lớn hơn một chút

so với giá dầu thế giới

Phạm Thị Hoàng Anh, Chu Khánh Lân, Đào Bích Ngọc, Nguyễn Minh Phương, Trần Huy Tùng (2015) đã phân chia cú sốc giá dầu theo phương pháp của Kilian (2009) và sử dụng mô hình VAR để phân tích tác động của các cú sốc tới giá dầu thế giới giai đoạn 1975-2015 và đánh giá tác động của các cú sốc giá dầu tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1997-2015 Kết quả mô hình cho thấy đóng góp chủ yếu vào sự biến động của giá dầu thế giới trong suốt giai đoạn 1975-2015 là các cú sốc tổng cầu và cú sốc cầu dự phòng, còn cú sốc cung cầu có ảnh hưởng tương đối thấp tới sự biến động của giá dầu, trừ giai đoạn 1976-1982 và vai trò này càng ngày càng suy giảm Cú sốc tăng sản lượng dầu, cú sốc tăng tổng cầu có tác động thúc

Trang 17

đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong khi cú sốc tăng cầu dự phòng lại làm giảm tăng trưởng kinh tế Cú sốc tăng sản lượng dầu làm giảm lạm phát, trong khi cú sốc tăng tổng cầu và cú sốc tăng cầu dự phòng làm tăng lạm phát của Việt Nam

Nhìn chung, các nghiên cứu đều đã nổi bật được một số khía cạnh của tác động cú sốc giá xăng dầu đến nền kinh tế Tuy nhiên khi sử dụng mô hình Var, có một hạn chế đó là giả định các yếu tố của thị trường không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian xác định Var Đây là một hạn chế lớn, và với cú sốc giá xăng dầu năm 2014 đã làm cho thị trường có những biến động lớn một cách đột ngột thì phương pháp này không còn là tối ưu nữa Lúc này, mô hình CGE sẽ khắc phục được hạn chế đó

1.1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài

Mô hình cân bằng tổng thể chưa được sử dụng ở Việt Nam để phân tích tác động của biến động giá dầu đối với nền kinh tế nên trong quá trình nghiên cứu, để hiểu rõ những ứng dụng của mô hình CGE trong phân tích tác động của biến động giá dầu, luận văn đã tham khảo một số tài liệu và công trình nghiên cứu ở nước ngoài sau đây:

K Doroodian, Roy Boyd (2003), đã xem xét cú sốc giá dầu có gây ra lạm phát ở Mỹ hay không bằng cách tăng giá dầu năm 2000 một cách phù hợp với sự biến động giá dầu những năm 1973-1974 và để nền kinh tế trải qua một

sự thay đổi công nghệ Hick Sau đó sử dụng mô hình cân bằng tổng thể dạng động DCGE để phân tích Kết quả là nhận thấy rằng những biến động lớn trong những năm 70 đã gây những ảnh hưởng lớn đến giá xăng và lọc dầu nhưng về lâu dài thì không ảnh hưởng lớn Đồng thời các chỉ số CPI và PPI giảm theo thời gian khi tiến bộ công nghệ tăng

Arief Anshory Yusuf, Budy P Resosudarmo (2009), thông qua việc sử dụng mô hình CGE đối với những hộ gia đình riêng biệt để nghiên cứu giảm

Trang 18

thiểu tác động phân phối của cải cách giá nhiên liệu và tính công bằng của việc cải cách đó Kết quả cho thấy cuộc cải cách được xem là tiến bộ nếu chỉ tăng giá nhiên liệu cho các phương tiện xe cộ Tuy nhiên trên thực tế thì việc tăng giá diễn ra không đồng đều, đặc biệt tại các đô thị, giá nhiên liệu như dầu hoả cũng bị tăng lên Việc bồi thường hợp lý và hiệu quả là rất quan trọng trong việc giảm các chi phí phân phối và tác động về tài sản của việc cải cách Phương thức chuyển tiền mặt cho các hộ nghèo mà không quan tâm đến tính đồng nhất của hộ nghèo dẫn đến sự đền bù vượt quá so với hộ nghèo ở nông thôn nhưng lại dưới mức so với hộ nghèo ở đô thị

Meng Li (2010), khi sử dụng mô hình CGE để lượng hoá tác động của việc thay đổi giá dầu thế giới đến nền kinh tế Trung Quốc đã nhận thấy rằng tác động tích cực của giảm giá dầu dẫn đến tăng GDP khoảng 1% (giống nhau

ở các loại tỷ giá khác nhau), hiệu quả hơn tác động của việc cắt giảm chi phí Điều này cũng mang lại những hiệu ứng tích cực về phúc lợi xã hội bằng cách tăng mức tiêu thụ của hộ gia đình khoảng từ 1,7% - 2,1%

Maryam Soleymani Movahed, Fatemeh Bazzazan (2012), để xem xét ảnh hưởng của giá dầu lên cấu trúc kinh tế và xây dựng chính sách, đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE và ma trận hạch toán xã hội SAM mới nhất tại cấp quốc gia làm dữ liệu chính Mô hình cũng xem xét trong hai điều kiện là tỷ giá hối đoái cố định và tỷ giá hối đoái thả nổi Kết quả là xác định được tỷ giá hối đoái và nền kinh tế Iran có sự tăng trưởng mạnh mẽ

Margaret Chitica, Ismael Fofana, Ramos Mabugu (2012), đã sử dụng mô hình CGE dựa trên năng lượng gắn liền với một mô hình hoá vi mô khu vực

hộ gia đình để đánh giá vai trò của chính phủ trong việc thi hành các chính sách tác động lên tình trạng nghèo đói khi giá dầu thế giới tăng ở Nam Phi Kịch bản đầu tiên giả định răng việc gia tăng giá dầu thế giới được chuyển sang cho người tiêu dùng cuối cùng mà không có các thay đổi trong các công

cụ chính sách của chính phủ Trong kịch bản này, chỉ số nghèo tăng Kịch bản thứ hai giả định rằng sự gia tăng giá của thế giới không gây tác động lớn bởi

Trang 19

chính sách trợ giá của chính phủ Kịch bản này vẫn dẫn đến sự gia tăng nghèo đói vì giảm thu nhập của hộ gia đình Mặc dù doanh thu từ 50% thuế đối với lợi nhuận của ngành dầu khí giúp giảm thiểu thiệt hại trong thu ngân sách nhà nước, nhưng nó không góp phần làm giảm xu hướng nghèo đói ngày càng tăng vì trong kịch bản này, giảm tiết kiệm và đầu tư hạn chế tăng trưởng của đất nước, việc làm và phân phối thu nhập

