1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Sáng kiến kinh nghiệm tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của biểu thức bằng phương pháp hàm số

39 354 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo thông qua dạy giải một số bài tập khó trong đề thi tuyển sinh đại học thì các tác giả chưa khai thác và đi sâu vào nghiên cứu cụ thể.. Sau đó đư

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ở trường phổ thông, môn Toán đóng vai trò rất quan trọng Bởi vì, Toán học có một vai trò to lớn trong sự phát triển của các ngành khoa học và kỹ thuật; Toán học có liên quan chặt chẽ và

có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội hiện đại; Toán học còn là một công cụ để học tập và nghiên cứu các môn học khác

Vấn đề bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh đã được nhiều tác giả trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Với tác phẩm "Sáng tạo toán học" nổi tiếng,

nhà toán học kiêm tâm lý học G.Polya đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải

toán, quá trình sáng tạo toán học Đồng thời trong tác phẩm "Tâm lý năng lực toán học của học sinh", Krutecxiki đã nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của học

sinh Ở nước ta, các tác giả Hoàng Chúng, Nguyễn Cảnh Toàn, Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Tôn Thân, Phạm Gia Đức,… đã có nhiều công trình giải quyết những vấn đề về lý luận và thực tiễn việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

Những năm gần đây, bài toán khó nhất trong đề thi tuyển sinh đại học của các khối A, A1, B, D thường là các bài toán chứng minh bất đẳng thức hoặc là bài toán tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của biểu thức (Bài toán khó trong đề thi tuyển sinh đại học) Các bài toán này thường gây ra cho học sinh rất nhiều khó khăn, đa

số học sinh “ngại” bài toán này vì các bài toán này thường đa dạng phong phú và học sinh bế tắc trong việc định hướng để tìm ra lời giải Ngoài ra một lý do nữa khiến học sinh “ngại” bài toán này là các học sinh thường cảm thấy mãn nguyện khi tìm được một lời giải cho bài toán mà các em ít có ý thức tìm kiếm các lời giải khác, khai thác đào sâu kết quả bài toán đó như rút ra định hướng cụ thể tìm lời giải từ bài toán đó; ra các bài toán mới Như vậy, việc bồi dưỡng và phát triển

tư duy sáng tạo trong hoạt động dạy học toán được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo thông qua dạy giải một số bài tập khó trong đề thi tuyển sinh đại học thì các tác giả chưa khai thác và đi sâu vào

nghiên cứu cụ thể Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học giải một số bài tập khó trong đề thi tuyển sinh đại học"

Trong đề tài này, tôi đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài đặc biệt là đánh giá thực trạng của vấn đề dạy và học một số bài tập khó trong đề thi tuyển sinh đại học Sau đó đưa ra một số vấn đề dạy học giải một số bài tập khó trong đề thi tuyển sinh đại học theo định hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh (Vấn đề 1: Rèn luyện tư duy sáng tạo qua việc hướng dẫn học sinh tìm ra nhiều cách giải trong một bài toán; Vấn đề 2: Rèn luyện tư duy sáng tạo qua việc hướng dẫn học sinh rút ra định hướng cụ thể để giải một số bài tập khó trong đề thi tuyển

Trang 2

sinh đại học; Vấn đề 3: Rèn luyện tư duy sáng tạo qua việc hướng dẫn học sinh đưa ra một số bài toán mới) Cuối cùng là một số kết quả của việc ứng dụng đề tài

và những kết luận

Đề tài được hoàn thành tại trường THPT Hà Huy Tập Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được nhiều sự chỉ bảo của các thầy cô giáo đi trước về bố cục, nội dung Nhân đây cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Toán- Tin trường THPT

Hà Huy Tập

Do nhiều nguyên nhân, đề tài hoàn thành không tránh khỏi được những sai sót Tôi luôn mong muốn nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các độc giả để ngày càng hoàn thiện hơn trong quá trình nghiên cứu khoa học và viết các đề tài

Trang 3

PHẦN II NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

2.1.1 Tư duy sáng tạo

Theo từ điển triết học: "Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó"

Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết vấn đề mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có Nội dung của sáng tạo gồm hai ý chính có tính mới (khác cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ) Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của xã hội loài người Sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là một năng lực của con người

