Sản phẩm nông nghiệpnon trẻ này đã từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường quốc tế và trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của đấtnước.. Tuy có n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ -oo0oo -
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài :MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG HẠT ĐIỀU CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP WTO
Giáo viên hướng dẫn: TS Ngô Thị Tuyết Mai
Họ và tên sinh viên: Trần Anh Tuấn Lớp: Kinh tế quốc tế
Khóa: 46(2004-2008) Hệ: Chính quy
Hà Nội – 4/2008
Trang 2Mục lục
Mục lục 1
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1-Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa và vai trò của xuất khẩu mặt hàng hạt điều đối với Việt Nam 9
1.1 Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa 9
1.2 Các loại hình xuất khẩu hàng hóa 9
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp 9
1.2.2Xuất khẩu gián tiếp 10
1.2.3 Buôn bán đối lưu 10
1.2.4 Tái xuất và chuyển khẩu 11
1.2.5 Xuất khẩu tại chỗ 11
1.2.6 Gia công xuất khẩu 11
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động xuất khẩu 12
1.3.1 Yếu tố cung cầu của thị trường 12
1.3.2 Giá sản phẩm 12
1.3.3 Tín dụng xuất khẩu và tỷ giá hối đoái 13
1.3.4 Các biện pháp về hỗ trợ xuất khẩu 15
1.3.5 Công nghệ và thiết bị công nghệ 15
Trang 31.3.6 Năng lực tổ chức và trình độ cán bộ làm xuất khẩu-trình độ lành
nghề của công nhân 16
1.3.7 Yếu tố về hàng rào thuế quan, phi thuế quan 17
1.4 Vai trò của việc xuất khẩu hàng hóa 18
1.5 Vai trò của sản xuất và xuất khẩu hạt điều 22
1.5.1 Giới thiệu khái quát về cây điều và các sản phẩm hạt điều 22
1.5.2 Vai trò và ý nghĩa của sản xuất và xuất khẩu mặt hàng hạt điều đối với nền kinh tế quốc dân 24
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam trong thời gian qua 32
2.1 Tổng quan về thị trường hạt điều thế giới 32
2.1.1 Tình hình sản xuất điều trên thế giới 32
2.1.2 Tình hình xuất khẩu mặt hàng hạt điều trên thế giới 39
2.2 Quá trình hình thành và phát triển sản xuất, chế biến và xuất khẩu hạt điều ở Việt Nam 45
2.2.1 Giai đoạn trước năm 1985 45
2.2.2 Giai đoạn từ 1985 đến nay 46
2.3 Tình hình sản xuất và chế biến điều nguyên liệu 48
2.3.1 Diện tích 48
2.3.2 Sản lượng 49
Trang 42.3.3 Chế biến và công nghiệp chế biến 53
2.4 Tình hình xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 54
2.4.1 Quy mô và tốc độ xuất khẩu 55
2.4.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 58
2.4.3 Thị trường xuất khẩu 60
2.5 Một số đánh giá chung về thực trạng xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam 65
2.5.1 Những kết quả đạt được 65
2.5.2 Những tồn tại 70
2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại 71
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam 77
3.1 Định hướng phát triển và sản xuất của ngành hạt điều Việt Nam 77
3.1.1 Quan điểm, định hướng sản xuất và xuất khẩu của ngành điều Việt Nam 77
3.1.2 Mục tiêu chủ yếu nhằm phát triển sản xuất và xuất khẩu sản phẩm hạt điều từ nay đến năm 2015 81
3.1.3 Những cơ hội và thách thức của ngành sản xuất - chế biến - xuất khẩu hạt điều Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO 82
3.2 Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm hạt điều của Việt Nam 85
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, MÔ HÌNH
Bảng 2.1: Tình hình sản lượng hạt điều trên thế giới 1995-2007 30Bảng 2.2 Sản lượng hạt điều thô trên thế giới 31Bảng 2.3 Lượng điều thô nhập khẩu của Ấn Độ từ Việt Nam 1992 - 1996 .35Bảng 2.4 Các nước xuất khẩu nhân hạt điều chủ yếu trên thế giới 37Bảng 2.5 Tình hình giá mặt hàng hạt điều trên thế giới 41Bảng 2.6 Sản lượng hạt điều của Việt Nam 1995 - 2006 47Bảng 2.7 Lượng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu nhân hạt điều
của Việt Nam 1995 - 2007 53Bảng 2.8 Thị phần xuất khẩu nhân điều Việt Nam 2000-2006 (%) 59
Mô hình 3.1: Mô hình liên kết của ngành sản xuất - chế biến - xuất khẩu hạt điều Việt Nam 84
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều là cây công nghiệp lâu năm có chu kỳ sống dài và giá trị kinh tế cao.Trong hơn 20 năm qua, cây điều được phát triển mạnh ở nước ta và đã thực
sự chứng tỏ được giá trị của mình so với các loại cây trồng khác Do thíchhợp với khí hậu nhiệt đới và có đặc tính cố định đất, chịu hạn tốt, cây điều đãđược người nông dân chọn trồng ở những vùng đất cát, đất đồi hoặc đất nghèokiệt dinh dưỡng, vừa đem lại lợi ích kinh tế thiết thực, vừa góp phần tái tạomôi trường sinh thái một cách hữu ích và nhanh chóng Cây điều còn đượcmệnh danh là cây của người nghèo, giúp ổn định và cải thiện đời sống củađồng bào dân tộc ở những vùng sâu, vùng xa Những năm gần đây, hạt điềuViệt Nam bắt đầu cuộc chinh phục mới tới những thị trường rộng lớn với sứctiêu thụ mạnh gấp nhiều lần so với thị trường nội địa Sản phẩm nông nghiệpnon trẻ này đã từng bước khẳng định vị thế của mình trên thị trường quốc tế
và trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng của đấtnước
Tuy có nhiều tiềm năng để phát triển cây điều, song trên thực tế, cũnggiống như nhiều mặt hàng nông sản khác của nước ta, tình hình sản xuất vàkhả năng xuất khẩu các sản phẩm hạt điều vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập,hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng phát triển Cây điều ViệtNam hiện được trồng thiếu quy hoạch, công nghệ sản xuất, chế biến còn lạchậu, không đồng bộ, chưa được đầu tư thâm canh một cách thích đáng, đặcbiệt là hiệu quả xuất khẩu các sản phẩm hạt điều chưa cao
Bên cạnh đó, hiện nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chứcthương mại thế giới WTO nhiều cơ hội cũng như thách thức đang diễn ra đốivới vận hội mới của đất nước ta
Trang 8Chính vì vậy, việc tìm ra những giải pháp thực tiễn để Việt Nam có thểđẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng hạt điều ra thị trường thế giới trên cơ sở khaithác những tiềm năng sẵn có trong sản xuất hạt điều, với định hướng pháttriển đúng đắn của Đảng và Nhà nước là một vấn đề mang tính cấp thiết được
sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, nhất là trong tình hình hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách về thực tiễn và lý luận như đã phân tích ở
trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
mặt hàng hạt điều của Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO ” làm
chuyên đề tốt nghiệp của mình
bé nhưng thiết thực vào quá trình thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm nông sản
của Việt Nam nói chung và mặt hàng hạt điều nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tình hình xuât khẩu mặt hàng hạt điềucủa Việt Nam trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên của WTOThời gian nghiên cứu từ 1995 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sửtrong kinh tế làm phương pháp luận cơ bản Các phương pháp nghiên cứu chủ
Trang 9yếu được sử dụng kết hợp gồm có quan sát thực tế, so sánh, tổng hợp, phântích thống kê, phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu kinh nghiệm điển hình, cânđối và dự báo bằng các mô hình kinh tế trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị,giải pháp.
5 Kết cấu của chuyên đề
Phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nộidung của chuyên đề được bố cục như sau:
Lời nói đầu
Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa và vai trò của xuất khẩu mặt hàng hạt điều đối với Việt Nam
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO.
