1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

THỂ CHẾ cốt yếu của ĐÔNG NAM á BT KINH tế THỂ CHẾ

26 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 322,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 3 khối đó của thể chế kinh tế, các nước Đông Á chủ yếu mới tiến hành cải cách về luật lệ, chính sách.. Ở Đông Á, các chính sách và luật lệ mới theo hướng tự do hóa nền kinh tế, đã

Trang 1

THỂ CHẾ CỐT LÕI GIÚP CÁC QUỐC GIA ĐÔNG Á THOÁT KHỎI

KHỦNG HOẢNG

I/ HỆ THỐNG THỂ CHẾ CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG Á TRƯỚC KHỦNG HOẢNG

Không thể quy nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á năm

1997-1998 chỉ riêng cho những yếu kém về thể chế của “mô hình phát triển châu Á” Trên thực tế vào lúc cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, thể chế kinh tế của các nước ĐÔNG Á đang ở trong giai đoạn chuyển đổi sâu sắc và toàn diện từ mô hình kiểu

cũ hướng về chủ nghĩa thị trường tự do theo nhứng khuyến nghị của đồng thuận Washington Do vậy, những yếu kém về thể chế của kinh tế Đông Á trong thời kỳ

này phần nhiều xuất phát từ tính chất của giai đoạn chuyển đổi đó

Kinh tế thể chế có thể được chia thành 3 khồi lớn: các luật lệ, cơ chế thực thi và

hệ thống các tổ chức Trong 3 khối đó của thể chế kinh tế, các nước Đông Á chủ yếu mới tiến hành cải cách về luật lệ, chính sách Và đây cũng là phần dễ thay đổi nhất của thể chế kinh tế Tuy nhiên, như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, dù các luật lệ và chính sách có được thay đổi hoàn toàn, nhưng cần mất nhiều thời gian để thiết lập một hệ thống thể chế cho phép các luật lệ và chính sách đó thực sự đi vào đời sống và có tác dụng như mong muốn Ở Đông Á, các chính sách và luật lệ mới theo hướng tự do hóa nền kinh tế, đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tồi tệ bởi vì các thể chế tổ chức, quản lý công ty và tài chính chưa thể thay đổi theo kịp các chính sách Sự bất cập giữa phần mềm và phần cứng đã khiến thể chế kinh tế các nước Đông Á lâm vào cảnh rối ren, ít hiệu lực

Hệ thống thể chế kinh tế là một tổng hòa của nhiều loại thể chế đa dạng và liên quan chặt chẽ với nhau Quá trình chuyển đổi thể chế rất dễ dẫn đến những xung đột và mâu thuẫn giữa các loại thể chế khác nhau trong nền kinh tế do sự tiến triển không đều của các hướng cải cách Thực tế ở các nước Đông Á đã cho thấy nhiều

sự bất cập và mâu thuẫn như vậy, chẳng hạn:

Trang 2

Bất cập giữa các thể chế quản lý của nhà nước với các thể chế của thị trường và

xã hội Các chính phủ Đông Á đã rút lui quá nhanh khỏi công việc điều tiết và giám sát thị trường trong khi các lực lượng thì trường và xã hội chưa đủ độ chín,

đủ mạnh để thay thế vai trò của nhà nước Điểm này đặc biệt nghiêm trọng đối với khu vực tài chính Các thể chế ngân hàng và tập đoàn kinh doanh đã hoạt động ngoài tầm kiểm soát của mọi bên tham gia thị trường, tự do huy động mọi nguồn vốn có thể để đầu tư vào những dự án kém hiệu quả

Bất cập giữa những thể chế tài chính được tự do hóa, mở cửa cho các nguồn vốn ngắn hạn nước ngoài với thể chế công ty theo kiểu tập đoàn gia đình trị có rất nhiều yếu kém về quản lý, kế toán và kiểm toán Rõ ràng những thể chế công ty không thể dễ dàng được thay đổi chỉ qua thời gian ngắn để phù hợp với sự phát triển nhanh hơn của các thể chế tài chính hiện đại như các thị trường chứng khoán Bên cạnh các bài học khác, cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á cho thấy những rủi ro của việc thực hiện cải cách thể chế dưới sức ép của nước ngoài Cải cách thể chế là một quá trình tốn nhiều thời gian, không thể nóng vội và phải dự trên đặc thù, kiến thức và những ràng buộc của địa phương Những khuyến nghị cải cách từ bên ngoài, đặc biệt là của tổ chức quốc tế như IMF và WB, chỉ có giá trị tham khảo Chính những nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế trong nước phải tự quyết đinh trình tự và nhịp độ cải cách thể chế của nước mình

