Lúc đầu, ở đâu có một mảnh trung mô thì ở đó có sinh máu nhưng dần dầnkhu trú hẳn về tủy xương, lách và hạch lympho; các dòng tế bào máu cũng đượchoàn thiện dần về số lượng, hình thái, c
Trang 1Sinh máu ở người là đỉnh cao của sự tiến hoá, quá trình sinh sản các tế bàomáu đạt tới mức hoàn thiện nhất với một cơ chế điều hoà tinh tế nhất Có thểchia sinh máu ở người thành ba thời kỳ chính là (1) sinh máu trong thời kỳ phôithai, (2) sinh máu ở thời kỳ sơ sinh và trẻ em, cuối cùng là (3) sinh máu ở ngườitrưởng thành.
Ngay từ ngày thứ 8 của phôi, sinh máu đã bắt đầu được manh nha bởi cáctiểu đảo Woll- Pander, gọi là sinh máu ở trung bì phôi Từ tuần thứ 4 trở đi, sinhmáu được thực hiện tại trung mô trong phôi mà rõ nhất là ở gan và lách Đếntháng thứ 3 thì tủy xương, hạch và tuyến ức cũng bắt đầu quá trình sinh máu.Sinh máu ở thời kỳ phôi thai là một quá trình biệt hoá không ngừng và rất mạnh
mẽ Lúc đầu, ở đâu có một mảnh trung mô thì ở đó có sinh máu nhưng dần dầnkhu trú hẳn về tủy xương, lách và hạch lympho; các dòng tế bào máu cũng đượchoàn thiện dần về số lượng, hình thái, chức năng và cả tính kháng nguyên bềmặt
Sau khi trẻ ra đời, sinh máu khu trú dần ở 3 cơ quan chính, trong đó tủyxương giữ vai trò chủ yếu Trong những năm đầu của cuộc đời, mỗi dòng tế bàomáu cũng vẫn tiếp tục có những biến đổi quan trọng Số lượng hồng cầu giảmdần xuống, huyết cầu tố F được thay thế bởi huyết cầu tố A, số lượng và thànhphần kháng nguyên bề mặt tế bào máu thay đổi, sự tương quan của các dòngbạch cầu (chủ yếu là bạch cầu hạt và lympho) cũng thay đổi Có thể coi sinhmáu ở giai đoạn sơ sinh và trẻ em là một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trongđời sống cá thể, là giai đoạn chuyển tiếp tạo ra những yếu tố cần thiết cho cơ thể
1
Trang 2thích nghi với ngoại cảnh Chính sự biến đổi thích nghi này đã làm cho sinh máu ởngười trưởng thành thật sự đạt tới mức hoàn thiện cao
2 Vi môi trường tủy xương
Trong cơ thể con người, chỉ duy nhất tủy xương có một vi môi trườngsinh máu hoàn hảo Tổ chức đệm tạo ra vi môi trường sinh máu, bao gồm toàn
bộ các yếu tố tế bào và gian bào cần thiết cho việc sinh máu Tổ chức đệm đượccấu tạo bởi các tế bào đệm và chất đệm gian bào
Tế bào đệm là tất cả các tế bào của hệ thống liên kết có mặt ở tủy xương,bao gồm hai thành phần chính là lớp tế bào "vỏ khoang" và các tế bào liên kếtkhác Lớp tế bào "vỏ khoang" được tạo thành bởi liên kết lỏng lẻo của các tếbào nội mô mạch máu và các tế bào liên võng ngoại mạc Cấu trúc này tạothành hàng rào ngăn cách tương đối giữa tế bào sinh máu và tuần hoàn tủyxương, giúp kiểm soát sự xâm nhập của tế bào lạ từ máu vào tủy xương; đồngthời điều hoà việc phóng thích tế bào trưởng thành từ tủy xương ra máu Tế bàoliên võng ngoại mạc tỏa các tua bào tương vào khoang sinh máu làm thànhkhung đỡ cho tế bào máu cư trú Các tế bào liên kết khác, bao gồm đại thực bào,lymphocyte, tạo cốt bào, huỷ cốt bào, tế bào xơ và tế bào mỡ, có vai trò sản xuất