Theo định nghĩa thông thường và phổ biến nhất của tư duy sáng tạo thì đó là

tư duy tạo ra cái mới Thật vậy, tư duy sáng tạo dẫn đến những tri thức mới về thế giới về các phương thức hoạt động

Tư duy sáng tạo là tư duy tích cực và tư duy độc lập nhưng không phải trong

tư duy tích cực đều là tư duy độc lập và không phải trong tư duy độc lập đều là tư duy sáng tạo và có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các khái niệm dưới dạng vòng tròn đồng tâm

Trang 4

Tư duy tích cực

Tư duy độc lập

Tư duy sáng tạo

Có thể nói đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá, tự tìm cách chứng minh mà học sinh đó chưa biết đến Bắt đầu từ tình huống gợi vấn đề, tư duy sáng tạo giải quyết mâu thuẫn tồn tạo trong tình huống đó với hiệu quả cao, thể hiện ở tính hợp

lý, tiết kiệm, tính khả thi và cả ở vẻ đẹp của giải pháp

Nói chung tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao

Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học, … về cấu trúc của tư duy sáng tạo, có năm đặc trưng cơ bản sau:

có sự biểu hiện các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo Điều quan trọng là người giáo viên phải có phương pháp dạy học thích hợp để có thể bồi dưỡng và phát triển tốt hơn năng lực sáng tạo ở các em

2.1.2 Đánh giá thực trạng của vấn đề dạy và học một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học

2.1.2.1 Người dạy

Hướng thứ nhất: Đưa ra một số bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức cho học sinh giải Nếu học sinh giải được thì nhận xét về cách trình bày lời giải của học sinh sau đó đưa ra bài toán khác;

Trang 5

Nếu học sinh không giải được thì hướng dẫn lời giải cho học sinh sau đó yêu cầu học sinh trình bày lại Thông qua tìm hiểu các bạn bè và đồng nghiệp có rất nhiều giáo viên thực hiện theo hướng này, đặc biệt là các giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường không phải nằm ở trung tâm của các huyện

Hướng thứ hai: Giao các tài liệu cho học sinh đọc rồi kiểm tra quá trình đọc tài liệu của học sinh Qua khảo sát, tôi thấy có rất nhiều giáo viên ngại các bài toán dạng này hoặc hiểu không thật sâu sắc các bài toán dạng này và lúc đó giáo viên thường chọn hướng thứ hai

2.1.2.2 Người học

Qua tìm hiểu học sinh, tôi thấy hiện nay các em đa số xác định bỏ bài toán dạng này vì bài toán này thường là bài toán khó nhất trong đề thi đại học hiện nay Thậm chí một số học sinh khá giỏi cũng xác định vậy vì các em sợ tập trung vào bài toán này sẽ không có thời gian để kiểm tra lại các bài toán dễ hơn đã làm được Bên cạnh đó một số giáo viên không tự tin về năng lực của học sinh nên động viên các em bỏ luôn bài toán dạng này nếu không thấy quen thuộc hoặc không giải ngay được

Theo quan điểm của cá nhân tôi, đối với những học sinh khá giỏi môn Toán thì chúng ta nên dạy các bài toán dạng này cho các em vì xu thế hiện nay các bài toán dạng này trong đề thi đại học có thể giải được bằng cách dùng một số bất đẳng thức đúng đã biết kết hợp với công cụ đạo hàm và không quá khó đối với học sinh khá giỏi; đồng thời thông qua các bài toán dạng này chúng ta có thể bồi dưỡng

tư duy sáng tạo cho các em

2.1.3 Tiềm năng của một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

Trong quá trình học Toán thì kỹ năng vận dụng Toán học là quan trọng nhất, nhà trường phổ thông không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức Toán học,

mà còn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tính độc lập, sự độc đáo và khả năng sáng tạo

Các nhà tâm lý học cho rằng: "Sáng tạo bắt đầu từ thời điểm mà các phương pháp logic để giải quyết nhiệm vụ là không đủ và gặp trở ngại hoặc kết quả không đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra từ đầu, hoặc xuất hiện giải pháp mới tốt hơn giải pháp cũ"