Kết luận
Mặc dù chuyên đề đã được chuẩn bị với tất cả lòng nhiệt tình say mê song
do những hạn chế về thời gian, trình độ và điều kiện tiếp cận các nguồn tàiliệu tham khảo nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhậnđược những lời chỉ bảo, những ý kiến đóng góp phê bình của thầy cô để hoànthiện thêm công trình nghiên cứu này
Trang 10Chương 1-Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa và vai trò của
xuất khẩu mặt hàng hạt điều đối với Việt Nam
1.1 Khái niệm về xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa là việc bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho bên nướcngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.Không chỉ là nhữnghoạt động mua bán thông thường mà hoạt động xuất khẩu đòi hỏi sự tham giacủa các chủ thể mang quốc tịch khác nhau, hoạt động xuất khẩu không chỉđơn thuần mang lại lợi nhuận cho một hay một vài chủ thể tham gia vào hoạtđộng này mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốcgia Hoạt động xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
1.2 Các loại hình xuất khẩu hàng hóa
1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức mà nhà sản xuất giao dịch trực tiếp vớikhách hàng nước ngoài ở khu vực thị trường nước ngoài thông qua tổ chứccủa mình Hình thức này thể hiện thông qua: Đại diện bán hàng xuất khẩu;Chi nhánh bán hàng tại nước ngoài
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là các nhà xuất khẩu trực tiếp tiếp xúcvới thị trường, tiếp cận được với khách hàng, nắm bắt tình hình thị trườngmột cách trực tiếp từ đó đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng Việc tiếpxúc trực tiếp với các thị trường xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
dễ tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, đồng thời với hình thức này các doanhnghiệp xuất khẩu không phải chia sẻ quyền lợi của mình với các tổ chức trunggian do đó có được lợi nhuận cao hơn
Trang 11Tuy nhiên hạn chế của thị trường này là doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phảichịu chi phí rủi ro lớn, cần có thời gian để thâm nhập được thị trường, đồngthời thông tin về thị trường cũng có phần hạn chế.
1.2.2Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp: là hình thức khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ của
tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản phẩmcủa nước mình ra nước ngoài Trong hình thức này doanh nghiệp có thể sửdụng các trung gian phân phối như: công ty quản lý xuất khẩu, đại lý xuấtkhẩu, hàng buôn xuất khẩu…
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là: người mua bán hoặc trung giannắm rõ phong tục tập quán của thị trường do đó có khả năng đẩy nhanh việcmua bán và giảm rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu Doanh nghiệp xuấtkhẩu cũng giảm được chí phí thâm nhập thị trường do các tổ chức trung gianthường có sẵn cơ sở vật chất, đồng thời doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ cóđược các thông tin về thị trường, về các đối thủ cạnh tranh thông qua các tổchức
Nhược điểm của hình thức xuất khẩu này là: các doanh nghiệp xuất khẩukhông tiếp cận trực tiếp với thị trường, khách hàng do đó ít có khả năng đápứng đúng các nhu cầu của khách hàng tiềm năng Bên cạnh đó doanh nghiệpxuất khẩu còn phải đáp ứng các yêu sách của các tổ chức trung gian, phải chia
sẻ lợi nhuận với họ và cũng có thể bị họ lợi dụng về thông tin và vốn mà mìnhcung cấp cho họ
1.2.3 Buôn bán đối lưu
Là phương thức trao đổi trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhậpkhẩu người bán đồng thời là người mua lượng hàng giao đi và nhận về có giátrị tương đương
Trang 12Hình thức này thường được sử dụng khi các bên thiếu thị trường, thiếungoại hối đặc biệt hình thức này cũng tránh cho các doanh nghiệp được cácrủi ro về ngoại hối
1.2.4 Tái xuất và chuyển khẩu
Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng
hoá từ bên ngoài vào, sau đó lại xuất khẩu sang một thị trường thứ ba Hình
thức này có độ rủi ro lớn nhưng lợi nhuận thu được cũng rất cao
Chuyển khẩu là hình thức trong đó không có hành vi mua bán mà ở đâychỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho
1.2.5 Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá và dịch vụ có thể chưa vượt quangoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt độngxuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hoá dịch vụ cho các ngoại giao đoàn,khách du lịch quốc tế… Hoạt động này có thể đạt được hiệu quả cao do giảmbớt được chi phí bao bì, đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gianthu hồi vốn nhanh trong khi vấn có thể thu được ngoại tệ
1.2.6 Gia công xuất khẩu
Gia công quốc tế là một phương thức giao dịch kinh doanh trong đó mộtbên (nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hay bán thành phẩm của bên khác(bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công vànhận thù lao gia công (phí gia công) Trong đó những nước trình độ khoa học
kỹ thuật còn yếu, thiếu vốn, hạn chế về thị trường thường là những nước nhậngia công còn các nước phát triển là những nước đặt gia công
Trang 131.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động xuất khẩu
Công tác xuất khẩu liên quan đến nhu cầu thị trường, tập quán tiêudùng trong và ngoài nước cũng như các chính sách thuế quan, phi thuế quancủa nhà nước ở các mức độ khác nhau trong đó gồm:
1.3.1 Yếu tố cung cầu của thị trường
Căn cứ vào từng chủ thể tham gia nhất định mà có thể chia thị trườngthế giới thành: thị trường quốc tế khu vực, thị trường trong từng tổ chức kinh
tế quốc tế (thị trường EU, thị trường các nước ASEAN ) Mở mỗi thị trườngnhu cầu sản phẩm lại thường rất khác nhau về chất lượng, quy cách cũng nhưmẫu mã Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi muốn thâm nhập vào thị trườngnào cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm tiêu dùng của thị trường đó
Vi dụ: Nhật Bản được coi là một trong những nước trên thế giới đòi hỏichất lượng sản phẩm cao nhất, gồm cả độ bền và khả năng hoạt động Thịhiếu của người tiêu dùng bắt chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống và điều kiệncủa Nhật Bản, Đây là trở thành yếu tố quan trọng trong việc quyết định tiêudùng sản phẩm hàng hoá Do khủng hoảng kinh tế gần đây nên người tiêudùng Nhật Bản thích mua hàng hoá có giá trị hợp lý nhưngTuy nhiên xét vềmặt chất lượng hàng hoá tiêu dùng thì người Nhật Bản có đòi hỏi cao nhấttrên thế giới
Sau khi nắm vững các thói quen, tập quán tiêu dùng ở mỗi thị trườngdoanh nghiệp phải có chiến lược cạnh tranh một cách hoàn hảo Thị trường ởmỗi nước có thể biến động tuỳ theo thu nhập của người dân, tập quán, thị hiếutiêu dùng cũng như những biến động ở từng thời kỳ
1.3.2 Giá sản phẩm.
Giá sản phẩm là biểu hiện tổng hợp của nhiều mối quan hệ kinh tế trênthị trường (Vấn đề cung cầu, lưu thông tiền tệ) Chính vì vậy mà giá thành sản
Trang 14phẩm ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng hàng hoá xuất khẩu và lợi nhuận củacác doanh nghiệp Muốn có một sản phẩm có giá trị cạnh tranh tốt đồng thời
có lợi nhuận phù hợp thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một giá bán thích hợpvới thị trường Muốn xác định giá bán này doanh nghiệp phải căn cứ vào giábình quân của giá thị trường, giá đó được tính như sau:
Nếu giá bán giá cao hơn giá bình quân của thị trường thì sản phẩm hàng hoá có thể bán được với số lượng ít thậm chí không bán được một sảnphẩm nào
-Nếu bán với giá thấp hơn giá thị trườngbình quân thì lợi nhuận của doanhnghiệp có thể bị giảm xuống hoặc không có lợi nhuận ( lỗ vốn)
Từ đó ta thấy muốn bán giá thấp hơn mà không ảnh hưởng tới lợinhuận, doanh nghiệp phải tăng doanh số bán hàng, ngoài ra phải phấn đấugiảm chi phí các yếu tố đầu vào như tiết kiệm vật tư, tăng năng suất lao động,hạn chế phế phẩm, hoàn thiện bộ máy quản lý, thay đổi quy trình công nghệ
- Chất lượng hàng hoá và mẫu mã sản phẩm được người tiêu dùng rấtquan tâm tuỳ thuộc vào thị trường mỗi nước, mà Các loại mẫu mã và chấtlượng sản phẩm lại tuỳ thuộc vào tập quán người tiêu dùng cũng như phù hợpcho từng lứa theo lứa tuổi
Do mức thu nhập bình quân ở mỗi nước là rất khác nhau nên thôngthường ở các nước càng phát triển thì sự đòi hỏi về mẫu mã, chất lượng càngcao và càng khắt khe
1.3.3 Tín dụng xuất khẩu và tỷ giá hối đoái
Tín dụng xuất khẩu tức là nhà nước dành cho người nước ngoài nhữngkhoản tín dụng để mua hàng nước mình Nhà nước không chỉ trực tiếp canthiệp vào thị trường tín dụng mà còn tạo điều kiện tín dụng xuất khẩu ưu đốihơn so với điều kiện tín dụng trong nước Điều đó làm khả năng xuất khẩucủa các doanh nghiệp trong nước tăng lên Ngoài ra, Nhà nước đảm bảo gánh
Trang 15vác mọi rủi ro đối với khoản tín dụng mà doanh nghiệp xuất khẩu nước mìnhdành cho nhà nhập khẩu nước ngoài Đây là phương tiện quan trọng đẩymạnh việc tiêu dùng hàng hoá ở thị trường nước ngoài Nó làm cho nhà xuấtkhẩu yên tâm và mở rộng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài mà không sợgặp sự rủi ro.
