1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN: LẬP THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

38 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA VIỆC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN. II. TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN. III. PHƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH IV. ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ V. ẢNH HƯỞNG CỦA THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI CỦA DỰ ÁN.

Trang 1

CHƯƠNG 6: THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

I KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA VIỆC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN.

1.1 Khái niệm:

Thẩm định dự án đầu tư là việc thẩm tra, so sánh, đánh giá một cách khách quan,khoa học và toàn diện các nội dung của dự án, hoặc so sánh đánh giá các phương án củamột hay nhiều dự án để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án Từ

đó có những quyết định đầu tư và cho phép đầu tư

1.2 Mục đích:

- Đánh giá tính hợp lý của dự án: Tính hợp lý được biểu hiện một cách tổng hợp(biểu hiện trong tính hiệu quả và tính khả thi) và được biểu hiện ở từng nội dung và cáchthức tính toán của dự án (hợp lý trong xác định mục tiêu, trong xác định các nội dungcủa dự án, khối lượng công việc cần tiến hành, các chi phí cần thiế và các kết quả đạtđược)

- Đánh giá tính hiệu quả của dự án: bao gồm cả hiệu quả tài chính và kinh tế-xã hội

- Đánh giá tính khả thi của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩmđịnh dự án Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi Hợp lý và hiệu quả làhai điều kiện quan trọng để đảm bảo tính khả thi Nhưng tính khả thi ở đây còn phải xemxét với nội dung và phạm vi rộng hơn của dự án (xem xét các kế hoạch tổ chức thực hiện,môi trường pháp lý của dự án )

Ba mục tiêu trên đồng thời là những yêu cầu chung đối với mọi dự án đầu tư nếu các

dự án muốn được đầu tư và tài trợ Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của thẩm định dự ánđầu tư phụ thuộc vào chủ thể thẩm định dự án

1) Chủ đầu tư thẩm định dự án nhằm đưa ra quyết định đầu tư

2) Các định chế tài chính thẩm định dự án khả thi để quyết định cho vay vốn

3) Cơ quan quản lý Nhà nước các dự án đầu tư thẩm định dự án để xét duyệt cấpphép đầu tư

1.3 Vai trò của việc thẩm định dự án:

- Đối với Chủ đầu tư: nhằm đưa ra quyết định đầu tư, lựa chọn phương án đâuì tưhiệu quả nhất, xác định được tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư

- Đối với các định chế tài chính: để quyết định cho vay, tài trợ vốn cho dự án

- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: đánh giá tính pháp lý, hợp lý và hiệu quả kinh

tế xã hội để cấp duyệt giấy phép đầu tư

Trang 2

II TỔ CHỨC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN.

2.1 Hồ sơ trình duyệt:

Về nguyên tắc chỉ thẩm định các dự án đã làm đúng hướng dẫn, đầy đủ và đúng các thủtục Tùy theo từng dự án đầu tư, từng cấp thẩm định mà hồ sơ trình duyệt có những quyđịnh cụ thể Tuy nhiên hồ sơ trình duyệt thường bao gồm các loại chủ yếu sau:

- Tờ trình xin xét duyệt cho chủ đầu tư (kể cả với dự án tiền khả thi và dự án khảthi)

- Ý kiến đề nghị chủ cơ quan chủ dự án

- Bản dự án, báo cáo tóm tắt, bản vẽ, bản đồ và các tài liệu liên quan khác

- Căn cứ pháp lý về khả năng huy động các nguồn vốn

Đối với đầu tư trực tiếp của nước ngoài hồ sơ gồm:

- Tờ trình xin cấp giấy phép đầu tư của chủ đầu tư gửi cơ quan của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, hoạc UBND Tỉnh, Thành phố được phân cấp

- Văn bản pháp lý về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính của các bên đối tác

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh quyết định thành lập các công ty liên doanh

- Điều lệ công ty

- Luận chứng kinh tế - kỹ thuật, bản vẽ, bản đồ và các tài liệu khác

2.2 Nguyên tắc thẩm định dự án đầu tư:

- Đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội: Tất cả các dự

án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn và mọi thành phần kinh tế khi ra quyết định và cấp giấyphép đầu tư đều phải qua khâu thẩm định về hiệu quả kinh tế - xã hội, về quy hoạch xâydựng, các phương án kiến trúc, công nghệ, sử dụng đất đai, tài nguyên Nguyên tắc nàyđảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cho các dự án đầu tư Tránh thực hiện những dự án chỉđơn thuần có lợi về hiệu quả tài chính Các cơ quan nhà nước với tư cách là chủ thể quản

lý Nhà nước các dự án đầu tư trước hết phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế xãhội và lợi ích của các chủ đầu tư

- Đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn cuả Nhà nước: Đối với các dự án đầu tư sửdụng vốn Nhà nước phải được thẩm định về phương diện tài chính của dự án ngoàiphương diện kinh tế xã hội đã nêu ở nguyên tắc trên Nhà nước với tư cách vừa là chủđầu tư vừa là cơ quan quản lý chung các dự án thực hiện cả hai chức năng quản lý dự án:quản lý với chức năng là chủ đầu tư và quản lý với chức năng quản lý vĩ mô (quản lý Nhànước) Thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn củaNhà nước Trong mọi dự án đầu tư không thể tách rời lợi ích của Chủ đầu tư và lợi ích

Trang 3

của xã hội Các dự án không sử dụng vốn của Nhà nước, các Chủ đầu tư đặc biệt quantâm đến hiệu quả tài chính mà ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội, Nhà nước cần phảiquan tâm đến phương diện kinh tế xã hội.

- Đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế: Đối với những dự án sử dụng vốn ODA vàvốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, khi thẩm định dự án cần chú ý đến những thông lệquốc tế

- Đảm bảo cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp khác nhau ra quyết địnhcho phép và cấp phép đầu tư được chính xác theo thẩm quyền của mình: Cấp nào cóquyền ra quyết định cho phép và cấp giấy phép đầu tư thì cấp đó có trách nhiệm thẩmđịnh dự án Thẩm định dự án coi như là chức năng quan trọng trong quản lý dự án củaNhà nước

- Thẩm định có thời hạn theo quy định: Theo nguyên tắc này các cơ quan quản lýđầu tư của Nhà nước cần nhanh chóng thẩm định, tránh những thủ tục rườm rà, chậm trễ,gây phiền hà trong việc ra quyết định và cấp giấy phép đầu tư

2.3 Phân cấp thẩm định dự án đầu tư:

Về nguyên tắc, tất cả các dự án đầu tư đều phải thẩm định trước khi ra quyết địnhcho phép và cấp giấy phép đầu tư Để đảm bảo tính hiệu quả và tính linh hoạt trong quản

lý dự án đầu tư, các dự án đầu tư được thẩm định ở những cấp khác nhau tùy thuộc vào vịtrí, tính chất và quy mô của chúng Cấp thẩm định dự án phụ thuộc vào thẩm định quyếtđịnh cho phép và cấp giấy phép đầu tư Các dự án thuộc cấp nào ra quyết định, cho phép

và cấp phép đầu tư phụ thuộc vào:

- Nguồn vốn của dự án: Các dự án trong nước sử dụng vốn Nhà nước và các dự ántrong nước không sử dụng vốn Nhà nước Các dự án sử dụng vốn nước ngoái: Các dự ánODA và các dự án đầu tư trực tiếp

- Quy mô của dự án: Những dự án có quy mô lớn, vừa và nhỏ Các dự án có quy môlớn do cấp cao quyết định và ngược lại

- Tính chất, tầm quan trọng của dự án: Những dự án có quy mô nhỏ nhưng tầm quantrọng lớn cần được các cơ cao cấp cao quyết định và cấp phép đầu tư

Trang 4

- Hội đồng quản trị các Tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7tháng 3 năm 1994 của Thủ tướng chính phủ.

- Chủ tịch UBND Tỉnh

- Sở Kế hoạch và Đầu tư

Theo thẩm quyền về ra quyết định, cho phép và cấp phép đầu tư các cấp cần tổchức công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định, cho phape và cấp giấy phép đầu

tư Có các hình thức tổ chức thẩm định dự án như sau:

Thứ nhất, cấp có trách nhiệm thẩm định dự án tổ chức ra hội đòng thẩm định dự án

ở cấp mình Hội đòng này có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan hữu quan thẩm định dự

án giúp Thủ tướng ra quyết định đúng đắn Theo hình thức này có thể tổ chức ra hội đồngthẩm định dự án cấp Trung ương, cấp ngành địa phương và cấp công ty Theo quy địnhhiện hành ở Việt Nam, chỉ sự dụng hình thức này ở cấp Trung ương, các cấp khác khôngthành lập hội đồng thẩm định

Thứ hai, sử dụng các cơ quan chức năng để thẩm định dự án theo từng nội dung vàmục đích nhất định

Thứ ba, hợp đồng với các tổ chức tư vấn để thẩm định

III PHƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH

Phương pháp thẩm định dự án là các thức thẩm định của dự án nhằm đạt đượcnhững yêu cầu đặt ra đối với công tác thẩm định dự án Dự án đầu tư sẽ được thẩm địnhđầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩm định khoa học kết hợp với kinh nghiệmquản lý thực tiển các nguồn thông tin đáng tin cậy Việc thẩm định dự án có thể tiến hànhtheo nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình thẩm định, tùy thuộc vào nội dung vàyêu cầu của dự án

Trang 5

Dựa vào các chỉ tiêu cần thẩm định để xem xét khái quát, phát hiện các vấn đề hợp

lý hay chưa hợp lý Thẩm định tổng quát cho phép hình dung khái quát dự án, thực chất,các vấn đề chủ yếu của dự án, mục tiêu của dự án, các giải pháp chủ yếu, những lợi ích

cơ bản Qua đây ta hình dung được quy mô, tầm cỡ của dự án, liên quan đến các ngànhnào, bộ phận nào, trong đó ngành nào, bộ phận nào là chính, hiểu rõ quy mô, tầm quantrọng của dự án trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Xác định các căn

cứ pháp lý của dự án Dự án có thể bị bác bỏ nếu không thỏa mãn các yêu cầu về pháp lý,các thủ tục quy định cần thiết và không phục vụ chiến lược phát triển kinh tế chung.Trên

cơ sở đó ta mới dự kiến được các công việc cần làm tiếp và những công việc đó liên quanđến những ai để có thể hoàn thành được việc thẩm định tốt nhất và nhanh nhất

b) Thẩm định chi tiết

Thẩm định chi tiết tiến hành sau khi đã thẩn định tổng quát Là việc xem xét mộtcách khoa học và chi tiết từng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tínhhiệu quả của dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kĩ thuật- công nghệ, môitrường, kinh tế phù hợp…với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ pháttriển của đất nước