II/ PHÂN TÍCH CÁC ĐIỂN HÌNH KHẮC PHỤC KHỦNG HOẢNG CỦA CÁC QUỐC GIA ĐÔNG Á

1 Hàn Quốc

1.1 Bối cảnh lịch sử

Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ đã ập đến Hàn Quốc vào tháng 11 - 1997 Với cuộc khủng hoảng này, một lần nữa Hàn Quốc lại làm cho thế giới bất ngờ Trong số các NIC Đông Á thì Hàn Quốc là nước bị khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất Cuộc khủng hoảng đã để lại nhiều “vết thương” khá nặng trên mình nền

Trang 3

kinh tế - xã hội Hàn Quốc và làm cho khuynh hướng phủ định “sự thần kỳ Đông Á” được dịp bùng nổ

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng

nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài

Ngày 21 – 11 – 1997, Hàn Quốc đã yêu cầu một khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF vào và điều này có nghĩa là Seoul buộc phải chuyển giao “chủ quyền kinh tế” cho

tổ chức tài chính

Ngày 28 – 11 – 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày

7 - 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm

lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ

Ngày 14 – 12 – 1997, Hàn Quốc tuyên bố thả nổi đồng Đồng Won mất giá, tổng

số nợ nước ngoài tăng nhanh (130 tỷ USD vào tháng 7 – 1997), mức thâm hụt tài khoản vãng lai tăng mạnh (11,83 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 1997) …

Ngày 27 – 12 – 1997, Hàn Quốc đã thừa nhận rằng dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc

đã giảm tới mức báo động, còn 8,7 tỷ USD và khoản nợ nước ngoài của Hàn Quốc đã vượt quá 200 tỷ USD Tỷ giá hối đoái giữa đồng Won và đồng USD thay đổi từ 900 Won/1 USD vào tháng 9 – 1997 xuống 1970 Won/1 USD vào giữa tháng 12 – 1997 Ngày 29 – 12 – 1997, 10 trong số 14 ngân hàng thương mại có vấn đề bị đóng cửa Hai ngân hàng thương mại lớn bị Chính phủ quản lý Cuối tháng 4 – 1998, kế hoạch lành mạnh hóa bốn Ngân hàng thương mại bị bác bỏ, nhiều ngân hàng thương mại bị đóng cửa Trong năm 1997, có 14.000 doanh nghiệp phá sản và trong năm 1998, có tới 53.000 doanh nghiệp phá sản Tháng 2 – 1999, Tập đoàn ngân hàng Thượng Hải – Hồng Công mua (HSBC) mua 70% tài sản của ngân hàng Seoul

1.2 Triết lý phát triển

Từ năm 1979 đến đầu năm 1993, Hàn Quốc bắt đầu thực hiện chính sách kinh

tế chú trọng vào ổn định kinh tế thay vì lớn mạnh một chiều bao gồm việc ổn định

Trang 4

giá cả, tự do hóa kinh tế và giữ cân bằng kinh tế…Đẩy mạnh xuất khẩu một số sản phẩm công nghiệp như: gang thép, thiết bị máy móc, ô tô, tàu biển, xe máy, hóa chất… được thực hiện thông qua các Chaebol khổng lồ như Daewoo, Hyundai, Samsung… Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, từ năm 1989 trở đi nền kinh tế Hàn Quốc không còn giữ được thời “hoàng kim” như hai thập niên trước Có 8 vấn đề nổi bật về quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn 1979 – 1993 trên cơ sở điều chỉnh mô hình kinh tế hướng ngoại bước vào thời kỳ công nghiệp

kỹ thuật cao, chuẩn bị tiền đề cho việc gia nhập hàng ngũ các nước tư bản phát triển:

- Sự đổi mới quan niệm về vai trò kinh tế của nhà nước và cơ chế vận hành kinh

tế Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Hàn Quốc để giải quyết hàng loạt các vấn đề đang cản trở sự phát triển của đất nước

- Tiếp tục thực hiện kế hoạch hóa kinh tế, chuyển từ mô hình tăng trưởng mất cân đối sang mô hình tăng trưởng cân đối

- Đẩy mạnh chương trình tự do hóa thị trường nhằm giảm bớt sự can thiệp của nhà nước

- Hỗ trợ và thúc đẩy bộ phận công nghiệp vừa và nhỏ phát triển nhằm khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu công nghiệp và hướng hoạt động của bộ phận này vào xuất khẩu