Marco V Sánchez (2009) đã sử dụng mô hình CGE để nghiên cứu ảnh hưởng phúc lợi xã hội ở các nước đang phát triển nhập khẩu dầu khi tăng giá dầu Thông qua việc phân tích các mô phỏng dựa trên mô hình cân bằng tổng thể

để tính toán, bài viết đã cho thấy tác động tiêu cực đến GDP, đặc biệt đáng kể ở sáu nước đang phát triển nhập khẩu dầu (khoảng 2-3% mỗi năm), dẫn đến thất nghiệp và giá tiêu dùng cao hơn, và kết quả là giảm phúc lợi

Werner Roeger (2005), đã sử dụng mô hình cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát (DSGE) để phân tích định lượng tác động trong ngắn hạn và dài hạn của việc tăng giá dầu đối với sản lượng và lạm phát trong khu vực sử dụng đồng euro Đồng thời so sánh với các dự đoán của các mô hình khác đang được sử dụng Bài viết đã chỉ ra rằng nếu giá dầu vẫn được duy trì ở mức hiện tại thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực lên GDP ở mức độ 5% vào năm tới Trong dài hạn, việc giảm đầu tư sản xuất dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực thêm 1% Ngoài ra, với các quy tắc phản hồi thông tin tiền tệ tiêu chuẩn đang ước tính cho khu vực sử dụng đồng euro như hiện nay thì sẽ không tồn tại nguy cơ lạm phát nghiêm trọng Đồng thời, khi so sánh với các mô hình khác, bài viết cũng chỉ ra rằng phụ thuộc vào cách xử lý dầu khác nhau ở mỗi mô hình mà tạo nên sự khác biệt Những bài viết khác cho rằng phải có sự đánh đổi giữa lạm phát và sản lượng sản xuất, ít nhất là trong ngắn hạn Tuy nhiên, kết quả với

mô hình QUEST cho thấy rằng một cú sốc giá dầu sẽ chỉ tác động một lượng nhỏ lên lạm phát mà thôi

Trang 20

1.2 NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ XĂNG DẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2014 - 2017

1.2.1 Những diễn biến chính của giá xăng dầu Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 6/2017

Thời gian vừa qua, những biến động của thị trường thế giới đã ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường xăng dầu trong nước, dẫn tới giá cả xăng dầu trên thị trường Việt Nam có nhiều biến động không ngừng Biểu đồ dưới đây

sẽ minh hoạ rõ ràng cho sự biến động đó

Biểu đồ 1.1 Biến động giá xăng dầu qua những năm 2014 – 6/2017

Nguồn: Tổng hợp từ công bố của Petrolimex

Từ biểu đồ, có thể thấy rằng diễn biến giá xăng dầu năm 2014 có thể chia làm 2 giai đoạn chính Trong những tháng đầu năm 2014, chúng ta được chứng kiến đà tăng mạnh của xăng dầu, với đỉnh điểm được thiết lập vào ngày 7/7 khi giá xăng RON 95 lần đầu tiên cán mốc 26.140 đồng/ lít Giá xăng RON 92 cũng đạt mức 25.640 đồng/ lít Các loại xăng dầu khác như dầu diesel, dầu hoả, hay dầu mazut đều ổn định hoặc tăng nhẹ không đáng kể Tuy

Trang 21

nhiên, ngay sau đó, giá xăng dầu liên tục giảm theo đà giảm của giá dầu thô thế giới Từ sau lần cán mốc cao nhất là 105,79 USD/ thùng vào tháng 6/2014 thì sau đó giá dầu thô thế giới liên tục giảm cho tới cuối năm 2014, tác động trực tiếp lên giá xăng dầu trong nước Tất cả các loại xăng dầu đều giảm mạnh và đạt mức thấp nhất trong năm tại lần điều chỉnh giá cuối cùng của năm vào ngày 22/12/2014 Giá xăng RON 95 còn 18.480 đồng/ lít, so với giá xăng thời điểm cao nhất trong tháng 7 thì đã giảm 7.660 đồng/ lít tương ứng giảm 29,3% Giá xăng RON 92 cũng chỉ còn 17.880 đồng/ lít, giảm 7.760 đồng/ lít tương ứng giảm 30,3% Ngoài giá xăng giảm liên tiếp, giá dầu diesel, dầu hoả, dầu mazut cũng theo đà giảm Cụ thể dầu diesel còn 16.990 đồng/ lít (giảm 25,5%), dầu hoả còn 17.400 đồng/ lít (giảm 24,2%), dầu mazut cũng chỉ còn 13.500 đồng/ kg (giảm 28,9%)

Trong năm 2015, giá xăng dầu đã trải qua 21 lần điều chỉnh, 6 lần tăng,

12 lần giảm và 3 lần giữ nguyên Các tháng đầu năm 2015, các loại xăng dầu

có xu hướng tăng trở lại và đạt mức cao nhất trong năm vào ngày 19/6/2015

và sau đó lại tiếp tục giảm cho đến hết năm Nhìn chung, các mặt hàng xăng dầu năm này đều giảm, giảm mạnh nhất là dầu hỏa với mức giảm 6.340 đồng/lít tương đương 36,4%, tiếp đến là dầu diesel giảm 5.010 đồng/lít (29,4%), sau đó đến dầu mazut giảm 4.970 đồng/kg (36,8%), xăng có mức giảm ít nhất 1.380 đồng/lít (7,5%), 1,480 đồng/lít (8,3%) và 1970 đồng/ lít (11%) tương ứng với RON 95, RON 92 và xăng sinh học E5 RON 92

Tổng quan trong năm 2016, thị trường dầu thô thế giới đã chứng kiến nhiều biến động khi giá dầu chạm mức đáy lịch sử ở mức 30 USD/ thùng vào đầu tháng 2/2016 Đây là mức giảm thấp nhất từ năm 2009 đến nay Cũng bởi

vì biến động thị trường xăng dầu trong nước gắn liền với biến động của thị trường thế giới cho nên trên đà giảm giá từ cuối năm 2015, giá xăng dầu đã giảm đạt mức thấp nhất vào ngày 18/2/2016 Cụ thể, giá xăng RON 95 giảm

Trang 22

còn 14.450 đồng/ lít, xăng RON 92 giảm còn 13.750 đồng/ lít, xăng sinh học E5 RON 92 giảm còn 13.320 đồng/ lít Các loại dầu cũng giảm ở mức đáy với các mức giá 9580 đồng/ lít, 8900 đồng/ lít và 7590 đồng/ kg tương ứng lần lượt là dầu diesel, dầu hoả và dầu mazut Tuy nhiên sau đó, biểu đồ 1.1 lại cho thấy đà tăng trở lại của giá xăng dầu từ tháng 3 trở đi Thị trường xăng dầu 2016 đã chính thức khép lại sau đợt điều chỉnh cuối cùng vào ngày 20/12 vừa qua với mức tăng cao nhất từ đầu năm Cụ thể, xăng RON 95 đã tăng lên mức tối đa 18.290 đồng/ lít, RON 92 đã tăng lên 17.590 đồng/lít Giá xăng sinh học E5 RON 92 cũng tăng lên mức tối đa 17.322 đồng/lít Tương tự các loại dầu diesel, dầu hoả và mazut cũng tăng lên mức cao nhất trong năm

