HOÀNG ANH NHƯ NGỌC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN Mã số:
Trang 1HOÀNG ANH NHƯ NGỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT
THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2HOÀNG ANH NHƯ NGỌC
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT
THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Nhƣ Ngọc
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 9
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DN 9
1.1.1 Tổng quan về tính thanh khoản 9
1.1.2 Lý thuyết khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản 11
1.1.3 Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty 14
1.1.4 Đo lường tính thanh khoản 15
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH TOÁN HIỆN HÀNH CỦA DOANH NGHIỆP 21
1.2.1 Quy mô của DN 21
1.2.2 Nợ ngắn hạn 22
1.2.3 Số vòng quay hàng tồn kho 22
1.2.4 Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) 23
1.2.5 Vốn lưu động ròng 23
1.2.6 Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng 24
Trang 51.3.1 Quy mô của DN 24
1.3.2 Tỷ lệ Lợi nhuận sau thuế/ Tổng doanh thu 25
1.3.3 Vốn lưu động ròng 26
1.3.4 Tốc độ tăng trưởng doanh thu 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM 29
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 29
2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32
2.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 32
2.2.3 Đo lường các biến trong mô hình 40
2.2.4 Mẫu nghiên cứu 41
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 49
3.2 SỰ TƯƠNG QUAN CỦA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 51
3.3 KẾT QUẢ HỒI QUY 54
3.4 KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH 60
3.5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 65
Trang 63.5.3 Mối quan hệ giữa Tỷ số thanh toán hiện hành và Vòng quay vốn
lưu động 71
3.6 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 72
3.6.1 Xem xét, thay đổi tình hình sử dụng nợ vay 73
3.6.2 Có chính sách về cấu trúc tài sản hợp lý 74
3.6.3 Tăng cường chất lượng quản trị tín dụng 75
3.6.4 Lên kế hoạch hợp lý khi có biến động doanh thu 77
3.6.5 Một số kiến nghị đối với địa phương và Nhà nước 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (BẢN SAO)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1 (BẢN SAO)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2 (BẢN SAO)
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 7CCC Cash Conversion Cycle – Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt
Khh Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành
Knhanh Tỷ số khả năng thanh toán nhanh
Ktt Tỷ số khả năng thanh toán tức thời
LM Lagrangian Multiplier – Kiểm định phương sai sai số thay đổi
LM
LNST Lợi nhuận sau thuế
OLS Mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất P/E Hệ số giá trên thu nhập một cổ phiếu
ROE Return on Equity – Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROA Return on total Assets – Tỷ suất sinh lời trên tài sản
REM Random Effect Model – Mô hình ành hưởng ngẫu nhiên
Trang 8Bảng 3.3.3a Kết quả mô hình Pooled Regression (Mô hình CR) 56 Bảng 3.3.4a Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (Mô hình CR) 56 Bảng 3.3.5a Kiểm định Hausman (Mô hình CR) 57
Bảng 3.3.6a Kết quả mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Mô hình
Bảng 3.3.5b Kiểm định Hausman (Mô hình VQLD) 60
Trang 9Bảng 3.4.2b Kiểm định Wooldridge (Mô hình VQLD) 63
Bảng 3.4.3b Mô hình FEM theo phương pháp Robust Error (Mô
Bảng 3.5.1 Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu
(Mô hình Tỷ số thanh toán hiện hành) 68 Bảng 3.5.2 Bảng so sánh kết quả và giả thuyết nghiên cứu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành công nghiệp thực phẩm – đồ uống đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Việt Nam Ngành thực phẩm
và đồ uống có vị trí đặc biệt quan trọng ở Việt Nam và có nhiều cơ hội để phát triển bởi đây là một ngành nằm trong chuỗi cung ứng - đầu ra của nông nghiệp, lĩnh vực có rất nhiều lợi thế cạnh tranh và đang được quan tâm phát triển Tỷ lệ các công ty tham gia vào ngành thực phẩm, đồ uống hiện đang chiếm vị trí hàng đầu trong các ngành sản xuất, chế biến ở Việt Nam Nguyên nhân bởi Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới có nguồn nguyên liệu phong ph , đa dạng là đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến Đất nước đang phát triển, thu nhập của người dân không ng ng tăng và lối sống thay đổi đặc biệt là tại các trung tâm thành phố, mang lại nhu cầu về tiêu thụ nhiều đồ ăn nhẹ, thực phẩm tiện dùng và đắt tiền Thị trường trong nước lớn với chi phí lao động thấp và quá trình tư nhân hóa các công ty thực phẩm khiến thị trường này có sức sống mãnh liệt Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành này là động lực cho một thị trường năng động