ra các yếu tố điều hoà sinh máu (cytokin) và các protein của tổ chức đệm Các
tế bào sinh máu được phân tán trên nền xơ-mỡ của vi môi trường sinh máu Chất đệm gian bào bao gồm toàn bộ các protein ngoại bào của mô liênkết như proteoglycan, fibronectin, collagen, laminin, osteonectin, Các proteinnày đóng vai trò dẫn truyền thông tin điều hoà sinh máu trong tương tác giữa tếbào gốc và tế bào đệm
3 Tế bào gốc sinh máu
Tế bào gốc sinh máu (Stem cell) chiếm 0,01-0,05% tế bào tủy xương và córất ít ở máu ngoại vi (1/100 số lượng tế bào gốc ở tủy xương) Cũng có thể thấy
tế bào gốc ở lách và hạch nhưng thực ra đó là tế bào gốc từ máu ngoại vi đến.Trong quá trình phát triển, tế bào gốc sinh máu biệt hoá thành các tế bào máutrưởng thành có chức năng riêng biệt Người ta chia tế bào gốc sinh máu thành
4 loại
Trang 33.1 Tế bào gốc sinh máu vạn năng (Pluripotential stem cells) là tế bàogốc non nhất, phát triển sớm nhất, bao quát tất cả các dòng tế bào, có khả năngsống dài ngày và tái sinh sản tốt Người ta thấy chúng có hình thái giống cáclymphocyte nhưng không tạo hoa hồng với hồng cầu cừu và cũng không có khảnăng đáp ứng miễn dịch khi kích thích bằng kháng nguyên Tế bào gốc vạnnăng có nhóm quyết định kháng nguyên CD 34 Tế bào gốc vạn năng có chủyếu trong tủy xương nhưng cũng có một tỷ lệ nhỏ ở lách và ở máu ngoại vi.
3.2 Tế bào gốc sinh máu đa năng (Multipotential stem cells) phát triển
từ tế bào gốc sinh máu vạn năng Chúng có khả năng sinh tế bào gốc cho từngnhóm tế bào, còn gọi là tế bào gốc sinh máu định hướng như nhóm định hướngdòng tủy (myeloid) CFU-GEMM, nhóm định hướng dòng lympho (lymphoid)CFU-L
3.3 Tế bào gốc có khả năng sinh 2 dòng tế bào (Bipotential stemcells) Tế bào này chỉ sinh được 2 dòng tế bào như CFU-EM (Erythroid/Megakaryocyte) chỉ sinh ra hồng cầu và tiểu cầu, hoặc CFU-GM(Granulocyte/Macrophage) chỉ sinh ra bạch cầu hạt và bạch cầu monocyte/đạithực bào
3.4 Tế bào gốc chỉ có khả năng sinh ra một dòng tế bào và biệt hoá thành tế bào chín (Unipotential stem cells), còn gọi là tế bào gốc đặc hiệusinh dòng Đó là các tế bào mẹ của dòng hồng cầu (BFU-E, CFU-E), dòng bạchcầu hạt (CFU-G), bạch cầu ưa acid (CFU-Eo), bạch cầu ưa base (CFU-Ba) vàtiểu cầu (CFU-Meg)
4 Điều hoà sinh tế bào máu
Thông tin điều hoà sinh máu xuất phát từ sự tiếp xúc tế bào-tế bào, từ cáccytokin điều hoà sinh máu và từ chất đệm ngoài tế bào do tế bào liên kết trong