2016

Căn cứ vào các biến động giá cả trên thị trường thế giới, tính đến tháng 6/2017, giá cả xăng dầu trong nước đã trải qua 11 lần điều chỉnh Nhìn vào biểu đồ 1.1, ta có thể thấy rằng giá cả xăng dầu năm 2017 tương đối ổn định Các mức tăng/ giảm giữa các lần điều chỉnh không lớn và phù hợp với sự biến động giá cả dầu thô thế giới Tính đến 20/6/2017, giá xăng RON 95 đạt 17.200 đồng/ lít, so với đầu tháng 1/2017 là 18.290 đồng/ lít giảm 1.090 đồng/ lít tương ứng với giảm 6% Tương tự, so với đầu tháng 7/2017, giá xăng RON

92 còn 16.500 đồng/ lít, giảm 1.090 đồng/ lít tương ứng với 6,2% Các loại dầu khác cũng giảm nhẹ so với đầu năm 2017

1.2.2 Nguyên nhân cơ bản gây nên biến động giá cả xăng dầu thị trường trong nước giai đoạn 2014 – 2017

Như chúng ta đã biết, giá xăng dầu Việt Nam đã dựa trên cơ sở giá thế giới và các loại thuế cũng như mức trích/ xả quỹ bình ổn giá xăng dầu Đồng thời, căn cứ vào định mức chi phí kinh doanh và mức lợi nhuận hợp lý để quyết định giá cơ sở - căn cứ để điều chỉnh giá bán lẻ theo chu kỳ 15 ngày Đây cũng là lí do vì sao tác động của giá thế giới đến giá trong nước luôn có

Trang 23

độ trễ nhất định Nhìn chung, có 3 yếu tố chính tác động lên giá xăng dầu trong nước hiện nay, đó là giá dầu thô thế giới, thuế phí và quỹ bình ổn xăng dầu

a Biến động giá dầu thô thế giới

Xăng dầu là một trong những sản phẩm được chế biến từ dầu thô thông qua quá trình lọc dầu Do đó, khi giá dầu thô biến động, lập tức ảnh hưởng tới thị trường xăng dầu toàn thế giới, và thị trường xăng dầu Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Có thể nói, biến động của giá dầu thô là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự bất ổn giá cả trên thị trường xăng dầu Biến động của giá dầu do nhiều nhân tố như nhân tố chính trị và sự bất ổn trên thế giới với yếu tố tâm lý, là những nhân tố có tác động mạnh, còn nhân tố cung cầu là nhân tố quyết định sự biến động giá dầu trên thị trường thế giới

Biểu đồ 1.2 Biến động giá dầu thô thế giới năm 2014 – 1/2017

Nguồn: Federal Reserve Bank of St Louis

Theo dõi biểu đồ biến động giá dầu thô ở trên, có thể thấy từ năm 2014 cho tới nay, giá dầu thô thế giới chứa đựng nhiều bất ổn và thay đổi liên tục, nhưng xu hướng chung của giai đoạn vẫn là giảm Tính tới đầu năm 2017, giá

Trang 24

dầu thô giao động quanh mức 50 USD/ thùng, giảm đến khoảng 50% so với giá dầu thô đầu năm 2014 Đặc biệt có thời điểm giá dầu thô chỉ còn gần 30 USD/ thùng (vào tháng 2/2016), đạt mức thấp nhất trong cả giai đoạn và giảm đến 70% so với thời điểm giá dầu thô đạt mức giá cao nhất của giai đoạn (vào tháng 6/2014) Biểu đồ cũng chỉ rõ ràng rằng giá dầu thô thế giới khi tăng thì tăng tương đối chậm và mức tăng cũng rất nhẹ, trong khi giảm thì lại tương đối nhanh và giảm sâu

Ngoài ra, đồng USD tiếp tục gây sức ép mạnh mẽ lên giá dầu Đồng USD mạnh lên cũng đã làm trầm trọng hơn nữa xu thế lao dốc của giá dầu thô Giao dịch dầu thô quốc tế đều định giá bằng đồng USD, điều này có nghĩa là đồng USD tiếp tục mạnh lên, giá dầu thô sẽ giảm xuống Có nghiên cứu cho rằng nếu đồng USD tăng giá 5%, giá dầu sẽ có thể giảm 10-25%

Biểu đồ 1.3 Sự biến động giữa giá trị EUR/ USD và giá dầu WTI

Nguồn: EIA và Federal Reserve Bank of St Louis

Trang 25

b Tác động từ thuế, phí và quỹ bình ổn

Về chính sách thuế phí, hiện nay cách tính thuế phí trong mặt hàng xăng dầu còn rất nhiều bất cập 1 lít xăng dầu của Việt Nam phải cõng quá nhiều thuế phí Điều này thực sự không đảm bảo lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng

Cơ quan quản lý nhà nước điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong nước bằng giá cơ sở Theo mục 9, điều 3 của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, Giá cơ sở bao gồm các yếu tố và được xác định bằng (=) {Giá CIF cộng (+) Thuế nhập khẩu cộng (+) Thuế tiêu thụ đặc biệt} nhân (x) Tỷ giá ngoại tệ cộng (+) Thuế giá trị gia tăng cộng (+) Chi phí kinh doanh định mức cộng (+) mức trích lập Quỹ Bình ổn giá cộng (+) Lợi nhuận định mức cộng (+) Thuế bảo vệ môi trường cộng (+) Các loại thuế, phí và các khoản trích nộp khác theo quy định của pháp luật hiện hành; được tính bình quân của 15 ngày sát với ngày tính giá của chu kỳ dự trữ xăng dầu bắt buộc quy định tại Khoản 1 Điều 31 Nghị định này Trong đó:

Giá CIF là giá xăng dầu thế giới cộng (+) Phí bảo hiểm cộng (+) Cước vận tải về đến cảng Việt Nam