Trong giai đoạn thẩm định chi tiết từng nội dung, cần đưa ra những ý kiến đánhgiá đồng ý, không đồng ý, những gì cần bổ sung, sửa đổi hau tùy theo đặc điểm và tìnhhình cụ thể của từng dự án Điều này chỉ có thể đạt được bằng thẩm định chi tiết

Khi soạn thảo có thể có nhiều sai sót, các ý kiến có thể nâu thuẩn nhau, khôngđúng logic, thậm chí các phép toán cũng có thể nhầm lẫn Thẩm định chi tiết không được

bỏ qua những sai sót đó Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽ phát hiện và kết luận rút ra

từ nội dung trước có thể là điều kiện tiếp tục nghiên cứu Nếu một có nội dung cơ bản của

dự án là bác bỏ thì có thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm định các nội dung cònlại của dự án Đối với các dự án đầu tư nước ngoài còn cần phải sửa đổi cả câu văn, chữnghĩa để tránh những sơ hở có thể xảy ra, dẫn đến bất đồng ý kiến trong các đối tác thamgia đầu tư

Trang 6

Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật chủ yếu của

dự án đã và đang xây dựng và hoạt động Các chỉ tiêu được sử dụng làm vật đối chiếuthường là:

- Quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức, hạn mức, chuẩn mức đang được áp dụng tạiViệt Nam

- Quy chuẩn tiêu chuẩn về công nghệ, chỉ tiêu tiên tiến của ngành

- Các chỉ tiêu so sánh giữa trường hợp có dự án với các trường hợp chưa có dự án

- Các chỉ tiêu của dự án tương tự

Ngoài ra còn có các chỉ tiêu khác như:

- Tiêu chuấn đối với loại sản phẩm của dự án mà thi trường đòi hỏi

- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư

- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư

- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn thi hành của nhànước

- Có thể tham khảo các chỉ tiêu của nước ngoài nếu không có chỉ tiêu để đối chiếu ởtrong nước

Trong tập hợp rất nhiều chỉ tiêu của dự án, do vậy việc sử dụng pp so sánh cần lưu ýcác tiêu chuẩn để so sánh phải đc vận dụng phù hợp với điều kiện, đặc điểm của dự án,tùy theo từng loại của dự án để xem xét kỹ lưỡng điều này giúp người thẩm định đi đúngtrọng tâ, rút ngắn được thời gian và vẫn đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của công tácthẩm định

3.3 Thẩm định dựa trên phân tích độ nhạy của DA

Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc và hiệu quả tài chínhcủa dự án Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy ratrong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, không đạt công suất thiết kế, giá

cả chi phí đầu vào tăng, giá tiêu thụ sản phẩm giảm…khảo sát tác động của những yếu tố

đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn vốn của dự án

Mức độ sai lệch so với dự kiến của những bất trắc tùy theo điều kiện cụ thể và nênchọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả cảu dự án đc xem xét.Nếu dự án vẫn tỏ ra hiệu quả kể cả trong từng trường hợp có nhiều bất trắc xảy ra đồngthời thì đó là một DA vững chắc và có độ an toàn cao Trong trường hợp ngược lại, cầnphải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc để đề xuất kiến nghị các giải pháp hiệu quảkhắc phục hay hạn chế

Trang 7

Để xem xét khi các nhân tố tạo nên dự án thay đổi thì nó sẽ ảnh huongr như thếnào đến hiệu quả của dự án.

- Bước 1: xác định các biến số chủ yếu là những biến số mà khi nó thay đổi nó ảnhhưởng lớn đến hiệu quả của dự án

- Bước 2: cho các biến này tăng, giảm 5% đến 10% hoặc 20% theo chiều hướng bấtlợi cho dự án

- Bước 3: tính lại doanh thu, chi phí hang năm, vốn ĐT ban đầu của DA từ đó tínhlại các chỉ tiêu hiệu quả NPV, IRR cảu DA, thời hạn thu hồi vốn

- Bước 4: đưa ra nhận xét:

Nếu DA nào vẫn có hiệu qủa khi các nhân tố tạo nên DA thay đôi thì DA được coi làkhả thi về mặt tài chính Trong trường hợp ngược lại, khi các nhân tố tạo nên DA thayđổi mà các chỉ tiêu hiệu quả của DA giảm sút quá nhiều thì DA đó được coi là bấp bênh,quá nhiều rủi ro và có thể từ chối DA

3.4 Phương pháp dự báo.

Dự báo những biến động của thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường cung cấpNVL, công nghệ, dự báo sự phát triển của KHCN, sự thay đổi của khí hậu, thổ nhưỡng

từ đó, dự kiến những rủi ro này ảnh hưởng đến DA như thế nào

Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo điều tra thống kê để kiểm tra cungcầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả chất lượng của công nghệ, thiết bị, nguyênliệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, tính khả thi của dự án

3.5 Phương pháp triệt tiêu rủi ro.

DA là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự án đếnkhi đi vào khai thác, hoàng vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài ýmuốn chủ quan Để đảm bảo tính vững chắcvà dự án có hiệu quả, người ta thường dựđoán một số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc tài chính thích hợp, hạn chếthấp nhất các tác động rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến dự án.Một số loại rủi ro và biện pháp phòng ngừa sau:

Trang 8

Rủi ro Biện pháp phòng chốngThực hiện Chậm tiến độ thi công Đấu thầu, chọn thầu, bão lãnh thực hiện hợp đồng