và kích thích phát triển Với Việt Nam, ngành chế biến thực phẩm, đồ uống là ngành có nhiều tiềm năng
Để các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam hoạt động hiệu quả nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế, bên cạnh các chính sách hỗ trợ t các cơ quan quản lý Nhà nước thì bản thân công ty phải có những chiến lược và chính sách đ ng đắn Một trong những vấn đề cần được quan tâm nhất là nâng cao tính thanh khoản của công ty Muốn vậy, nhà quản lý cần phải biết được những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính thanh khoản để t đó đề
ra các chính sách hợp lý giúp cho hoạt động kinh doanh của công ty an toàn
và hiệu quả
Trang 12Tuy nhiên, hiện nay công tác nghiên cứu về tính thanh khoản và những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty Việt Nam còn một
số hạn chế do các nhà quản lý công ty chưa tìm hiểu sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản
T những lý do trên, sau một thời gian tìm hiểu về ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống, tôi cho rằng việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty thuộc nhóm ngành này là một vấn đề có ý
nghĩa khoa học và thực tiễn Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hướng đến hai mục tiêu chính:
- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam
- Dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra một số hàm ý chính sách và kiến nghị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: các công ty sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: gian đoạn 2013-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Trên cơ sở Báo cáo tài chính theo năm của các công ty thuộc ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị
Trang 13trường chứng khoán Việt Nam, tác giả thu thập số liệu của các chỉ tiêu nghiên cứu trong ba năm 2013, 2014 và 2015
Phương pháp xử lý và phân tích thông tin: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng trong suốt quá trình xử lý
số liệu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã trình bày những nhân tố và mức độ ảnh hưởng của t ng nhân tố
đó đến khả năng thanh khoản của các công ty ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống T đó cho thấy đặc thù về khả năng thanh khoản cũng như những nhân
tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngành sản xuất và chế biến thực phẩm, đồ uống tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các công ty ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán nói riêng và các công ty ngành thực phẩm, đồ uống nói chung đề ra phương hướng, chiến lược, giải pháp để nâng cao khả năng thanh khoản thông qua kế hoạch cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của công ty
6 Bố cục đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 147 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty, các tác giả đã dùng nhiều phương pháp khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm ở những công ty thuộc nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau trong những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Cụ thể như một số nghiên cứu sau đây:
Trước tiên phải kể đến một trong những lý thuyết nổi bật nhất của tính thanh khoản là “lý thuyết ưu chuộng tính thanh khoản” trong nghiên cứu mang tên “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes (1936) Ông đưa ra ba động cơ
lý giải cho mục đích nắm giữ tiền mặt của con người, đó là: giao dịch, dự phòng
và đầu cơ Học thuyết của Keynes đã trở thành nền tảng lý thuyết cho các nghiên cứu sau này của nhiều tác giả khác phát triển theo đó [17]
Bruinshoofd và Kool (2004) đã tiến hành thực nghiệm về khả năng thanh khoản ngắn hạn của các công ty Hà Lan Nghiên cứu sử dụng dữ liệu 453 DN giai đoạn 1986–1997 Các tác giả xem xét yếu tố quy mô, vốn lưu động, tài sản, doanh thu, tổng nợ, nợ ngắn hạn, đầu tư, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập không chắc chắn, lãi suất bình quân là biến độc lập Kết quả cho thấy vốn lưu động, đầu tư và lợi nhuận trên tài sản lại có tác động tiêu cực đến khả năng thanh khoản của công ty [12]
Opler và cộng sự (1999) đã thực nghiệm các yếu tố tác động đến thanh khoản của 1048 công ty Mỹ t 1971 đến 1994 Kết quả cho thấy thanh khoản
