Đó là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan hệ giữa haiquốc gia nói chung và quan hệ thương mại nói riêng ngày càng phát triển bềnvững, mạnh mẽ và đang trở thành một trong những bộ phận quan
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu
Thế giới đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới Đó chính là kỷ nguyên củatoàn cầu hoá, khu vực hoá Sự mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, sựhợp tác liên minh, liên kết hiện nay đã trở thành một yếu tố khách quan Bởi
lẽ, đây là quá trình nhằm thu hút các nguồn lực phát triển bên ngoài đồng thờiphát huy nội lực của nền kinh tế trong nước nhằm thực hiện các mục tiêu pháttriển kinh tế- xã hội một cách nhanh chóng và bền vững
Không nằm ngoài guồng quay đó, Việt Nam- với một nền kinh tế đang pháttriển thì việc tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế đã giúp Việt Nam tậndụng và phát huy lợi thế so sánh của mình Nổi bật lên là hoạt động xuất khẩuhàng hoá đã mang lại những kết quả đáng kể như: tăng thêm nguồn thu ngoại
tệ, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo công ăn việc làm cho ngườilao động và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH đất nước Không chỉvạy, đây còn là con đường để góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của ViệtNam trên thị trường quốc tế, là cơ sở để Việt Nam bước vào sân chơi thươngmại toàn cầu một cách vững vàng Như Đảng và Nhà nước ta đã có nhữngchù trương, nghị quyết, chính sách nhằm thực hiện đa dạng hoá thị trường, đaphương hoá các quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên toàn thếgiới bằng các hiệp định song phương, đa phương, bằng quan hệ hợp tác, hữunghị, bình đẳng và cùng có lợi
Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Việt Nam Haiquốc gia Việt Nam- Trung Quốc là hai nước láng giềng, “ núi liền núi, sôngliền sông”, các quan hệ về văn hoá, ngoại giao, thương mại của hai nước đãhình thành từ lâu đời Đó như một tất yếu khách quan và là một mối quan hệbền vững Lật lại những trang sử vàng oanh liệt của một thời chúng ta khôngthể không thấy được những biến động chính trị- xã hội của hai quốc gia là
Trang 2không nhỏ Song điều đó không bao giờ triệt tiêu hoàn toàn mối quan hệ củahai nước Bằng chứng là việc cả hai bên đã trở lại bình thường hoá quan hệvào cuối năm 1991 Đó là dấu mốc quan trọng đánh dấu quan hệ giữa haiquốc gia nói chung và quan hệ thương mại nói riêng ngày càng phát triển bềnvững, mạnh mẽ và đang trở thành một trong những bộ phận quan trọng trongchính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Cho đến nay, mối quan hệ kinh tế của hai nước vẫn được duy trì và phát triển.Đứng ở phái Việt Nam để đánh giá về mức độ thâm nhập hàng hoá của ViệtNam vào thị trường Trunh Quốc hay hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sangTrung Quốc em thấy có những thàh công đáng kể song khó khăn, tồn tại làkhông ít Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế quốc tế, trong bối cảnh đấtnước tham gia vào sân chơi thương mại toàn cầu, em thấy được sự cần thiếtcủa việc phát triển mạnh hơn nữa quan hệ thương mại Việt Nam- Trung
Quốc Vì vậy, em quyết định chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường xuất khẩu
hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO” để làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp một số lý luận để chứng minh và luận giải sự cần thiết phảităng cường hợp tác thương mại, thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
+ Đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốctrong từ năm 1991 đến nay
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam sang Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO
3 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốctrong thời gian qua ( từ năm 1991 đến nay)
Trang 34 Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam sang thị trường Trung Quốc từ năm 1991 đến nay Những nguyênnhân tồn tại khiến cho hoạt động xuất khảu hàng hoá từ Việt Nam sangTrung Quốc còn nhiều bất cập
- Tổng kết kinh nghiệm xuất khẩu của một số nước như Thái lan,
Indonesia… để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin cùng với phương pháp thống kê thựcchứng, phương pháp so sánh để tổng hợp giải quyết vấn đề đặt ra
6 Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý kuận chung về xuất khẩu và tổng kết
kinh nghiệm xuất khẩu hàng hoá của một số nước từ đó rút ra bài học choViệt Nam
- Đánh giá được thực trạng của hoạt động xuất khẩu hàng hoá của ViệtNam sang thị trường Trung Quốc trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu hàng hoá củaViệt Nam vào thị trường Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
- Ngoài lời mở dầu, kết luận, danh mục chữ viết tăt, danh mục các bảngbiểu, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, đề tài được trình bàytrong 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về xuất khẩu, kinh nghiệm xuất khẩu hàng
hoá của một số nước và tổng quan về thị trường Trung Quốc.
- Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị
trường Trung Quốc từ năm 2991 đến nay.
Trang 4- Chương 3: Một số giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO.
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU, KINH NGHIỆM XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA MỘT
SỐ NƯỚC VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG
TRUNG QUỐC1.1 Lý luận về xúất khẩu hàng hoá
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu
- Trên thực tế, các lĩnh vực sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhịpnhàng cùng với sự phát triển của xã hội Mỗi quốc gia trên thế giới đã tự sảnxuất được khối lượng hàng hoá lớn, phong phú, đa dạng Bên cạnh đó, nhucầu tiêu dùng các sản phẩm mới của con người là một nhân tố quan trọng kíchthích việc buôn bán, trao đổi của các quốc gia Hoạt động này có từ rất sớm,
đó chính là tiền thân của hoạt động xuât- nhập khẩu.Vậy xuất khẩu hàng hoá,dịch vụ là gi?
- Xuất khẩu là một hoạt động đưa hàng hoá- dịch vụ từ quốc gia này sangquốc gia khác để bán Đây là một hoạt động xâm nhập, chiếm lĩnh thị trườngnước ngoài một cách hiệu quả và phù hợp với sự phát triển kinh tế của cácquốc gia có lợi thế so sánh về một hay nhiều sẩn phẩm nào đó
- Tham gia vào hoạt động xuất khẩu này bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp,
tổ chức và chính phủ của các quốc gia Đây là những chủ thể không thể thiếucủa một nền kinh tế
- Để xuất khẩu hàng hoá sang một quốc gia khác, các nhà xuất khẩu cần tìmhiểu, nắm vững nhu cẩu, thị hiếu, phong cách tiêu dùng của thị trường nướcnhập khẩu Thông thường nước nhập khẩu có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm có uytín, thương hiệu, đa dạng về mẫu mã, chủng loại, an toàn cho sức khoẻ củangười tiêu dùng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, đời sống con người ngàymột được nâng cao, hơn lúc nào hết, nhu cầu tiêu thụ những loại hàng hoá có
Trang 6uy tín, thương hiệu, có xuất sứ rõ ràng, tuân theo những quy định về an toàn
vệ sinh,… của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu nói riêng, trên thế giới nóichung là rất lớn Vì vậy, đứng ở góc độ nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu ViệtNam cần có những chiến lược, sách lược phù hợp để tăng cường xuất khẩuhàng hoá ra thị trường quốc tế nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viênchính thức của tổ chức WTO
- Để xuất khẩu cần có những kênh riêng, đó là hoạt động xuất khẩu.Hoạt độngxuất khẩu là một trong những hoạt động ngoại thương của một quốc gia, nó
có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia đó Hoạt độngxuất khẩu mang nhũng đặc trưng sau:
+ Để hoạt động xuất khẩu diễn ra cần có hai hay nhièu bên tham gia vào cuộcbuôn bán này Khác với buôn bán nội địa hoạt động xuất khẩu yêu cầu haihay nhiều bên đó phải có quốc tịch khác nhau Đây chính là mấu chốt để cácnhà xuất khẩu đặt ra chiến lược xuất khẩu hàng hoá của mình Sự khác nhau
về quốc tịch dẫn đến sự khác nhau về phong tục tập quán, thói quen…và đó lànhững gì mà nhà xuất khẩu phải tìm hiểu, nghiên cứu để thoả mãn nhu cầucủa người tiêu dùng Sự thoả mãn nhu cầu, sự hài lòng ở nước nhập khẩu làyếu tố tạo ra những khách hàng trung thành hay nói đúng hơn là tạo một chỗđứng cho hàng hoá của quốc gia xuất khẩu
+ Do hàng hoá được xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia sang một thị trườngkhác nên sức ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, luật pháp, chính trị… làkhông nhỏ, đó là mầm mống cho những rủi ro mang lại cho hoạt động xuấtkhẩu
+ Phương tiện thanh toán trong hoạt động xuất khẩu thường là ngoại tệ với ítnhất một bên
+ Phương tiện vận tải, phương thức vận tải cũng hết sức quan trọng trong hoạtđộng xuất khẩu Vì ở đây chứa những rủi ro cho cả hai bên tham gia vào hoạt
Trang 7động này Vì thế, khi tham gia ký kết các hợp đồng ngoại thương, các nhàxuất khẩu cũng như nhập khẩu cần có các điều khoản, hợp đồng bảo hiểm…đikèm để giảm thiểu rủi ro cho mình.