Cam kết đảm bảo nguồn vốn góp, bên cho vayhoặc bên tài trợ vốn

Bất khả khán Mua bảo hiểm đầu tu hoặc bảo hiểm xây dựng

Hợp đồng cung cấp dài hạn , đưa ra các nguyên tắc

về giáTiêu thụ sản phẩm Hợp đồng bao tiêu sản phẩm, nguyên tắc tiêu thụ

sản phẩmTài chính (thiếu vốn

Dự kiến những rủi ro có thể xảy ra với DA để từ đó đề xuất các biện pháp phòng chốngrủi ro

III NỘI DUNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN

3.1 Thẩm định các điều kiện pháp lý

Các điều kiện pháp lý để quyết định xét duyệt dự án bao gồm các văn bản và thủ tụcsau

- Hồ sơ trình duyệt có đủ và hợp ệ theo qui định không

- Tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư, gồm:

Quyết định thành lập , thành lập lại các doanh ghiệp nhà nước hoặc giấy hép hạtđộng đối với các thành phần kinh tế khác

Người đại diện chính thức

Năng lực kinh doanh: chủ yếu thẩm định các văn bản thể hiện năng lực tàichính( biểu hiện ở khả năng là nguồn vốn tự có, điều kiện thế chap khi vay vốn…)

Địa chỉ liên hệ khi giao dịch

Trong điệu kiện dự án đầu tư nước ngoài, cần thêm các văn bản:

Bản cam kết dự án nếu được phê duyệt

Bản cam kết đã cung cấp thông tin chính xác về những vấn đề liên quan đến liêndoanh

Trang 9

Một số văn bản về thỏa thuận

Bản cam kết tuân thủ luật Việt Nam về phía nước ngoài

3.2 Thẩm định mục tiêu của dự án

Thẩm định mục tiêu dự án cần xem xét trên các khía cạnh và vấn đề sau

- Mục tiêu dự án có phù hợp với qui hoạch, chương trình, kế hoạch, mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội của cả nước, vùng hay địa phương, nghành hay không?

- Nghành ngề trong dự án có thuộc nhóm nghành nghề nhà nước cho phép hoạtđông hay không?

- Các nhóm nghành ưu tiên hay không? Nếu thuộc nhóm ngành ưu tiên thì dự án sẽđược hưởng các chế độ ưu đãi và khi xét duyệt sẽ thuận lợi hơn

3.3 Thẩm định về sự cần thiết của dự án

Nội dung thẩm định sự cần thiết của dự án bao gồm

 Sự cần thiết phải đầu tư

- Ý nghĩa kinh tế - xã hội của dự án khi đưa vào hoạt động

- Nghiên cứu, xem xét, đánh giá tính cấp bách của việc triển khai xây dựng côngtrình, thời hạn hợp lí đưa công trình vào sử dụng theo từng giai đoạn đầu tư và giai đoạnqui hạch cuối cùng

 Các tài liệ cơ bản dung trong quá trình nghiên cứu:

- Đánh giá các số liệu kinh tế xã hộ( hiện trạng và dự báo)

- Đánh giá chất lượng khai thác công trình

- Đánh giá kết quả dự báo mức tiêu thụ của sản phẩm dự án cho năm tính toán

- Đánh giá các tài liệu khảo sát địa hình, địa chất thổ nhưỡng, thủy văn, vật liệu xâydựng( về số lượng, mức độ chi tiết và độ tin cậy của tài liệu)

3.4 Thẩm định về kỹ thuật, công nghệ của dự án

Nội dung của thẩm định bao gồm

- Kiểm tra công cụ sử dụng trong tính toán Trong đó lưu ý đặc biệt trong các ddingjmức kinh tế- kỹ thuật, quy trình, quy phạm, quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng Đối vớiđịnh mức kinh tế- kỹ thuật phải rà soát cho phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án

- Kiểm tra những sai sót trong tính toán; tính toán không đúng, không đủ và khôngphù hợp

- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ, thiết bị đối với dự án Đặt biệt trong điềukiện của Việt Nam( điều kiện thời tiết khí hậu), các mối liên hệ, các khâu tổ chứcthựchiện dự án, tính toán khả năng phát triển trong tương lai và điều kiện vận hành bảodưỡng…

- Thẩm định địa điểm xây dựng từ văn bản pháp lý đến địa điểm cụ thể Lưu ý đặcbiệt ảnh hưởng của dự án đến môi trường, mặt tích cực vầ tiêu cực

Chú ý

Trang 10

- Việc lựa chọn thiết bị nguyên vật liệu theo hướng tỷ lệ được sản xuất trong nướccàng nhiều càng tốt.

- Việ thẩm định kỹ thuật công nghệ phải có ý kiến của chuyên gia kỹ thuật nếu cóchuyển giao công nghệ phải đối chiếu với Luật chuyển giao công nghệ và các văn bảnpháp qui có lien quan

3.5 Thẩm định về tài chính của dự án

- Kiểm tra các phép tính toán Khi kiểm tra phải căn cứ các căn cứ tính toán( cácđịnh mức đơn giá, giá cả nguyên liệu, thiết bị và sản phẩm…)

- Kiểm tra tổng vốn, cơ cấu các loại vốn

Khi kiểm tra tổng vốn phải lưu ý: trong các dự án pháp triển, mục đích của ngườilập dự án là nhận được nguồn tài trợ Vì vậy khi tính toán thường có tình trạng tính rấtđầy đử các khoản mục( đôi khi tính trội lên) nằm trong danh mục tài trợ Trong khi đócác khoản mục thuộc vốn tự có hoặc vốn vay thường tính một cách sơ lược tình trạngtrên đã dẫn đến không tính hết nhu cầu vốn vì vậy khi tính toán hiệu quả kinh té dự ánthường có những sai lệch Mặt khác khi triển khai thực hiện dự án sẽ gặp phải những khókhan

