Thuật ngữ thể chế phi chính thức hẳn đã được áp dụng cho một phổ hiện tượng phong phú đến chóng mặt, bao gồm các mạng lưới cá nhân, các quan hệ đổi trác hàng hóa dịch vụ và quyền lực chí
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI –ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THỂ CHẾ PHI CHÍNH
THỨC TỚI NỀN KINH TẾ ĐÔNG Á
Nhóm 6
Hà Nội, 2015
Trang 2Mục lục
Thành viên nhóm 6: 3
1 Thể chế phi chính thức là gì? 4
1.1 Định nghĩa: 4
1.2 Bản chất: 5
2 Một số thể chế phi chính thức ở Đông Á: 7
2.1 Chủ nghĩa tập thể: 7
2.2 Chủ nghĩa cá nhân: 8
2.3 Định hướng tương lai: 9
2.4 Lãnh Đạo 9
2.4.1 Sự tác động của loại hình thể chế phi chính thức “ Lãnh Đạo” tới kinh tế Nhật Bản: 9
2.4.2 Sự tác động của loại hình thể chế phi chính thức “ Lãnh Đạo” tới kinh tế Hàn Quốc: 10
2.5 Tham nhũng 11
3 Vai trò của Hong Kong đối với tăng trưởng Trung Quốc: 12
3.1 Hoàn cảnh chính trị: 12
3.2 Vai trò của Hồng Kông đối với Trung Quốc: 12
3.3 Các thể chế phi chính thức tác động đến sự tăng trưởng 13
4 Kết luận: 15
Trang 3Thành viên nhóm 6:
1.Nguyễn Thị Quỳnh 2.Dương Thị Mỹ Hạnh 3.Hoàng Cẩm Anh 4.Lê Thị Dung 5.Đào Lệ Thủy
Trang 41 Thể chế phi chính thức là gì?
Thuật ngữ thể chế phi chính thức hẳn đã được áp dụng cho một phổ hiện tượng phong phú đến chóng mặt, bao gồm các mạng lưới cá nhân, các quan
hệ đổi trác hàng hóa dịch vụ và quyền lực chính trị, nạn tham nhũng, các gia tộc và bang đảng xã hội dân sự, văn hóa truyền thống và một loạt định chuẩn
về lập pháp, tư pháp và hành chính quan liêu Dưới đây là một số cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa một cách chính xác hơn và hữu ích cho việc phân tích về thể chế phi chính thức
Bắt đầu với một định nghĩa tiêu chuẩn về các thể chế như là nguyên tắc và thủ tục (cả chính thức và phi chính thức) cấu trúc nên các tương tác xã hội bằng cách hạn chế và tạo thuận lợi cho hành vi của các tác nhân Tuy nhiên, việc làm thế nào để phân biệt được các thể chế chính thức và phi chính thức thì lại chưa rõ ràng Một số học giả đánh đồng các thể chế phi chính thức với các truyền thống văn hóa Một số lại khai thác sự khác biệt nhà nước – xã hội bằng cách coi các cơ quan nhà nước và các quy định được thực thi về phương diện nhà nước là chính thức; còn các quy tắc và tổ chức dân sự là phi chính thức
Mặc dù một số thể chế phi chính thức chắc chắn bắt nguồn từ các truyền thống văn hóa, nhiều thể chế bắt nguồn từ các định chuẩn pháp lý đến các mô thức tài chính đảng phái bất hợp pháp thì lại rất ít liên quan đến văn hóa
1.1 Định nghĩa:
Helmke và Levitsky (2004) Thể chế phi chính thức là tập hợp những quy tắc chia sẽ xã hội, được truyền đạt và thực thi bên ngoài các thể chế chính thức, thường là bất thành văn
Trang 5Theo Scott (2005) thể chế phi chính thức là hệ thống bền vững các quan niệm chung và sự hiểu biết mang tính tập thể nhưng không được hệ thống hóa thành những quy tắc và chuẩn mực, qua đó tạo nên sự gắn kết và phối hợp giữa các cá nhân trong một xã hội và phản ánh cấu trúc thực sự của