Trong tình hình nền kinh tế mở rộng cửa, các mối quan hệ kinh tế ngàycàng rộng thì việc thanh toán không chỉ là đơn vị tiền tệ trong nước mà cònphải sử dụng nhiều loại ngoại tệ khác nhau, từ đó phát sinh nhu cầu tất yếuphải so sánh giá trị, so sánh sức mạnh đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ,
đó là tỷ giá hối đoái Như vậy, tỷ giá hối đoái dùng để biểu hiện và so sánhnhững quan hệ về giá cả giữa các đồng tiền một nước được biểu hiện qua đơn
vị tiền tệ của nước khác Do đó hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng rất lớncủa tỷ giá hối đoái Ví dụ như khi tỷ giá hối đoái tăng nghĩa là giá trị đồng nội
tệ giảm so với đồng ngoại tệ sẽ hạn chế khuyến khích xuất khẩu và tăng hạnchế nhập khẩu và ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm thì sẽ hạn chếtăng nhậpkhẩu và tănghạn chế xuất khẩu
Có hai loại tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái thực tế và Tỷ giá hối đoáidanh nghĩa
Tỷ giá hối đoái thực tế có mục đích điều chỉnh mức lạm phát và đểphản ánh những biến đổi thực tế trong khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuấtkhẩu của một quốc gia
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được thông báo trên các phươngtiện thông tin đại chúng hay do ngân hàng công bố
Để khuyến khích xuất khẩu nhà nước có thể dùng chính sách phá giáhối đoái làm cho giá bán ở thị trường nước ngoài có thể thấp hơn giá của đốithủ cạnh tranh, do vậy mà đẩy mạnh xuất khẩu, và nhà xuất khẩu sẽ thu đượclợi nhuận ngoài ngạch cao hơn
Trang 161.3.4 Các biện pháp về hỗ trợ xuất khẩu.
Biện pháp hỗ trợ xuất khẩu bao gồm các hoạt động quảng cáo khuyếttrương, tiếp thị thông qua phương tiện thông tin đại chúng, hội chợ triển l•m.Đây thực sự là một hoạt động rất cần thiết để mở rộng thị trường xuất khẩu.Thực chất của hoạt động này là tạo ra và sắp xếp các mối quan hệ trong kinhdoanh vào một hệ thống đồng thời giải quyết các mối quan hệ đó, kích thíchđộng viên người tiêu dùng mua hàng Làm tốt công việc này doanh nghiệp sẽđem lại :
+ Thế lực trong kinh doanh, tạo nhu cầu mới, tạo uy tín cho sản phẩm đối vớingười tiêu dùng
+ Tăng doanh số bán hàng, giảm lượng hàng hoá tồn kho, ứ đọng không cầnthiết
+ Hỗ trợ công tác bán hàng xuất khẩu
+ Kích thích nhu cầu tiêu dùng
1.3.5 Công nghệ và thiết bị công nghệ
Công nghệ bao gồm cả công tác công nghệ và phương tiện kỹ thuậtđược ký kết với nhau theo hình thức thích hợp, trong đó máy móc thiết bị kỹthuật là phương tiện kỹ thuật để thực hiện phương pháp công nghệ
Dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị ảnh hưởng rất lớn tới cơcấu của sản xuất, đồng thời nó quyết định tới chất lượng sản phẩm và việcthay đổi cải tiến sản phẩm Ngoài ra nó còn thúc đẩy việc tăng năng suất laođộng Khi máy móc thiết bị của doanh nghiệp hiện đại, phù hợp với năng lựchiện có của mình thì sẽ làm cho hàng hoá có chất lượng cao, mẫu mã đẹp vàngược lại với trường hợp máy móc thiết bị lạc hậu hoặc quá hiện đại khôngthể áp dụng sẽ làm cho hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được, Như vậy cóthể kết luận là trình độ và khả năng công nghệ là một loại vũ khi sắc bén đểthành công trong cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường Một
Trang 17dây chuyền công nghệ và máy móc thiết bị lạc hậu không thể sản xuất đượcnhững sản phẩm có chất lượng cao, có nhiều tính năng đáp ứng được nhu cầu
đa dạng của thị trường
1.3.6 Năng lực tổ chức và trình độ cán bộ làm xuất khẩu-trình độ lành nghề của công nhân.
Đây là một yếu tố rất quan trọng có tính quyết định rất lớn trong quátrình nâng cao doanh thu bán hàng cũng như tìm kiếm lợi nhuận, nó bao gồmcác khâu tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tiếp thị, chính sách bán hàng
Trình độ của cán bộ làm công tác xuất khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệpgiảm các rủi ro trong quá trình thực hiện các công tác đàm phán ký kết hợpđồng, cũng như việc tác nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng Thực tếhiện nay trong một số doanh nghiệp đội ngũ cán bộ làm công tác tác nghiệpvừa yếu cả về chuyên môn lẫn ngoại ngữ, nên điều dễ hiểu là nhiều hợp đồngxuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam ký với nước ngoài bị rấtnhiều sơ hở, yếu kém làm thua thiệt cho phía Việt Nam Chính vì vậy, việc tổchức và nâng cao trình độ của cán bộ làm công tác xuất khẩu rất cần thiết chocác doanh nghiệp
Trình độ tay nghề của công nhân phản ánh tính chất chuyên môn hoá,trình độ thành thạo nghề nghiệp Nếu trình độ người làm công tác xuất khẩukém sẽ làm cho doanh nghiệp thua thiệt trong đàm phán ký kết hợp đồngcũng như thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp Khôngnhững thế nếu trình độ nghề nghiệp của công nhân cao hơn mức yêu cầu củacông việc được bố trí sẽ gây lãng phí trong việc sử dụng lao động, và ngượclại sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Cho nênvấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải bố trí được một cơ cấu lao động tối
ưu nhằm sử dụng có hiệu qua nguồn lao động đồng thời phải thường xuyên tổ
Trang 18chức công tác đào tạo tay nghề cho cán bộ công nhân viên, và luôn luôn coi
đó là nhiệm vụ thường xuyên của mọi doanh nghiệp
1.3.7 Yếu tố về hàng rào thuế quan, phi thuế quan
Thuế quan là loại thuế gián thu đánh vào hàng hoá khi qua cửa khẩucủa một nước.Trên thực tế khi đánh thuế có hai mục đích: có thể là mục đíchtài chính và cũng có thể là mục đích bảo hộ Cả hai mục đích này đều có ảnhhưởng to lớn đến việc xuất khẩu hàng hoá của doanh nghiệp vào một nướckhác
Thuế quan tài chính thông thường đánh vào những hàng hoá xuất khẩu
có lợi nhuận cao hay những hàng hoá không được khuyến khích
Thuế quan bảo hộ chủ yếu đánh vào những hàng hoá nhập khẩu, làmtăng giá của hàng nhập để hàng hoá trong nước có ưu thế hơn về giá cả của sovới đối thủ cạnh tranh., tThuế quan bảo hộ là công cụ sắc bén tạo điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tăng nhanh sản xuất
Khi nhà nước tăng thuế nhập khẩu, thông thườương sẽ làm cho khốilượng hàng hoá nhập khẩu giảm do giá hàng tăng hạn chế tiêu dùng Nhưngtrong một số trường hợp sẽ làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tăng lên
mà số lượng hàng nhập khẩu lại không giảm, và ngược lại
Khi thuế suất xuất khẩu tăng sẽ hạn chế xuất khẩu do giá bán hàng hoá
ra thị trường cao không đủ sức cạnh tranh với hàng nước khác., bBiện phápnày nhà nước thường áp dụng với những hàng hoá không khuyến khích xuấtkhẩu vVà ngược lại
Trên thực tế, thuế quan bảo hộ không phải bao giờ cũng có tác dụnghạn chế nhập khẩu Cho nên ngoài biện pháp đó nhà nước còn dùng các biệnpháp phi thuế quan khác để hạn chế nhập khẩu, chúng gồm:
+ Quản lý hàng nhập khẩu bằng hạn ngạch: Biện pháp này nhằm chốnglại những nhà sản xuất lớn có khả năng cạnh tranh cao, mục đích nhằm ngăn
Trang 19chặn hàng nhập khẩu từ nước ngoài vào để bảo vệ thị trường trong nước hoặcnhằm cân bằng cán cân thanh toán, hoặc làm công cụ mặc cả trong các cuộcthương lượng, cũng có thể dùng để hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng mangtính chiến lược của nền kinh tế xã hội Ví dụ: như gạo ở Việt Nam hiện nay.