vi môi trường sinh máu tiết ra Các cytokin điều hoà sinh máu có thể tác dụngtrong giới hạn hẹp như EPO, TPO, CSF-G hoặc trong một giới hạn khá rộngnhư IL-3, IL-6, SF Tác dụng của cytokin có thể mang tính chất cộng hưởng(cùng chiều) hoặc đối kháng (ngược nhau) nhưng kết quả cuối cùng là điều hoàsinh máu có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của cơ thể
3
Trang 4Do nhu cầu cơ thể như thiếu oxy, nhiễm khuẩn, hoặc do các tác nhân gâygiảm một hay nhiều thành phần tế bào máu ngoại vi, thông qua các yếu tố pháttriển sẽ kích thích tăng sinh tế bào máu Các yếu tố phát triển bao gồm toàn bộcác protein kích thích phát triển tế bào máu, chúng được sản xuất từ lympho,bạch cầu mono, đại thực bào, tế bào nội mạch, nguyên bào xơ và các tế bàokhác Các chất kích thích phát triển kiểm soát quá trình tăng sinh và biệt hoá của
tế bào nguồn thành tế bào chín, ảnh hưởng đến chức năng của tế bào chín nhưchức năng bạch cầu trong nhiễm khuẩn, cần thiết cho sự phát triển của tế bàogốc vạn năng và tế bào đa năng dòng tủy và lympho
Cho đến nay, tác dụng trên sinh máu của rất nhiều yếu tố phát triển đãđược nghiên cứu cả in vitro và in vivo Có thể phân chia chúng thành các nhómsau đây:
- Các yếu tố phát triển không đặc hiệu, bao gồm các yếu tố kích thích đa dòng(Multi Colony Stimulating Factor) như IL-3, kích thích tạo cụm dòng hạt, đạithực bào, dưỡng bào, dòng hồng cầu và dòng mẫu tiểu cầu; các yếu tố phát triểnkích thích CSF-GM sinh dòng bạch cầu hạt và đại thực bào
- Các yếu tố phát triển đặc hiệu đơn dòng, như CSF-G, CSF-M, CSF-Eo, EPO,TPO
- Các interleukin khác như IL-7, IL-9, IL-10, IL-11, IL12, IL-13, yếu tố steel,FGF, PDGF, cũng có tác dụng kích thích phát triển hồng cầu, tiểu cầu, lympho
B, tế bào NK nhưng chúng can thiệp ở các giai đoạn muộn hơn trong tiếntrình tăng sinh và biệt hoá tế bào máu
Ngược lại với các yếu tố phát triển, các yếu tố ức chế sinh máu có thể canthiệp vào một hoặc nhiều khâu khác nhau, một hay nhiều dòng tế bào, hạn chếquá trình tăng sinh, biệt hoá và/hoặc chức năng của tế bào Có thể liệt kê tácdụng ức chế của một số yếu tố chính mà ngày nay đã được nhiều tác giả nghiêncứu sau đây:
- Yếu tố phát triển chuyển dạng 1, 2 ,3 (Transforming growth factor -TGF
): Tác dụng tương tác trên thụ thể serin-threonin kinase, ức chế BFU-E và S
Trang 5CFU H subunit ferritin: Ức chế BFUCFU E, CFUCFU GEMM và CFUCFU GM Nó ức chếCFU-GM bằng cách làm giảm tế bào đi vào chu kỳ phân bào, giảm số lượng tế bào
ở tủy xương và lách, giảm bạch cầu đoạn trung tính ở máu ngoại vi
- Interferon , , và TNF , làm giảm nhiều loại cytokin, ức chế IL-4, CFU-GM và CFU-G
- Prostaglandin E1 và E2 (PGE) ức chế trực tiếp CFU-M, CFU-GM, CFU-Gnhưng không ức chế CFU-E