xã hội đó
Có 4 loại chính của thể chế không chính thức mà ta dễ dàng nhận ra được Chúng dựa trên mức độ kết hợp giữa 2 loại thể chế và sự hiệu quả của thể chế chính thức
+ Thứ nhất (Bổ sung): Củng cố cho các thể chế tồn tại và đóng vai trò như chìa khóa khiến cho các thể chế này thực sự có hiệu quả
+ Thứ hai (Điều tiết): Cho phép những người có quyền hạn khả năng thay đổi các kết quả thể chế mà không vi phạm các quy định chính thức
+ Thứ ba (Đấu tranh): Tạo ra hệ thống đa nhiệm về các nghĩa vụ pháp lý + Thứ tư (Thay thế): Đạt được những hiệu quả mà các thể chế chính thức có nghĩa vụ thực hiện nhưng thất bại
1.2 Bản chất:
Các thể chế phi chính thức cần được phân biệt với các thể chế yếu kém Nhiều thể chế chính thức không hiệu quả, trong đó các quy định tồn tại trên giấy bị phá vỡ rộng rãi hoặc bị bỏ qua Tuy nhiên, sự yếu kém về thể chế chính thức không nhất thiết hàm ý sự hiện diện của các thể chế phi chính thức
Các thể chế phi chính thức phải được phân biệt với các quy tắc hành vi phi chính thức khác Để được coi là một thể chế phi chính thức, một quy luật
Trang 6hành vi phải đáp ứng một quy tắc hoặc hướng dẫn đã thành, mà việc vi phạm các quy tắc đó tạo ra một loại hình thức xử phạt nào đó từ bên ngoài
Các thế chế phi chính thức nên được phân biệt với các tổ chức phi chính thức Tuy nhiên, các nguyên tắc phi chính thức có thể được gán vào các
tổ chức này và cũng hệt như các tổ chức chính trị chính thức được nghiên cứu dưới đề mục của “chủ nghĩa thể chế”, dòng tộc, băng đảng và các cấu trúc phi chính thức khác có thể được tích hợp một cách hữu ích vào việc phân tích thể chế phi chính thức
Sự phân biệt giữa các thể chế phi chính thức và khái niệm rộng hơn về văn hóa Văn hóa có thể giúp hình thành các thể chế phi chính thức và ranh giới giữa hai lĩnh vực đó chính là địa hạt quan trọng cho nghiên cứu
Ngoài ra, việc sử dụng các mối ràng buộc phi chính thức cho phép doanh nhân xử lý nan đề (dilemma) vừa phải hợp tác vừa phải cạnh tranh với nhau Chúng không đe dọa sự thống trị và kiểm soát của người chủ đối với công ty riêng của mình.Mặt khác, sự tin tưởng cá nhân cũng được coi là một cấu trúc phi chính thức
Trang 72 Một số thể chế phi chính thức ở Đông Á:
2.1 Chủ nghĩa tập thể:
Chủ nghĩa tập thể dùng để mô tả cách nhìn nhận về mặt đạo đức, chính trị hay xã hội mà nhấn mạnh đến sự phụ thuộc qua lại giữa con người với nhau và tầm quan trọng của tập thể chứ không phải là của từng cá nhân riêng
lẻ
Chủ nghĩa tập thể tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thể chế điều tiết nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức trong nước Xã hội tập thể thường nỗ lực tiêu chuẩn hoá hành vi cá nhân để đảm bảo việc tuân thủ các chuẩn mực xã hội và đánh giá việc tuân thủ các chuẩn mực đó.Nghĩa là vừa đảm bảo lợi ích chung nhưng vẫn phù hợp với hoàn cảnh mỗi cá nhân
Một số cơ sở:
a.Đồng hương: Khi mới di cư đến Singapore, nhiều người Hoa không có họ hàng gần cùng đi Người mới tới tìm đến những người cùng làng hay huyện ở Trung Quốc để nhờ cậy nơi ăn chốn ở và việc làm Họ tập hợp nhau theo cùng quê và thổ ngữ