Khi kiểm tra cơ cấu vốn phải kiểm tra xem xét từng loại vốn đã được tính đúng,tính đủ chưa? Cần lưu ý đặc biệt đến vốn tự có

- Thẩm tra về độ an toàn tài chính: thẩm định mức độ an toàn về tài chính của dự ántrong sử lý các bất thường khi thực hiện dự án

Độ an toàn về tài chính được xem xét thông qua các chỉ tiêu sau:

Tỷ lệ vốn tự có/vốn đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chủ động tàichính của dự án Khi tỷ lệ vốn tự có/vốn đầu tư có giá trị lớn hơn 0.5 độ an toàn của dự

án được đảm bảo

An toàn về khả năng trả nợ của dự án :Khả năng trả nợ = nguồn vốn trả nợ hằng năm/nợ phải trả hằng năm(cả gốc và lãi)Nguồn trả nợ hằng năm gồm lợi nhuận sau thuế và khấu hao cơ bản

Nợ phải trả hằng năm chủ yếu gồm tiền trả vốn gốc và tiền lãi phải trả hằng nămKhi xây dựng dự án, căn cứ vào khối lượng công việc đầu tư thực hiên, người soạnthảo dự anstinhs toán tổng nhu cầu về vốn theo suốt chu kỳ của dự án trong từng thờiđiểm của dự án căn cứ vào kết quả của dự án sẽ tính toán được thu nhập của dự án ởtừng thời điểm và cả chu kỳ của dự án Trên cơ sở đó người soạn thảo dự án xây dựng kếhoạch vay vốn và hoàn trả vốn Để tính được các chỉ tiêu trên, người thẩm định phải dựavào hệ thống tính toán của dự án làm căn cứ thẩm định

- Kiểm tra so sánh các chỉ tiêu hiệu quả

Trang 11

Trong bản dự án khi tính toán hiệu quả về mặt tài chính của dự án tùy theo điều kiện

cụ thể khác nhau mà hệ thống chỉ tiêu và phương pháp tính toán sẽ được vận dụng ởmức độ nhất định Tối ưu nhất là các dự án tính toán được một hệ thống đầy đử cácchỉ tiêu với phương pháp tính có xem xét tới các yếu tố biến động( giá cả, tác độngcác yếu tố thời tiết,cung cầu trên thị trường…)

 Thẩm tra sự tính toán, phát hiệ những bất hợp lý, những sai sót và sự không đầy

đủ của dự án

 Nến các vấn đề trên đều tốt, thực hiện so sánh đánh giá hiệu quả tài chính của dự

án Trường hợp có sai sót, có thể điều chỉnh( nếu không lớn) và tính toán lại cácchỉ tiêu là cơ sở cho việc so sánh và đánh giá hiệu quả tài chính của dự án

Khi đánh giá hiệu quả tài chính nên tập trung vào các chỉ tiêu chính với mức đánh giá

cụ thể sau:

 Giá trị hiện tại thuần(NPV) Nguyên tắc xem xét là NPV < 0 thì dự án không đượcchaos nhận chỉ chấp nhận dự án có NPV>0 hoặc NPV=0

Nến có nhiều dự án cần lựa chọn thì chấp nhận dự án có NPV lớn nhất

 Suất thu lời nội tai(IRR)

 Thời hạn thu hồi vốn đầu tư Chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng dự án

 Tỷ lệ lợi nhuận/vốn đầu tư Về nguyên tắc chỉ tiêu này càng lớn càng tốt nếu cónhiều phương án cần lựa chọn thì chọn phương án tỷ lệ cao nhất

 Tỷ lệ lợi ích /chi phí (B/C)

Về nguyên tắc chung, B/C>=1 là có thể chấp nhận được, B/C càng lớn hơn 1 càng tốt.Phần lớn các dự án khi phân tích tài chính người soạn thảo dự án đã tính IRR Sauk hikiemr tra phép tính toán của người soạn thảo, người thẩm định rà soát, đánh giá theonhững qui tắc nhất định nào đó Trong trường hợp có một dự án, IRR đực chấp nhậnkhi có trị số cao hơn mức lãi suất năm ở thời điểm nhất định của dự án

Trên đây là những chỉ tiêu chủ yếu dùng để thẩm định hiệu quả tài chính của dự ánđầu tư Những dự án sử dụng vốn Nhà nước, các chỉ tiêu này cần được thẩm định mộtcahcs kỹ càng Đồng thời các chỉ tiêu này cần được xem xét một cách hệ thống, đồng

bộ để lựa chọn được những dự án mà các chỉ tiêu hiệu quả tài chính đều ở trên mứcchấp nhậ được

3.6 Thẩm định về kinh tế- xã hội

Trang 12

Đối với các dự án cần đặc biệt quan tâm đến kinh tế xã hội đánh giá dự án về kinh tế

xã hội với mục tiêu:

- Dự án có sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nước hay không? Đã mang lạilợi ích kinh tế gì cho đất nước?

- Dự án có tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập, cải thiệ đời sống, cải tạo nếpsống, tâp quán hay không?

- Mục tiêu của dự án có phù hợp mục tiêu xã hội hay không?