- Tiếp tục đảy mạnh công nghiệp bằng việc phát triển các nghành kỹ thuật – công nghệ cao của dân tộc nhằm thay thế nguồn công nghệ nhập khẩu từ các nước

tư bản phát triển, gắn liền với việc đẩy mạnh hoạt động khoa hoc – kỹ thuật đi vào chiều sâu phục vụ đắt lực cho tăng trưởng kinh tế

- Điều chỉnh hợp lý cơ cấu hàng xuất khẩu và đa dạng hóa, quốc tế hóa thị trường xuất khẩu

- Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài theo hình thức mới và từng bước đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, gắn liền với việc chuyển giao công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa

Trang 5

- Tiếp tục công cuộc cơ giới hóa, hiện đại hoa nông thôn nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị lên một bước

Đến năm 1997 khủng hoảng kinh tế Hàn Quốc xảy ra cùng lúc với cuộc tranh

cử đã góp phần vào sự đắc cử tổng thống Kim Dae Jung Với cương lĩnh đấu tranh cho dân chủ, TT Kim Dae Jung có uy tín chính trị lẫn tinh thần để động viên nhân dân Hàn Quốc, thực hiện cải cách kinh tế nhằm khắc phục có tính cơ cấu Tiến trình cải cách dưới sự lãnh đạo rõ rang đã diễn ra một cách tương đối khẩn trương

1.3 Vai trò của chính phủ

Khi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á xảy ra, mục tiêu tức thời của chính phủ Hàn Quốc là khắc phục khủng hoảng và giảm giá đồng nội tệ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện chính sách vĩ mô thắt chặt để ổn định thị trường tài chính và trao đổi ngoại hối, dẫn đến sự thu hẹp tín dụng và hoạt động kinh tế Chính phủ cũng sớm nhận ra rằng khủng hoảng bắt nguồn từ sự yếu kém trong cơ cấu và quản lý kinh tế nên đã chủ động tiến hành những cải cách mang tính điều chỉnh mạnh mẽ trong các khu vực như: khu vực công ty, khu vực tài chính, khu vực công cộng, và điều chỉnh luật

Để khắc phục khủng hoảng Hàn Quốc đã nỗ lực theo bốn hướng sau đây:

- Tái cấu trúc lại khu vực tài chính nhằm làm lành mạnh bảng tài chính ngân hàng Nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, Chính phủ Hàn Quốc tăng cường xúc tiến chương trình cải tổ nền kinh tế, trước hết tập trung cải cách hệ thống tài chính ngân hàng Mặt khác, để nhanh chóng khắc phục khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc đã kêu gọi các tổ chức ngân hàng nước ngoài tài trợ để hỗ trợ Chính phủ yêu cầu 12 ngân hàng lập kế hoạch khắc phục khủng hoảng nhằm đưa nợ xấu giảm xuống 8% Đã giải thể 5 ngân hàng, sáp nhập 2 ngân hàng Chính phủ giúp mua lại các khoản nợ của ngân hàng (64 tỷ won) Thậm chí cho phép bán một số ngân hàng cho người sở hữu nước ngoài Đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng, Chính phủ cũng thả lỏng cho phá sản Ngoài ra Chính phủ cải cách chính sách tiền tệ theo 5 điểm: thay đổi cách thức quản lý tài chính theo hướng kế toán công khai; cấm bảo lãnh chéo giữa các công ty; giảm tỷ lệ vốn vay; thực hiện chính sách bắt các tập đoàn tập trung vào các ngành nghề chính có lãi, không đầu

Trang 6

tư rải mành mành Sửa đổi luật pháp bảo vệ cổ đông thiểu số (lành mạnh hóa hoạt động của công ty)

- Tái cấu trúc lại hệ thống doanh nghiệp theo hướng loại bỏ doanh nghiệp thua

lỗ, hỗ trợ doanh nghiệp có sức cạnh tranh, thành lập công ty bán tài sản thế chấp để giúp doanh nghiệp giải quyết nợ, tái cấu trúc nợ doanh nghiệp bằng phát hành cổ phiếu, giảm vốn vay nhà nước Kết quả 15/30 Chaebol bị giải thể và phá sản Hàn Quốc đã giảm nợ từ 396,3 tỷ USD xuống còn 182,2 tỷ USD