b Hệ thống thân tộc giả tưởng: Người Hoa cũng tổ chức các thị tộc (clans) dựa trên việc cùng họ Những người cùng họ được xem là qinren hay cùng họ hàng (kinmen), và được tin là cùng có một ông tổ (ancestor) Theo nghĩa này,
ở Singapore, phần lớn các cơ sở guanxi được tổ chức theo hệ thân tộc giả tưởng và chồng lấn với nguyên tắc đồng hương/thổ ngữ
c Hệ thống thân tộc: Thân tộc trực hệ (immediate kin) của một người có thể chia thành bên nội và bên ngoại
Trang 8d Nơi làm việc: Trong khi người sử dụng lao động không còn thuê người cùng chia sẻ các cơ sở guanxi nói trên nữa, thì đồng nghiệp cũng có thể chia
sẻ những cơ sở tin tưởng khác Đồng nghiệp rất quan trọng khi một người quyết định ra làm ăn riêng Họ là những người thân thuộc trong đường dây kinh doanh, có tiền tiết kiệm, và là người có thể tin tưởng sau nhiều năm cùng làm việc để làm một đối tác làm ăn lý tưởng Nhiều người trả lời phỏng vấn nói rằng họ khởi sự kinh doanh theo cách này
e Hiệp hội kinh doanh/ câu lạc bộ xã hội: Nguyên tắc hiệp hội phần lớn cũng dựa trên nguyên tắc đồng hương và thổ ngữ Hiệp hội cao su chủ yếu là người Phúc Kiến (Hokkien) vì người di cư thường tìm đến họ hàng và đồng hương nhờ giúp đỡ khi mới đến
f Bạn hữu: Các nhà cung cấp thông tin của chúng tôi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của bạn bè và tình bạn trong việc thiết lập và giao dịch kinh doanh Bạn hữu là mối quan hệ giữa những người không phải họ hàng mà nó đượm tình cảm hoặc cảm xúc
=> một xã hội tập thể thì lợi ích số đông, lợi ích nhóm là quan trọng nhất sẽ tạo nên một nền tảng vô cùng vững chắc cho những chính sách của thể chế điều tiết Do đó, sự kiểm soát của thể chế điều tiết lúc này sẽ trở nên chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn vì được xây dựng trên một nền tảng thống nhất
2.2 Chủ nghĩa cá nhân:
- Ưu điểm: Một xã hội theo chủ nghĩa cá nhân thì thường ủng hộ sự độc lập, tính tự chủ của mỗi cá nhân hơn là phụ thuộc vào tập thể, đánh giá cao thành tựu cá nhân hơn lợi ích nhóm và thích đa dạng hơn là tiêu chuẩn hoá.Trong xã hội chủ nghĩa cá nhân, mỗi cá nhân được xem là tế bào chủ yếu
và quan trọng nhất Thay vì tuân theo các quy định của chính phủ, họ thường
Trang 9có xu hướng ủng hộ quyền tự chủ, độc lập, tự do và hầu như không phụ thuộc vào chính quyền
- Nhược điểm: Người theo chủ nghĩa cá nhân có xu hướng làm bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của xã hội
2.3 Định hướng tương lai:
- Định hướng tương lai phản ánh mức độ mà các kết quả dài hạn được nhấn mạnh hơn là các kết quả ngắn hạn như việc lập kế hoạch và đầu tư hướng trực tiếp đến kết quả trong tương lai
- Ví dụ: các cá nhân tổ chức từ bỏ việc chi tiêu ở hiện tại để tiết kiệm cho tương lai Lần lượt, vốn tích luỹ cung cấp phương tiện tài chính để đầu tư vào các cơ hội tăng trưởng trong dài hạn, vì vậy định hướng tương lai có thể ảnh hưởng đến cả cung và cầu vốn -> nền kinh tế, tăng trưởng