+ Giấy phép nhập khẩu: Tính chất kín đáo và bí mật của giấy phépcũng như thủ tục cấp giấy phép của chính quyền nhà nước cũng tạo khả nănghạn chế nhập khẩu nhằm bảo hộ hàng trong nước
+ Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu khác: Bên cạnh những biệnpháp hạn chế nhập khẩu trực tiếp, Nhà nước còn dùng một số biện pháp giántiếp nhằm ngăn cản việc nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài như: Biện pháp
về vệ sinh thú y, vệ sinh thực phẩm, hoặc các tiêu chuẩn về kỹ thuật như tiêuchuẩn về kích thước, bao bì, những tiêu chuẩn về môi trường sinh thái
Các yếu tố về thuế quan, phi thuế quan có ảnh hưởng rất lớn đến việcxuất khẩu của một doanh nghiệp vào một thị trường nước ngoài, cho nêntrước khi thâm nhập hàng hoá vào một thị trường nào doanh nghiệp cần phảinghiên cứu kỹ chính sách thuế quan, phi thuế quan của nước đó
1.4 Vai trò của việc xuất khẩu hàng hóa
Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế là rất quan trọng nhất
là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, xu thế toàn cầu hoá, chuyên môn hoásản xuất để tận dụng các lợi thế tuyệt đối hay so sánh của mỗi quốc gia.Không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế hoạt động xuất khẩu còn có ý nghĩa quantrọng đối với tình hình phát triển chung của một quốc gia
+ Hoạt động xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng
Ngày nay, việc dự trữ ngoại tệ nhất là các ngoại tệ mạnh là điều rất quantrọng, vì trong quan hệ mua bán trên thị trường thế giới hiện nay các nước đều
sử dụng các ngoại tệ mạnh trong giao dịch của mình Trong điều kiện đất
Trang 20nước đang trong tiến trình CNH - HĐH đất nước hiện nay thì nguồn thungoại tệ là rất quan trọng vì ta có thể nhập khẩu các máy móc thiết bị côngnghệ hiện đại từ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu phục vụ quá trìnhCNH - HĐH đất nước Đồng thời nguồn ngoại tệ có được sẽ thoả mãn đượcnhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân và góp phần vào tăng trưởngkinh tế.
+ Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế so sánh
Trong xu thế chung của thế giới hiện nay là đang dần tiến tới chuyên mônhoá trên phạm vi toàn thế giới thì việc khai thác được lợi thế so sánh cuả mình
là rất quan trọng Đối với các nước đang phát triển việc phát huy lợi thế sosánh của mình về giá nhân công rẻ, về nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào
là hết sức quan trọng để bước đầu hội nhập với nền kinh tế thế giới Xuấtkhẩu giúp 1 quốc gia khai thai thác có hiệu quả hơn các lợi thế của mình, pháthuy các lợi thế của quốc gia mình
+ Hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, định hướngsản xuất
Ngày nay, cùng với xu thế chung của các nền kinh tế, các quốc gia ngàycàng nhận thức rõ vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tếcủa quốc gia mình Sự chuyên biệt hoá các ngành sản xuất để phục xuất khẩuphù hợp với lợi thế của quốc gia mình để giúp các quốc gia có định hướngchiến lược đối với các ngành sản xuất trong nước Đây là một điều có ý nghĩaquan trọng bởi lẽ việc lựa chọn các ngành sản xuất để có thể phát huy lợi thếcủa quốc gia mình không phải là việc dễ làm và không ít quốc gia đã cónhững bước đi sai lầm trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế củaquốc gia mình Định hướng vào các ngành sản xuất có lợi thế sẽ dần dẫn tớiviệc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao dần tỷ trọng của các ngành công
Trang 21nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu mang lại nguồn thu lớn từ hoạt động xuấtkhẩu.
+ Hoạt động xuất khẩu giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập và nângcao mức sống của nhân dân
Để tập trung phát triển sản xuất phục vụ cho xuất khẩu thì cần phải giatăng lao động, để xuất khẩu có hiệu quả tăng được khả năng cạnh tranh thìcần tận dụng lợi thế về lao động, hạn chế được tỷ lệ thất nghiệp Đối với cácnước đang phát triển, việc mở rộng hoạt động xuất khẩu thường đi kèm vớicác việc xuất hiện các khu công nghiệp các khu chế xuất Các khu côngnghiệp và chế xuất đã thu hút không chỉ các nhà xuất khẩu trong nước mà cảcác nhà đầu tư nước ngoài tham gia để tạo ra sản phẩm xuất khẩu ra thịtrường trên thế giới Thực tế cho thấy việc mở rộng hoạt động của các khunày đã thu hút được một lượng lớn lao động ở các địa phương, nhất là laođộng dư thừa vào mùa nông nhàn Không những tạo việc làm cho người laođộng mà hoạt động xuất khẩu còn tăng thu nhập cho họ, giúp họ nâng caochất lượng cuộc sống
+ Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín của hàng hoá trong nước trên thịtrường thế giới, nâng cao vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế
Để có thể thực hiện hoạt động xuất khẩu và không ngừng nâng cao tỷtrọng kim ngạch xuất khẩu thì đòi hỏi các nhà sản xuất luôn phải biết tậndụng các lợi thế của mình đồng thời cũng luôn phải đổi mới công nghệ, trangthiết bị phục vụ sản xuất để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao thì mớităng được khả năng cạnh tranh hàng hoá của trên thị trường thế giới Chính sựđầu tư đó sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao có được lòngtin từ khách hàng trên khắp thế giới và tạo được chỗ đứng trên thị trường thếgiới Việc các sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao có được lòng tin từ phíakhách hàng cũng là một hình thức các quốc gia quảng cáo về quốc gia mình,
Trang 22giới thiệu về quốc gia mình và với những sản phẩm chất lượng cao, có uy tíncác quốc gia sẽ nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.