- Cải cách tài chính công: chủ yếu là tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Thực thi chính sách tiết kiệm để có tài chính

cơ cấu nợ cho doanh nghiệp

- Cải cách thị trường lao động: sau khủng hoảng chính phủ dã thành lập uỷ ban

ba bên: nhà nước - công đoàn - giới chủ nhằm ký thoả thuận không bãi công, đình công, không đòi tăng lương để khắc phục khủng hoảng Sau khủng hoảng, chương trình cải cách thị trường lao động của Hàn Quốc được xem là rõ ràng và cấp tiến nhất, mang tính nhất quán giữa chính sách và thực tiễn trong khu vực Đông Á.Các cải cách tạo sự linh hoạt cho thị trường lao động tại Hàn Quốc đã tác động đáng kể đến việc tạo ra một diện mạo mới trên thị trường lao động sau khủng hoảng, làm thay đổi bức tranh thị trường lao động theo hướng chuyển đổi cơ cấu việc làm

1.4 Các chính sách

- Mở thị trường trái khoán trong nước cho đầu tư nước, bao gồm cả trái khoán chuẩn với thời gian đáo hạn là 3 năm, đáp ứng yêu cầu mua của các nhà đầu

tư nước ngoài

- Lập một quỹ để mua lại ít nhất là 10.000 tỷ Won (10 tỷ USD) các khoản nợ khó đòi của ngân hàng

- Ban hành các thủ tục bắt buộc sát nhập các ngân hàng yếu kém vào một ngân hàng có năng lực tài chính và năng lực kinh doanh

- Nới rộng mức độ dao động hằng ngày của đông Won khoảng 10%

- Thay đổi luật lao động để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các công ty đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm bớt lực lượng lao động ở các công ty

Trang 7

- Nâng tỷ lệ giới hạn trần đối với đầu tư nước ngoài vào khu vực nội địa

- Cho phép các ngân hàng mất khả năng thanh toán được giải thể nếu họ không có cơ hội phục hồi tài chính

- Khuyến khích tư nhân hóa các hãng do chính phủ đầu tư

- Cắt giảm nguồn chi phí của tổ hợp công nghiệp

- Cắt giảm và xem xét cụ thể việc cung cấp tài chính cho các Chaebol

- Thành lập Uỷ ban tư vấn cho Tổng thống về cải cách, gồm 31 thành viên Mục tiêu của Uỷ ban là tìm ra các biện pháp xóa bỏ tình trạng lạc hậu và kém hiệu quả của ngành tài chính – ngân hàng trong phạm vi cả nước

- Quy định việc cấp phát vốn cho 1 dự án lớn, sẽ do một số ngân hàng cùng đảm nhiệm, thay cho trước đây, cấp phát vốn chỉ giao cho một ngân hàng đảm nhiệm Trong khi cấp vốn cho mỗi dự án, các ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ các hoạt động kinh doanh và kỹ thuật liên quan đến dự án

- Chuyển hệ thống ngân hàng cấp vốn thương mại và các công ty đầu tư ủy thác thành các ngân hàng kinh doanh và các công ty môi giới chứng khoán

Phân loại hệ thống tài chính – ngân hàng thành 5 nhóm bao gồm: các ngân hàng, các công ty môi giới chứng khoán, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính khu vực và các tổ chức tài chính cung cấp nguồn vốn cho vay

Quan hệ giữa các tác nhân trong nền kinh tế :

Trước đây, sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ vốn là đặc điểm nổi bật của khu vực tài chính Hàn Quốc Chính phủ kiểm soát luồng vốn quan trọng từ các trung gian tài chính tới các công ty Ngay từ giai đoạn đầu phát triển kinh tế, chính phủ đã có quyền phân bổ vốn đến các khu vực cụ thể thông qua việc kiểm soát trực tiếp các hoạt động kinh tế và công tác quản lý của các trung gian tài chính Cho nên có thể nói chính phủ Hàn Quốc cũng phải chịu một phần trách nhiệm đối với

sự lành mạnh của các tổ chức tài chính Suy thoái kinh tế ngay sau khủng hoảng đã làm cho các tổ chức tài chính bị thiếu vốn nghiêm trọng và có mức nợ khó thu hồi cao Để khắc phục tình trạng này chính phủ đã áp dụng một chế độ tài chính mới,

trong đó thị trường có vai trò quan trọng về việc sử dụng các nguồn lực Các tổ

Trang 8

chức tài chính sẽ vừa phải tuân theo qui luật thị trường, vừa phải làm ăn có lãi và chấp hành tốt các qui định của chính phủ