1.1.2 Các hình thức xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá bao gồm các hình thức sau:
1.1.2.1 Xuất khẩu trực tiếp
- Xuất khẩu trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán ( nhà xuấtkhẩu) bán hàng trực tiếp cho nước ngoài ( nhà nhập khẩu)
- Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp:
+ Cho phép nhà xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số lượng,chất lượng, giá cả để người bán thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường.+ Giúp cho người bán không bị chia sẻ lợi nhuận
+ Giúp xây dựng chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp
- Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp:
+ Chi phí tiếp thị ở thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh nghiệp cóquy mô nhỏ, ít vốn thì nên xuất khẩu uỷ thác có lợi hơn
+ Kinh doanh xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi những cán bộ có nghiệp vụ kinhdoanh xuất nhập khẩu giỏi: giỏi về giao dịch đàm phán, am hiểu và có kinhnghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo,
có như vậy mới đảm bảo cho kinh doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả Đâyvừa là yêu cầu đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu trực tiếp, vừa thểhiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào sânchơi thương mại quốc tế này
- Cách thức tiến hành xuất khẩu trực tiếp:
Để tiến hành xuất khẩu trực tiếp cần:
+ Nghiên cứu thị trường, thương nhân
Trang 8+ Đánh giá hiệu quả của thương vụ kinh doanh thông qua việc xác định tỷ giáxuất khẩu, tỷ giá nhập khẩu Chỉ thực hiện kinh doanh khi tỷ giá xuất khẩunhỏ hơn tỷ giá hối đoái.
+ Tổ chức các giao dịch đàm phán qua các hình thức: thư tín hỏi hàng, báogiá, chào hàng, hoàn giá…hoặc gặp gỡ trực tiếp để đàm phán, thoả thuận, kýkết hợp đồng
+ ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Tổ chức thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký
1.1.2.2 Hình thức xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp hay giao dịch qua trung gian làhình thức mua bán quốc tế được thực hiện khi nhờ sự giúp đỡ của trung gianthứ ba Người này được hưởng một khoản tiền nhất định
- Các trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý, môi giới
+ Đại lý là người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty khác thựchiện mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận tải
và bảo hiểm
+ Môi gới thường là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán uỷ tháctiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ Khi tiến hành nghiệp vụ môigiới, người môi giới không đứng tên của chính mình mà đứng tên người uỷthác không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trướcngười uỷ thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng
- Ưu điểm của xuất khẩu gián tiếp:
+ Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập,pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương, họ có khả năng đẩy mạnh buônbán và tránh bớt những rủi ro cho người uỷ thác
Trang 9+ Những người trung gian nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhấtđịnh do đó khi sử dụng họ người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước nhậpkhẩu.
+ Nhờ những dịch vụ trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng góingười uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải
Sau khi đã xác định nhất định phải sử dụng đại lý, các doanh nghiệp cầnnghiên cứu một cách kỹ lưỡng những vấn đè như mặt hàng uỷ thác tiêu thụ làmặt hàng nào? thời gian uỷ thác là bao nhiêu?
1.1.2.3 Buôn bán đối lưu
- Khái niệm: Buôn bán đối lưu là hình thức giao dich trong đó xuất khẩu kếthợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua hàng,lượng hàng trao đổi với nhau có giá trị tương đương Ở đây mục đích của xuấtkhẩu không nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trịtương đương
- Hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu:
+ Hàng đổi hàng: hai bên trao đổi hàng hoá có giá trị tương nhau, việc giaohàng diễn ra đồng thời
Trang 10+ Trao đổi bù trừ: hai bên trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở ghi giá trị hànggiao, đến cuối kỳ hạn hai bên mới so sánh đối chiếu giữa giá trị hàng giao vàhàng nhận Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như vậy mà còn số dư thì tiền đó sẽđược giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ và những khoản chi tiêucủa bên chủ tại nước bị nợ.
- Dù tiến hành theo hình thức nào cũng phải tôn trọng nguyên tắc cân bằng.Nguyên tắc này được thể hiện như sau:
+ Cân bằng về mặt hàng: hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng ế thừa đổi lấy hàng
ế thừa
+ Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế
+ Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao FOB cảng đi hoặc cùng giao CIFcảng đến
+ Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá giao cho nhau
1.1.2.4 Gia công quốc tế
- Khái niệm: gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩutrong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị,nguyên phụ liệu hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước Ngườinhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầucủa khách hàng Sau khi các sản phẩm được làm ra người nhận gia công sẽgiao lại cho người đặt gia công và nhận một khoản tiền gọi là phí gia công
- Ưu điểm của gia công xuất khẩu:
+ Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải lo chi phí cho hoạt động bán sảnphẩm đầu ra
+ Vốn đầu tư cho sản xuất là nhỏ
+ Tạo được công ăn việc làm cho người lao động
+ Học tập được kinh nghiệm sản xuất của nước ngoài, tạo được mẫu mã bao
bì cho các sản phẩm của mình
Trang 11+ Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán lại các máy móc
cũ, lạc hậu cho bên nhận gia công làm ô nhiễm môi trường
+ Do sự lợi dụng của bên đặt gia công để được hưởng ưu đãi từ phía nướcnhận gia công
+ Nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn lợi dụng gia công để tìm ra sơ hở trốnthuế gây tổn hại cho nước nhận gia công
+ Do tính cạnh tranh gia công ở nội địa ngày càng gay gắt làm cho giá giacông giảm sụt
1.1.2.5 Tái xuất khẩu
- Khái niệm: tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang nướckhác những hàng hoá đã mua ở nước ngoài chưa qua chế biến ở nước tái xuất
- Mục đích của giao dịch này là thu chênh lệch giá mua đi- bán lại, mua bán đắt
rẻ Các hình thức của tái xuất khẩu:
+ Kinh doanh chuyển khẩu: đây là hình thức mà hàng hoá từ nước xuất khẩutrực tiếp sang nước nhập khẩu Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu, thutiền của nước nhập khẩu
+Tạm nhập, tái xuất: hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, lạiđược nước tái xuất xuất khẩu sang nước nhập khẩu
Trang 12- Ưu điểm của tái xuất khẩu là rủi ro ít do nhà xuất khẩu chỉ đóng vai trò xuấtkhẩu hàng hoá sang nước thứ hai, nước thứ hai có vai trò là một trung gian vìthế rủi ro lúc này được san sẻ.
- Nhược điểm là lợi nhuận mà các nhà xuất khẩu thu được thấp do các chi phí
về dịch vụ vận tải, bến bãi…tương đối lớn
1.1.2.6 Xuất khẩu tại chỗ
- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh thổnước mình
- Ưu điểm: do bán hàng hoá ngay trên lãnh thổ nước mình cho nên các nhàxuất khẩu tại chỗ ít gặp rủi ro về chính trị, pháp luật, vận chuyển…Do đó tiếtkiệm được chi phí giao dịch, vận chuyển
- Nhược điểm: số lượng hàng hoá bán được không lớn do mảng thị trườngnày chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuấtkhẩu tiêu thụ
Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu đều mang lại nhữnh hiệu quả cũngnhư những hạn chế, khó khăn nhất định Vì vậy, đứng ở góc độ nhà xuấtkhẩu, Việt Nam cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với
sự phát triển kinh tế, khả năng, năng lực của Việt Nam để thu được hiệu quảkinh tế cao nhất góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước tronggiai đoạn hiện nay
1.1.3 Các bước tiến hành xuất khẩu
1.1.3.1 Nghiên cứu và tiếp cận thị trường
- Trên thực tế, trong sân chơi thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sự cạnhtranh gay gắt, khốc liệt Bước vào giai đoạn toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế,hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp, các nhà xuấtkhẩu Việt Nam nói riêng cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trườngtrước khi quyết định xuất khẩu hàng hoá của nước mình Những thông tin về
Trang 13thị trường là tiền đề cho chiến lược kinh doanh của các nước xuất khẩu Bởi lẽkhai thác được những thông tin này chính là biết được môi trường, nhu cầu,thị hiếu, thói quen tiêu dùng của khách hàng, để từ đó biết được cần xuất khẩumặt hàng gì? đối tượng xuất khẩu nào? ở đâu? đối thủ cạnh tranh là ai?
- Sau khi thu thập , xử lý thông tin do thị trường cung cấp, các nhà xuất khẩucần đưa ra những phương pháp nhất định để tiếp cận thị trường nước nhậpkhẩu Phương pháp phổ biến như qua báo chí, đài, mạng Intẻnet, các hội chợ,triển lãm, qua các trung tâm xúc tiến thương mại để từ đó quảng bá hình ảnh
về nước xuất khẩu cũng như những sản phẩm xuất khẩu
Kết quả của quá trính thu thập, nghiên cứu và tiếp cận thị trường là một địnhhướng kinh doanh với nội dung chính là đặt ra được hai câu hỏi: xuất khẩuhàng hóa gì? xuất khẩu đi đâu?
1.1.3.2 Lập phương án kinh doanh
- Sau khi đã có được định hướng kinh doanh, nhà xuất khẩu cần lập ra chomình một kế hoạch kinh doanh cụ thể Trước hết, trong kế hoạch kinh doanh
đó phải có mặt của nội dung sau: xuất khẩu hàng hoá gì? thời gian xuất khẩu?đối tác xuất khẩu? đối thủ cạnh tranh? chiến lược quảng cáo? lợi nhuận dựkiến? khó khăn khi thực hiện thương vụ kinh doanh này? giải pháp khắc phụccác khó khăn đó là gì?