+ Hoạt động xuất khẩu là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong nền kinh tế hàng hoá, sản xuất muốn phát triển sản phẩm phải đượctiêu thụ Hoạt động xuất khẩu ở một quốc gia có ảnh hưởng tích cực đến pháttriển kinh tế Biểu hiện:
Một là, xuất khẩu đưa đến việc sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực
trong nước Có thể do nhu cầu không lớn của thị trường trong nước và không
có hoạt động xuất khẩu, ở một nước có tình trạng sử dụng không hết nguồnlực Nhờ có hoạt động xuất khẩu, nước này có thể chuyển từ điểm sản xuấtkhông hiệu quả bên trong đường giới hạn sản xuất sang điểm sản xuất có hiệuquả trên đường giới hạn sản xuất
Hai là, việc mở rộng hoạt động xuất khẩu đã tạo ra sự phân công lao động
hợp lý và có hiệu quả Đây là điểm quan trọng đặc biệt đối với các đơn vịkinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ Phát huy lợi thế sosánh của mình các quốc gia sẽ đào tạo đội ngũ cán bộ, đội ngũ lao động chophù hợp từ đó dẫn tới việc phân công lao động trên phạm vi toàn thế giới
Ba là, hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện chuyển dịch quốc tế công nghệ
mới, phương pháp tổ chức kinh doanh mới… làm cho hoạt động kinh doanh
có hiệu quả
Bốn là, thương mại quốc tế khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
đầu tư quốc tế Trong trường hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nướcnào đó thì cùng với nguồn vốn nước ngoài vào thường kèm theo kỹ thuậtcông nghệ mới, các chuyên gia điều hành có kinh nghiệm tổ chức và quản lýkinh doanh
Trang 23Năm là, hoạt động xuất khẩu vũ khí chống độc quyền, bởi vì chúng đòi
hỏi các nhà sản xuất trong nước tăng cường sức mạnh kinh tế để đối phó cạnhtranh với các nhà sản xuất nước ngoài
Có thể thấy rằng, hoạt động xuất khẩu đã cung cấp, tạo những điều kiệnthuận lợi đối với quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia Và trong xuthế thế giới hiện nay toàn cầu hoá, khu vực khoá thì các quốc gia đều coitrọng phát triển thương mại quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nóiriêng
1.5 Vai trò của sản xuất và xuất khẩu hạt điều
1.5.1 Giới thiệu khái quát về cây điều và các sản phẩm hạt điều
Cây đào lộn hột hay còn gọi là cây điều, có tên khoa học làAnacardium Occidentale, tên tiếng Anh là Cashew Cây điều có xuất xứ từ
Mỹ Latinh, thoạt đầu chỉ là cây mọc hoang dại, đến nay đã được trồng rộngrãi ở khắp các nước nhiệt đới, đặc biệt là các vùng nhiệt đới ven biển Câyđiều được đưa vào trồng ở Việt Nam từ thế kỷ 18 Hơn một thập kỷ gần đây,cây điều được phát triển mạnh ở nước ta
Điều là cây thân gỗ thuộc nhóm cây công nghiệp lâu năm, có vòng đời
từ 30 đến 40 năm Thời gian kiến thiết cơ bản vườn cây tương đối ngắn từ 3đến 4 năm Như vậy, thời gian kiến thiết của điều ngắn hơn so với cao su,dừa, Đó là một lợi thế vì suất đầu tư cho 1 héc ta điều trồng mới thấp hơn vàthời gian thu hồi vốn nhanh hơn Không những thế, chu kỳ kinh tế, vòng đờicủa cây trồng tính từ khi cho thu hoạch đến khi cây già cỗi lại dài Sản xuấtđiều chỉ bận rộn trong khoảng 6 đến 8 tuần vào kỳ thu hoạch, nhưng thuhoạch điều không phức tạp và tốn kém nhiều công sức Sản xuất cao su, chègần như bận rộn suốt năm (hái búp và cạo mủ), nhưng trong trồng điều, tính thời
vụ trong canh tác ít căng thẳng hơn nhiều
Trang 24Điều là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ven biển và thích hợp vớinhững vùng có độ cao so với mặt nước biển từ 600 trở lại ở những vùngtrồng điều này, nhiệt độ cao đều trong năm, không có mùa đông lạnh, nhiệt độtrung bình trong năm từ 24 đến 280C, ánh sáng dồi dào (trên 2000 giờ/năm),đây là nhân tố khí hậu có tính quyết định cho cây điều bởi vì điều cần ánhsáng để ra hoa, kết quả cho năng suất cao Ngoài ra, độ ẩm tương đối củakhông khí thấp trong vụ khô (vụ ra hoa) sẽ góp phần đưa lại năng suất cao, ítsâu bệnh Cây điều không kén đất tốt, các loại đất có độ phì nhiêu thấp nhưđất đỏ vàng phát triển trên sa thạch hoặc grannít, đất cát ven biển, đất xámphát triển trên phù sa cổ hoặc đá grannit bạc mầu, khô hạn đều thích hợp vớiđiều kiện là thoát nước tốt, đất tương đối nhẹ, có tầng dầy khá Như vậy,chúng ta có thể tận dụng những vùng đất còn bỏ hoang để trồng điều Tuynhiên, cũng cần tuân thủ những kỹ thuật cần thiết trong trồng điều Nếu trồngđiều một cách tùy tiện, bất chấp các yêu cầu kỹ thuật, coi điều như một câybán dã sinh, sẽ dẫn đến những thất bại
Điều được biết đến và trở thành một cây có giá trị kinh tế cao của nhiều
nước với ba sản phẩm chính là nhân điều, dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm
chế biến từ trái điều như rượu và nước giải khát
Nhân điều chiếm khoảng 20 - 25% trọng lượng hạt điều, là một loại
thực phẩm cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao với 20% đạm, 40 - 53% chấtbéo, 22,3% bột đường, 2,5% chất khoáng và nhiều loại vitamin nhóm B, nênđược nhiều người ưa dùng vì đó là loại thức ăn vừa bổ lại vừa hạn chế đượcnhiều bệnh hiểm nghèo như huyết áp, thần kinh, xơ vữa động mạch Nhânđiều có thể rang để ăn, có thể dùng làm một trong những thành phần của bánh
ăn rất thơm, có thể ép ra dầu rán, người Trung Quốc thường dùng xào lẫn vớirau dùng trong bữa ăn
Trang 25Dầu vỏ hạt điều chiếm khoảng 18 - 23% trọng lượng hạt điều, được
chiết xuất từ vỏ hạt điều, thành phần chính là axid anacardic và cardol chiếm
85 - 90%, đây là những dẫn suất của phenol Công dụng chính là dùng chếbiến thành vecni, sơn chống thấm, cách điện, cách nhiệt
Các sản phẩm chế biến từ trái điều như nước giải khát, syro điều được
đánh giá là có chất lượng dinh dưỡng khá cao quả điều có mùi thơm đặc biệt
và chứa nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin C và các loại muối khoáng cầnthiết cho cơ thể con người Trái điều cũng được chế biến ra mứt bằng cáchđun với mật ong hay đường ở Brazil, dân địa phương ăn như một loại quảdưới dạng sống hay nấu chín Một vài vùng Đông Phi, đặc biệt là ởMozambique và Tanzania, người ta sử dụng quả điều chưng cất lên men đểsản xuất rượu mạnh giống như rượu gin
1.5.2 Vai trò và ý nghĩa của sản xuất và xuất khẩu mặt hàng hạt điều đối với nền kinh tế quốc dân
Góp phần làm tăng vốn và phát triển khoa học công nghệ, góp phần thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc CNH - HĐH, do vậy nhu cầu vềvốn là rất lớn Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, chúng ta không thể chỉ trôngchờ vào nguồn vốn trong nước, đặc biệt khi mà nước ta chỉ mới huy độngđược hơn 25% GDP cho tích luỹ, do đó phải huy động nhiều nguồn vốn khácnhau, trong đó có nguồn vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu hạt điều, bởiquá trình công nghiệp hóa không những đòi hỏi các khoản đầu tư bổ sung màcòn đòi hỏi nhiều khoản đầu tư mới với quy mô lớn mà khả năng trong nướckhông đáp ứng được Hàng năm, hạt điều xuất khẩu đem lại một lượng kimngạch rất lớn, đóng góp rất nhiều cho nguồn thu ngân sách nhà nước Kimngạch xuất khẩu hạt điều không ngừng tăng trong những năm qua, với năm
Trang 262002 lần đầu tiên kim ngạch vượt con số 200 triệu USD, đứng thứ tư trong sốcác mặt hàng nông sản xuất khẩu, sau gạo, cà phê, cao su thủy sản.Đến năm
2005 ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của nước ta đã đạt 450 triệuUSD và năm 2008 Việt Nam sẽ xuất khẩu 160 ngàn tấn ước tính 680 triệuUSD Đóng góp cho ngân sách nhà nước của ngành điều cũng liên tục tăngqua các năm, ước tính hàng năm ngành xuất khẩu hạt điều đã mang lại hàngtrăm tỷ cho ngân sách quốc gia Đây sẽ là nguồn vốn vô cùng quan trọng đểhiện đại hóa nền kinh tế đất nước nói chung và ngành điều nói riêng
Sản xuất và xuất khẩu hạt điều còn tạo điều kiện thuận lợi cho việcnhập khẩu khoa học công nghệ từ nước ngoài, phát triển công nghệ hiện cótrong nước Lượng ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu hạt điều đã được
sử dụng hợp lý để nhập khẩu những giống điều mới cho năng suất cao hơn vànhững công nghệ, máy móc thiết bị tiên tiến để hiện đại hóa ngành chế biếnđiều
Đối với nước ta, sau hơn 10 năm triển khai chương trình VIE/85/005
1989 - 1990 "Phát triển cây điều các tỉnh phía Nam" dưới sự hướng dẫn củaFAO, cây điều đã ngày càng khẳng định vị trí chiến lược của mình trong cácloại cây nông nghiệp phục vụ cho sản xuất, chế biến và xuất khẩu Việc đẩymạnh sản xuất và xuất khẩu sản phẩm hạt điều đã và đang trực tiếp góp phầnCNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Khi sản xuất điều phát triển, đời sốngcủa đồng bào trồng điều, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa được nânglên, giúp đồng bào ổn định cuộc sống, định canh định cư, tránh hiện tượng ducanh, du cư như trước Mỗi nhà máy, xí nghiệp chế biến điều mọc lên ở đâu lànơi đó dân cư đến sinh sống tập trung, đồng thời điện, đường, trường trạm được xây dựng theo để phục vụ cho hoạt động của các nhà máy và đời sốngcủa người dân Việc phát triển ngành công nghiệp chế biến điều vô hìnhchung đã đẩy nhanh tốc độ CNH - HĐH nông thôn, thúc đẩy sự phát triển của
Trang 27ngành chế biến và xuất khẩu nông sản nói chung và góp phần chuyển dịchnhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa.