Chính vì vậy điều quan trọng là hệ thống bài tập cần phải được khai thác và

sử dụng hợp lý nhằm rèn luyện cho học sinh khả năng phát triển tư duy sáng tạo biểu hiện ở các mặt như: khả năng tìm hướng đi mới (khả năng tìm nhiều lời giải khác nhau cho một bài toán), khả năng tìm ra kết quả mới (khai thác các kết quả của một bài toán, đưa ra các bài toán mới)

Trang 6

Một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn trong việc bồi dưỡng và phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh

Trong quá trình dạy học giáo viên cần dẫn dắt học sinh giải quyết hệ thống bài tập, tạo cho học sinh phát hiện vấn đề mới, đó là vấn đề quan trọng mà ta cần quan tâm bồi dưỡng cho học sinh

Có nhiều phương pháp khai thác khác các bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức;…) trong đề thi tuyển sinh đại học, để tạo ra các bài toán có tác dụng rèn luyện tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo của tư duy

Trên cơ sở phân tích khái niệm tư duy sáng tạo cùng những yếu tố đặc trưng của nó và dựa vào quan điểm: bồi dưỡng từng yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo cho học sinh là một trong những biện pháp để phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho các em Các bài tập chủ yếu nhằm bồi dưỡng tính mềm dẻo của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, suy nghĩ không rập khuôn; khả năng nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, khả năng nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết Các bài tập chủ yếu nhằm bồi dưỡng tính nhuần nhuyễn của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và hoàn cảnh khác nhau, khả năng xem xét đối tượng dưới những khía cạnh khác nhau Các bài tập chủ yếu nhằm bồi dưỡng tính nhạy cảm vấn đề của tư duy sáng tạo với các đặc trưng: nhanh chóng phát hiện những vấn đề tìm ra kết quả mới, tạo được bài toán mới, khả năng nhanh chóng phát hiện ra các mâu thuẫn, thiếu logic

Như vậy tiềm năng của một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học trong việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh, đặc biệt là học sinh khá giỏi là rất lớn Việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua quá trình dạy học giải bài tập toán là rất cần thiết bởi qua đó chúng ta giúp học sinh học tập tích cực hơn và kích thích được tính sáng tạo của học sinh trong học tập và trong cuộc sống Vậy công việc của mỗi giáo viên trong quá trình dạy học là tìm ra được các phương pháp nhằm phát triển và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh

2.2 Một số vấn đề dạy học giải một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học theo định hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh

2.2.1 Vấn đề 1: Rèn luyện tư duy sáng tạo qua việc hướng dẫn học sinh tìm ra nhiều cách giải trong một bài toán

Trang 7

Trong cuốn: "Sáng tạo Toán học", G.Polya cho rằng: "Một tư duy gọi là có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó Có thể coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài toán sau này Các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số lượng càng lớn, có dạng muôn màu muôn vẻ, thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao Thí dụ: lúc những cố gắng của người giải vạch ra được các phương thức giải áp dụng cho những bài toán khác Việc làm của người giải có thể là sáng tạo một cách gián tiếp, chẳng hạn lúc ta để lại một bài toán tuy không giải được nhưng tốt vì đã gợi ra cho người khác những suy nghĩ có hiệu quả"

Lene đã chỉ ra hai trong số các thuộc tính của tư duy sáng tạo là:

- Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với việc tìm hiểu lời giải (khả năng xem xét đối tượng ở những phương thức đã biết thành một phương thức mới)

- Kỹ năng sáng tạo một phương pháp giải độc đáo tuy đã biết nhưng phương thức khác (Lene - dạy học nên vấn đề - NXBGD - 1977)

Học sinh phổ thông thường có thói quen khi đã tìm được lời giải bài toán thì thỏa mãn, ít đi sâu kiểm tra lại lời giải xem có sai lầm, thiếu sót gì không, ít quan tâm tới việc nghiên cứu, cải tiến lời giải, tìm nhiều lời giải Tìm nhiều lời giải cho một bài toán giúp cho học sinh có cách nhìn toàn diện, biết hệ thống hóa, sử dụng các kiến thức, các kĩ năng và phương pháp giải toán một cách chắc chắn, mềm dẻo, linh hoạt Đó cũng là năng lực đặc trưng của giải toán Tập hợp nhiều cách giải và tìm được cách giải tối ưu cho bài toán giúp học sinh thấy rõ ưu, khuyết của từng phương pháp giải toán, thu nhận, hợp thức hóa, làm phong phú thêm tri thức của người giải toán và tạo ra được sự hứng thú cho học sinh khi giải toán

Vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú ý cho học sinh thường xuyên tìm nhiều phương án giải bài toán, sử dụng kết quả bài toán này để giải bài toán khác Xét các ví dụ sau:

Bài toán 2.2.1.1 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối A năm 2003)

Cho x, y, z là ba số thực dương thỏa mãn x  y z 1 Chứng minh rằng

Trang 9

243 160 160 160

182

Trang 11

2.2.2 Vấn đề 2: Rèn luyện tư duy sáng tạo qua việc hướng dẫn học sinh rút ra định hướng cụ thể để giải một số bài tập khó (Các bài toán chứng minh bất đẳng thức; tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của một biểu thức; …) trong đề thi tuyển sinh đại học

Hàng trăm, hàng nghìn mạch nước nhỏ tạo thành dòng suối, rất rất nhiều dòng suối đổ về con sông, các con sông đổ ra biển Không thể có biển nếu không

có những mạch nước nhỏ Toán học mênh mông như biển cả, rất nhiều bài toán khó liên quan đến các bài toán dễ hơn Muốn tìm được lời giải cho một bài toán khó chúng ta phải biết được một số kiến thức dễ hơn và một số định hướng liên quan đến bài toán đó

Sáng tạo được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là một năng lực của con người Vì vậy sau khi học sinh giải được một bài toán nào đó, giáo viên nên động viên các em nêu ra được định hướng giải cụ thể như trong lời giải đó nếu có thể và đưa ra một số bài toán giải được theo định hướng đó Việc làm này giúp các

em tự tin hơn khi gặp một số bài toán dạng này đặc biệt là đối với các bài toán có định hướng tương tự Từ đó dần dần các em không còn “ngại” bài toán dạng này

2.2.2.1 Một số bài toán tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của hàm số

Bài toán 2.2.2.1.1 (Câu IV.1 – Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2003)

Tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số

2

x 1y

Trang 12

 

yf x trên D

Một số bài tập có thể giải bằng định hướng tương tự như lời giải trên:

Bài toán 2.2.2.1.2 (Câu II.2 – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2004)

Tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số

2

ln xy

x

 trên đoạn 1;e3

Bài toán 2.2.2.1.3 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2010)

Tìm giá trị lớn nhất của hàm số 2 2

y x 4x21 x 3x10

2.2.2.2 Một số bài toán tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của biểu thức hai biến

Bài toán 2.2.2.2.1 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2009)

Cho các số thực không âm x, y thay đổi và thỏa mãn x y 1 Tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của biểu thức  2  2 

Trang 13

Nhận xét Định hướng để tìm lời giải bài toán này theo lời giải 1 như trên là:

+) Từ giả thiết biến đổi Sf (x)

+) Từ giả thiết và các bất đẳng thức đúng đã biết chứng minh xD

Suy ra Sf (x), với mọi x D (1)

Chỉ ra tồn tại x, y thỏa mãn giả thiết để S = m

Vậy giá trị nhỏ nhất của S bằng m

Nhận xét Định hướng để tìm lời giải bài toán này theo lời giải 2 như trên là:

+) Từ giả thiết biến đổi Sf (t), với tg x; y 

Trang 14

+) Từ giả thiết và các bất đẳng thức đúng đã biết chứng minh tD

Suy ra Sf (t), với mọi tD (1)

Chỉ ra tồn tại x, y thỏa mãn giả thiết để S = m

Vậy giá trị nhỏ nhất của S bằng m

(Đối với bài toán tìm giá trị lớn nhất của biểu thức ta cũng có định hướng tương tự)

Một số bài tập có thể giải bằng định hướng tương tự trên

Bài toán 2.2.2.2.1.1 (Câu IV.2 – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2008)

Cho hai số thực x, y thay đổi và thỏa mãn x2 y2 1 Tìm giá trị lớn nhất và nhỏ

nhất của biểu thức  2 

2

2 x 6xyP

1 2xy 2y

Bài toán 2.2.2.2.1.2 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2011)