1.1.3.3 Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng
- Sau khi các nhà xuất khẩu tìm kiếm được đối tác và thị trường xuất khẩu thìhai bên phải tiến hành các giao dịch đàm phán với nhau về mặt hàng xuấtkhẩu , thời gian tiến hành xuất khẩu, các hình thức vận chuyển, thanh toán để
từ đó đi đến ký kết hợp đồng ngoại thương
- Các hình thức đàm phán:
+ Đàm phán bằng thư tín
+ Đàm phán qua điện thoại
Trang 14+ Gặp mặt trực tiếp để đàm phán
Với những hình thức đàm phán trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các doanhnghiệp có thể lựa chọn cho mình phương thức đàm phán phù hợp nhất, hiệuquả nhất Muốn vậy, nhà kinh doanh ngoại thương cần nắm vững ba cơ sở:pháp luật, thông tin và năng lực của người đi đàm phán
1.1.3.4 Thực hiện hợp đồng
- Khi hoàn tất các thủ tục, công đoạn của quá trình xuất khẩu như xin giấyphép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, kiểm tra chất lượng hàng hoá, các thủ tụchải quan, thủ tục thanh toán…chính là thực hiện hợp đồng xuất khẩu Trongquá trình thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các điều khoản mà hai bên đã kýkết để tránh, giảm tranh chấp ngoại thương cho cả hai bên, từ đó hợp dồng sẽđược thực hiện một cách nhanh chóng và mang lại hiệu quả
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu
Quá trình xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó có những yếu tố cơ bản sau đây:
1.1.4.1 Yếu tố kinh tế
- Thị trường cần có sức mua cũng như người mua Sự thay đổi các yếu tố nhưthu nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một quốc gia cótác động tức thời đến thương trường, các nhà quản trị cần hiểu rõ nhữngkhuynh hướng chính yếu diễn ra các vấn đề này Một yếu tố cơ bản để phảnánh bề rộng của thị trường tiềm năng đó là dân số, quan trọng hơn nữa là họphải nghiên cứu, so sánh tốc độ của GNP tăng so với tốc độ tăng dân số để dựđoán khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của quốc gia mình Theo đó,các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu mức phân bố theo tuổi, đặc tính phânphối thu nhập ở đó
- Một trong những yếu tố khác chính là đặc điểm khác nhau của các nền kinh
tế Chẳng hạn như quốc gia mà nền kinh tế còn chưa phát triển thì việc nghĩ
Trang 15đến hoạt động xuất khẩu là ít, còn một quốc gia có nền kinh tế mở cửa, đangtrong quá trình CNH- HĐH có chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu thì kimngạch xuất khẩu sẽ chiếm phần nhiều trong tổng sản phẩm quốc nội của nước
đó Bởi lẽ, với chiến lược này cơ hội kinh doanh cho các công ty, các nhà xuấtkhẩu là rất lớn Cũng với chiến lược đó việc dự báo những biến động kinh tế,các hoạt động xúc tiến của cơ quan quản lý nhà nước đã giúp các nhà xuấtkhẩu vượt qua những khó khăn mà thị trường mới mang lại
1.1.4.2 Môi trường văn hoá- xã hội
- Con người thường lớn lên từ một môi trường xã hội nào đó Đó là nôi hìnhthành những nhân cách, niềm tin cơ bản, những tiêu chuẩn và cả những giá trịtiêu chuẩn của họ Văn hoá- xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình buônbán, tiép thị hàng hoá của các doanh nghiệp, các quốc gia Điều đó thể hiện:+ Tính bền vững của các giá trị văn hoá cốt lõi: ở đâu cũng vậy, mỗi ngườidân đều lưu giữ một giá trị và một niềm tin khác nhau, có tính gốc rễ vàtrường tồn theo thời gian Chính điều đó dã hình thành thói quen, thị hiếu tiêudùng cho họ Cho nên các nhà xuất khẩu phải nắm được đặc điểm này để từ
đó biết được thị trường trọng điểm của mình
1.1.4.3 Môi trường chính trị
- Các quyết định kinh doanh chịu tác động mạnh mẽ của những thay đổi trongmôi trường chính trị và pháp luật Môi trường này được tạo ra từ các luật lệ,các cơ quan, chính quyền, chính phủ Khi tham gia các hoạt động kinh doanhcác nhà kinh doanh đều sợ nhất rủi ro chính trị Mọt chủ thể tham gia xuấtkhẩu khi xuất khẩu sang một đất nước có môi trường chính trị ổn định cũng
có nghĩa là họ đã tránh được rất nhiều rủi ro tiềm tàng gây tổn thất cho họ.Ngược lại khi xuất khẩu sang một nước có môi trường đầy biến động, chiếntranh, sự thay đổi trong các chính sách kinh tế vĩ mô…thì rủi ro mà các nhàxuất khẩu gặp phải chính là lợi nhuận thu được sẽ thấp hơn rất nhiều
Trang 161.1.4.4 Môi trường pháp luật
Môi trường pháp luật cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu Chính vì vậy, các nhà kinh doanh xuất khẩucần hiểu rõ quy định về pháp luật của chính quốc gia mình và của nước đốitác, đặc biệt là các thông lệ quốc tế liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu.Một số yếu tố như các công cụ quản lý của nhà nước, các quy định về giấyphép xuất khẩu, mặt hàng được phép xuất khẩu, mặt hàng không được phépxuất khẩu, thuế quan, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm…Một số cáccông cụ sau đây thường được sử dụng:
- Công cụ thuế quan: thuế xuất khẩu, đây là loại thuế đánh vào mỗi đơn vịhàng hoá xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu Loại thuế này có ảnh hưởng trựctiếp đến giá cả của hàng hoá xuất khẩu Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuấtkhẩu cần nắm vững loại thuế này để có những chiến lược trong sản xuất kinhdoanh., thâm nhập thị trường sao cho tạo được mức giá cạnh tranh nhất
- Công cụ phi thuế quan: Đây cũng là một công cụ để khuyến khích hay hạnchế xuất khẩu hoặc nhập khẩu Công cụ này bao gồm:
+ Hạn ngạch: do nhà nước đặt ra nhằm quy định số lượng hàng hoá cao nhấtcủa một mặt hàng hay một nhóm mặt hàng được phép xuất khẩu hoặc nhậpkhẩu từ một quốc gia trong một thời gian nhất định Đây là công cụ nhằm hạnchế hàng hoá xuất khẩu thâm nhập từ thị trường bên ngoài vào thị trường nộiđịa của một quốc gia
+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là biện pháp mà một quốc gia đưa ra nhằmhạn chế lượng hàng hoá của một nước thâm nhập vào quốc gia của mình mộtcách tự nguyên, nếu không thực hiện sự tự nguyện này thì quốc gia xuất khẩu
sẽ có thể bị quốc gia nhập khẩu áp dụng các biện pháp trả đũa
+ Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: bao gồm những quy định về vệ sinh antoàn thực phẩm, các quy tắc xuất xứ, nhãn mác sinh thái của hàng hoá, các
Trang 17quy định về an toàn và các chế độ của người lao động…Những tiêu chuẩn này
đã và đang dần dần thay thế cho các công cụ hành chính như thuế quan, hạnngạch, nó được coi như một công cụ bảo hộ các nhà sản xuất trong nước mộtcách tinh vi vì nó không vi phạm các thông lệ quốc tế Do đó các nhà xuấtkhẩu cần nắm vững được những quy định này để đảm bảo các sản phẩm màmình xuất khẩu tuân thủ một cách chặt chẽ yêu cầu nước nhập khẩu đặt ra đểtránh những rủi ro đáng tiếc gây tổn thất cho doanh nghiệp của mình
+ Ngoài ra các nước nhập khẩu còn áp dụng các công cụ khác như biện pháptrả đũa, các quy định về chống bán phá giá, các công cụ trên thị trường tiềntệ…Tất cả những công cụ đó đều mang đến cho các nhà xuất khẩu những rủi
ro khi thực hiện các thương vụ kinh doanh Chính vì vậy các nhà xuất khẩucần tỉnh táo và sáng suốt để lựa chọn cho mình một thị trường, một đối tácxuất khẩu tiềm năng
1.1.4.5 Yếu tố cạnh tranh
- Thị trường mục tiêu nước ngoài hiếm khi là một không gian thuần khiết chomọi sự hiện diện thương mại Các nhà sản xuất và các nhà nhập khẩu nội địathường hợp tác với nhau hình thành một thị trường nội địa khó khăn hơn chocác nhà xuất khẩu Khi thâm nhập vào thị trường nội địa các nhà xuất khẩu cóthể gặp phải các đối thủ cạnh tranh mạnh yếu khác nhau, nếu các nhà xuấtkhẩu không nắm được những vấn đề về đối thủ của mình sẽ khó lòng thâmnhập vào thị trường nội địa một cách suôn sẻ
- Để hoạch định một chiến lược cạnh tranh chi tiết, các nhà quản trị marketingcòn phải nghiên cứu các nhân tố tác động đến cạnh tranh Sản phẩm tương tự
là một nhân tố tác động trực tiếp đến cạnh tranh, tiếp đó là nhu cầu, thị hiếucủa người tiêu dùng, các yếu tố về pháp luật, chính trị…doanh nghiệp có tồntại được hay không là phụ thuộc vào cách xử lý, ứng phó với các tình huốngthực tế
Trang 18- Hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏnên sức cạnh tranh của các hàng hoá sản xuất ra là thấp Mặt khác, các thôngtin về kinh doanh trong các doanh nghiệp cũng chưa được cung cấp đầy đủ vàkịp thời, các thông tin mà các doanh nghiệp nhận được thường có độ trễ rấtlớn, do đó khi các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin này trong tay thì có lẽthông tin đó đã không còn giá trị nữa Điều đó lại một lần nữa nói lên rằngyếu tố cạnh tranh là vô cùng quan trọng, để có một năng lực cạnh tranh tốt cácdoanh nghiệp cần nhanh nhạy, hiểu biết đồng thời cần có sự trợ giúp thực sự
1.1.5.1 Xuất khẩu là nhân tố tạo điều kiện cho quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh củaquốc gia mình
- Khi kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, điều đó đồng nghĩa vớiviệc sức cạnh tranh của hàng hoá của quốc gia xuất khẩu là lớn Chính điều
đó đưa nền kinh tế vào vận hành trong một vòng quay ổn định và bền vữnghơn Vì khi các nước xuất khẩu được nhiều hàng hoá có sức cạnh tranh cao làkhi mà họ tận dụng và phân bổ được tối đa nguồn lực, lợi thế so sánh của họvới các nước khác Quá trình đó là bước đệm để cho tất cả các nước đặc biệt
Trang 19là các nước đang phát triển nhanh chóng bước vào quá trình CNH- HĐH đấtnước.