Từ công thức tính trên, ta có thể thấy hiện một lít xăng đang phải áp các loại thuế phí sau: thuế nhập khẩu (thuế bình quân gia quyền), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT, thuế bảo vệ môi trường, chi phí định mức, lợi nhuận định mức, chi quỹ bình ổn Theo tính toán, thuế nhập khẩu áp trên mỗi lít xăng là 1.275 đồng, thuế bảo vệ môi trường (3.000 đồng), chi phí định mức (1.050 đồng), lợi nhuận định mức (300 đồng), quỹ bình ổn giá (300 đồng), thuế tiêu thụ đặc biệt (1.380 đồng), thuế VAT (1.520 đồng) Như vậy, tổng các loại thuế phí một lít xăng phải gánh đạt 8.825 đồng Trong khi đó, giá xăng RON

92 bán lẻ ngày 5/10 được Petrolimex niêm yết ở mức 16.400 đồng Như vậy, thuế phí chiếm tới 53,8% giá xăng

Trang 26

Hiện nay, theo các Hiệp định FTA song phương và đa phương đã kí kết, Việt Nam đang thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu xăng dầu theo các mức khác nhau Đối với xăng là 20% nhập từ ASEAN và 10% nhập từ Hàn Quốc; tương tự đối với các mặt hàng dầu là 0% và 5% Hiện nguồn thu từ thuế nhập khẩu xăng dầu chiếm khoảng 7% ngân sách nên trong lộ trình giảm thuế mà Nhà nước bắt buộc phải tuân thủ sẽ làm ngân sách hụt thu nghiêm trọng Để

bù lại khoản thu hụt thuế nhập khẩu này, mới đây, Bộ Tài chính đề xuất tăng khung thuế bảo vệ môi trường đối với một số mặt hàng xăng, dầu lên gấp 2-3 lần so với khung hiện hành Cụ thể, đối với xăng (trừ xăng etanol), mức thuế

dự kiến sẽ tăng 1.000-4.000 đồng/lít lên 3.000-8.000 đồng/lít Riêng xăng E5

và E10 cũng được đề xuất áp dụng mức 2.500-7.200 đồng/lít Tuy nhiên, việc tăng thuế đối với xăng dầu nhằm bù vào khoản hụt thu từ các hiệp định thương mại sẽ tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế và khiến các doanh nghiệp Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ nước ngoài

Về quỹ bình ổn giá xăng dầu, quỹ này được hình thành theo quy định tại Nghị định 84/2009/NĐ-CP là 300 đồng/lít (kg) của lượng xăng dầu thực tế tiêu thụ Mức trích này cũng sẽ được Bộ Tài chính điều chỉnh phù hợp với những biến động của thị trường Quỹ bình ổn giá được hạch toán vào tài khoản riêng và được sử dụng vào mục đích bình ổn giá, từ đó kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định tăng trưởng và an sinh xã hội nghiêm cấm sử dụng vào mục đích khác Định kỳ hàng quý và theo yêu cầu quản lý đột xuất các doanh nghiệp phải báo cáo kết quả trích và sử dụng quỹ bình ổn giá đối với Bộ Tài chính Nếu nhìn vào mục đích tồn tại của quỹ thì thấy rất có lợi cho người sử dụng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng quỹ bình

ổn giá xăng dầu ở Việt Nam không thực sự tốt như vậy Về bản chất, Quỹ bình ổn xăng dầu hiện nay ở Việt Nam đang lấy tiền của chính người mua xăng dầu để “bình ổn” giá cho người mua xăng dầu Do đó, xét về an sinh xã

Trang 27

hội không được cải thiện gì, vì người mua xăng dầu tuy có được mua xăng dầu bình ổn với giá không tăng trong tương lai gần nhưng đó chỉ là do họ đã ứng trước cho phần giá tăng lên này, chứ sự “bình ổn” không tự nhiên đến, hoặc đến nhờ có tiền trợ giá của một bên thứ ba như nhà nước chẳng hạn

Để dễ hiểu, ta lấy một ví dụ như sau Giá bán lẻ xăng ngày hôm nay, chưa gồm tiền trích vào Quỹ bình ổn, là 20.000 đồng/lít Giả sử ta trích 5% giá xăng Sau khi trích Quỹ bình ổn, ví dụ, 5% giá xăng, giá bán lẻ xăng sẽ thành 21.000 đồng/lít Như vậy, việc trích lập Quỹ bình ổn đã tước đi của người mua xăng dầu thêm 1.000 đồng/lít vào thời điểm hiện tại Giả sử một tháng sau, giá xăng dầu nhập khẩu tăng lên làm cho giá bán lẻ trong nước lẽ

ra phải tăng lên đúng 5% (1.000 đồng/lít) Nhờ có Quỹ bình ổn, giá bán lẻ xăng dầu không thay đổi Nhưng điều này không có nghĩa là người mua xăng dầu được lợi 1.000 đồng/lít một tháng sau này, vì thực chất họ đã ứng trước

số đó một tháng trước, thông qua trích lập Quỹ bình ổn Do đó, xét cho cùng,

về mặt an sinh xã hội, người tiêu dùng nói riêng và xã hội nói chung không được lợi thêm gì từ Quỹ bình ổn giá xăng dầu

Nhìn chung, do tác động của thuế phí và quỹ bình ổn giá xăng dầu, cùng với chu kì điều chỉnh giá 15 ngày theo nghị định số 83/2014/NĐ-CP cho nên tuy là giá xăng dầu tăng/ giảm cùng nhịp điệu với sự tăng/ giảm của giá dầu thô nhưng mức tăng/ giảm vẫn ít hơn với tốc độ chậm hơn Do đó, trong giai đoạn vừa qua, vào thời điểm giá dầu chạm đáy vào tháng 2/2016 giảm đến 50% so với thời điểm giá dầu đạt mức cao nhất vào tháng 7/2014 thì giá xăng chỉ giảm 40% mà thôi

Trang 28

1.2.3 Ảnh hưởng của biến động giá xăng dầu tới Việt Nam giai đoạn

2014 – 2017

a Về mặt tích cực

Làm giảm đáng kể chi phí đầu vào cho các ngành kinh tế

Xăng dầu là mặt hàng quan trọng, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới tất cả các ngành sản xuất trong nền kinh tế Ngày nay, khi kinh tế phát triển, các nhà máy, xí nghiệp càng có xu hướng mở rộng và phát triển sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu chung của xã hội và thu lợi nhuận Đặc biệt là đối với ngành khai thác thuỷ sản, ngành sản xuất xăng dầu và các sản phẩm chiết xuất

từ dầu mỏ, các ngành vận tải và dịch vụ vận tải,… là những ngày có nhu cầu

sử dụng xăng dầu nhiều nhất thì việc giảm giá xăng dầu có tác động cực kỳ lớn tới hoạt động sản xuất và kinh doanh Tính bình quân, đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh này, xăng dầu chiếm từ 20% đến 30% chi phí đầu vào Do đó, khi giá xăng dầu liên tục giảm sẽ kéo theo giảm đáng kể các chi phí sản xuất như vận chuyển, sản xuất kinh doanh,… từ đó giúp doanh nghiệp giảm giá thành, tăng lợi nhuận, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp tiết giảm chi phí giá thành sản xuất, đồng thời nâng sức cạnh tranh