2.4 Lãnh Đạo
2.4.1 Sự tác động của loại hình thể chế phi chính thức “ Lãnh Đạo” tới kinh tế Nhật Bản:
Chính phủ Nhật Bản tiến hành nhiều biện pháp nhằm khai thác tối đa các nguồn lực từ bên ngoài và làm cho chúng thích ứng với điều kiện Nhật Bản theo phương châm kết hợp “kỹ thuật phương Tây” với “Tinh thần Nhật Bản” Kết quả là, chỉ trong vòng 3 thập kỷ kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, công nghiệp hóa tại Nhật Bản đã trở thành hiện tượng “thần kỳ” trước sự ngạc nhiên của cả thế giới Vào năm 1972, Nhật Bản đã trở thành nước sản xuất lớn nhất thế giới về sợi tổng hợp, sản phẩm cao su, phôi kim loại, ôtô khách và là nhà sản xuất lớn thứ ba thế giới về bột giấy, xi măng, thép, đồng và nhôm Sản xuất công nghiệp không chỉ tăng về số lượng mà còn rất đa dạng về chủng loại từ cao su tổng hợp, sợi tổng hợp hoá dầu, các
Trang 10sản phẩm điện tử như ti vi mầu và các sản phẩm mới khác, đưa Nhật Bản trở thành một trong những nước có nhiều lợi thế nhất thế giới về công nghiệp
Phương pháp chủ yếu và xuyên suốt của Nhật Bản trong việc tiếp cận với kỹ thuật tiên tiến phương Tây là bằng con đường nhập khẩu với nhiều hình thức khác nhau: nhập khẩu trực tiếp công nghệ, mua bằng phát minh sáng chế, khuyến khích người Nhật đi du học để tiếp thu những tri thức mới của phương Tây, và “nhập khẩu" cả chuyên gia giỏi từ nhiều nước khác nhau trên thế giới
2.4.2 Sự tác động của loại hình thể chế phi chính thức “ Lãnh Đạo” tới kinh tế Hàn Quốc:
Hàn Quốc đã là một nước dân chủ từ thập niên 1960 Cho tới đầu thập niên 1990 đó chưa phải là một nền dân chủ hoàn hảo, nhưng vẫn là một nền dân chủ thực sự, một lần nữa nếu hiểu dân chủ là một chế độ bảo đảm tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do kết hợp, tự do bầu cử và ứng cử Điều khác với Malayxia là tại Hàn Quốc các tướng lãnh cầm quyền đã chủ trương áp đặt chế độ độc tài và trí thức Hàn Quốc đã phải tranh đấu cam go để đánh bại họ
và bảo vệ dân chủ
Sự phát triển nhanh và ngoạn mục của Hàn Quốc trong 3 thập niên, trước hết, là kết quả của sự kết hợp một cách hữu hiệu các nhân tố kinh tế với các nhân tố xã hội trong điều kiện thuận lợi của hoàn cảnh quốc tế: Sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, chính sách hợp lý và kiên quyết của chính phủ những năm 60-70 nhằm vào các ngành công nghiệp cần nhiều lao động và ưu tiên xuất khẩu, tính linh hoạt rất cao trong quản lý
và thái độ sẵn sàng ứng phó trước những tín hiệu phát sinh từ nền kinh tế, tỉ
lệ ngày càng cao về người lớn biết chữ và sự cần cù của dân chúng, “sự chống lưng” của Mỹ và những lợi thế được hưởng từ dòng chu chuyển vốn
Trang 11quốc tế, trật tự thương mại quốc tế nửa cuối thế kỷ XX và những ưu tiên của
Mỹ thời Chiến tranh Lạnh… – đó chắc chắn là những nhân tố đã làm cho Hàn Quốc hóa rồng và tiếp tục phát triển
Nhưng dù những nhân tố nói trên có quan trọng đến mấy, thì đến nay nhiều học giả vẫn cho rằng, nhân tố con người mới là cái quyết định trong quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc: Ý chí cháy bỏng vươn tới thịnh vượng của người dân và lãnh đạo đất nước, sự quản lý nghiêm minh, hà khắc