- Lactoferrin là một protein gắn sắt, ức chế giải phóng CSF và IL-1
- Các chemokine (như Macrophage inflammatory protein 1 - 1,
MIP-2) ức chế CFU-S, CFU-GEMM, BFU-E và CFU-GM
- Các chuỗi peptide nhỏ như pentapeptide, seraspenide ức chế S, pre
CFU-S và CFU-GM do ức chế phân bào ở pha CFU-S
II QUÁ TRÌNH SINH CÁC TẾ BÀO MÁU
5
Tế bào gốc sinh T / NK
Tế bào gốc định hướng lympho
Tế bào gốc
vạn năng
Tế bào gốc sinh lympho B Tiền B sớm Tế bào
B
NK TCD4TCD8
Tương bào
Bạch cầu
ưa acid
Hồng cầu
Bạch cầu trung tính
Tế bào đuôi gai
Mono Tiểu cầu
Bạch cầu
ưa bazơ CFU-mast /
basophil
BFU - meg
CFU - GM BFU - e
CFU - Eos
CFU - e
CFU - G CFU - M
CFU - meg
Tế bào gốc sinh 2,3,4 dòng
Tế bào gốc định hướng dòng tuỷ
Tiền B Tiền T TCD4
TCD8
Trang 6Sơ đồ sinh sản các tế bào máu
1 HỒNG CẦU
Từ tế bào gốc dòng hồng cầu (CFU-e), dưới tác động của Erythropoietin(EPO), tế bào đầu dòng của hồng cầu được tạo ra, gọi là nguyên tiền hồng cầu(Proerythroblast) Đó là tế bào có kích thước lớn (đường kính khoảng 20- 25
m), nhân tròn, lưới màu nhân sáng và rất mịn với một hạt nhân nhạt, có khikhông thấy rõ hạt nhân Bào tương tròn đều, ưa base mạnh (xanh thẫm) do chứanhiều ribosom cần thiết cho việc tổng hợp một lượng lớn huyết cầu tố Thườngthấy khoảng sáng quanh nhân trên tiêu bản nhuộm giemsa Có khi thấy bàotương lồi ra tạo thành hình "giả túc"
Một nguyên tiền hồng cầu sinh ra hai nguyên hồng cầu ưa base I(Erythroblast basophil) và thành bốn nguyên hồng cầu ưa base II Tuy nhiên dướikính hiển vi quang học, không thể phân biệt được nguyên hồng cầu ưa base I vànguyên hồng cầu ưa base II Tính chất trưởng thành hơn (biệt hoá) so với nguyêntiền hồng cầu được thể hiện bởi sự ngưng tụ đặc biệt của chất nhân tạo thành từngcụm nhỏ thẫm màu, sắp xếp rất đều thành hình "nan hoa bánh xe" Kích thước tếbào nhỏ hơn nguyên tiền hồng cầu (đường kính 16-18m) Quá trình tổng hợphuyết cầu tố chỉ mới bắt đầu với một tỷ lệ rất thấp, do vậy trên tiêu bản nhuộmgiemsa gần như không nhận thấy sự thay đổi màu sắc của bào tương
Một nguyên hồng cầu ưa base sinh ra hai nguyên hồng cầu đa sắc(Erythroblast polycromatophil) Do bào tương đã có một lượng đáng kể huyếtcầu tố (màu da cam) được tổng hợp và vẫn còn tồn tại các ribosom (ưa base)nên bào tương có màu pha trộn giữa xanh và da cam (xám xanh) trên tiêu bảnnhuộm giemsa Tế bào có kích thước nhỏ hơn, đường kính khoảng 12-15 m
Trang 7Nhân thường tròn, nằm ở trung tâm bào tương, lưới màu nhân bắt đầu đông vónlại tạo nên hình ảnh những "cục" đều đặn Thông thường, các nguyên hồng cầu
đa sắc có khoảng sáng quanh nhân rất rõ nét
Đây là giai đoạn cuối cùng tế bào còn khả năng nhân đôi trong quá trình biệt hoá dòng hồng cầu