Người dân được hưởng lợi

Việc giá xăng dầu giảm đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội của người dân Đầu tiên phải kể đến chi phí đi lại Nhu cầu sử dụng các phương tiện giao thông là rất cần thiết và không thể thiếu đối với xã hội hiện đại Tất

cả các hoạt động trong công việc, du lịch, học hành,… vẫn diễn ra hằng ngày

Do đó, khi giá xăng giảm, một lượng chi phí không nhỏ cho hoạt động đi lại làm việc cũng được tiết kiệm Thứ hai, khi chi tiêu cho xăng dầu giảm thì thu nhập khả dụng của người tiêu dùng còn lại cho các sản phẩm hàng hoá khác

sẽ tăng lên, làm tăng nhu cầu về các hàng hoá, từ đó gia tăng sức mua cho

Trang 29

người dân trong nước, góp phần làm tăng GDP Thứ ba, một bộ phận người dân được hưởng lợi rõ ràng nhất từ việc giảm giá xăng dầu là ngư dân Như chúng ta đã biết, tàu thuyền chủ yếu chạy bằng dầu diesel nên từ khi giá dầu diesel xuống dốc đã tạo nhiều điều kiện để ngư dân tiết kiệm chi phí sản xuất, nâng cao nhu nhập Lấy ví dụ về lần giảm giá rõ ràng nhất vào năm 2014, khi giá dầu diesel là 22.330 đồng/ lít vào ngày 28/7 thì đến ngày 6/12, sau nhiều lần điều chỉnh giá, giá dầu diesel giảm xuống chỉ còn 18.410 đồng/ lít Như vậy, giá dầu diesel đã giảm 3.920 đồng/ lít Theo thông tin tìm hiểu được, trung bình một đêm đánh bắt, tàu tiêu tốn khoảng 500 lít dầu, nếu chuyến đó khai thác trong 5 đêm thì sẽ tiết kiệm được 2.500 lít dầu, tương ứng với người ngư dân sẽ tiết kiệm được 9,8 triệu đồng Đây chỉ là tính trong một lần đi tàu, nhưng một tháng, ngư dân không chỉ đi đánh bắt xa bờ một lần duy nhất như thế này Bình quân 1 tháng họ sẽ ra biển 4-5 lần, đồng nghĩa họ sẽ tiết kiệm được khoảng từ 39,2 – 49 triệu đồng/ tháng Đối với ngư dân mà nói thì đây tuyệt nhiên không phải là một số tiền nhỏ

b Về mặt tiêu cực

Giảm thu ngân sách Nhà nước

Tuy là quốc gia xuất khẩu dầu thô nhưng Việt Nam vẫn phải nhập xăng dầu thành phẩm từ các nước về tiêu thụ Tính đến năm 2017, mức tiêu thụ xăng dầu vào khoảng 16 triệu m3

, sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 40%, còn lại 60% phải nhập khẩu từ nước ngoài Theo Tổng cục Hải quan, năm

2016, Việt Nam chi 4,94 tỷ USD nhập khẩu gần 11,856 triệu tấn xăng dầu, giảm 7,3% về trị giá nhưng tăng 18% về sản lượng so với năm 2015 Trong năm qua, các thị trường chủ lực như Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc đã cung cấp hơn 11,62 triệu tấn xăng dầu cho Việt Nam, chiếm 98% sản lượng xăng dầu nhập khẩu cả nước với tổng trị giá 4,78 tỷ USD, chiếm gần 96,8% tổng giá trị nhập khẩu xăng dầu trong cả năm 2016 Cụ thể, nhập khẩu

Trang 30

xăng dầu từ Singapore trong năm qua lên tới 4,081 triệu tấn, trị giá 1,57 tỷ USD, tiếp đến là Malaysia 3,093 triệu tấn, trị giá 1,178 tỷ USD, Hàn Quốc 1,904 triệu tấn, trị giá 940 triệu USD, nhập khẩu từ Thái Lan 1,502 triệu tấn, trị giá 638 triệu tấn, Trung Quốc 1,043 triệu tấn, trị giá 451 triệu tấn Số liệu thống kê của mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong tháng 1/2017, lượng xăng dầu nhập khẩu khoảng 910.000 tấn, trị giá 494 triệu USD, tăng 21,4% về lượng và tăng 107,5% về trị giá so với tháng 1/2016 Dễ dàng để thấy rằng lượng nhập khẩu xăng dầu hiện nay vẫn còn tương đối lớn Cho nên, khi giá xăng dầu giảm, thu ngân sách từ việc nhập khẩu xăng dầu cũng giảm theo

Mặt khác, tính đến nay, Việt Nam đã kí kết hoặc kết thúc đàm phán 11 FTA song phương và đa phương (không tính TPP) Trong đó có các cam kết cắt giảm thuế quan xăng dầu Ví dụ như, trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ANTIGA), lộ trình giảm thuế với xăng ôtô là: 20% (2016 - 2020), 8% (2021 - 2022), 5% (2023) và từ 2024 là 0% Đối với dầu diesel, dầu mazut là 0% (từ 2016) Trong Hiệp định mậu dịch tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA), lộ trình giảm thuế nhập xăng ôtô là 10% (2016 - 2020), 8% (2021 - 2028) Còn trong Hiệp định mậu dịch tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), sau 4 năm Hiệp định có hiệu lực, thuế nhập khẩu xăng ôtô

sẽ giảm xuống 8%, năm thứ 7 giảm xuống 7% và năm thứ 11 sẽ là 0% Dầu diesel năm thứ 9 sẽ là 7%, năm thứ 11 là 0% Theo lộ trình cắt giảm thuế như thế này thì rõ ràng rằng nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu xăng dầu bị hụt tương đối đáng kể Ông Phạm Đình Thi - Vụ trưởng Vụ chính sách thuế

nhập khẩu, nếu giảm thuế nhập khẩu theo Thông tư 48 so với mứ thu

Trang 31

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH

Để đánh giá tác động của cú sốc giá xăng dầu đến các ngành kinh tế của Việt Nam, luận văn đã sử dụng mô hình cân bằng tổng thể CGE ở dạng tĩnh

Mô hình cân bằng tổng thể là phương pháp sử dụng các công cụ toán và máy tính nhằm mô phỏng hoạt động của một nền kinh tế Nhờ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, mô hình CGE ngày càng được sự dụng rộng rãi để giải quyết các bài toán kinh tế ở tầm vĩ mô