và độc đoán của nhà cầm quyền… đã là cái rất đáng kể làm nên một Hàn Quốc như thế giới được chứng kiến hôm nay
2.5 Tham nhũng
Đây là loại hình thể chế phi chính thức tồn tại ở nhiều quốc gia, xét riêng về Đông Nam Á thì Malaysia và Thái Lan là 2 quốc gia luôn dẫn đầu về đồng tiền “ đen” Malaysia và Thái Lan là 2 quốc gia có dòng tiền bất hợp pháp chảy ra nước ngoài mạnh nhất Đông Nam Á Cả hai nước đều nằm trong top 10 quốc gia sa lầy trong vấn nạn tiền "bẩn" toàn cầu, Malaysia xếp thứ 5, Thái Lan xếp thứ 7 Trong giai đoạn đánh giá năm 2012, báo cáo cho biết giá trị tiền bất hợp pháp ở Malaysia gần 49 tỉ USD và Thái Lan là 35,6 tỉ USD Hồi đầu tháng 12-2014, công ty nghiên cứu độc lập Merdeka Center, Malaysia công bố kết quả một cuộc khảo sát cho thấy nhận thức về tham nhũng ở Malaysia không thay đổi kể từ năm 2005, với 77% cử tri nói rằng đó
là vấn đề "cực kỳ nghiêm trọng" hoặc "khá nghiêm trọng".Thậm chí nhiều người Malaysia còn tin rằng tham nhũng tăng lên kể từ năm 2013, khi 56%
cử tri nói rằng chính phủ đã "không giải quyết" tốt vấn nạn này.Tham nhũng
và dòng tiền "bẩn" cũng là vấn đề lớn ở Thái Lan Giao dịch bất động sản là ngành đặc biệt dễ tổn thương bởi nạn tham nhũng, rửa tiền
Trang 123 Vai trò của Hong Kong đối với tăng trưởng Trung Quốc:
3.1 Hoàn cảnh chính trị:
- 1/7/1997, Hong Kong được Anh chuyển gia chủ quyền cho Trung Quốc.Theo Tuyên bố chung Trung Quốc – Anh và chính sách “một nước, hai chế độ”, Hong Kong theo thể chế dân chủ, chính quyền Trung ương Trung Quốc chịu trách nhiệm về quốc phòng và ngoại giao, chính quyền Đặc khu hành chính Hồng Kông chịu trách nhiệm về hệ thống luật pháp, cảnh sát, tiền
tệ, thuế quan, nhập cư và cử người tham gia vào các tổ chức quốc tế và các sự kiện quốc tế
- Một số dấu ấn di sản nổi bật mà người Anh để lại trên thuộc địa Hong Kong có thể là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hay một số bộ máy công quyền hiệu quả và liêm khiết.Hong Kong nằm trong số các nước có
và vùng lãnh thổ tiến bộ nhất của khu vực Đông Á cùng với Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan
3.2 Vai trò của Hồng Kông đối với Trung Quốc:
- Nền kinh tế Hong Kong được công nhận là nền kinh tế tự do nhất thế
giới. Nền kinh tế này được xem như là một ví dụ điển hình về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.Nghĩa là trong suốt 150 năm cai trị , về cơ bản chính quyền Anh phá mặc nền kinh tế Hong Kong cho lực lượn thị trường tự vận hành, tuân theo lý thuyết tự do hóa thương mại tự do hóa cạnh tranh và chính quyền không can thiệp hầu như không có rào cản nào đối với các hoạt động kinh doanh, thương mại và dòng vốn, là khu vực có mức thuế suất thấp
và đồng tiền được chuển đổi một cách tự do
- Phát triển các dịch vụ thương mại đa dạng: kiểm tra và thử nghiệm
sản phẩm, giải quyết các tranh chấp bằng trọng tài hóa giải, cung cấp tài