Cùng với việc khôi phục lòng tin đối với hệ thống tài chính, chính phủ còn áp dụng chế độ giám sát tài chính mới để phòng ngừa rủi ro trong tương lai Dịch vụ giám sát tài chính độc lập đã được xây dựng để khắc phục sự phân biệt đối xử giữa các tổ chức tài chính, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về giám sát, giúp các tổ chức tài chính trong nước cải thiện bảng kết toán

Để cải thiện tính minh bạch, chính phủ đưa ra những bản kê tài chính thống nhất mang tính bắt buộc cho những tập đoàn kinh tế lớn nhất nhằm xác định giao dịch trong nội bộ công ty và các báo cáo kết toán riêng biệt Chính phủ cũng thay đổi Luật thương mại công bằng, hạn chế sự bảo lãnh nợ chéo giữa các công ty trong các tập đoàn lớn Đồng thời chính phủ cũng yêu cầu cải thiện cơ cấu vốn của các công ty như các tập đoàn lớn đều phải giảm tỉ lệ nợ trên giá trị tài sản, hạn chế việc mở rộng qui mô tràn lan, khuyến khích các công ty tập trung phát triển những lĩnh vực nòng cốt, có ưu thế nhất

1.5 Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội

Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục mở rộng bảo hiểm thất nghiệp như một mạng lưới

an sinh xã hội chủ yếu dành cho người thất nghiệp

Đối với những người thất nghiệp không được bảo hiểm hỗ trợ thì sẽ nhận được các hỗ trợ khác từ các dự án việc làm công, đào tạo nghề, cho vay thất nghiệp và phúc lợi tạm thời dành cho những người thất nghiệp được xếp vào loại dưới mức nghèo khổ Mạng lưới an sinh xã hội khuyến khích khả năng tự lực hơn là việc chỉ

hỗ trợ về mặt thu nhập nhằm duy trì động lực của công nhân và giảm thiểu chi phí Trong khi việc áp dụng các chương trình đào tạo nghề và việc làm công như một mạng lưới an sinh xã hội nhằm đem lại một phần bảo hiểm thất nghiệp, phúc lợi cơ bản cho người lao động có thu nhập thấp, thì những người thất nghiệp dài hạn sẽ được nhận thêm các khoản hỗ trợ để có thể chi trả những chi phí sinh hoạt tối thiểu, giáo dục và y tế

Bảo hiểm thất nghiệp vẫn tiếp tục được mở rộng cho tất các công nhân Cho tới năm 1997, bảo hiểm thất nghiệp chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp có tuyển

Trang 9

dụng từ 30 công nhân trở lên và con số này đã giảm xuống là 5 công nhân trở lên

kể từ tháng 3 năm 1998 Các doanh nghiệp còn lại có số công nhân ít hơn 5 người

và chủ yếu là các công nhân làm việc bán thời gian và tạm thời cũng được hỗ trợ

kể từ tháng 10 năm 1998, sớm hơn kế hoạch đặt ra trước đây là từ tháng 7 năm

1999 mới áp dụng Số tháng làm việc tối thiểu để được nhận hỗ trợ đã giảm từ 12 tháng xuống 6 tháng, do đó làm tăng số lượng người bị sa thải được nhận bảo hiểm việc làm Thời gian tối thiểu của các khoản chi trả bảo hiểm tăng từ 1 tháng lên 2 tháng và mức chi trả cũng tăng lên tương đương với 70% lương tối thiểu từ mức 50% trước đây Chính phủ đồng thời cũng đã triển khai các khoản phúc lợi cơ bản tạm thời và cho vay với lãi suất thấp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cấp thiết tối thiểu của các công nhân thất nghiệp hay những người có thu nhập thấp

Sự thất nghiệp gia tăng và đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sự dụng lao động để tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao hơn đã dẫn tới sự biến đổi có tính đột phá trong hệ thống tuyển dụng và trả lương của Hàn Quốc trong đó lương được trả theo thời gian làm với công ty, thời gian được đào tạo và tuổi của người lao động.Từ năm 1997, các doanh nghiệp bắt đầu chuyển dang hệ thống trả lương theo hiệu quả đóng góp của người lao động Tháng 1 - 1999, 15% số doanh nghiệp có trên 100 lao động đã áo dụng hệ thống trả lương mới này, và đến cuối năm 1999 hơn 50% doanh nghiệp đã áp dụng Chính phủ có nhiều ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp này

1.6 Ưu điểm, hạn chế

Ưu điểm:

- Đánh giá chính xác bản chất khủng hoảng để có giải pháp đúng đắn và kịp thời đối phó, hoạch định chính sách thể chế kinh tế để điều chỉnh tỷ giá hối đoái một cách chính xác và cách kịp thời Đồng thời đây là điều cần thiết để duy trì niềm tin nhà đầu tư nước ngoài, sự minh bạch ở cấp độ doanh nghiệp và chính phủ

là rất quan trọng

- Đánh giá thực tế vấn đề: Chính phủ không nên công bố số tiền dành cho xử lý

nợ xấu từng năm Đồng thời, cần phải có thông tin cần thiết, xác thực không bị ảnh

Trang 10

hưởng bởi lực lượng chính trị trong việc đưa ra điều chỉnh cần thiết một cách kịp thời, trên cơ sở giá trị thị trường để giảm thiểu chi phí tài chính và tổn thất

- Sự giám sát một cách thận trọng sự phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc đã tăng cường một cách đúng đắn sự giám sát thận trọng kể từ khi cuộc khủng hoảng xảy ra Là một quốc gia có của nền kinh tế dựa trên sáng kiến của chính phủ, thì sự tăng cường giám sát bảo đảm an toàn có thể mang lại sự phát triển của một hệ thống tài chính lành mạnh

- Chính sách cân bằng giữa cải cách và khuyến khích nền kinh tế

- Cải cách về quy chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ cấu lại

- Từng bước toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính Điểm đầu tiên liên quan đến trình tự của tự do hóa tài khoản vốn, Hàn Quốc tích lũy nợ ngắn hạn quá nhiều và

sự cần thiết phải phát triển thị trường vốn dài hạn tại Hàn Quốc

Hạn Chế:

Các bước cải cách có tính áp đặt “từ trên xuống dưới”chứ chưa có sự đồng ý

“từ dưới lên” Vì thế, Hàn Quốc đứng trước ngã ba đường: nếu kinh tế tiếp tực phục hồi, thì quyết tâm cải cách sẽ yếu đi rất nhiều, nhất là trong các chaebols; nhưng nếu kinh tế suy thoái trở lại thì chống đối từ các công đoàn sẽ gia tăng

2 Thái Lan

2.1 Bối cảnh lịch sử trong và ngoài nước

Cuộc khủng hoảng châu Á cuối những năm 1990 đã xảy ra khi đồng bạt của Thái Lan rơi tự do từ mùa hè năm 1997 Giống như một vụ hỏa hoạn, cuộc "đại di cư" của dòng vốn nước ngoài khỏi các thị trường Thái Lan đã lan rộng ra nhiều nơi khác trong khu vực, nhất là ở Indonesia và Hàn Quốc, cả ở Hong Kong, Malaysia, Lào, Philippines và Việt Nam Ngay cả Nhật Bản, nền kinh tế mạnh nhất châu Á Thái Bình Dương thời đó, cũng phải chứng kiến cảnh đồng yên của mình sụt giảm

và các thị trường chứng khoán trong nước cùng giá các bất động sản khác cũng

"lao dốc"

Khi đồng tiền của một số nước châu Á đang quay cuồng, cuộc khủng hoảng đã làm trầm trọng hơn gánh nặng nợ ngày càng lớn của khu vực Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP ở nhiều nước đã lên tới 180% trong khủng hoảng, và việc các đồng nội tệ mất giá càng tạo ra nhiều khó khăn hơn cho các doanh nghiệp trong việc trả nợ

Trang 11

Tóm lại cuộc khủng hoảng tiền tệ ĐNA bắt nguồn từ Thái Lan đã có ảnh hưởng tới toàn khu vực ĐNA nói riêng và với châu A' nói chung, nhưng nó chỉ gây

ra bất ổn định tài chính ở những nơi có những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế và các nhà lãnh đạo tỏ ra mất bình tĩnh khi cuộc khủng hoảng xảy ra

khủng hoảng tiền tệ tháng 7/1997 tại Thái Lan đã làm cho chính phủ nước này bị mất tín nhiệm nghiêm trọng trước áp lực của đông đảo dân chúng

2.2 Triết lý phát triển

Theo lời khuyên của IMF, Thái Lan đã sử dụng cách tiếp cận dựa trên thị trường để tái cơ cấu và tái cấp vốn cho các thể chế tài chính Chính phủ Thái lan hi vọng các nhà đầu tư tư nhân sẽ có vai trò lớn trong việc cấp các nguồn vốn mới cho các tổ chức tài chính Tuy nhiên, chiến lược này đã thất bại và Chính phủ Thái Lan đã phải đảm nhận vai trò chính từ tháng 8/1998 bằng cách công bố chương trình cải cách cả gói