Cho a và b là các số thực dương thỏa mãn  2 2   

2 a b ab ab ab2 Tìm giá

Trang 15

Ta có: f '(t)6(2t2   3t 2) 0, suy ra

5

; 2

5 23min f (t)

 (a; b) = (2; 1) hoặc (a; b) = (1; 2)

Bài toán 2.2.2.2.1.3 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2013)

Cho x, y là các số thực dương thỏa mãn điều kiện xy y 1 Tìm giá trị lớn nhất của biểu thức

Bài toán 2.2.2.2.2 (Câu IV.2 – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2006)

Cho x, y là các số thực thay đổi Tìm giá trị nhỏ nhất của biểu thức

A x 1 y  x1 y  y 2

Trang 16

Lời giải:

Trong mặt phẳng với hệ tọa độ Oxy, xét u 1 x; y ; v x1; y

Do u  v  u v nên (x 1) 2 y2  (x 1) 2 y2  44y2 2 1 y 2

A2 1 y   y 2 f (y)

+) Với y ≤ 2 thì f (y)2 1 y 2  2 y

2

2y

y 1

2

f '(y) 0 2y 1y

 

Do đó ta có bảng biến thiên

y  1

3 2

f '(y) - 0 +

f (y)

2 3

y 2 f (y)2 1y 2 5 2 3

Vậy A 2 3 với mọi số thực x, y

Khi x = 0 và y 1

3

 thì A 2 3 nên giá trị nhỏ nhất của A là 2 3

Nhận xét Định hướng để tìm lời giải bài toán này như trên là:

+) Dùng bất đẳng thức đúng đã biết chứng minh

Af (y), với mọi yR (1) +) Tìm

y R

  (m là hằng số) (2)

Trang 17

+) Từ (1) và (2) suy ra A m

Chỉ ra tồn tại x, yR để A = m

Vậy giá trị nhỏ nhất của A bằng m

(Đối với bài toán tìm giá trị lớn nhất của biểu thức ta cũng có định hướng tương tự)

Bài toán 2.2.2.2.3 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2009)

Cho các số thực x, y thay đổi và thỏa mãn  3

x y 4xy2 Tìm giá trị nhỏ nhất của biểu thức  4 4 2 2  2 2

+) Từ giả thiết và các bất đẳng thức đúng đã biết chứng minh tD

Suy ra Af (t), với mọi tD (1)

Trang 18

Vậy giá trị nhỏ nhất của A bằng m

(Đối với bài toán tìm giá trị lớn nhất của biểu thức ta cũng có định hướng tương tự)

Một số bài tập có thể giải bằng định hướng tương tự trên

Bài toán 2.2.2.2.3.1 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối D năm 2012)

Cho các số thực x, y thỏa mãn   2 2

x4  y4 2xy32 Tìm giá trị nhỏ nhất của biểu thức 3 3   

  thì dấu bằng xảy ra

Vậy giá trị nhỏ nhất của A là 17 5 5

4

2.2.2.3 Một số bài toán tìm giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của biểu thức ba biến

Bài toán 2.2.2.3.1 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2012)

Cho các số thực x, y, z thỏa mãn các điều kiện x  y z 0 và x2 y2 z2 1 Tìm giá trị lớn nhất của biểu thức 5 5 5

Trang 19

    thì dấu bằng xảy ra

Vậy giá trị lớn nhất của P là 5 6

36 

Nhận xét Định hướng để tìm lời giải bài toán này như trên là:

+) Từ giả thiết biến đổi Pf (x)

+) Từ giả thiết và các bất đẳng thức đúng đã biết chứng minh x D

Suy ra Pf (x), với mọi x D (1)

Chỉ ra tồn tại x, y thỏa mãn giả thiết để P = m

Vậy giá trị nhỏ nhất của A bằng m

(Đối với bài toán tìm giá trị lớn nhất của biểu thức ta cũng có định hướng tương tự)

Bài toán 2.2.2.3.2 (Câu V – Đề thi tuyển sinh đại học khối B năm 2010)

Cho các số thực không âm a,b,c thỏa mãn a   b c 1 Tìm giá trị nhỏ nhất của biểu thức  2 2 2 2 2 2   2 2 2

Ngày đăng: 17/01/2018, 20:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w