1.1.5.2 Xuất khẩu hàng hoá tạo ra nguồn thu ngoại tệ, nguồn vốn chủ yếu cho việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho quá trình CNH- HĐH đất nước
- Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kích thích nền kinh tế phát triển, nó gópphần tăng nguồn vốn tích luỹ, tăng thu ngoại tệ, tăng tổng thu nhập quốc dân,tăng mức sống của dân cư Không chỉ thế, ngoại tệ và số vốn mà nền kinh tếtích luỹ được qua xuất khẩu sẽ được dùng để mua máy móc, nguyên vật liệu,thây đổi các công nghệ cũ, lạc hậu đáp ứng nhu cầu thiết yếu của CNH- HĐHđất nước
1.1.5.3 Xuất khẩu hàng hoá là nhân tố tác động tích cực đến việc dịch chuyển cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm
- Các ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khácphát triển thuận lợi Chẳng hạn khi phát triển ngành dệt may phát triển thì sẽtạo điều kiện thuận lợi cho ngành xuất khẩu nguyên liệu như bông hay thuốcnhuộm Sự phát triển của ngành chế biến thực phẩm phát triển sẽ kéo theo sựphát triển của ngành công nghiệ chế tạo ra các máy móc, thiết bị phục vụ nó
- Xuất khẩu là nhân tố mở rộng thị trường tiêu thụ, nhờ đó mà các ngành sảnxuất có thể phát triển và ổn định
- Xuất khẩu tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngành sảnxuất, tìm kiếm được đối tác cung cấp nguồn đầu vào phục vụ cho sản xuất nộiđịa
- Xuất khẩu là phương tiện tạo ra nguồn vốn và công nghệ từ thế giới vào nộiđịa nước xuất khẩu nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, mở ra một năng lực sảnxuất mới
Trang 20- Xuất khẩu là cầu nối để đưa hàng hoá nội địa ra cạnh tranh với hàng hoá thếgiới về chất lượng, giá cả thị phần…cuộc cạnh tranh này đòi hỏi các nướctham gia xuất khẩu không ngừng tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sảnxuất thích ứng, phù hợp với những đòi hỏi và yêu cầu của thị trường.
1.1.5.4 Xuất khẩu góp phần tích cực và việc tạo công ăn việc làm cho người lao động và nâng cao đời sống của nhân dân
- Xuất khẩu phát triển chính là nơi thu hút hàng nghìn lao động với thu nhậpcao Xuất khẩu còn tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá làm cho rổhàng hoá trong nước trở nên phong phú, đáp ứng thêm nhu cầu của ngườidân, đó là giúp nâng cao đời sống của nhân dân Không chỉ vậy, xuất khẩucòn giúp nâng cao tay nghề của người lao động, tạo ra một tác phong, kỷ luậtmới cho người lao động sản xuất ra hàng xuất khẩu
1.1.5.5 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế kinh tế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế
- Thực tế Việt Nam đã thiết lập quan hệ buôn bán với trên 100 quốc gia trênthế giới Sự phát triển không ngừng của hoạt động xuất khẩu của Việt Namtrong suốt thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nóichung mà còn là nhân tố tích cực để thúc đẩy sự phát triển của các quan hệhợp tác quốc tế Hiện nay Việt Nam đã xây dựng được một quy mô các mặthàng xuất khẩu tương đối lớn và ngày càng được thị trường thế giới côngnhận như: cà phê, dầu khí, gạo, thuỷ sản, hàng dệt may,…Việc xây dựngđược một số mặt hàng có quy mô lớn nói trên đã cho phép Việt Nam khaithác được lợi thế so sánh của nền kinh tế Việt Nam và đồng thời tích luỹđược bài học kinh nghiệm quan trọng cho việc đổi mới và hình thành cơ cấuxuất khẩu có hiệu quả kinh tế lớn phù hợp cho bước chuyển đổi của nền kinh
tế trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 211.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu
- Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu Sau đâychúng ta có thể xem xét một số chỉ tiêu sau:
+ Thứ nhất, xét kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của mỗi nước Cụ thể hơn là,nước xuất khẩu đó đã xuất khẩu được bao nhiêu hàng hoá, khối lượng và trịgiá là bao nhiêu Nếu kim ngạch xuất khẩu càng lớn chứng tỏ hiệu quả xuấtkhẩu càng cao Hơn thế nữa, kim ngạch cao và trị giá của hàng hoá đem xuấtkhẩu là lớn thì điều đó càng chứng tỏ chiến lược hướng về xuất khẩu của quốcgia đó
+ Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu Hoạt động xuất khẩucủa một nước là hiệu quả khi kim ngạch xuất khẩu của nước đó liên tục tăngqua các năm, hoặc duy trì được một sự gia tăng ổn định qua các năm và cácthời kỳ Sự tăng giảm không đều và bất thường trong kim ngạch xuất khẩu làdấu hiệu cho biết những tồn tại trong hoạt động này, hay hoạt động xuất khẩukhông đạt được hiệu quả như mong muốn
+ Thứ ba, sự cân bằng trong cán cân thương mại hay trong xuất khẩu và nhậpkhẩu Một nước có kim ngạch xuất khẩu lớn hơn kim ngạch nhập khẩu lànước xuất siêu, thu được nhiều ngoại tệ cũng như đạt được hiệu quả tronghoạt động xuất khẩu Ngược lại, một nước mà nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩuthì nước đó là nước nhập siêu Khi đạt được sự cân bằng trong thương mạiquốc tế thì hiệu quả của hoạt động xuất khẩu là rất tốt Bởi lẽ khi đó cả haihoạt động này đều đáp ứng được mục têu phát triển kinh tế- xã hội của cácnước
+ Thứ bốn, thông qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ta cũng có thể đánh giáđược hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của một nước Khi các hàng hoá xuấtkhẩu là những hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao, khoa học kỹ thuật được
áp dụng để sản xuất ra những hàng hoá đó là hiện đại thì một điều tất nhiên là
Trang 22hàng hoá đó sẽ mang lại nguồn thu lớn cho nước xuất khẩu nếu đó là hànghoá mà con người ưa chuộng Bên cạnh đó, các hàng hoá dưới dạng thô, chỉ
sơ chế, chưa qua chế biến thường giá trị rất thấp, hơn nữa nó còn là mầmmống làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của nước xuất khẩu, giảm và mấtdần khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế Qua cơ cấu mặthàng xuất khẩu này ta có thể thấy được trình độ phát triển của các quốc gia
Rõ ràng những quốc gia phát triển, có khoa học kỹ thuật hiện đại, nguồn vốnkhổng lồ, nguồn nhân lực trình độ cao, thì sẽ sản xuất ra những sản phẩmcông nghệ cao, hiện đại theo kịp sự phát triển cũng như nhu cầu của conngười Còn những nước đang và kém phát triển, trình độ lạc hậu, khan hiếmvốn, song lại có tài nguyên thiên nhiên thì điều tất nhiên là họ sẽ xuất khẩunhững hàng hoá có nguồn gốc từ thiên nhiên, chỉ qua sơ chế, thậm chí là sảnphẩm thô
+ Thứ năm, hình thức buôn bán cũng cho ta thấy được hiệu quả của hoạt độngxuất khẩu Khi nước tham gia xuất khẩu chủ yếu qua hoạt động buôn bánchính ngạch thì sẽ giảm thiểu được những rủi ro trong thương mại, tránh thiệthại cho nước mình Bởi lẽ, khi tham gia hoạt động buôn bán này, ngoài việccác nhà kinh doanh xuất nhập khẩu phải tuân thủ những quy định pháp luậtcủa hai nước nói riêng còn phải tuân thủ theo các thông lệ quốc tế nói chungmột cách nghiêm túc, đây là cơ sở để hai bên giảm thiểu được nhiều rủi rotrong các thương vụ kinh doanh, do đó mang lại hiệu quả cao Ngược lại, nếucác nước xuất khẩu buôn bán thông qua hoạt động tiểu ngạch thì rủi ro manglại là rất lớn Chính những rủi ro này làm thiệt hại và giảm đi rất nhiều hiệuquả do hoạt động xuất khẩu mang lại
* Như vậy, với năm chỉ tiêu trên các quốc gia tham gia kinh doanh xuất khẩu
có thể dựa vào đó để điều chỉnh hoạt động xuất khẩu của mình sao cho hoạt
Trang 23động xuất khẩu mang lại hiệu quả cao nhất đáp ứng mục tiêu, chiến lược pháttriển kinh tế- xã hội mà quốc gia mình đã đề ra.