Thái Lan cũng tiến hành đóng cửa và sát nhập các tổ chức tài chính kém hiệu quả

Đồng thời chính phủ Thái Lan đã cải tiến khung khổ pháp luật giám sát hoạt động của hệ thống tài chính nước này ban hành ‘ Luật Các thể chế tài chính’ tạo ra khung pháp lý mới cho sự hoạt động của các ngân hang, các công ty tài chính và các nhà cung cấp úng dụng luật này cũng thắt chặt sự kiểm soát trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kế toán kiểm toán, công bố thong tin và các hình phạt đối với việc gian lận

Thái Lan đã tiến hành sửa đối và ban hành rất nhiều bộ luật kinh tế mới như Luật Cạnh tranh, Luật Thị trường chứng khoán, Luật Phá sản, Luật đất đai và nhiều luật khác Nội dung sửa đổi của các luật này đều theo hướng tụ do hóa, giải điều tiết và mở của kinh tế Thái Lan cũng công bố các kế hoách đẩy nhanh tiến trình tư nhân hóa

2.3 Vai trò của Nhà nước

Cho đến giữa năm 1998, theo lời khuyên của IMF, Thái Lan sử dụng cách tiếp cận thị trường để tái cơ cấu và tái cấp vốn cho các thể chế tài chính Quá chính sách này, Chính phủ Thái LAn hi vọng các nhà đầu tư tư nhân sẽ có vai trò lớn trong việc cấp nguồn vốn mới cho các tổ chức tài chính=> tuy nhiên chính sách này đã thất bại và chính phủ Thái lan phải đóng vai trò chính từ tháng 8/1998 bằng cách công bố một chương trình cải cách trọn gói

Thái lan đã thành lập Ủy ban tái cơ cấu tài chính (FRA) để cứu trợ và thanh lý một số tài sản 860 tỷ bant của 56 công ty tài chính bị đóng cửa trong các năm 1997-1998, FRA đã bán đầu tư tài sản trị giá 600 tỷ thu được 150 tỷ tương đương 25% giá trị doanh nghĩa Đây là điểm tích cực của chương trình cải cách ở Thái

Trang 12

Lan: bán nợ khó đòi cho giới đầu tư tư nhân qua cách ddaauss giá nên việc mua bán trở nên công khái và sát giá trị thực tế nhất vào đầu năm 2001, Thái Lan thành lập công ty quản lý tài sản (TAMCO) để thu mua tiếp các khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hang

Thái Lan cũng tiến hành dóng cửa và sát nhập các tổ chức tài chính kém hiệu quả Số công ty giảm từ 91 công ty vào tháng 6/1997 xuống còn 23 công ty (2001),

2 ngân hàng bị đóng cửa và 6 ngân hang bị sát nhập

Đồng thời chính phủ Thái Lan đã cải tiến khung khổ pháp luật giám sát hoạt động của hệ thống tài chính Vào đầu năm 2001, nước này ban hành ‘ Luật Các thể chế tài chính’ tạo ra khung pháp lý mới cho sự hoạt động của các ngân hang, các công ty tài chính và các nhà cung cấp úng dụng luật này cũng thắt chặt sự kiểm soát trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kế toán kiểm toán, công bố thong tin và các hình phạt đối với việc gian lận Thái lan cũng ban hành Luật Ngân hang trung ương mới để tăng tính độc lấp và trách nhiệm giải trình của ngân hang TW Nhiệm

vụ của ngân hàng TW bị giới hạn trong việc duy trì sự ổn định của giá cả và bảo vệ

sự ổn định của hệ thống tài chính ADB 2002

Sau cuộc khủng hoảng Thái Lan đã tiến hành sửa đối và ban hành rất nhiều bộ luật kinh tế mới như Luật Cạnh tranh, Luật Thị trường chứng khoán, Luật Phá sản, Luật đất đai và nhiều luật khác Nội dung sửa đổi của các luật này đều theo hướng

tụ do hóa, giải điều tiết và mở của kinh tế

Thái Lan cũng công bố các kế hoách đẩy nhanh tiến trình tư nhân hóa Trong

cam kết với IMF vào tháng12/ 1997, Thái Lan đã đề xuất một chương trình tư nhân

hóa nhanh bắt đầu bằng việc tư nhân hóa công ty lọc dầu Bangchak Vào năm

2000, Quốc hội Thái đã thông qua Luật công ty hóa, công bố một danh sách bao gồm nhiều công ty thuộc các ngàng điện, viễn thông, hàng không, năng lượng và cung cấp nước cần được tư nhân hóa Tuy nhiên, các kế hoạch tư nhân hóa này đang gặp sự phản đối dữ dội từ nhiều hướng, đặc biệt là từ công dân=>còn trên giấy tờ