Nguyên hồng cầu ưa acid (Erythroblast acidophil) được tạo ra do nguyênhồng cầu đa sắc nhân đôi Giai đoạn này, sự tổng hợp huyết cầu tố đã gần xong,
tế bào không còn phân bào nữa Nguyên hồng cầu ưa a cid có đường kính 10-15
m Nhân tròn, nhỏ, màu rất sẫm nằm ở chính giữa tế bào và gần như sắp tan.Bào tương màu da cam, màu sắc gần như hồng cầu trưởng thành
Hồng cầu lưới là giai đoạn cuối cùng của sự trưởng thành dòng hồng cầu.Kích thước tế bào bằng hoặc to hơn hồng cầu trưởng thành một ít (đường kính7-11m) Nhân đã biến mất Trong bào tương còn lại một vài ty lạp thể vàribosom, làm cho tế bào còn khả năng tổng hợp một ít huyết cầu tố Khi nhuộm
tế bào bằng phương pháp tủa đặc biệt (nhuộm xanh cresyl), có thể quan sátđược vết tích nhân còn sót lại là hình lưới hoặc các hạt nhỏ bắt màu tím sẫmtrên nền bào tương xanh nhạt Hồng cầu lưới ở lại tủy xương khoảng 24 giờ thìđược phóng thích ra máu ngoại vi Tại đây, chúng tồn tại thêm 24-48 giờ nữa ởtrạng thái "lưới" rồi mất nhân hoàn toàn để trở thành hồng cầu trưởng thành.Hồng cầu lưới ở máu ngoại vi được coi là sự hiện diện của khả năng sinhh hồngcầu của tủy xương Khi hồng cầu lưới tăng nghĩa là tủy xương đang sinh hồngcầu mạnh mẽ
Ở máu ngoại vi, số lượng hồng cầu trưởng thành ở người khoẻ mạnh bìnhthường nói chung trong khoảng 4,0-6,0 x 10 12/l, tương ứng với lượng huyết cầu
tố 120 - 180 g/l Hồng cầu trưởng thành có hình đĩa lõm hai mặt, đường kính
7-8 m, dày 1-3m, không có nhân Trên tiêu bản máu nhuộm giemsa, hồng cầubắt màu đỏ hồng, ở giữa có khoảng sáng tròn
2 BẠCH CẦU
7
Trang 82.1 Bạch cầu dòng tủy
Tế bào gốc đa năng dòng tủy (CFU-GEMM: Granulocyte/ Erythroid/Monocyte/ Megakaryocyte) là tế bào gốc chung sinh ra các tế bào tiền thân củadòng hồng cầu, dòng tiểu cầu, dòng mono, dòng bạch cầu hạt trung tính, bạchcầu hạt ưa base và bạch cầu hạt ưa acid
2.1.1 Bạch cầu hạt
Dòng bạch cầu hạt trung tính được sinh ra từ tiền thân là CFU-G Tế bàođầu dòng có thể nhận dạng được bằng hình thái học là nguyên tủy bào(Myeloblast) Đây là tế bào to, tròn, đường kính khoảng 10-15m Nhân to,lưới màu nhân mịn, thường có một hạt nhân rõ Bào tương ưa base đậm, bắt đầu cócác hạt nhỏ mịn (0,2-1m) ưa azua- gọi là hạt sơ cấp Bằng phương pháp nhuộmhoá học tế bào, người ta thấy các hạt sơ cấp chứa men peroxydase, lysozyme,protease, hydrolase, phosphatase acid và một số peptid khác
Từ một nguyên tủy bào cho hai tiền tủy bào (Promyelocyte) Nhân tế bàođông đặc hơn, lưới màu thô hơn, hạt nhân nhỏ hoặc chỉ còn vết hoặc không thấynữa Đặc điểm đáng lưu ý là bào tương chứa nhiều hạt ưa azua, kích thước hạt
to hơn, bắt màu đỏ tím trên tiêu bản nhuộm giemsa, có một vùng sáng gần nhân
do bộ máy golgi phát triển