1.2 Cơ sở lý kuận của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Các lý thuyết chính về thương mại quốc tế
1.2.1.1 Mô hình cổ điển về lợi thế so sánh
* Trên thực tế, người ta luôn đặt ra một câu hỏi: tại sao người ta lại phải buônbán? Về cơ bản là vì buôn bán là việc mang lại nguồn lợi nhuận Hơn nữa,con người ta có những khả năng và các nguồn lực khác nhau và họ muốn tiêudùng loại hàng hoá với số lượng khác nhau Điều này được quy định bởi sởthích khác nhau và những cơ sở vật chất khác nhau Con người thường thấy
có lời khi họ đem buôn bán những thứ mà họ có số lượng lớn ( so với thị hiếu
và nhu cầu của họ) để đổi kấy những thứ mà họ cần Vì mỗi cá nhân hay giađình đều không thể tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính họ, họ chỉ thấy cólợi khi tham gia những hoạt động phù hợp với họ nhất hoặc có một lợi thế sosánh nào đó về khả năng tự nhiên hay nguồn lực của mình Khi đó họ có thểtrao đổi lượng hàng hoá dư thừa của mình để đổi lấy những sản phẩm mà họkhông có hoặc người khác sản xuất ra chúng dễ dàng hơn Do vậy, xét trênmột chừng mực nào đó, hiện tượng chuyên môn hoá dựa trên lợi thế so sánh
đã nảy sinh
* Thương mại quốc tế cũng xuất hiện từ sự đa dạng hoá nền sản xuất giữa cácnước Khi tham gia thương mại quốc tế, tất cả các nước đều có xu hướngchuyên môn hoá một số sản phẩm mà mình có điều kiện sản xuất thuận lợinhất hoặc thuận lợi hơn người khác mà nhờ đó có thể giảm giá bán sản phẩm,tạo ra sức cạnh tranh về giá cả so với các nước khác Điều đó có nghĩa là cácnước nhập khẩu nên nhập khẩu những sản phẩm mà mình không có điều kiệnsản xuất hoặc hiệu quả thấp, đồng thời nước đem xuất khẩu phải xuất khẩu
Trang 24những sản phẩm mà mình có lợi thế, có hiệu quả cao Tuy nhiên cần phải xemxét nhu cầu thị trường thế giới về sản phẩm đó để đảm bảo được sức cạnhtranh của sản phẩm Tất cả những điều đó được thể hiện rõ trong hai họcthuyết của hai nhà kinh tế học cổ điển của Anh là Adam Smith và DavidRicardo.
- Học thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo cho rằng phúc lợi của thế giới( giả sử thế giới gồm hai nước) là lớn nhất khi mỗi nước xuất khẩu sản phẩm
mà chi phí sản xuất ở trong nước thấp hơn ở nước ngoài và nhập khẩu nhữnghàng hoá mà chi phí so sánh ở nước ngoài thấp hơn ở trong nước Sau đây ta
có thể xem xét ví dụ:
- Giả sử việc trao đổi chỉ diễn ra giữa hai quốc gia là Việt Nam và TrungQuốc, với hai hàng hoá là vải và gạo, chi phí vận chuyển bằng 0, lao độngđược xem là yếu tố duy nhất, được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuấttrong nước nhưng không được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác,thị trường coi như cạnh tranh hoàn hảo Để sản xuất mỗi đơn vị vải và tôm, sốlao động mà mỗi quốc gia cần tới như sau:
+ Theo bảng số liệu trên ta thấy, Trung Quốc cần một số lượng lao động íthơn so với Việt Nam để sản xuất ra cả hai loại hàng hoá Nhưng với giả địnhnăng suất lao động ở mỗi ngành sản xuất là độc lập với mức sản lượng thì lợithế không hẳn hoàn toàn nghiêng về phía Trung Quốc Quan sát tiếp bảngsau:
Trang 25+ Xét theo cách nhìn về lợi thế tuyệt đối thì Trung Quốc co lợi thế hơn trong
cả hai mặt hàng Nhưng xét theo giá cả tương quan của hai hàng hoá này tathấy, Trung Quốc có lợi thế so sánh trong sản xuất vải, Việt Nam có lợi thế sosánh trong sản xuất tôm Nếu mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá
mà mình có lợi thế rồi đem trao đổi thì cả hai quốc gia sẽ trở nên giàu có hơn.Theo ví dụ trên ta thấy rất rõ, thay vì dùng 5 đơn vị lao động để sản xuất ra 1đơn vị tôm, Trung Quốc sử dụng 5 đơn vị lao động đó để sản xuất ra 2,5 đơn
vị vải Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế băng mức giá tương quan của Việt Nam là 1vải = 2 tôm thì với 2,5 đơn vị vải đó Trung Quốc bán sang Việt Nam sẽ được
5 đơn vị tôm Tức là Trung Quốc được lợi 4 đơn vị tôm, Việt Nam khôngđược gì Tương tự, nếu Việt Nam sử dụng 12 đơn vị lao động để sản xuất 2đơn vị tôm thay vì sản xuất 1 đơn vị vải và bán sang Trung Quốc Nếu tỷ lệtrao đổi quốc tế đúng bằng mức giá tương quan ở Trung Quốc 1 tôm = 2,5 vảithì Việt Nam sẽ có lợi 4 đơn vị vải Trường hợp tỷ lệ trao đổi quốc tế nằmgiữa hai mức giá tương quan của Trung Quốc và Việt Nam thì cả hai sẽ cùngthu được lợi ích
- Với học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, ta có thể xác định đượchướng chuyên môn hoá của các quốc gia Lý thuyết này đã làm rõ că cứ đểđánh giá khả năng xuất khẩu của các quốc gia khác nhau Ta cũng quan sát ví
Trang 26Theo đó, ở Trung Quốc 1 vải = 0,4 tôm, ở Việt Nam 1 vải = 2 tôm Ta thấy,Việt Nam là nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tôm, Trung Quốc có hiệuquả cao hơn trong sản xuất vải Khi hai nước chuyên môn hoá sản xuất mặthàng có lợi thế của mình và đem trao đổi thì cả hai quốc gia đều thu được lợiích Mô hình này, chỉ ra hướng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá và trao đổihàng hoá đó để mang lại lợi ích hay sự giàu có cho quốc gia, song mô hìnhnày không giải thích được tại sao thương mại quốc tế vẫn diễn ra khi mộtquốc gia có lợi thế tuyệt đối hay bất lợi tuyệt đối về sản xuất ra hàng hoá.
1.2.1.2 Mô hình tân cổ điển ( mô hình Heckscher- Ohlin)
- Đây là mô hình về mối quan hệ giữa các yếu tố sẵn có và chuyên môn hoáquốc tế Lý thuyết này đã chứng minh rằng một nước sẽ thu được lợi quabuôn bán nếu xuất khẩu một hàng hóa được sản xuất bằng việc sử dụng ởmức cao các yếu tố sản xuất mà nước đó có tương đối nhiều và rẻ, đồng thờinhập những hàng hoá mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng ở mức cao yếu tố sảnxuất mà mình có rất ít
1.2.1.3 Học thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
- Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế được đưa ra để giải thíchnhững hiện tượng mới gắn với những thay đổi của thương mại quốc tế Lýthuyết này cũng phản ánh sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹthuật và quyền lợi của các tập đoàn đa quốc gia trong buôn bán quốc tế
- Mô hình về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế cho thấy rằng một sản phẩmđòi hỏi lao động tay nghề rất cao ở giai đoạn đầu tiên, sau đó khi thị trường đãphát triển và kỹ thuật ngày càng phổ biến hơn thì sản phẩm đó được chuẩnhoá, do đó độ tinh vi sẽ kém hơn, lúc này có thể hàng hoá được sản xuất rahàng loạt Các nước có nền kinh tế tiên tiến có lợi thế so sánh với những mặthàng chưa được chuẩn hoá
Trang 27- Chu kỳ sống của sản phẩm gồm 4 giai đoạn: xâm nhập, tăng trưởng, chínmuồi, suy thoái Thời gian tồn tại của mỗi giai đoạn là khác nhau ở các thịtrường không giống nhau Bởi lẽ, sản phẩm có thể là mới ở thị trường nàynhưng là cũ ở thị trường khác Điều đó làm cho các quốc gia tiến hành buônbán, trao đổi với nhau các sản phẩm luôn luôn được đổi mới Sau đây ta xemxét từng giai đoạn:
a Giai đoạn xâm nhập
- Thông thường sự xuất hiện một sản phẩm mới ở một quốc gia vì một lý dosau:
+ Do lợi nhuận của các công ty, tập đoàn ngày càng lớn cho nên theo xu thếphát triển họ liều lĩnh chi tiêu vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển tạo
ra sản phẩm mới
+ Do sự cạnh tranh gay gắt
+ Đời sống và mức thu nhập của dân cư ngày càng tăng
+ Các nước này có một đội ngũ nhà khoa học đông đảo và điều kiện cơ sở vậtchất phục vụ cho việc nghiên cứu đầy đủ, thuận lợi
Các sản phẩm được xuất hiện và phát triển đều do nhu cầu của thị trường Khisản phẩm mới ra đời thông thường chúng được nhà sản xuất trong nước bầybán tại thị trường nội địa với một số lượng hạn chế, đây như là một bướcthăm dò thị trường, nó là bước đệm trước khi đưa sản phẩm ra thị trườngnước ngoài
b Giai đoạn tăng trưởng
- Đây là giai đoạn mà nhu cầu tiêu dùng sản phẩm mới có xu hướng gia tăng
ở thị trường nước ngoài đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển Khi
đó các nhà kinh doanh sẽ đầu tư vốn ở thị trường nước ngoài theo hai hướngsau:
Trang 28+ Nếu công ty sản xuất ra sản phẩm mới là công ty đa quốc gia có chi nhánh ởthị trường nước ngoài thì công ty sẽ quyết định để chi nhánh sản xuất sảnphẩm ở đó.