Khi đánh giá cần xem xét các chỉ tiêu sau:

 Giá trị gia tăng: bao gồm giá trị gia tăng trực tiếp và gián tiếp khi xem xét chỉtiêu giá trị gia tăng cần chú ý đến cơ cấu của nó Cần phải quan tâm phần giá trịmới tạo ra và tiền lương Các dự án có giá trị gia tăng càng lớn càng tốt

 Tỷ lệ giá trị gia tăng/vốn đầu tư

 Tỷ lệ hối đối thực tế: tỷ giá này càng cao càng tốt

Ngoài ra có thể còn đánh giá các khía cạnh như dự án đóng góp phát triển địaphương, mức độ sử dụng nguyên vật liệu trong nước, phát triển cơ sở hạ tầng, gópphần phát triển các nghành khác, vấn đè phân phối….Đặc biệt là vấn đề môi trường.Các dự án có tính toán các chỉ tiêu hiệu quả từ góc độ kinh tế- xã hội thì đó là nhữngchỉ tiêu cần thẩm định như đã trình bày ở mục 5

3.7 Thẩm định về tác động của môi trường

Thẩm định tác động về môi trường của dự án cần chú ý cả hai chiều, hướng tích cực

và tiêu cực Hướng tích cực có thể là:

- Bảo vệ và cải tạo nguồn nước

- Bảo vệ và cải tạo nguồn dưỡng khí cho con người

- Bảo vệ và cải tao đất, bảo vệ các công trình kiến trúc khác

- Tạo cảnh quan, tôn tạo vẻ đẹp thiên nhiên

- Giảm thiểu các thiệt hại do môi trường gây ra do thiên tai bão lũ…

Đánh giá những tác động tiêu cuwcjcuar dự án đặc biệt lưu ý mức độ phá hoại môitrường do phá vỡ cân bằng sinh thái, cũng cần quan tâm đến tác động tiêu cực đếnmôi trường xã hội

3.8 Thẩm định kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện dự án

Thực hiện triển khai trên các mặt:

Trang 13

- Kế hoạch cung cấp các điều kiện dự án; vốn, đất đai, thiết bị, công nghệ…

- Kế hoạch về biện pháp thực hiện dự án

- Kế hoạch và tiến độ thực hienj dự án

- Khả năng triển khai xây dựng công trình, vấn đề cung cấp nguyên vật liệu, vật tư,máy móc, vận chuyển trong khi thi công… và tiến độ thực hiện dự án

Đánh giá mức độ khả thi của kế hoach và biện pháp đã nêu

IV ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẾN DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Sau khi hoàn thành việc nghiện cứu và lập dự án đầu tư, thì người ta tiến hànhthẩm định và ra quyết định đầu tư.Thẩm định dự án đầu tư được xem là một yếu tốkhông thể thiếu được và là cơ sở đưa ra quyết định đầu tư Đây là một khâu khó khăntrong chu kỳ của DAĐT, ngoài việc kiểm tra đánh giá lại hoạt động của các khâutrước đó , nó có ý nghĩa quyết định sự thành công và thất bại của các giai đoạn saucủa dự án

Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của cácthành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân Song sẽ không tưởng tượng khinói đến đầu tư phát triển kinh tế mà lại không có vốn hay không đủ vốn Một câu hỏiđặt ra là “ Vốn ở đâu ra?” Như chúng ta đã biết, ngoài vốn tự có của mình, các nhàđầu tư có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ khác từ bên ngoài Một trong các hình thứctài trợ mà các nhà đầu tư thường quan tâm là vốn vay ngân hàng Tuy nhiên, ngânhàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết chắc rằng vốn vay ngân hành được sửdụng an toàn và hiệu quả

Vì vậy, tính hiệu quả ( hay tính khả thi) của dự án sẽ là câu trả lời cho quyếtđịnh đầu tư hay không Do đó, không chỉ riêng các nhà đầu tư, mà cả ngân hàng vàcác cơ quan hữu quan cũng tiến hành thẩm định dự án tức đi sâu vào xem xét nghiêncứu, đánh giá hàng loạt các vấn đề trên lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyếtđịnh đúng đắn

- Đối với nhà đầu tư:

Sự tồn tại và phát triển của mỗi DN là nhờ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh đúngđắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự án.Với tư cách là chủ dự án, chủđầu tư biết khá rõ và tướng đối tủ mỉ dự án đầu tư của mình Trên thực tế, khi đưa ra một

kế hoạch SXKD, CĐT thường đưa ra các phương án khác nhau, điều đó có nghĩa là cónhiều dự án khác nhau được đưa ra và không dễ dành gì trong việc lựa chon dự án này vàloại dự án kìa vì nhiều khi khả năng thu thập nắm bắt thông tin của chủ đầu tư bị hạn chế,

Trang 14

nhất là các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và điều này sẽ làm nguy cơ rủi ro tăngcao và làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ.