Hiến pháp sửa đổi năm 1997 của Thái Lan đã cung cấp quyền tham giá lớn hớn của các công dân phi tập trung hóa, tăng trách nhiệm giải trình và tính minh bạch Người dân Thái lan lần đầu tiên được bầu trực tiếp các thượng nghị sỹ sau đó chính phủ thái lan đã ban hành chương trình cải cách khu vực công vào tháng 5/1999 theo hướng dân chủ hóa trên 3 phương diện : cải cách bọ máy nhà nước, phi tập trung hóa và phát triển xã hội dân sự

sau Hàn quốc, Thái Lan được giới đầu tư quốc tế coi là nước mà giới lãnh đạo có ý thức cần phải cải cách và đã cố gắng đổi mới Tuy nhiên cải cách ngân hang và doanh nghiệp chưa được thực hiện triệt để và rộng rãi cho nên chưa hiện đại hóa được ‘ cách làm ăn” trong nền kinh tế

Trang 13

2.4 Các chính sách

Duy trì quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả Thái Lan tiếp tục duy trì các chính

sách kinh tế vĩ mô phù hợp để hỗ trợ quá trình phục hồi và tăng cường khả năng cạnh tranh Ngân hàng Trung ương Thái Lan áp dụng các biện pháp khống chế lạm phát để hỗ trợ các chương trình cải tổ hoạt động hiệu quả Việc hỗ trợ này chỉ là bước đầu, khi các mô hình dự báo lạm phát và các cải tổ cơ cấu, tạo nên sự độc lập của ngân hàng trung ương, vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có kiểm soát, Ngân hàng Trung ương Thái Lan chỉ điều tiết rất ít tỷ giá trên thị trường hối đoái Thái Lan cho rằng các khuyến khích về tài khoá là công cụ chính trong công cuộc khôi phục nền kinh tế, để củng cố tình hình tài chính cần hướng tới các mục tiêu trung hạn Về trung hạn, hiện đại hoá các cơ quan quản lý nợ chính phủ và các cơ quan thuế sẽ củng cố tình hình tài chính và giảm mức nợ chính phủ Thái Lan muốn Bộ Tài chính đảm trách việc quản lý nợ chính phủ theo tiêu chuẩn quốc tế với hệ thống thông tin, công cụ phân tích và đội ngũ cán bộ có năng lực Chương trình này sẽ thiết lập một bộ phận ra quyết định quản lý nợ trong hệ thống chính quyền, cho phép đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro và chi phí một cách sáng suốt hơn thông qua bảng cân đối kế toán Ngân hàng Phát triển Châu á, Kho bạc Mỹ, Ngân hàng Thế giới và các quỹ của Chính phủ Thái Lan đang thực hiện một kế hoạch trợ giúp kỹ thuật và đào tạo nhằm tăng cường năng lực cho Bộ Tài chính Thái Lan đang tiến hành hiện đại hoá các cơ quan chịu trách nhiệm thu thuế như cơ quan thuế, hải quan để tăng cường khả năng thu thuế hiệu quả và minh bạch Cơ quan này sẽ ứng dụng công nghệ thông tin để cải tiến các tài khoản thuế, chỉ rõ số nợ thuế, hỗ trợ kiểm toán và cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý Tất cả các cải tiến này đều giúp tăng cường khả năng thu thuế hiệu quả và minh bạch Chương trình Hỗ trợ và Quản lý vốn sẽ hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan thuế thông qua áp dụng hệ thống kiểm toán chọn lọc và xác định mã

số thuế tự động, nhằm hiện đại hoá hệ thống nạp và xử lý dữ liệu điện tử và các công cụ thống kê cải tiến để dự báo doanh thu thuế

Tăng cường cải tổ doanh nghiệp và hệ thống tài chính: Sau đợt củng cố

lại các ngân hàng và đóng cửa các ngân hàng yếu kém, số lượng các ngân hàng thương mại đã giảm xuống còn 13 Ngân hàng quốc doanh Krung Thai Bank đã được tách làm đôi thành một ngân hàng lớn và một ngân hàng nhỏ để có thể khắc phục các khoản nợ khó đòi của ngân hàng này Kể từ khi khủng hoảng nổ ra, các ngân hàng tư nhân đã tăng số vốn từ các nhà đầu tư tư nhân lên 7,3 tỷ USD Bốn

Ngày đăng: 17/01/2018, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w