Mô hình CGE thường được xây dựng dựa vào giả định rằng, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, người sản xuất căn cứ vào giá các yếu tố sản xuất và giá sản phẩm bán ra để xác định mức sản lượng sản xuất (lượng cung) nhằm tối đa hoá lợi nhuận; người tiêu dùng căn cứ vào mức thu nhập và giá mua từng loại hàng hoá trên thị trường để xác định mức tiêu dùng (lượng cầu) đối với từng loại hàng hoá nhằm đạt được mức hữu dụng cao nhất Giá

cả của từng loại hàng hoá được quyết định thông qua mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với nền kinh tế mở, mối quan hệ giữa sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng, sự lựa chọn của người sản xuất và người tiêu dùng không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của thị trường thế giới thông qua các hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ quyết định lượng cung và cầu ngoại tệ dẫn đến sự điều chỉnh tỷ giá trên thị trường ngoại hối Trong điều kiện tự do cạnh tranh, nền kinh tế sẽ vận hành và tự điều chỉnh để đạt đến điểm cân bằng, tại đó lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế đạt được mức tối ưu nhất

Trong ứng dụng mô hình CGE, nền kinh tế ban đầu được giả định đang ở

vị trí cân bằng, nghĩa là với mức giá cả hiện tại, ở tất cả các ngành kinh tế, tổng cung đang cân bằng với tổng cầu Lúc này, ta nói nền kinh tế đang ở

Trang 32

điểm cân bằng ban đầu Dưới tác động của một cú sốc giá, toàn bộ nền kinh tế

sẽ dịch chuyển tới một điểm cân bằng khác Qua mỗi cú sốc, phương pháp CGE sẽ xác định điểm cân bằng mới của nền kinh tế Từ đó thấy được sự thay đổi của các ngành, đồng thời tính toán được sự thay đổi không chỉ của riêng các ngành kinh tế mà còn cho cả toàn bộ nền kinh tế

Mô hình CGE được trình bày trong bài viết này là mô hình chuẩn cho nền kinh tế mở, qui mô nhỏ, chấp nhận giá và cạnh tranh theo định hướng thị trường Cấu trúc lý thuyết của mô hình được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu của Dervis, de Melo, và Robinson (1982), Vargas, Schreiner và cộng sự (1999), Hosoe (2001), và Chen (2004) Mô hình cho phép mô phỏng hoạt động và mối quan hệ của năm thực thể chủ yếu trong một nền kinh tế: doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình, hoạt động đầu tư và phần còn lại của thế giới (ROW) Mối liên hệ giữa các thực thể trong mô hình được biểu hiện trên sơ

đồ tổng quát sau:

Điểm cân bằng

ban đầu

Điểm cân bằng mới

Đo lường

sự thay đổi

(1)

(2) (3)

Cú sốc Kinh tế

Trang 33

Biểu đồ 2.1 Mối liên hệ khái quát giữa các thực thể trong nền kinh tế

Doanh nghiệp

Trong mô hình CGE, nền kinh tế bao gồm n ngành sản xuất, mỗi ngành

sử dụng lao động, vốn và sản phẩm trung gian Cung của mỗi loại lao động là

cố định và cho phép di chuyển tự do giữa các ngành Lượng vốn đã được đầu

tư tích lũy theo ngành được giả định là không thay đổi trong ngắn hạn

Để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa, ngoài lượng sản xuất trong nước, sản phẩm của mỗi ngành còn có thể được nhập khẩu từ nước ngoài Do

Tiêu dùng nội địa Xuất khẩu Nhập khẩu

Tiêu dùng

cá nhân

Tiêu dùng của chính phủ

Đầu tư Tiêu dùng

trung gian

Tổng cầu Tổng cung

Giá cân

bằng

Trang 34

giá của hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu có sự khác biệt nên mức giá mua bình quân được xác định như sau:

j j j

j j

j j

j j j

1 1 1

1

) 1 (

(1) Trong đó PD jPM j lần lượt là giá của hàng hóa sản xuất trong nước và giá hàng nhập khẩu; B , j jjlà các tham số ( j là hệ số đàn hồi thay thế) Sản phẩm đầu ra của mỗi ngành được giả định bán trên thị trường trong nước và xuất khẩu Do giá bán trên thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu cũng có sự khác biệt, giá bán bình quân của sản phẩm nhà sản xuất thu

về được xác định:

1

1 1 1

1

*

) 1

j j

j j

j j j

P

(2) Trong đó PE j là giá xuất khẩu của hàng hóa j, N , j jj là các tham số ( jlà hệ số đàn hồi chuyển đổi)

Lợi nhuận của người sản xuất được xác định là phần còn lại sau khi thanh toán toàn bộ chi phí cho sản phẩm trung gian và lao động:

i j j j

(3) Trong đó X j là giá trị sản xuất; i

, min

2 2

1 1

nj nj j

j j j j

j j

a

X a

X a

X v

V X

Trong đó V j là giá trị tăng thêm được tạo ra dựa trên hàm sản xuất Douglas, sử dụng các yếu tố lao động và vốn:

Cobb-Kj lj j

Trang 35

Trong đó K j là vốn tích lũy trong từng ngành; v jlà hệ số giá trị tăng thêm; a ij là các hệ số đầu vào A j là hệ số sản xuất Các tham số ljKj

hệ số đàn hồi của lao động và vốn Tất cả các công nghệ sản xuất đƣợc giả định đồng nhất mức độ một (homogenous of degree one), vì thế Kj 1 l lj

Khi nhà sản xuất tối đa hóa lợi nhuận, điều điều kiện sau cần phải đƣợc thoả mãn:

nj nj j

j j j j

j j

a

X a

X a

X v

V

2 2 1 1

(5) Lợi nhuận của từng ngành đƣợc xác định nhƣ sau:

j i j j

Từ điều kiện bậc nhất (FOC) để tối đa hóa lợi nhuận, nhu cầu đối với

từng loại lao động của ngành thứ j đƣợc xác định:

j lj l

j

W

PV L

(6) Trong đó

j

ij

i i i

j j j

v

a P t

v

V X

(8)

và nhu cầu trung gian là:

X ij a ij X j (9)

Trang 36

Chính phủ

Mô hình giả định rằng chức năng chủ yếu của chính phủ là thu các loại thuế, chi tiêu cho nhu cầu hoạt động của chính phủ, trợ cấp cho hộ gia đình và tiết kiệm để đầu tư Thu nhập của chính phủ bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT, thuế nhập khẩu, xuất khẩu và phần

hỗ trợ nhận được từ nước ngoài:

g j

e j e j j

j

m j m j j

j

i j j j d

d K

t là thuế suất thuế thu nhập các nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp;

m j

t

e j

t là thuế suất thuế xuất nhập khẩu; M j

E j

là nhập khẩu và xuất khẩu của hàng hóa j;

m j

e j

PW là giá trên thị trường thế giới của các loại hàng hóa; ER là tỷ giá hối đoái; F g

là thu nhập của chính phủ từ các nguồn ở nước ngoài và được giả định là ổn định qua các năm Các mức thuế suất không phải luôn luôn được ấn định sẵn mà

có thể được điều chỉnh nội sinh trong mô hình một cách linh hoạt tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu

Giả sử rằng chính phủ mua G rổ hàng hóa, mỗi rổ bao gồm n loại hàng

hóa theo một cơ cấu cố định k1,k2, ,k n( j k j 1 ) Lượng hàng hóa j được

chính phủ tiêu dùng có thể xác định như sau:

G k

Giới hạn ngân sách chính phủ để mua rổ hàng hóa là

g p

G P s

tr

j P j k j G

PG G

Trang 37

Trong đó

PG là giá của rổ hàng hóa chính phủ mua; p

tr là tỷ lệ trợ cấp cho hộ gia đình; và g

s là tỷ lệ tiết kiệm của chính phủ Như vậy, số rổ hàng hóa được tiêu dùng bởi chính phủ sẽ là:

PG

s tr

T G

g p

) 1 )(

1 (

Thay vào trong công thức (11) được hàm cầu của chính phủ:

PG

s tr

T k G

g p

j j

) 1 )(

1 (

(12)

Hộ gia đình

Mô hình bao gồm nhiều nhóm hộ gia đình Các nhóm hộ gia đình thường được phân loại theo các tiêu thức: vị trí địa lý (nông thôn/ thành thị) và theo mức thu nhập (5 nhóm thu nhập, mỗi nhóm gồm 20% số hộ) Phân nhóm hộ gia đình

là yếu tố quan trọng để nghiên cứu sự phân phối thu nhập của nền kinh tế Hộ gia đình được giả định sở hữu các loại lao động Việc phân chia nhân tố lao động của cả nền kinh tế thành các loại cụ thể có thể được biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau, riêng trong bài viết này sẽ phân chia như sau:

Biểu đồ 2.2: Phân loại nhân tố lao động trong nền kinh tế

Lực lượng lao động của nền kinh tế

học

Trang 38

Nông nghiệp

Phi nông nghiệp

H3, H8, H13, H18: Nhóm có thu nhập trung bình

H4, H9, H14, H19: Nhóm có thu nhập khá

H5, H10, H15, H20: Nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm giàu nhất)

Mỗi nhóm hộ gia đình nhận được thu nhập từ vốn và các loại lao động khác nhau Việc phân phối thu nhập từ các nhân tố lao động và vốn đến các nhóm hộ gia đình có thể được thực hiện theo mộ tỷ lệ cố định (mô hình tĩnh), hoặc theo một tiêu thức nào đó Ngoài ra, thu nhập của các nhóm hộ gia đình còn bao gồm trợ cấp của chính phủ và chuyển giao từ nước ngoài

Trang 39

Biểu đồ 2.4 Phân phối thu nhập từ các nhân tố cho các nhóm hộ gia đình

Từ đó, ta có phương trình

T r p K

r d K j

L rl d Ll

r

tỷ lệ phân phối thu nhập từ các loại lao động, vốn và trợ cấp của chính phủ

cho từng nhóm hộ gia đình loại r; F prlà dịch chuyển thuần từ nước ngoài cho

hộ gia đình loại r và được giả định là ổn định Chú ý rằng

1 ,

1

r

K r r

Hộ gia đình chi toàn bộ thu nhập cho việc tiêu dùng, tiết kiệm và thông qua chính phủ để hoàn trả các khoản nợ vay nước ngoài (nếu có) Giới hạn ngân sách cho tiêu dùng của hộ gia đình là pr r

pr

s là tỷ lệ tiết kiệm; *

i là lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế; H _ DEBT r

là nợ nước ngoài của hộ gia đình nhóm thứ r Trong mô hình này H _ DEBT r

được giả định là ổn định

Với mỗi mức thu nhập cho trước, hộ gia đình phải giải quyết vấn đề tối

đa hóa dụng ích với ràng buộc sau:

cho loại lao

động L1

cho loại lao động L2

cho loại lao động L6

cho nhân tố vốn

Thu nhập của

nhóm hộ gia đình

H1

Thu nhập của nhóm hộ gia đình

H2

Thu nhập của nhóm hộ gia đình

H20

Trang 40

Trong đó U r là mức hữu dụng; C jr là mức hàng hóa j mà hộ gia đình

nhóm r tiêu dùng, jr là mức ngân sách cận biên đối với hàng hóa j, và jr

mức tiêu dùng tối thiểu

Giải điều kiện bậc nhất cho ta hàm nhu cầu của hộ gia đình như sau:

r pr

r j

jr jr

P

Thông thường jr được xác định (calibrate) dựa vào bảng SAM và jr

được tính toán từ những nguồn dữ liệu khác Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về

jr, mô hình sử dụng phiên bản đơn giản của LES bằng cách giả định mức

tiêu thụ tối thiểu đối với mọi hàng , jr, là bằng 0 Khi đó:

r jr jr

P

DEBT H

i s Y

*

(16)

Đầu tư

Tương tự như trường hợp chi tiêu của chính phủ, ta định nghĩa một rổ

đầu tư bao gồm n loại hàng hóa với tỷ lệ cố định 1, 2, , ( 1 )