Chính vì vậy, thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn được dự

án đầu tư tối ưu

-Đối với ngân hàng:

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi của người gửi tiền vàcho vay đối với những người cần vay hoặc làm môi giới cho người đầu tư

Như vậy,đứng trên góc độ nhà đầu tư, ngân hàng là người cung cấp, tài trợ vốn cho cáchoạt động kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực đầu tư Sự thành công hay thất bại của một

dự án ở bất cứ góc độ nào cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng

Do đó, với tư cách là “ bà đỡ” về lĩnh vực tài chính cho các DAĐT SXKD, ngân hàngthường xuyên phải thực hiện công tác thẩm định DAĐT,nhất là công tác thẩm định vềlĩnh vực tài chính của DA nhằm đánh giá tính hiệu quả của DA và mức độ an toànvốn.Việc thẩm định DAĐT còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền cho vay, thời giancho vay, mức thu nợ hợp lý, thời điểm bỏ vốn cho DA và tạo điều kiện thuận lợi cho DNhoạt động có hiệu quả

Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định DAĐT là rất quan trọng, nó giúp chongân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư hư thế nào?Mức độ bỏ vốn bao nhiêu? Nhằm đạt hiệu quả và an toàn trong sử dụng vốn, giảm thiểu

nợ quá hạn và khó đòi

-Đối với xã hội và cơ quan hữu quan:

Người cho vay

Người đi vay

Cá nhânDoanh nghiệpChính phủNgười nước ngoài

Trang 15

Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và của sự phát triển kinh tế nóiriêng của một quốc gia Từ mục tiêu rút nhắn khoảng cách và đuổi kịp các nước trongcuộc chạy đua phát triển kinh tế với xuất phát điểm rất thấp, chưa bao giờ nhu cầu đầu tư

ở Việt Nam lại to lớn và khẩn trương như hiện nay Vấn đề quan trọng không kém đượcđặt ra là đầu tư như thế nào cho có hiệu quả,bằng không tác động của đầu tư là rất nguyhại Hiệu quả ở đây không đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao trùm các hiệu quả vềmặt xã hội như vấn đề giải quyết công ăn việc làm tăng thu ngân sách, tiết kiệm ngoại tệ,tăng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước và đặc biệt là vấn đề môi trường Ngoài ra

DA được chọn để đầu tư còn phải phù hợp với mục tiêu phát triển xã hội của đất nước,của từng vùng địa phương mà DA này thực hiện và phải hoàn toàn tuân thủ các qui chếquản lý kinh tế, quản lý đầu tư xây dựng và các qui chế quản lý khác của nhà nước.Như vậy,việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước đánh giáchính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án với qui hoạch tổng thể, xác định được lợiích và hiệu quả xã hội của dự án, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế đề ra trong chiếclược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

V ẢNH HƯỞNG CỦA THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI CỦA DỰ ÁN.

Thẩm định dự án tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả Các kếtluận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các đơn vị, cơ quan có thẩm quyền của nhànước ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ cho dự án

Tại sao chúng ta phải thẩm định dự án đầu tư ? Dự án dù được chuẩn bị, phân tích

kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quan của nhà phân tích và lập dự án, nhữngkhiếm khuyết, lệch lạc tồn tại trong quá trình dự án là đương nhiên Để khẳng định đượcmột cách chắc chắn hơn mức độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng nhưquyết định đầu tư thực hiện dự án, cần phải xem xét, kiểm tra lại một cách độc lập vớiquá trình chuẩn bị, soạn thảo dự án, hay nói cách khác, cần thẩm định dự án

Thẩm định dự án giúp cho chủ đầu tư khắc phục được tính chủ quan của người soạnthảo và giúp cho việc phát hiện, bổ sung những thiếu sót trong từng nội dung phân tíchcủa dự án Thẩm định dự án là một bộ phận của công tác quản lý đầu tư, nó tạo ra cơ sởvững chắc cho việc thực hiện hoạt động đầu tư có hiệu quả

Dự án có vai trò rất quan trọng đối với các chủ đầu tư, các nhà quản lý và tác độngtrực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Nếu không có dự án, nền kinh tế sẽ khónắm bắt được cơ hội phát triển Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư,

Trang 16

xây dựng kế hoạch đầu tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư Dự án là căn cứ để tổchức tài chính đưa ra quyết định tài trợ , các cơ quan chức năng của nhà nước phê duyệt

và cấp giấy phép đầu tư Dự án còn được coi là công cụ quan trọng trong quản lý vốn, vật

tư, lao động trong quá trình thực hiện đầu tư Do vậy, hiểu được những đặc điểm của dự

án là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của dự án

(*Những đặc điểm cơ bản của dự án:

Một là, dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn hàm ý hành động vớimục tiêu cụ thể Nếu không có hành động thì dự án chỉ vĩnh viễn tồn tại ở trạng thái tiềmnăng

Hai là, dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà phảinhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực thể mới

Ba là, dự án tồn tại trong môi trường không chắc chắn Môi trường triển khai dự ánthường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong dự án rủi ro thường làlớn và có thể xảy ra Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ thành công của dự

án và là mối quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý dự án

Bốn là, dự án bị khống chế bởi thời hạn Là một tập hợp các hoạt động đặc thù phải

có thời hạn kết thúc Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất cơ hội phát triển,kéo theo những bất lợi, tổn thất cho nhà đầu tư và cho nền kinh tế

Năm là, dự án chịu sự rang buộc về nguồn lực Thông thường, các dự án bị ràngbuộc về vốn, vật tư, lao động Đối với dự án quy mô càng lớn, mức độ ràng buộc ràngbuộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp; mọi vấn đề có liên quan đến các vấn đềnảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đều bị chi phối bởi nhiều mối quan hệ, chẳnghạn, chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, các nhà tài trợ, nhân công, các nhà kỹ thuật… Xử

lý tốt các ràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án.)