Góp phần sản xuất và xuất khẩu hạt điều góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống người lao động
Cây điều còn được coi là cây của vùng đất bạc màu, cây của ngườinghèo bởi đây là một trong những loại cây trồng chủ chốt trong chiến lượcxóa đói giảm nghèo của nước ta Trong những năm gần đây, giá trị kinh tếcủa cây điều càng được khẳng định Theo tính toán của VINACAS thì ở ĐôngNam Bộ, 1 hécta điều được chăm sóc cẩn thận, đúng quy cách thì sẽ trồngđược 125 cây, thu được 1250 kg hạt Với mức giá bao tiêu của các nhà máytrung bình là 8.000 đồng/kg (mức giá năm 2000) thì chủ vườn thu được8.000.000 đồng tiền lãi sau khi đã trừ đi các khoản chi phí như tiền phân bón,thuốc trừ sâu Nếu đem so với một cây kinh tế chủ yếu khác của địa phương
là cây mía thì trung bình 1 hécta mía chỉ thu được khoảng 7.000.000 lãi, nhưvậy việc trồng cây điều sẽ đem lại lợi nhuận cao hơn mà quá trình thu hoạch,bảo quản sản phẩm lại đơn giản hơn rất nhiều
Việc phát triển sản xuất và xuất khẩu điều còn tạo nhiều công ăn việclàm cho người dân, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa Theo số liệuthống kê của VINACAS thì hiện nay có khoảng 300.000 người sống bằngnghề trồng điều và tổng số lao động trực tiếp đang làm việc trong các nhàmáy sản xuất, chế biến, xuất khẩu hạt điều vào khoảng 60.000 người, chưa kể
số lao động gián tiếp và lao động nông nhàn tham gia sản xuất khi vào vụ thuhoạch, ước tính cứ 1000 tấn điều thô cần chế biến sẽ giải quyết việc làm cho
250 người lao động trong 1 năm sản xuất với mức thu nhập 500 700USD/năm/người
Trang 28-Nhờ việc nhân rộng cây điều, ở nhiều địa phương nay không còn hộ đói
và giảm hẳn số hộ nghèo ở nhiều nơi, cây điều không còn là cây xóa đóigiảm nghèo mà đã trở thành cây làm giàu của nhiều hộ gia đình Từ đó cuộcsống nông thôn được cải thiện, giặc đói nghèo được diệt tận gốc, thanh niênnam nữ không còn kèo về thành thị tìm công ăn việc làm gây xáo trộn trật tự
xã hội nữa, đồi trọc đất trống được phủ xanh, môi trường sinh thái được bảo
vệ, người nông dân được làm chủ, tự tay chăm sóc, tự bảo vệ lấy tài sản củamình, không còn tình trạng phá rừng vì sự sống nữa, nếp sống của dân cưthực sự đi vào nề nếp
Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cải biến cơ cấu kinh tế và tạo cân bằng môi trường sinh thái
Nhờ trồng điều, chúng ta đã tăng nhanh vòng quay sử dụng đất, từ đónâng cao hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là đất ở những vùng trước đây bỏhoang, cằn cỗi, cải biến cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống của người dân ởnhững vùng trồng cây điều
Cây điều là cây công nghiệp dài ngày chịu được hạn, không kén đất
do đó chúng ta có thể tận dụng những vùng đất khô hạn ở phía Nam nước ta
Do bản chất bán hoang dại và nguồn gốc nhiệt đới nên cây điều có thể pháttriển trong điều kiện khí hậu nóng gió, khô hạn, đặc biệt là vùng Duyên hảiMiền Trung Trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đất đai khô hạn, nghèodinh dưỡng nhưng cây điều vẫn cho hiệu quả kinh tế khá hơn hẳn một số câytrồng khác đặc biệt là ở vùng đất trống đồi núi trọc Theo một nghiên cứu gầnđây của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam thuộc Bộ NN &PTNT, các tỉnh duyên hải miền Trung, vùng thấp các tỉnh Tây Nguyên hiệnđang có hàng trăm ngàn hécta đất trống đồi trọc, trong đó có gần 400.000hécta thích hợp cho trồng điều Nghiên cứu này cũng cho thấy "chưa có một
Trang 29loại cây trồng nào có thể phát triển mạnh và cho hiệu quả kinh tế cao hơn câyđiều" Như vậy, nếu không có sự phát triển của cây điều thì một lượng lớn đấtđai sẽ bị lãng phí, hệ số sử dụng đất sẽ rất thấp Sự biến động bất lợi về thờitiết trong những năm qua đã gây nên hạn hán và thiếu hụt nước trầm trọng ởcác vùng đất cao làm hạn chế việc mở mang diện tích của các cây trồng cầnnước tưới trong mùa khô như cà phê và các loại cây ăn quả khác Điều này lạicàng làm nổi bật vai trò của cây điều trong cơ cấu cây trồng ở những vùng đấtcao, hiếm nước.
Hơn nữa, cây điều không chỉ phát huy hiệu quả ở những vùng đấthoang hóa, khô cằn mà còn chứng tỏ vị thế của mình ở những vùng đất đượccoi là màu mỡ bởi vì so với các loại cây công nghiệp lâu năm khác như câycao su, cây cà phê, cây chè thì các yêu cầu về đầu tư của cây điều rất thấpnhưng hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả kinh tế lại tương đương hoặc caohơn Do vậy mặc dù bị cạnh tranh bởi các cây trồng khác qua việc đa dạnghóa các loại cây trồng tại một số vùng kinh tế trọng điểm nhưng cây điều vẫngiữ vị trí độc tôn
Việc sản xuất và xuất khẩu điều cũng đã góp phần không nhỏ vào việccải biến cơ cấu kinh tế của các vùng trồng điều Trước đây các vùng này hầunhư chỉ dựa vào nông nghiệp là chính, nhưng từ khi điều trở thành sản phẩmcủa nền kinh tế hàng hóa và có giá trị thương mại cao thì cơ cấu kinh tế củacác vùng này đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọngcông nghiệp, dịch vụ do sự phát triển của các nhà máy sản xuất chế biến điềugắn liền với các vùng nguyên liệu Theo VINACAS, hiện có hơn 80 cơ sở chếbiến hạt điều và hàng trăm xưởng chế biến mini nhỏ tập trung chủ yếu ởnhững vùng nguyên liệu chính như Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ vàĐông Nam Bộ Đây là những vùng trước đây hầu như là thuần nông, nhưng
Trang 30sự ra đời của các nhà máy chế biến điều đã kéo theo sự xuất hiện của rấtnhiều dịch vụ khác, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế.
Bên cạnh đó, chúng ta đang đứng trước một thực tế là môi trường nước
ta hiện đang bị hủy hoại nặng nề thể hiện ở những hiện tượng thiên tai dồndập như lũ lụt, bão, đất xói lở, hạn hán Một trong những nguyên nhân củahiện tượng ấy là do sự tàn phá rừng, sự lạm dụng phân hóa học trong trồngtrọt và các hóa chất khác, sự tiêu diệt những vi sinh vật có ích Nhiệm vụ cấpbách trước mắt là phải phủ xanh đất trống, đồi trọc, hạn chế sử dụng phân hóahọc, thuốc trừ sâu, tăng độ phì nhiêu và hiệu quả sử dụng đất
Trước thực trạng môi trường như vậy, xuất phát từ quan điểm cây điều
là một loại cây lâm nghiệp phù hợp với trình độ sản xuất của đồng bào dântộc, đáp ứng được yêu cầu phòng hộ vùng đầu nguồn và được đưa vào trongcác chương trình khuyến khích trồng rừng như chương trình 327, PALM việc trồng cây điều với diện tích gần 300.000 ha đã góp phần không nhỏ vàoviệc trồng, phát triển rừng và giữ gìn môi trường sinh thái Với vai trò quantrọng trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc, cây điều nhất định sẽ đóng gópmột phần không nhỏ trong kế hoạch trồng lại 5 triệu héc ta rừng của cả nước
Góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quanđang lôi cuốn hầu hết các quốc gia trên thế giới Đối với Việt Nam, cácngành, các cấp hơn bao giờ hết đang tích cực, chủ động tham gia vào tiếntrình này và ngành điều không nằm ngoài xu thế đó Từ khi đất nước mở cửahội nhập, ngành điều đã có quan hệ bạn hàng với nhiều thị trường trên thếgiới Số lượng bạn hàng của ngành điều không ngừng tăng, đến nay đã lên tớihơn 40 nước và vùng lãnh thổ ở khắp năm châu, từ những thị trường pháttriển ở Bắc Mỹ, Tây Âu đến những thị trường kém phát triển hơn như Trung
Trang 31Quốc Gần đây, ngành điều còn mở rộng quan hệ nhập khẩu điều nguyênliệu từ các thị trường ở châu Phi như Tanzania, Mozambique Điều đó chothấy sự tham gia tích cực và chủ động của ngành sản xuất, chế biến và xuấtkhẩu hạt điều vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để nắm bắtthời cơ phát triển và giảm thiểu những rủi ro, thách thức cũng do quá trìnhnày gây nên.