h h

rằng có Inv rổ đầu tư được mua Số lượng hàng hóa j được mua cho hoạt

động đầu tư vì thế là

Inv h

Do mô hình ở dạng tĩnh, vì vậy không cho phép giải bài toán tối ưu giữa

tiêu dùng và tiết kiệm để đầu tư cho tương lai Tổng tiết kiệm, được giả định

Ngày đăng: 18/01/2018, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), Các nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010: các bằng chứng và thảo luận, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010: các bằng chứng và thảo luận
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành
Năm: 2010
[2] Học viện Ngân hàng (2015), Biến động giá dầu và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam, Báo cáo nghiên cứu 15/02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến động giá dầu và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam
Tác giả: Học viện Ngân hàng
Năm: 2015
[4] Trương Văn Phước, Chu Hoàng Long (2005), Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam và các yếu tố tác động - Phương pháp tiếp cận định lượng, Thông tin Khoa học Thống kê số 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam và các yếu tố tác động - Phương pháp tiếp cận định lượng
Tác giả: Trương Văn Phước, Chu Hoàng Long
Năm: 2005
[5] Lê Quốc Phương, Đặng Huyền Linh (2009), “Tình hình xây dựng và ứng dụng mô hình kinh tế tại một số cơ quan, tổ chức ở Việt Nam”, Chuyên san Dự báo, Viện Khoa học thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình xây dựng và ứng dụng mô hình kinh tế tại một số cơ quan, tổ chức ở Việt Nam”, "Chuyên san Dự báo
Tác giả: Lê Quốc Phương, Đặng Huyền Linh
Năm: 2009
[6] Bùi Hữu Quyên (2011),Giải pháp quản lý và bình ổn thị trường xăng dầu tại Việt Nam, luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.[7]the Medium and Long Run: A Dynamic CGE Analysis”, APEC Discussion Paper Series Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý và bình ổn thị trường xăng dầu tại Việt Nam, "luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. [7] the Medium and Long Run: A Dynamic CGE Analysis”
Tác giả: Bùi Hữu Quyên
Năm: 2011
[8] Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Đào Nguyên Thắng (2009), Ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu: Một số phân tích định lượng ban đầu, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh 25, tr. 25-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tăng giá xăng dầu: Một số phân tích định lượng ban đầu
Tác giả: Nguyễn Đức Thành, Bùi Trinh, Đào Nguyên Thắng
Năm: 2009
[10] Nguyễn Mạnh Toàn (2010), Giới thiệu cấu trúc cơ bản và nguyên lý hoạt động của mô hình cân bằng tổng thể, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 6 (41) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu cấu trúc cơ bản và nguyên lý hoạt động của mô hình cân bằng tổng thể
Tác giả: Nguyễn Mạnh Toàn
Năm: 2010
[11] Nguyễn Mạnh Toàn (2010), Ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể vào phân tích mối quan hệ giữa ngành công nghiệp chính yếu và các ngành công nghiệp phụ trợ, Tạp chí Kinh tế và phát triển, 159, tr. 19- 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể vào phân tích mối quan hệ giữa ngành công nghiệp chính yếu và các ngành công nghiệp phụ trợ
Tác giả: Nguyễn Mạnh Toàn
Năm: 2010
[13] Nguyễn Thị Thu Trang (2007), Tình hình biến động giá xăng dầu trên thị trường Việt Nam trong những năm gần đây, Luận văn tốt nghiệp cử nhân kinh tế khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình biến động giá xăng dầu trên thị trường Việt Nam trong những năm gần đây
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Trang
Năm: 2007
[14] Bùi Trinh (2001), Mô hình “Bảng đầu ra – đầu vào” và ứng dụng trong phân tích và dự báo kinh tế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình “Bảng đầu ra – đầu vào” và ứng dụng trong phân tích và dự báo kinh tế
Tác giả: Bùi Trinh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh. Tiếng Anh
Năm: 2001
[15] Aydin, L. & Acar (2011), “Economic impact of oil price shocks on the Turkish economy in the coming decades : A dynamic CGE analysis”, Energy Policy, 39, pp. 1722 - 1731 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic impact of oil price shocks on the Turkish economy in the coming decades : A dynamic CGE analysis”, "Energy Policy
Tác giả: Aydin, L. & Acar
Năm: 2011
[16] Al - Mawali, N., Hasim, H.M., Al - Busaidi, K. (2016), “Modeling the Impact of the Oil Sector on the Economy of Sultanate of Oman”, International Journal of Energy Economics and Policy, 6(1), pp. 120 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modeling the Impact of the Oil Sector on the Economy of Sultanate of Oman”, "International Journal of Energy Economics and Policy
Tác giả: Al - Mawali, N., Hasim, H.M., Al - Busaidi, K
Năm: 2016
[17] Bahta, Y.T. (2014), “The impact of international oil price increase on the economy of Free State province of South Africa”, International Journal of Food and Agricultural, 2(1), pp. 41 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of international oil price increase on the economy of Free State province of South Africa”, "International Journal of Food and Agricultural
Tác giả: Bahta, Y.T
Năm: 2014
[18] Bahta, Y.T., Willemse, B.J. & Grove, B. (2014), “The role of agricuture in welfare, income distribution and economic development of the Free State province of South Africa: a CGE approach, Agricultural Economics Research, Policy and Practice in Southern Africa, 53(1), pp. 46 - 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of agricuture in welfare, income distribution and economic development of the Free State province of South Africa: a CGE approach, "Agricultural Economics Research, Policy and Practice in Southern Africa
Tác giả: Bahta, Y.T., Willemse, B.J. & Grove, B
Năm: 2014
[19] Bentour, E.M. (2016), “On the Removal of Energy Products Subsidies in an Importing Oil Country: Impacts on Prices and Policy Implications in Morocco”, Journal of Economic Cooperation & Development, 37(2), pp. 127 - 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Removal of Energy Products Subsidies in an Importing Oil Country: Impacts on Prices and Policy Implications in Morocco”, "Journal of Economic Cooperation & Development
Tác giả: Bentour, E.M
Năm: 2016
[20] Camen U. (2006), “Monetary policy in Vietnam: The case of a transition country”, BIS Papers, 31(31), pp. 232 - 252, Bank for International Settlements, Basle, Switzerland Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monetary policy in Vietnam: The case of a transition country”, "BIS Papers
Tác giả: Camen U
Năm: 2006
[21] Chitiga, M., Fofana, I. & Mabugu, R. (2012), “The poverty implications of high oil prices in South Africa”, Environment and Development Economics, 17(3), pp. 293 - 313 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The poverty implications of high oil prices in South Africa”, "Environment and Development Economics
Tác giả: Chitiga, M., Fofana, I. & Mabugu, R
Năm: 2012
[22] Devarajan, S., Delfin, G., Lewis, J.D., Robinson, S. & Sinko, P. (1997), “Simple General Equilibrium Modeling”, Applied Methods for Trade Policy Analysis, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simple General Equilibrium Modeling”, "Applied Methods for Trade Policy Analysis
Tác giả: Devarajan, S., Delfin, G., Lewis, J.D., Robinson, S. & Sinko, P
Năm: 1997
[23] Doroodian, K. & Boyd, R. (2003), “The link between oil price shocks and economic growth with inflation in the presence of technological advances: a CGE model”, International Journal of Energy Economics and Policy, 5(2), pp. 598 - 611 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The link between oil price shocks and economic growth with inflation in the presence of technological advances: a CGE model”, "International Journal of Energy Economics and Policy
Tác giả: Doroodian, K. & Boyd, R
Năm: 2003
[24] Ebaidalla, E.M. (2014), “The Effects of Oil Price Volatility on the Sudanese Economy”, The Eastern Africa Social Science Research Review, 30(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effects of Oil Price Volatility on the Sudanese Economy”, "The Eastern Africa Social Science Research Review
Tác giả: Ebaidalla, E.M
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w