Một dự án sẽ thành công nếu các đặc điểm của dự án được các nhà quản lý dự ánnhận biết và đánh giá một cách đúng đắn

Thẩm định dự án đã tạo ra tiền đề và quyết định sự thành công của các giai đoạn sauđến hiệu quả của hoạt động đầu tư Do đó, để dự án đi vào hoạt động tốt, với kết quả cao,cần phải có hoạt động thẩm định dự án trước khi quyết định đầu tư Thẩm định dự án làmột khâu quan trọng trong công tác chuẩn bị đầu tư

Trang 17

Chính vì vậy, đứng trên góc độ chủ đầu tư hay các doanh nghiệp, thẩm định dự ánđầu tư là để ra quyết định đầu tư, có nên triển khai dự án hay không, việc triển khai dự ánđem lại những lợi ích gì cho chủ đầu tư, so sánh chi phí sử dụng vốn với lợi ích đem lạicủa dự án, lựa chọn tỷ suất chiết khấu trong việc tính toán… Thẩm định dự án đầu tưnhằm giúp chủ đầu tư hay doanh nghiệp lựa chọn các dự án có tính khả thi cao (có khảnăng thực hiện, đem lại hiểu quả và hiệu quả chắc chắn); loại bỏ được các dự án đầu tưkhông khả thi, tránh bỏ lỡ các cơ hội đầu tư có lợi Mục đích của thẩm định dự án là giúpchủ đầu tư đánh giá tính hợp lý của dự án, tính hợp lý của dự án được thể hiện trong từngnội dung và cách thức tính toán của dự án, nó còn được thể hiện cả trong tính hiệu quả vàkhả năng thực hiện của dự án Giúp chủ đầu tư đánh giá tính hiệu quả của dự án bao gồm:hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế- xã hội, đánh giá độ an toàn của dự án đầu tư; đánhgiá khả năng thực hiện của dự án: đây là mục đích rất quan trọng trong thẩm định dự án.Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có khả năng thực hiện Mặt khác, tính hợp lý vàhiệu quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có thể thực hiện được.

Một dự án thành công khi đảm bảo được khả năng tài chính Đa phần các dự án đềucần hỗ trợ một nguồn vốn khá lớn từ các ngân hàng thương mại (NHTM) NHTM với tưcách là người cho vay, tài trợ cho dự án đầu tư đặc biệt quan tâm đến khía cạnh thẩmđịnh tài chính dự án, nó có ý nghĩa quyết định trong các nội dung thẩm định

Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM Các khoản cho vaythường chiếm 59% tích sản của NH và 65-70% lợi tức NH sinh ra từ các hoạt động chovay Trong các hoạt động của NH thì cho vay theo DA được NH đặc biệt quan tâm vì nóđòi hỏi vốn lớn, thời hạn kéo dài, rủi ro cao nhưng lợi nhuận cao Vô số các rùi ro khi chovay nói chung và cho vay theo DA nói riêng, xuất phát từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đếnviệc chi trả không được nợ khi đến hạn Do đó để quyết định có chấp nhận cho vay haykhông, NH cần phải coi trọng phân tích tín dụng nói chung và thẩm định tài chính DAnói riêng Thông qua việc thẩm định này, NH có 1 cái nhìn toàn diện về DA, đánh giátổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, tình hình sử dụng nguồn vốn và hiệu quả tài chính

Trang 18

học Quốc gia Hà Nội, Làng Văn Hóa các Dân tộc Việt Nam, Khu sinh thái NgọcLiệp, Khu đô thị Đồng Xuân – Tiến Xuân,…

- Ngay bên cạnh dự án của Đại học Quốc gia Hà Nội với quy mô tính đến năm 2010

là 35.000 sinh viên; đến năm 2020 là 41.000 sinh viên

- Ngày 12 tháng 10 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ban hành

Quyết định số 198/1998/QĐTTgvề việc thành lập Khu Công nghệ cao Hoà Lạc một dự án ưu tiên đầu tư hàng đầu của Chính phủ Việt Nam nằm tại Huyện ThạchThất, Tỉnh Hà Tây (cũ), nay thuộc Hà Nội Khu Công nghệ cao Hoà cách trungtâm Thủ đô Hà Nội 30 km về phía Tây, cách sân bay quốc tế Nội Bài 47 km vàcảng Hải phòng trên 100 km, gần các cơ sở mới của rất nhiều trường Đại học lớnnhư Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách Khoa Hà Nội, vv

Trang 19

-Phối cảnh tổng thể dự án khu công nghệ cao Hoà Lạc

- Khu Công nghệ cao Hoà Lạc được xây dựng theo mô hình trung tâm nghiên cứu

phát triển và ứng dụng công nghệ cao tầm cỡ quốc gia, nơi ươm tạo doanh nghiệpcông nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩmcông nghệ cao, bao gồm các khu chức năng: công nghiệp công nghệ cao, nghiêncứu và triển khai, công viên phần mềm, giáo dục và đào tạo, khu nhà ở, vănphòng, dịch vụ công nghệ cao Trong đó chú trọng phát triển các lĩnh vực côngnghệ cao ưu tiên như Công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm;Công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản và y tế; Công nghệ vi điện tử,

cơ khí chính xác, cơ - điện tử, quang điện tử và tự động hoá; Công nghệ vật liệumới, công nghệ nano; Công nghệ thân môi trường, công nghệ năng lượng mới

và một số công nghệ đặc biệt khác

- Với tổng diện tích 1586 ha, Khu Công nghệ cao Hoà Lạc sẽ được xây dựng theo

mô hình thành phố khoa học với đầy đủ các dịch vụ tiện ích Trong Khu Côngnghệ cao Hoà Lạc sẽ có những khu chức năng chính:

Nghiên cứu và triển khai(R&D) 229 14,44

Ngày đăng: 17/01/2018, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w