có mối tương quan ngược chiều đến quy mô, vốn lưu động, đòn bẩy, chi trả
cổ tức Ở chiều ngược lại, tỷ lệ dòng tiền/tài sản, tỷ lệ chi tiêu vốn/tổng tài sản, rủi ro ngành, và tỷ lệ chi phí nghiên cứu phát triển/doanh thu có tương quan cùng chiều với thanh khoản Các tác giả kết luận rằng các công ty lớn có
Trang 15sự tiếp cận thị trường vốn tốt hơn sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn, khiến chỉ số thanh khoản kém hơn [21]
Afza và Adnan (2007) nghiên cứu về những yếu tố của việc nắm giữ tiền mặt trong các công ty ở Pakistan Afza và Adnan thu thập mẫu gồm 205 công
ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 1998-2005 Nghiên cứu của họ cho thấy rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn hơn có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn để tạo một điểm tựa an toàn cho các hoạt động của công ty được trôi chảy [10]
Kim, Mauer và Sherman (1998) nghiên cứu những yếu tố quyết định tính thanh khoản của công ty Họ thu thập mẫu gồm 915 công ty công nghiệp ở
Mỹ trong giai đoạn 1975-1994 Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có mối quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính bên ngoài và đầu tư vào tài sản lưu động Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn có xu hướng đầu tư vào tài sản lưu động nhiều hơn Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh lời của tài sản [18]
Với mẫu nghiên cứu trong 3 năm 2008–2010, Gill và Mathur (2011) đã chọn 164 công ty trên thị trường chứng khoán Toronto, Canada nhằm tìm ra các yếu tố tác động đến thanh khoản của công ty Quy mô, vốn lưu động ròng,
tỷ lệ nợ, nợ ngắn hạn, tỷ lệ đầu tư và yếu tố ngành có tác động đến thanh khoản của công ty Các biến có tác động ngược chiều đến thanh khoản là tỷ lệ
nợ, vốn lưu động ròng và tỷ lệ đầu tư [15]
Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lưu động và nghiên cứu ảnh hưởng của vốn lưu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm được niêm yết trên thị trường chứng khoán Karachi trong thời gian t 2006-2010 Usama kiểm tra tác động của quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng
Trang 16quay hàng tồn kho, tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty Qua phân tích hồi quy, kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến lợi nhuận và thanh khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của công ty [19]
Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với quy mô công ty, vốn lưu động và lợi nhuận của các công ty ngành công nghiệp ở Pakistan Dữ liệu thu thập được t các báo cáo tài chính năm 2009 của 157 công ty đại ch ng được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa chiều dài chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhưng có mối quan hệ tích cực với quy mô và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) [20]
Isshaq và Bokpin (2009) thu thập dữ liệu hàng năm giai đoạn 1991-2007 tại Ghana để đánh giá mối quan hệ giữa thanh khoản, quy mô, vốn lưu động,
tỷ lệ đầu tư và lợi nhuận trên tài sản Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, lợi nhuận trên tài sản, vốn lưu động và tỷ lệ đầu tư có mối quan hệ cùng chiều với khả năng thanh khoản của công ty [16]
Chen và Mahajan (2010) nghiên cứu các công ty t 45 quốc gia giai đoạn 1994-2005 Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá khả năng thanh khoản của công ty thông qua biến quy mô, dòng tiền/tài sản, vốn lưu động/tài sản, chi phí vốn/tài sản, tỷ lệ nợ, chi trả cổ tức Nghiên cứu cho thấy dòng tiền có tác động cùng chiều trong khi vốn lưu động/tài sản và tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều với khả năng thanh khoản [13]
Ferreira và Vilela (2004) nghiên cứu các yếu tố quyết định tính thanh khoản của 400 công ty tại 12 quốc gia EU bao gồm Đức, Áo, Pháp, Hy Lạp,
Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ, Ireland, Phần Lan và Luxemburg giai đoạn 1987-2000 Kết quả cho thấy tính thanh khoản chịu ảnh hưởng cùng
Trang 17chiều với cơ hội đầu tư và lưu chuyển tiền tệ của công ty Trong khi đó, đòn bẩy, quy mô công ty và nợ có ảnh hưởng ngược chiều đến tính thanh khoản [14]
Ở Việt Nam, bài báo của PGS.TS.Trương Quang Thông (2013) nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ngân hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng và tỷ lệ vốn
tự có trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát [8]
Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng Thu (2014)