+ Nếu đó là công ty bình thường muốn sản xuất ra sản phẩm thì họ sẽ phảinua bản quyền để sản xuất
c Giai đoạn chín muồi
Đây là giai đoạn mà nhu cầu của sản phẩm trên thị trường bắt đầu dừng lại( nhưng vẫn có thể tăng lên ở một vài nước) Khi đó các cơ sở sản xuất ởnước ngoài có thể sản xuất chậm lại, công nghệ được thay đổi
d Giai đoạn suy thoái
- Đối với một nước công nghiệp phát triển thì sản phẩm không còn sức hấpdẫn đối với người tiêu dùng nữa mà nó bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái vàtriệt tiêu Lúc này họ mong muốn những sản phẩm mới tốt hơn, hoàn hảo hơn.Đây cũng là lúc các sản phẩm cũ này được các công ty chuyển sang các nướckém phát triển để kéo dài chu trình sống của sản phẩm này để tăng trưởng vàthu thêm lợi nhuận cho mình
1.2.2 Các mô hình thương mại quốc tế được sử dụng trong hoạch định chính sách xuất khẩu
Về cơ bản, nền kinh tế thế giới được định theo hai hướng:
+ Nền kinh tế hướng nội tự cung tự cấp với chiến lược thay thế nhập khẩu+ Nền kinh tế chú trọng xuất khẩu đặc biệt là công nghiệp chế biến với chiếnlược hướng về xuất khẩu
- Nền kinh tế theo hướng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu có mức thuế quancao cùng với hàng rào thương mại khác và thường có tỷ giá hối đoái cố địnhgiá cao, lãi suất bị kiểm soát chặt chẽ Điều đó, làm cho nền kinh tế nội địa cóchi phí sản xuất cao, sức cạnh tranh của hàng hoá vì thế mà giảm đi, do đó ít
có nhà xuất khẩu trong nội địa đạt tầm cỡ thế giới, đồng thời tạo ra một sự
Trang 29chênh lệch không có lợi cho xuất khẩu sản phẩm thô Bởi lẽ chi phí đầu vào
để sản xuất hàng xuất khẩu cao nên sẽ không có nhiều các mặt hàng xuấtkhẩu công nghiệp chế biến và một số hàng xuất khẩu khác mang lại lợi nhuận.Như vậy, theo mô hình này các nước đã tự đẩy mình vào một tình trạng khókhăn, nan giải, tựa hồ như là họ đang đóng cửa nền kinh tế của chính họ vậy.Nếu không theo được xu hướng phát triển chung của thế giới hiện nay thì nềnkinh tế của họ có nguy cơ trì trệ bởi những tác động của chiến lược này tớinến kinh tế:
+ Thứ nhất, chiến lược này thường đi kèm chủ nghĩa bảo hộ, điều dó gây rahàng loạt các vấn đề bất lợi cho nền kinh tế vì chúng xuyên tạc giá cả, khôngphản ánh đúng cung- cầu thị trường Kết quả là không tận dụng được lợi thế
so sánh của mình mà lại đi vào sản xuất hàng hoá mang tính bất lợi nhiều hơnnếu nước mình đi nhập khẩu hàng hoá đó
+ Thứ hai, các hàng rào bảo hộ trong nước sẽ làm cho sản xuất nội địa kémhiệu quả, nguồn lực bị lãng phí, triệt tiêu việc tiếp thu kinh nghiệm và côngnghệ mới từ bên ngoài
+ Thứ ba, gây mất cân đối trong cán cân thương mại quốc gia
- Nước có chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu: phần lớn các nước này đềuchú trọng phát triển công nghiệp chế biến, đây là ngành tạo ra tốc độ tăngtrưởng cho xuất khẩu Chẳng hạn như Thái Lan năm 1978 chỉ bắt đầu với tỷ
lệ hàng công nghiệp chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu là 25% nhưng sau
20 năm tỷ lệ ấy đã tăng lên gần 75% Như vậy, các nước tăng trưởng này đã
sử dụng hoạt động xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến theo đà gia tăng đểlàm khu vực chủ đạo… Chiến lược hướng ngoại này sẽ đưa nền kinh tế theohướng mở cửa nhiều hơn, thúc đẩy thương mại và các luồng tư bản đổ vào,tạo khả năng sinh lời cao trong việc sản xuất hàng xuất khẩu Tư tưởng chủđạo của chiến lược này là lấy nhu cầu thị trường thế giới làm mục tiêu cho sản
Trang 30xuất trong nước, là cải tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là đặt quốc gia mìnhvào sân chơi toàn cầu đầy cạnh tranh để từ đó phát huy và tận dụng được hếtlợi thế so sánh của nước mình Chiến lược này tạo ra một nền kinh tế năngđộng với cơ cấu kinh tế mới và theo kịp xu thế tất yếu của thị trường
- Một sự khác biệt rõ ràng của hai chính sách kinh tế của hai nhóm nước này
là ở chỗ, các nước theo chiến lược sản xuất thay thế hàng nhập khẩu cho rằngnhững nước đang phát triển ban đầu nên sản xuất những loại hàng hoá đơngiản mà trước đây được nhập khẩu (giai đoạn 1), sau đó thay thế hàng nhậpkhẩu thông qua sản xuất trong nước với nhiều chủng loại với công nghệ tinh
vi hơn (giai đoạn 2) Mục đích của các nước này là nhằm bảo hộ ngành côngnghiệp non trẻ trong nước dưới các công cụ thuế quan, phi thuế quan đối vớinhững hàng hóa nhập khẩu Trong khi dó, chiến lược hướng về xuất khẩu lạiquan tâm tới lợi ích của mậu dịch tự do đối với tăng trưởng, tầm quan trọngcủa thị trường thế giới Họ thấy rằng với chiến lược mở cửa của mình sẽkhuyến khích việc học hỏi tiến bộ của khoa học công nghệ, nâng cao khảnăng cạnh tranh của hàng hoá Những công ty nội địa buộc phải làm việc cậtlực hơn nữa để duy trì được lợi nhuận và thị phần của mình khi họ phải dốimặt với hàng hoá nhập khẩu, đồng thời những công ty xuất khẩu cũng bắtbuộc phải theo kịp công nghệ hiện đại để duy trì hoặc cải thiện vị trí của mìnhtrên sân chơi thương mại quốc tế Chiến lược này còn tạo ra khả năng tốt hơntrong việc kiểm soát rối loạn tiêu cực từ bên ngoài Chiến lược hướng ngoại
vì thế đã khắc phục được một số hạn chế của chiến lược thay thế hàng nhậpkhẩu ở một số điểm sau:
+ Thứ nhất, chiến lược hướng ngoại tạo ra khả năng xây dựng một nền kinh tếnăng động
+ Thứ hai, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước trên thịtrường quốc tế
Trang 31+ Thứ ba, tạo ra nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước Từ đó là tăng khảnăng nhập khẩu công nghệ, máy móc, nguyên vật liệu cần thiết cho sự pháttriển các ngành công nghiệp trong nước
Tuy nhiên chiến lược này cũng mang lại những nhược điểm nhất định như:+ Chính phủ của nước có chiến lược hướng ngoai này sẽ ít có khả năng hànhđộng theo ý mình hơn
+ Sự phụ thuộc nước ngoài về công nghệ và các nguyên vật liệu
+ Các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn do thị trường quốc tếcạnh tranh gay gắt với những đòi hỏi cao, khắt khe về chất lượng, quy định antoàn của sản phẩm…và đòi hỏi phải có hoạt động marketing mạnh mẽ,chuyên nghiệp hơn
+ Rủi ro về kinh tế, chính trị, luật pháp, vận chuyển hàng hoá là không thểtránh khỏi
1.3 Kinh nghiệm của các nước trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá
Những thành tựu của các nền kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương đã được cảthế giới công nhận Đó là sự phát triển của Nhật Bản- siêu cường quốc đứngthứ hai trên thế giới nhờ chính sách mở cửa nền kinh tế vào năm 1868 củachính phủ Minh Trị Đó cũng là sự phát triển của bốn con rồng Châu Á…Sựvươn lên mạnh mẽ của các nước Châu Á đã thể hiện một đường lối kinh tếđúng đắn, một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, đó là cơ cấu kinh
tế hướng về xuất khẩu năng động, hiện đại Mặc dù không thể xét một cáchchi tiết các chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu của những nước này và nhữngnước Châu Á khác trong bối cảnh hiện nay, song sẽ rất có ích nếu đưa ra một
số nội dung tóm tắt của chính sách hướng về xuất khẩu của một số nước cóđiều kiện tương đồng như Việt Nam
Trang 321.3.1 Vương quốc Thái Lan
- Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống Bắt đầu từ năm 1960Thái lan thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội lần thứ nhất Nhữngnăm 1970 Thái Lan thực hiện chiến lược “ hướng về xuất khẩu”, với ASEAN,
Mỹ, Nhật và Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính Lúc này ngành côngnghiệp, dịch vụ đóng vai trò chính, vai trò của ngành nông nghiệp giảm dần
- Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới, vượt qua những thăngtrầm trong lịch sử phát triển kinh tế mà điển hình là cuộc khủng hoảng tàichính năm 1997 đến nay những thành tựu mà nước này thu được là khôngnhỏ Điều đáng nói ở đây là đóng góp vào những thành tựu đó phần lớn là dolĩnh vực xuất khẩu Lĩnh vực xuất khẩu đóng góp tới 60% GDP của Thái Lanvới các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là điều hoà nhiệt độ, xe hơi và linh kiện
xe hơi, một số mặt hàng nông sản khác Thái Lan hiện có quan hệ thương mạivới 350 nước trên thế giới; các thị trường xuất khẩu chủ lực là Mỹ, EU, TrungQuốc, Ấn Độ, Nga, các nước Trung Đông, Đông Âu, châu Phi, Mỹ La Tinh
- Để mở rộng hoạt động xuất khẩu trong năm 2007, Bộ Thương mại cùng Hộiđồng Thương mại Thái Lan, Liên hiệp các ngành công nghiệp và Hiệp hội các
Trang 33ngân hàng Thái Lan đã đề ra 6 chiến lược tăng cường xuất khẩu hàng hoá nhưsau:
+ Xây dựng năng lực cho các công ty vừa và nhỏ bằng cách tạo ra mối liên hệgiữa các cơ quan khuyến khích thương mại của chính phủ với các công ty tưnhân;
+ Kiểm soát chặt chẽ sự tăng giá của đồng baht nhằm tăng cường tính cạnhtranh trong xuất khẩu;
+ Yêu cầu giải quyết các rào cản phi thuế quan, như chống bán phá giá và kýquỹ bảo lãnh ở thị trường lớn như ở Mỹ;
+ Chính phủ ủng hộ chế độ gia công cung ứng (hoặc nhập khẩu thay thế)nhằm giải quyết thiếu hụt nguyên liệu nhất là đối với các ngành trang sức và
- Đến năm 2008 Thái Lan đã đề ra chính sách xúc tiến xuất khẩu như sau:+ Khuyến khích các nhà xuất khẩu tăng cường đầu tư ở nước ngoài
+ Phát triển hệ thống cung ứng hàng hoá trong nước
+ Thành lập các trung tâm thương mại tại các tỉnh cho mỗi sản phẩm
+ Phát triển hệ thống thanh toán một cách hiệu quả
+ Tiếp tục tiềm kiếm những thị trường mới nổi như Trung Đông, Nga, Đông
Âu, các nước ASEAN, Nam Mỹ và châu Phi Thái Lan đặc biệt quan tâm đếnthị trường mới nổi như Trung Quốc, đây là thị trường lý tưởng cho các sảnphẩm của Thái Lan Nước này nhận định: “ Trung Quốc là một thị trường cónhiều tiềm năng và có thể trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái
Trang 34Lan trong vòng 5 năm tới” Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu của TháiLan sang Trung Quốc đạt 12,9 tỷ USD Bộ Thương mại của nước này còn dựbáo đến năm 2013, Trung Quốc sẽ là thị trường xuất khẩu chủ lực của TháiLan do nhu cầu hàng Thái ở nước này tăng nhanh chóng, với kim ngạch xuấtkhẩu sang thị trường này sẽ vượt 50 tỷ USD, chiếm 15% tổng giá trị xuấtkhẩu của Thái Lan lúc đó Dự kiến năm 2008 con số xuất khẩu sang TrungQuốc là 14,6 tỷ USD
* Tóm lại, mặc dù phải đương đầu với nhiều thách thức trong sự biến độngkinh tế nhưng Thái Lan đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, từ một nước nôngnghiệp truyền thống trở thành một nước xuất khẩu có tiếng về các sản phẩmchế tạo chủ yếu trong khu vực Có được những thành công đó, chính phủ TháiLan đã có đường lối chính sách kinh tế đúng đắn, hiệu quả, sáng tạo Điều đó
mở ra cho Việt Nam một cách học hỏi, một lối đi mới để cải thiện và tăngcường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ra thị trường quốc tế
1.3.2 Cộng hòa Indonesia
- Indonesia là một thành viên của ASEAN, đồng thời là một quốc gia có vị tríhàng đầu ở khu vực Đông Nam Á về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên vàdân số Tuy nhiên con đường phát triển kinh tế của Indonesia không bằngphẳng mà đã phải gặp nhiều khó khăn để tìm ra một lối đi phù hợp với xu thếphát triển chung của thế giới
- Trong giai đoạn đầu (1950- 1965), kinh tế của Indonesia vận hành theo cơchế kế hoạch hoá tập trung, nguyên tắc chủ đạo quá trình CNH- HĐH củaIndonesia mang tính chất đóng cửa, phát huy triệt để các nguồn lực trongnước nhằm phát triển công nghiệp, từng bước CNH Mục tiêu sản xuất làphục vụ và củng cố thị trường nội địa là chủ yếu Chính vì thế mô hình nàykhông những không mang lại mục tiêu phát triển kinh tế mà còn đấyIndonesia vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng vào cuối năm 1965
Trang 35- Từ năm 1965 đến nay, Indonesia đã thực hiện phát triển nền kinh tế thịtrường có điều tiết của nhà nước Gắn liền với sự thay đổi cơ chế quản lý này
là quá trình chuyển đổi từ cơ chế cũ sang chiến lược hướng về xuất khẩu, mởcửa ra thế giới Để khôi phục và ổn định kinh tế hàng loạt các giải pháp đãđược nước này thực hiện Trong thời gian dài kinh tế của Indonesia tăngtrưởng nhanh, hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn: dầu khí, khai thác
gỗ, khoáng sản, máy công cụ và chế biến nông sản…, tốc độ xuất khẩu tăngbình quân 9,3%/ năm
- Do một số sai lầm mắc phải nên Indonesia đã điều chỉnh lại cơ cấu ngànhtheo hướng tăng cường xuất khẩu những sản phẩm không phải là dầu mỏ.Trong công nghiệp dầu mỏ tăng cường đầu tư vào các ngành hoá dầu nhằmhạn chế xuất khẩu dầu thô Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cácmặt hàng truyền thống, Indonesia còn chú ý các ngành khác như: điện tử, ô tô,
tủ lạnh, hoá chất, xe máy để xuất khẩu chủ yếu sang thị trường châu Á Hiệnnay, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Indonesia vẫn là dầu và các sảnphẩm dầu, gỗ dán, cao su, cà phê
- Thực hiện chính sách tài chính khắc khổ và chi tiêu có chọn lọc nhằm cânđối cán cân thanh toán
- Tổ chức lại kinh tế quốc doanh và khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển
- Đa phương hoá và đa dạng hoá hình thức hoạt động kinh tế đối ngoại Trongquan hệ ngoại giao của mình Indonesia đã mở rộng quan hệ không chỉ với
Mỹ, Nhật, EEC, Trung Đông, Nam Mỹ, đặc biệt chú trọng tới thị trường khốiASEAN,Trung Quốc và Đông Dương Trong quan hệ với các nước, Indonesiakhông chỉ sử dụng các hình thức mậu dịch thông thường mà còn mở rộng liêndoanh, liên kết với các nước có nền kinh tế, chính trị khác nhau
Trang 361.3.3 Bài học rút ra cho Việt Nam
* Việt Nam nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa cácnước trong khu vực Trong bối cảnh đó, chính sách kinh tế đối ngoại của ViệtNam, định hướng phù hợp với xu thế thị trường là hướng ngoại mà trước hết
là vào khu vức châu Á, kết hợp chặt chẽ với hướng nội nhằm thoả mãn nhucầu tiêu dùng cá nhân và đòi hỏi phát triển mạnh cơ cấu hạ tầng của nền kinh
tế Đồng thời giữ tỷ lệ cơ cấu thị trường nhất định nhằm giữ được thế cânbằng của Việt Nam trên trường quốc tế
* Là quốc gia mở cửa sau so với Thái Lan, Indonesia, nên Việt Nam cần họctập các kinh nghiệm để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của nước mình ra thịtrường thế giới Tuy nhiên Việt Nam cần tìm ra được những chính sách, bước
đi phù hợp với thực tiễn của Việt Nam để tránh sai lầm, áp dụng máy móc,cứng nhắc Ta có thể rút ra một số bài học như sau:
- Từ phía chính phủ:
+ Thống nhất về mặt nhận thức coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng ra xuấtkhẩu là động lực chính để thực hiện CNH- HĐH đất nước Chiến lược thaythế nhập khẩu có thể được sử dụng trong một số giai đoạn nhất định, để từ đólàm tiền đề cho xuất khẩu
+ Tạo dựng và liên tục hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm thực hiện thànhcông chiến lược chuyển dịch cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
+ Cần có sự nâng đỡ và khuyến khích của nhà nước một cách hợp lý nhưngphải phù hợp với quy định của WTO
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan xúc tiến thương mại, xúc tiếntìm kiếm các thị trường chiến lược để đẩy nhanh tiến độ hàng hoá xuất khẩucủa Việt Nam ra thế giới