Ngành điều cũng rất tích cực trong việc hợp tác với các đối tác nướcngoài như ấn Độ, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ để tiến hành thành lập các nhà máyliên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thu ngoại
tệ, tạo công ăn việc làm, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao trình độ tay nghềcông nhân Việc này đã giúp cải thiện đời sống người lao động, đặc biệt làlàm thay đổi tác phong làm việc theo hướng hội nhập kinh tế thế giới Mặtkhác, quá trình này cũng giúp cho ngành điều đổi mới công nghệ, cải tiếnphương thức quản lý để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn
Việc sản xuất và xuất khẩu hạt điều đã và đang góp phần thực hiệnnhững cam kết của nước ta trong quá trình mở cửa, hội nhập với nền kinh tếthế giới theo hướng phân công chuyên môn hóa sản xuất trên cơ sở nhu cầu
và khả năng của từng nước Mặt khác, qua việc mở rộng tiêu thụ hạt điều,Nhà nước và con người Việt Nam có thể mở rộng giao lưu quốc tế, hội nhậptừng bước vào đời sống kinh tế quốc tế ở đây có mối quan hệ biện chứng: hộinhập quốc tế càng rộng, càng sâu thì ngành điều Việt Nam càng có đầu rarộng và đầu ra càng rộng thì thị trường tiêu thụ điều càng nhiều và giao lưuquốc tế lại càng phát triển
Tóm lại, điều là cây trồng đã đem lại lợi ích lớn cho đất nước Hàngnăm việc sản xuất và xuất khẩu hạt điều đã đem lại kim ngạch lớn, đóng gópnhiều cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động trực
Trang 32tiếp và gián tiếp và góp phần nâng cao đời sống người lao động Trồng điều
đã thực sự góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc ở các vùngkhó khăn của đất nước, giúp họ định canh định cư, ổn định cuộc sống lâu dài
Trang 33Chương 2: Thực trạng xuất khẩu mặt hàng hạt điều của Việt
Nam trong thời gian qua2.1 Tổng quan về thị trường hạt điều thế giới
2.1.1 Tình hình sản xuất điều trên thế giới
Phân bố sản xuất và sản lượng điều toàn thế giới
Trước kia trên toàn thế giới có khoảng 50 nước trồng điều Các nướcnày là các nước nhiệt đới ở châu á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Tuy nhiêntheo tài liệu của FAO, hiện nay chỉ có khoảng hơn 20 nước trồng điều trêntoàn thế giới Các nước trồng điều chủ yếu gồm có Brazil, ấn Độ, Việt Nam,Guinea - Bissau, Ivory Coast (Bờ Biển Ngà), Tanzania, Mozambique, Nigeria
và Kenya
Từ thập kỷ 70 đến nay, sản lượng điều ở các nước châu Phi đã giảm sútnghiêm trọng Nguyên nhân của sự giảm sút này là do các vườn điều già cỗi,những đợt hạn hán kéo dài lại ảnh hưởng nhiều tới năng suất cây điều Hơnnữa, các chủ đồn điền nước ngoài thu hẹp sản xuất do các nước này quá nhấnmạnh chủ trương kinh tế độc lập
Bảng biểu dưới đây cho thấy nhìn chung sản lượng điều của thế giới cónhiều biến đổi nhưng xu hướng từ năm 1999 cho tới gần đây là tăng dần Sảnlượng điều trong một số năm (1997, 1998, 1999) không ổn định là do hạn hánkéo dài ở châu Phi, thời tiết diễn biến bất lợi ở Ấn Độ, cuộc khủng hoảng tiền
tệ ở Brazil đã làm giảm sản lượng hạt điều ở một số nước sản xuất chính Mộtnguyên nhân khác lý giải cho hiện tượng này là do một số nước bố trí lại cơcấu cây trồng như Thái Lan thay điều bằng cao su vì không thể cạnh tranh đượcvới điều của Việt Nam và Ấn Độ
Trang 34Bảng 2.1: Tình hình sản lượng hạt điều trên thế giới 1995-2007
(Đơn vị ngàn tấn)
Nguồn: (1) Samsons Trading Company (ấn Độ)
(2) The Cashew Export Promotion Council of India (3) VINACAS
Những năm gần đây sản lượng liên tục tăng Điều này thể hiện sự giatăng liên tục về cầu của thế giới đối với hạt điều, và cũng do đó, các quốc gia,đặc biệt là Ấn Độ, Brazil liên tục tăng diện tích trồng điều và sản lượng Bêncạnh đó, các nước trồng điều chủ yếu của thế giới đã áp dụng thâm canh đưanhững giống điều cao sản vào trồng nên năng suất điều cũng tăng nhanh Việc
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật rõ ràng đã làm tăng năng suất và sảnlượng hạt điều Năng suất bình quân ở các nước châu Á biến động từ 200 -
Trang 35650 kg/ha, trong khi ở Ấn Độ là 1000kg/ha và ở Úc vào khoảng 4.000kg/ha
và tiềm năng có thể lên đến 6.000kg/ha, điều đó chứng tỏ tác động quan trọngcủa kỹ thuật trong trồng điều Bảng 2.2 sau đây sẽ cho thấy cụ thể sản lượnghạt điều của các quốc gia và khu vực trên thế giới
Bảng 2.2 Sản lượng hạt điều thô trên thế giới
đó Ấn Độ và Brazil là 2 nước có diện tích cây điều và sản lượng hạt điều lớnnhất thế giới và chiếm tới 91% lượng nhân điều xuất khẩu toàn thế giới
Trang 36Những năm vừa qua, Ấn Độ vừa mở rộng qui mô, vừa tăng cường kỹthuật canh tác điều nên sản lượng và năng suất hạt điều liên tục tăng Diệntích trồng điều của Ấn Độ cho đến cuối năm 1999 vào khoảng hơn 650.000ha,nếu như so với những năm 80 thì con số này đã tăng gần 1,5 lần, với năngsuất trung bình 0,7 tấn/ha và sản lượng điều thô trung bình là 400.000tấn/năm, thậm chí có những năm tuy bị ảnh hưởng bởi thời tiết thất thườngnhưng thu hoạt điều của nước này luôn vượt qua con số 300.000 tấn Nếu sovới các nước cùng trồng điều thì năng suất trồng điều của ấn Độ ở vào loạikhá cao Đây là kết quả của nhiều năm ngành điều nước này quan tâm đếnviệc nghiên cứu, áp dụng công nghệ kỹ thuật mới vào canh tác trồng trọt vàsản xuất chế biến
Brazil cũng ra sức phát triển điều và trở thành một trong những nướcsản xuất điều hàng đầu thế giới, đứng thứ 2 sau ấn Độ về diện tích và sảnlượng Như đã biết, cây điều có nguồn gốc từ Mỹ Latinh, do đó không có gìđáng ngạc nhiên khi Brazil là một cường quốc về hạt điều Có thể nói ngànhđiều Brazil đã ra đời khá lâu, thậm chí còn trước cả ngành điều ấn Độ vàđương nhiên là có bề dày lịch sử vượt xa ngành điều Việt Nam Sản lượngđiều của Brazil hàng năm trung bình là 200.000 tấn thô (Bảng 2.2) Tuy nhiênvới sự vươn lên mạnh mẽ của Việt Nam, hiện nay Brazil chỉ còn được xếp ở
vị trí thứ 3
Mozambique, Tanzania, Nigeria cũng là những nước sản xuất điềuhàng đầu ở châu Phi Tuy nhiên, sản lượng của các nước này gần đây đang có
xu hướng giảm do thiếu vốn đầu tư và trình độ công nghệ chưa phát triển
Trong những năm qua, Việt Nam cũng đang nổi lên là một quốc gia cótiềm năng lớn về phát triển hạt điều, chỉ đứng sau Ấn Độ và Brazil về diệntích và sản lượng Sản lượng điều thô của Việt Nam thường xuyên chiếm tỷ
Trang 37trọng từ 11 - 25% tổng sản lượng điều toàn thế giới (Bảng 2.2), chứng tỏ sựlớn mạnh không ngừng của ngành điều nước ta Đến những năm gần đây khi