đã nghiên cứu định lượng các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các công ty đang niêm yết (tr các tổ chức tài chính) tại thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE, HNX) Dữ liệu nghiên cứu được trích t báo cáo tài chính t năm 2007 – 2013 Nghiên cứu đã cho thấy khả năng thanh khoản của các DN niêm yết giai đoạn 2007 – 2013 bị ảnh hưởng nhiều nhất t tỷ lệ vốn lưu động thuần và tỷ số P/B Các yếu tố trên cũng có tương tác cùng chiều với khả năng thanh khoản bên cạnh tỷ số P/E và tỷ lệ lưu chuyển tiền thuần Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có tương quan
âm đến khả năng thanh khoản [6]
Tuy nhiên, mỗi một DN đều có một đặc điểm riêng, và mỗi quốc gia khác nhau có các chính sách kinh tế và tốc độ tăng trưởng khác nhau Tất cả những yếu tố này đều ảnh hưởng đến tính thanh khoản Chính vì vậy, đối với nền kinh tế của Việt Nam nói chung và ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống nói riêng, tác giả có thể vận dụng và đưa ra thêm các nhân tố ảnh hưởng đối với tính thanh khoản sao cho phù hợp nhất đối với đặc điểm kinh tế cũng như đặc điểm điểm ngành của bài nghiên cứu Vì vậy, khác với các nghiên cứu
Trang 18trước đây, với không gian và thời gian nghiên cứu hoàn toàn mới tác giả sẽ lựa chọn, sử dụng và kiểm định mô hình phù hợp với ngành công nghiệp thực phẩm t đó cho cái nhìn khách quan và cụ thể nhất về mối quan hệ giữa các biến phụ thuộc và biến độc lập Hai mô hình được lựa chọn để đo lường tính thanh khoản trong bài nghiên cứu này là: Tỷ số thanh toán hiện hành và Vòng quay vốn lưu động
Trang 19Theo t điển Cambridge, tính thanh khoản là tính chất dễ dàng quy đổi thành tiền hoặc các khoản tương đương của các khoản đầu tư hoặc tài sản Bên cạnh đó, tính thanh khoản chính là khả năng bán nhanh chóng và dễ dàng của tài sản mà không phải chịu bất cứ tổn thất nào Những tổn thấy ở đây có thể là do sự thay đổi giá hoặc các loại phí giao dịch Khi nhà đầu tư cân nhắc đầu tư vào tài sản đó, họ cần phải cân nhắc khả năng có thể bán được tài sản
đó trong tương lai hay không, chi phí bỏ ra để mua tài sản là bao nhiêu và dòng tiền trong tương lai đem lại cho nhà đầu tư như thế nào Chi phí giao dịch tốn kém và khả năng giá giảm trong tương lai khi bán không phải chỉ liên quan đến các tài sản tài chính như cổ phiếu mà bao gồm tất cả các loại tài sản Các loại tổn thất này được gọi là chi phí do thiếu tính thanh khoản
Trong đề tài khóa luận này, tác giả sử dụng định nghĩa tính thanh khoản như sau:
Tính thanh khoản là khả năng nhanh chóng chuyển tài sản thành tiền
mà không phải chịu chi phí cao và khoảng thời gian cho giai đoạn chuyển thành tiền là ngắn Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải
Trang 20thu,…có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán
hay chi tiêu Các cách gọi thay thế cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu động
Một tài sản gọi là thanh khoản khi mà thị trường của tài sản đó có nhiều
người mua và người bán Tài sản có tính thanh khoản càng cao thì mức độ rủi
ro càng thấp Như vậy, tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng
được trực tiếp để thanh toán, lưu động, tích trữ Do vậy, tính thanh khoản cũng là một trong những chức năng của tiền tệ Còn hàng tồn kho có
tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi t khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt
Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính lỏng của chứng khoán giao dịch càng cao
Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, các nhà đầu tư nên xem xét đến khả năng bán lại trước khi ch ng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, nhà đầu tư sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn Điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán
Nhà kinh tế học Keynes (1936) [17] đã chỉ ra rằng tính năng kinh tế đặc biệt của tiền đó chính là “tính thanh khoản” Tính thanh khoản của DN thể hiện thông qua tính thanh khoản của các loại tài sản và dễ dàng nhận thấy
Trang 21rằng tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất Chính nhờ tính thanh khoản này, DN tránh được những tác động tiêu cực và những “c sốc” về dòng tiền không mong đợi
1.1.2 Lý thuyết khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản
Khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản là một trong những lý luận liên quan đến nhu cầu tiền tệ mà John Maynard Keynes đã nêu ra trong các tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (tên gốc tiếng Anh: The General Theory of Employment, Interest and Money) và trở thành một trong những lý luận quan trọng của kinh tế học Keynes