Trang 37+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nghiệp vụ thanhtoán quốc tế, tạo điều kiện cho việc thanh toán dễ dàng cho các đối tác kinhdoanh xuất nhập khẩu
- Từ phía doanh nghiệp:
+ Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếmthông tin thị trường, đối tác làm ăn Đồng thời phải xác định rõ mục tiêu thịtrường, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, nắm bắt được đối thủ cạnh tranh, thị hiếu
và nhu cầu của người tiêu dùng để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hoá vàtạo ra cho hàng hoá Việt Nam một thương hiệu uy tín, vững chắc
1.4 Tổng quan về thị trường Trung Quốc
- Trung Quốc là một thị trường lớn với diện tích là 9,6 triệu km2, độ dàiđường bờ biển là 14.500 km; giáp biên giới nhiều nước như Ấn Độ, Bắc TriềuTiên, Myanma, Lào, Lào, Nga, Mông Cổ, Nêpal, Tạikítan, Việt Nam…nên rấtthuận lợi cho việc mở rộng các hoạt động buôn bán qua biên giới với cácnước láng giềng, trong đó có Việt Nam Nhận thức được điều đó, kể từ khi hainước Việt Nam – Trung Quốc bình thường hoá quan hệ, bắt tay trên mọi lĩnhvực trong đó có cả thương mại, thì Việt Nam đã không ngừng tăng cườngxuất khẩu hàng hoá vào Trung Quốc.Chính vị trí địa lý thuận tiện núi liền núi-sông liền sông của cả hai quốc gia đã giúp cho Việt Nam hiểu đước cặn kẽhơn những nhu cầu, đòi hỏi của thị trường Trung Quốc, từ đó tạo ra một cơcấu hàng hoá xuất khẩu hợp lý khi xuất vào nước này
- Khi nói đến Trung Quốc, bất cứ ai cũng liên tưởng ngay tới một điều là tạisao hàng hoá của Trung Quốc lại đa dạng và xuất hiện tràn ngập trên thịtrường thế giới với giá rẻ như vậy, rẻ đến mức khó tin Vậy thì điều đó làmcho thị trường nội địa của Trung Quốc có hấp dẫn đối với các nhà xuất khẩuhay không? Khó hay dễ khi muốn thâm nhập vào thị trường này? Câu trả lời
Trang 38đặt ra phải phụ thuộc vào các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu củaViệt Nam Trước hết ta xét nhu cầu tiêu dùng của thị trường Trung Quốc
1.4.1.Nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc
- Trong những báo cáo gần đây của các ngân hàng, nổi bật lên là báo cáo củangân hàng Thụy Sỹ Cretdit Suisse nhận định Trung Quốc sẽ trở thành thịtrường tiêu dùng lớn thứ ba thế giới sau Mỹ và Nhật Bản vào năm 2010 và trởthành thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới sau Mỹ váo năm 2015 Mứctiêu thụ tại nền kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ chiếm khoảng 14,1% tổng mứctiêu dùng của nền kinh tế thế giới ào năm 2015 cao hơn Nhật, Anh, Đức,Italía
- Vào thời điểm hiện nay, nhiều số liệu thống kê cho thấy nhu cầu nội địaTrung Quốc đang tăng với tốc độ đủ nhanh để bù đắp sự giảm sút nhu cầu tạicác thị trường xuất khẩu Năm ngoái, thặng dư tài khoản vãng lai của TrungQuốc tăng lên đến 10% GDP của nước này Điều đó có nghĩa là Trung Quốcxuất siêu nhiều hơn những gì mà nước này tiêu thụ Sự tăng lên của xuất khẩuròng từ lâu vẫn là nguồn lực chính của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc Nếunhư trước đây, xuất khẩu ròng đóng góp 2- 3% vào tốc độ tăng GDP cuảTrung Quốc ( từ năm 2005- 2007), trong khi nhu cầu nội địa bao gồm đầu tư
và tiêu dùng đóng góp 8- 9% Nhưng những số liệu mới đây cho thấy một xuhướng mới, đó là xuất khẩu đã chiếm một vị trí ít quan trọng hơn đối với tăngtrưởng Theo WB, trong năm 2007, xuất khẩu ròng chỉ chiếm 0,4 % trongtăng trưởng GDP của Trung Quốc, trong khi đó GDP của Trung Quốc tăngchậm lại còn 11,5 % ( tháng 11/2007) nhờ tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầunội địa Trong khi tăng trưởng xuất khẩu giảm từ 28% kết thúc quý 1 năm
2007 xuống còn 22% rong năm tính đến quý 4 nâm 2007 thì tốc độ tăngtrưởng nhập khẩu lại tăng từ 18% lên 26% nhờ nhu cầu tiêu dùng của TrungQuốc đang tăng mạnh hơn xuất khẩu Đây là một tín hiệu đáng mừng, là cánh
Trang 39cửa cho các nhà kinh doanh xuất khẩu đã và đang muốn xâm nhập hàng hoácủa mình vào thị trường Trung Quốc Với nhu cầu tiêu dùng của Trung Quốccao như vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải biết tận dụng cơhội lớn này để đẩy mạnh hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốctăng thu lợi nhuận và chiếm lĩnh được thị phần ở nước này.
- Một điều đáng nói ở đây là nhu cầu tiêu dùng của thị trường Trung Quốckhá đa dạng và dễ tính do các tầng lớp dân cư khác nhau có thu nhập khácnhau, nên sức mua rất phong phú Trên thị trường cùng tồn tại các loại hànghoá có quy cách, chất lượng khác xa nhau đến mức giá cả chênh lệch hàngchục thậm chí đến hàng trăm lần Với sự chênh lệch đó đã phần nào phản ánhđược sức mua khác nhau phân theo vùng miền, do thu nhập do tốc độ pháttriển của các vùng khác nhau Sức mua phần lớn là của dân thành thị như ởThẩm Quyến, đến Quảng Tây…là khoảng 10.000 đến 100.000 NDT/mộtngười/một năm tức vào khoảng 1.210 đến 12.097 USD, do thu nhập bìnhquân đầu người ở đây khoảng 20.000 USD/ năm, một phần nhỏ thành thị cũng
có sức mua trên 100.000 NDT Còn ở nông thôn như các vùng miền Tây sứcmua trung bình từ 1.000 đến 10.000 NDT tức vào khoảng 121 đến 1210 USD
do thu nhập bình quân đàu người ở đây chỉ khoảng 300 USD/ năm Sức muacủa người tiêu dùng Trung Quốc được chia làm bốn nhóm sau:
+ Nhóm người tiêu dùng có thu nhập cao:
Người tiêu dùng có thu nhập cao tức là mức thu nhập trung bình từ 18.840NDT trở lên Số lượng này vào khoảng 14 triệu, chiếm 10% dân số đô thị và3,5 % dân số toàn quốc Sức mua của nhóm người này là 840 tỷ NDT, chiếm17% tổng sức mua của toàn quốc Trong nhóm này, phần lớn là các chủ doanhnghiệp chiếm 31%, tiếp theo là các cán bộ cấp cao, các chủ doanh nghiệp tưnhân, các chuyên viên kỹ thuật cao…Đối với nhóm người tiêu dùng này, hànghoá mà họ yêu cầu là các hàng hoá chất lượng cao, hàm lượng kỹ thuật cao,
Trang 40mẫu mã phong phú, đa dạng, kiểu dáng đẹp, sang trọng Giá cả không phải làyếu tố quan trọng đối với các quyết định tiêu dùng của họ Vì thế trong cơ cấuhàng xuất khẩu các donah nghiệp của Việt Nam cần có mặt hàng cao cấpphục vụ nhu cầu của tầng lớp dân cư này vì chắc chắn rằng nếu đáp ứng đượcnhu cầu của họ thì lợi nhuận mang lại sẽ không nhỏ.
+ Nhóm người tiêu dùng có thu nhập trung bình:
Nhóm người này bao gồm những người có mức thu nhập trung bình từ 7.000 NDT, họ chiếm khoảng 445 triệu dân, khoảng 10% dân số nông thôn và80% dân số thành thị Sức mua của họ là 2,89 nghìn tỷ NDT, chiếm gần 60%sức mua của toàn quốc, bao gồm phần lớn dân thành thị và một lượng nhỏdân giàu có ở nông thôn Họ chủ yếu là các quan chức chúnh phủ, cán bộcông nhân viên…Hàng hoá mà họ có nhu cầu là loại hàng hoá có chất lượngvừa phải, một số mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, mẫu mã đẹp sẽ được
6.000-ưa chuộng Đối với bộ phận dân cư này thì giá cả cũng có thể xem là mộtnhân tố ảnh hưởng quyết định tiêu dùng của họ Vì thế các doanh nghiệp ViệtNam có thể cung cấp những mặt hàng có chất lượng và giá cả phù hợp vớiyêu cầu của họ Với sức sản xuất thực tế của Việt Nam hiện nay thì đây lànhóm khách hàng tiềm năng và chiến lược mang lại nguồn lợi nhuận và khảnăng chiếm lĩnh thị trường
+ Nhóm người có thu nhập thấp:
Bao gồm những người có thu nhập ròng khoảng 2000 NDT tức khoảng 242USD, có thu nhập gia đình khoảng 7.000- 8000 NDT tức khoảng 847- 968USD Nhóm người này có khoảng 689 triệu người, chiếm 10% dân thành thị,80% dân nông thôn Số gia đình thuộc nhóm này là 200 triệu gia đình Sứcmua của người tiêu dùng nhóm này là 1,33 tỷ NDT, chiếm khoảng 27% sứcmua toàn quốc
+ Nhóm còn lại