Đến tủy bào, tính chất biệt hoá của tế bào được thể hiện rõ nét Nhân nhỏlại, hình bán nguyệt, lưới màu nhân thô hơn, không còn hạt nhân Bào tương ưaacid hoặc có màu vàng nâu (trung tính) Bắt đầu xuất hiện hạt thứ cấp còn gọi làhạt đặc hiệu (0,1-0,3m) chứa collagenase, lactoferrin, phosphatase kiềm,protein gắn B12, plasminogen và các chất hoạt hoá bổ thể Các hạt trung tínhtăng dần đến bạch cầu đoạn
Hậu tủy bào là tế bào không còn khả năng phân bào Từ đây, tế bào chỉ
còn khả năng hoàn chỉnh sự trưởng thành của nó mà thôi Kích thước tế bào nhỏhơn tủy bào, nhân hình lưỡi liềm hoặc hình thận, lưới màu thô bắt mà rất thẫmtrên tiêu bản nhuộm giemsa
Trang 9Bạch cầu đoạn trung tính là tế bào trưởng thành thực hiện chức năng.Trước đây người ta gọi là bạch cầu đa nhân trung tính (nhiều nhân) Thực rachúng chỉ có một nhân mà thôi, bao gồm nhiều đoạn nối với nhau bởi một dâynối mảnh hoặc một eo nhỏ Thời gian biệt hoá và trưởng thành từ một tế bàogốc tiền thân (CFU-G) đến bạch cầu đoạn trung tính mất khoảng 1-2 tuần Bạchcầu đoạn trung tính lưu hành trong máu ngoại vi chỉ khoảng 1 ngày Sau đó,chúng xuyên mạch vào mô và sống thêm khoảng 1-2 ngày Ở máu ngoại vi, sốlượng bạch cầu đoạn trung tính đếm được khoảng 4,0 - 11,0 x 109/l Số lượngchính xác của bạch cầu đoạn trung tính ở máu ngoại vi khoảng gấp đôi số đếm
vì một nửa bạch cầu đoạn trung tính nằm sát thành mạch, không tham gia vàothành phần máu lưu hành Đường kính của tế bào khoảng 10-12 m
Bạch cầu hạt ưa acid và bạch cầu hạt ưa base chiếm một tỷ lệ nhỏ trongquần thể bạch cầu hạt Bạch cầu hạt ưa acid trưởng thành dễ nhận biết do cócác hạt màu da cam trong bào tương và nhân thường chia hai múi Số lượngbạch cầu hạt ưa acid trong máu khoảng 0,1-0,4 x 10 9/l và tồn tại khoảng 12 giờ.Đường kính tế bào 10-15 m
Bạch cầu hạt ưa base thường không gặp ở máu ngoại vi hoặc với một tỷ lệrất thấp trong một số trường hợp, nhất là bệnh lý tăng sinh tủy ác tính Nhânthường chia hai đoạn, bào tương có vài hạt lớn bắt màu xanh tím trên tiêu bảnnhuộm giemsa Đường kính tế bào khoảng 9-11 m
2.1.2 Bạch cầu mono
Trên tiêu bản máu nhuộm giemsa, bạch cầu mono có kích thước thay đổi từ
10 đến 20 m Nhân to hình hạt đậu, có thể thấy hạt nhân Bào tương rộng, màuxanh xám hoặc xám Có thể gặp không bào trong bào tương Trong bào tương
có ít hạt màu đỏ cam, bao gồm hai nhóm Nhóm hạt phổ biến chứa phosphataseacid và men peroxydase tương tự như hạt sơ cấp của bạch cầu hạt trung tính;nhóm còn lại vẫn chưa rõ chức năng Số lượng bạch cầu mono ở máu ngoại vikhoảng 1-6% số lượng bạch cầu
2.2 Bạch cầu dòng lympho
Tế bào mẹ (CFU-HL) của lympho chung được phát triển từ tế bào gốc sinhmáu vạn năng Từ đây, chúng phân chia (theo chức năng) thành ba nhóm chính
9