đã có nhiều biện pháp nâng cao và tập trung phát huy tiềm năng về cây điềuViệt Nam trở thành nhà sản xuất hạt điều lớn thứ 2 thế giới Từ năm 2004 đếnnay sản lượng hạt điều binh quân của nước ta hàng năm rơi vào trên 350 ngàntấn Được sự quan tâm của Nhà nước và các ban ngành với nhiều thuận lợi cả
về mặt tự nhiên năm 2006 lần đầu tiên Việt Nam đạt mức sản lượng hơn 450ngàn tấn Chính sự kiện này tạo đà cho Việt Nam vượt mặt Ấn Độ trở thànhquốc gia xuất khẩu mặt hàng hạt điều lớn nhất thế giới
ở nước mình Tuy nhiên, không phải nước nào cũng tự có cơ sở chế biến Ởmột số nước châu Phi, nguồn ngân sách nhà nước dành cho việc sản xuất chếbiến điều rất ít, những nước này hầu hết là các nước nghèo, mức sống ngườidân còn rất thấp, vì thế số lượng nhà máy chế biến điều trong nước chiếm một
tỷ lệ rất thấp, phần lớn các nhà máy chế biến hạt điều nằm trong tay các nhàđầu tư nước ngoài
Đối với Ấn Độ Ngành điều của nước này có năng lực chế biến rất lớn.Toàn Ấn Độ có tất cả hơn 1.000 nhà máy chế biến với tổng công suất lên đến800.000 tấn/năm Các nhà máy chế biến nằm rải rác ở khắp Ấn Độ nhưng tậptrung chủ yếu ở bang Kerala với 400 nhà máy, bang Tamil Nadu với 300 nhàmáy, bang Kamataka với 100 nhà máy và các bang khác như bang Andhra
Trang 38Pradesh, Orissa, Maharashtra và Goa Mặc dù có diện tích trồng điều và sảnlượng thu hoạch hàng năm vào loại hàng đầu thế giới, Ấn Độ luôn đứng trướctình trạng thiếu hụt nguyên liệu hết sức trầm trọng, dẫn đến các nhà máy đềuhoạt động không hết công suất bởi lượng điều sản xuất trong nước không đápứng đủ khả năng chế biến Theo CEPCI, tuy đã có những nỗ lực đáng kểtrong việc gia tăng diện tích trồng điều, hàng năm sản lượng điều thu hoạchtrong nước chỉ đáp ứng được 1/2 công suất chế biến của các nhà máy, tươngđương với 400.000 tấn Vì vậy, Ấn Độ cũng là quốc gia nhập khẩu điều thôlớn nhất thế giới Lượng điều nhập khẩu này được đưa vào các nhà máy đểchế biến thành hạt điều xuất khẩu Các nước chủ yếu xuất khẩu nguyên liệuthô sang Ấn Độ bao gồm Mozambique, Tanzania, Nigeria, Việt Nam (trướcnăm 1997), Bờ Biển Ngà, Benin và Brazil Cũng theo CEPCI, lượng điềunhập khẩu vào ấn Độ hàng năm chỉ đáp ứng được không quá 25% lượng điềuthô còn thiếu hụt, tức chỉ xấp xỉ khoảng 200.000 tấn.
Sau hơn nửa thế kỷ chiếm lĩnh và kiểm soát thị trường hạt điều thế giới,hiện nay Ấn Độ đang phải đương đầu với rất nhiều đối thủ cạnh tranh, đặcbiệt là Brazil, Việt Nam và Mozambique Đây là những nước ban đầu chỉ đơnthuần xuất khẩu điều thô mà không có kinh nghiệm chế biến nào Dần dần, tất
cả các quốc gia trên đều nhận thức được sự bất cập của việc xuất khẩu nguyênliệu thô mà không đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến để nâng cao giá trịcủa hạt điều xuất khẩu Trong vòng 10 năm trở lại đây, các nước trước kia chỉxuất khẩu điều thô nay đã không ngừng đầu tư vào ngành chế biến hạt điều,đẩy Ấn Độ vào một tình thế thiếu nguyên liệu chế biến hết sức khó khăn.Theo các chuyên gia hạt điều Ấn Độ, đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất hiệnnay đối với nước này chính là Việt Nam, một đất nước có ngành công nghiệpchế biến hạt điều hết sức non trẻ nhưng lại có tiềm năng to lớn và có sức bậtđáng kinh ngạc Nếu như Brazil và Mozambique, tuy có chú trọng phát triển
Trang 39lĩnh vực chế biến hạt điều, vẫn tiếp tục xuất khẩu điều thô sang Ấn Độ thìViệt Nam đã đủ sức tiêu thụ toàn bộ lượng điều thô sản xuất trong nước đồngthời bắt đầu hướng tới việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu thô từ nước ngoài.Năm 1992, ấn Độ nhập 28.600 tấn điều thô từ Việt Nam, năm 1994 là 31.800tấn nhưng đến năm 1997 thì con số này bằng 0 Ngoài lượng điều nhập khẩusụt giảm từ Việt Nam, những năm gần đây, cây điều Ấn Độ còn chịu ảnhhưởng nặng nề của thời tiết thất thường tại các vùng nguyên liệu Ngoài ra,việc thoái hóa các giống cây trồng, sâu bệnh phá hoại cũng là những nguyênnhân tác động xấu đến năng suất thu hoạch
Bảng 2.3 Lượng điều thô nhập khẩu của Ấn Độ từ Việt Nam 1992 - 1996
Nguồn: CEPCI - Hội đồng xúc tiến xuất khẩu điều ấn Độ
Trước tình hình đó, chính phủ Ấn Độ nói chung và ngành điều Ấn Độnói riêng đã quyết tâm rất cao trong chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranhcủa san phẩm điều Ấn Độ và không ngừng đầu tư cho chế biến để đẩy mạnhchất lượng sản phẩm
Sự khác biệt khá lớn giữa hai trường phái chế biến hạt điều Ấn Độ Châu Phi - Việt Nam và Brazil là cách phân loại phẩm cấp hạt điều xuất khẩu.Ngành chế biến hạt điều tại Brazil phân loại điều theo hệ thống xếp loại hạtđiều của Hiệp hội các ngành công nghiệp thực phẩm của New York, Hoa Kỳ,hoàn toàn khác với cách phân loại hạt điều của Ấn Độ, "ông tổ" ngành điều
Trang 40-Trên đây, qua phân tích tình hình sản xuất chế biến hạt điều trên thếgiới nói chung và nước chế biến chính nói riêng có thể rút ra những bài học
về việc quy hoạch vùng nguyên liệu sao cho phù hợp với các nhà máy chếbiến, về việc tăng cường đầu tư, cải tiến trang thiết bị và quy trình chế biến đểthực hiện dần dần việc quốc tế hóa chất lượng sản phẩm và không ngừngnâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong hạt điều chế biến xuất khẩu
2.1.2 Tình hình xuất khẩu mặt hàng hạt điều trên thế giới
Hiện nay, thị trường điều thế giới chủ yếu giao dịch với 3 sản phẩmchính là hạt điều thô, nhân điều và dầu vỏ hạt điều Những năm gần đây, thịtrường xuất khẩu hạt điều trên thế giới có khá nhiều biến chuyển và ngàycàng trở nên sôi động Lượng điều thô nhập khẩu vào các nước sụt giảm lớn
vì hầu hết các quốc gia đều có đủ khả năng tiêu thụ hoàn toàn lượng hạt thôthu hoạch hàng năm Ngoài ra, một số quốc gia do năng lực chế biến lớn hơnsản lượng có thể khai thác nên rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu thô nghiêmtrọng Trong khi đó, thị trường xuất nhập khẩu mặt hàng này xuất hiện nhiềuđối thủ cạnh tranh mới và các thị trường trung gian hình thành khắp nơi
Đối với mặt hàng nhân điều xuất khẩu, mặt hàng giao dịch chính trên
thị trường thế giới, theo đánh giá của các chuyên gia FAO, lượng xuất khẩunhân điều toàn thế giới mấy năm nay vào khoảng 150.000 tấn/năm, dự báonhu cầu nhập khẩu nhân điều toàn thế giới trong vài năm tới sẽ đạt 180.000tấn/năm Các nước xuất khẩu chủ yếu bao gồm ấn Độ với trung bình hơn70.000 tấn/năm, Brazil với 20.000-30.000 tấn/năm và Việt Nam với khoảng50.000 tấn/năm (Bảng 4)
Bảng 2.4 Các nước xuất khẩu nhân hạt điều chủ yếu trên thế giới