Trang 10là lympho T (85%), lympho B (10%) và NK- Natural killer cell (5-10%) Quátrình biệt hoá của các tế bào dòng lympho, về bản chất liên quan đến sự thêmvào và mất đi của hàng loạt các kháng nguyên bề mặt (Cluster of Differentiation
- CD) Hầu hết các kháng nguyên bề mặt chủ yếu được xác định bằng kháng thểđơn dòng Về hình thái, lympho được chia thành hai loại là lympho nhỏ có kíchthước tương tự hồng cầu trưởng thành (chiếm phần lớn) và lympho to có đườngkính 9-12m Đây là loại tế bào có nhân tròn, chiếm gần hết bào tương, khôngthấy hạt nhân
Phân bố của các CD trên tế bào
Kháng nguyên Phân bố Tên gọi hoặc chức năng
LangerhansCD2 Lympho T, tế bào NK Kháng nguyên biệt hoá Lympho T,
receptor hồng cầu cừu
receptor của kháng nguyên TCD4 Dưới nhóm Th/i Nhận diện miễn dịch giới hạn ở
MHC II
CD7 Lympho T, tế bào NK Có lẽ là receptor đối với Fc của
IgMCD8 Dưới nhóm Tc/s Nhận diện miễn dịch giới hạn ở
MHC I
Trang 113 TIỂU CẦU
Từ tế bào gốc đa năng dòng tủy (CFU-GEMM) sinh ra tế bào mẹ của dòngmẫu tiểu cầu (CFU-Meg), sau đó sinh ra tế bào đầu dòng mẫu tiểu cầu, gọi lànguyên mẫu tiểu cầu (Megakaryoblast) Quá trình nhân lên và biệt hoá của mẫutiểu cầu cho đến giai đoạn tiểu cầu ở người bình thường diễn ra ở tủy xương.Trong một số trạng thái bệnh lý (như tăng sinh tủy ác tính), quá trình này có thểxảy ra ngoài tủy xương
3.1 Giai đoạn mẫu tiểu cầu chưa có hạt
Tế bào non nhất của dòng mẫu tiểu cầu là Nguyên mẫu tiểu cầu(Megakaryoblast), chiếm khoảng 5% tổng số mẫu tiểu cầu trong tủy xương.Kích thước tế bào 20 - 50 m, tỷ lệ nhân/ bào tương lớn hơn 1, lưới màu nhânthô, bào tương rất ưa base và không có hạt
Mẫu tiểu cầu ưa base là tế bào thứ hai, tiếp theo nguyên mẫu tiểu cầu Kíchthước tế bào to hơn nguyên mẫu tiểu cầu, chiếm khoảng 15% tổng số mẫu tiểucầu trong tủy xương Tỷ lệ nhân/ bào tương xấp sỉ 1 Bào tương ưa base nhẹhơn nguyên mẫu tiểu cầu
3.2 Giai đoạn mẫu tiểu cầu có hạt
Bao gồm hai loại là mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu và mẫu tiểu cầu
có hạt đang sinh tiểu cầu, chiếm khoảng 70-80% mẫu tiểu cầu
Mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu có một nhân nhưng thường chianhiều múi, thỉnh thoảng có gặp hạt nhân Bào tương, bắt màu ưa acid trên tiêubản nhuộm giemsa, có nhiều hạt màu tím Màng bào tương còn nguyên vẹn
Mẫu tiểu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu chiếm tỷ lệ ít hơn mẫu tiểu cầu
có hạt chưa sinh tiểu cầu trên tiêu bản tủy đồ người bình thường vì sự phóngthích tiểu cầu xảy ra rất nhanh Hình thái của loại mẫu tiểu cầu này giống nhưmẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu, nhưng màng bào tương không cònnguyên vẹn mà bị rách nhiều đoạn, qua đó tiểu cầu được phóng thích ra khỏi
11