Nội dung của lý luận này được diễn đạt như sau: Nhu cầu về tiền mặt của mọi người gồm hai bộ phận:
Một là, nhu cầu tiền mặt cho giao dịch Lượng cầu tiền mặt này là hàm
số thuận của thu nhập Con người kinh tế điển hình hễ có thu nhập nhiều hơn thì tiêu dùng nhiều hơn
Hai là, nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu cơ Lượng cầu tiền mặt thứ hai này là hàm số nghịch của lãi suất Lãi suất càng hấp dẫn thì người ta càng
ít giữ tiền mặt Lãi suất kém hấp dẫn thì có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn Nói cách khác, lãi suất chính là cái giá để người ta hy sinh sự ưa chuộng tính thanh khoản của tiền mặt (quyết định xu hướng giữ tiền)
Các giả thiết của Keynes đưa ra trong khuôn mẫu này là:
Giả thiết thứ nhất: Người ta dùng hai loại tài sản chính để làm của cải
dự trữ của mình là trái phiếu và tiền mặt Giả thiết này làm cho khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản bỏ qua các tác động của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận
dự tính của các loại tài sản thực khác như bất động sản, vàng, xe ô tô,…
Với giả thiết chỉ có hai loại tài sản nên tổng của cải trong nền kinh tế bằng tổng khối lượng trái phiếu và tiền mặt cộng lại và bằng tổng lượng cung trái phiếu (Bs) cộng với tổng lượng tiền cung ứng (Ms) Tổng lượng trái phiếu
Trang 22mà mọi người muốn mua (Bd) và số tiền mà mọi người muốn giữ (Md) phải bằng với tổng lượng cung trái phiếu và cung tiền do mọi người không thể mua nhiều tài sản hơn số nguồn lực mà họ nắm giữ Như vậy lượng cung trái phiếu
và tiền phải bằng với lượng cầu trái phiếu và tiền:
Bs + Ms = Bd + Md
Biến đổi Phương trình này ta có: Bs – Bd = Md – Ms
T phương trình trên ch ng ta nhận thấy rằng nếu thị trường của tiền tệ cân bằng, tức là Md = Ms, thì thị trường trái phiếu cũng phải cân bằng, tức là
Bs = Bd
Như vậy, việc phân tích khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản (Cung – cầu tiền tệ) cũng tương đương với việc phân tích khuôn mẫu tiền vay (Cung – cầu trái phiếu)
Giả thiết thứ hai: Tiền mặt không mang lại lợi nhuận và trái phiếu có tỷ suất lợi nhuận dự tính bằng với lãi suất thực Như vậy, khi lãi suất tăng, tỷ suất lợi nhuận dự tính của tiền giảm một cách đáng kể so với trái phiếu và theo Lý thuyết lượng cầu tài sản – Lượng cầu của một tài sản tỷ lệ thuận với
tỷ suất sinh lời dự kiến của loại tài sản đó so với các tài sản khác, cầu về tiền
sẽ giảm xuống, cầu trái phiếu tăng lên
Có thể giải thích giả thiết trên dựa vào khái niệm “Chi phí cơ hội” Chi phí cơ hội của một loại tài sản (trong trường hợp này là tiền) là khoản lợi nhuận bị mất đi do không nắm giữ loại tài sản thay thế khác Khi lãi suất tăng, chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng tăng lên (khoản lợi nhuận bị mất đi do không nắm giữ trái phiếu) và tiền trở nên kém hấp dẫn hơn, nhu cầu về tiền sẽ giảm xuống
Giả thiết thứ ba: Lượng cung tiền là do Ngân hàng trung ương kiểm soát và không thay đổi trong ngắn hạn
Trang 23Lãi suất luôn có xu hướng đi về điểm cân bằng Khi lãi suất quá cao, lượng tiền dư th a sẽ được chuyển vào thị trường trái phiếu Cầu trái phiếu tăng lên làm giá trái phiếu tăng lên và lãi suất giảm đi Lãi suất sẽ giảm cho đến lúc thị trường trái phiếu và tiền tệ cân bằng và d ng lại ở mức lãi suất (x)% (và ngược lại)
Có thể dễ dàng thấy rằng ứng với mỗi một mức cung – cầu tiền sẽ xác định được một lãi suất cân bằng tương ứng Cho nên có thể nói những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung – cầu tiền tệ trên thị trường cũng sẽ ảnh hưởng đến sự biến động của lãi suất trên thị trường Khuôn mẫu ưa thích tính thanh khoản cho thấy lãi suất cân bằng thay đổi khi các đường cung, cầu tiền tệ dịch chuyển
Ưu điểm của Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản:
- Giải thích được tác động của cung – cầu tiền tệ đến lãi suất cân bằng
- Đưa ra được kết quả quan trọng: Việc tăng cung tiền tệ sẽ làm giảm lãi suất => ở nhiều nước đã ứng dụng để thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ khi muốn giảm lãi suất để kích thích đầu tư và tiêu dùng
Nhược điểm của Lý thuyết ưa chuộng tính thanh khoản:
- Lý thuyết này giả định rằng người ta chỉ sử dụng tiền và trái phiếu để làm của cải dự trữ, dẫn đến bỏ qua tác động của sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận
dự tính của các loại tài sản thực khác: bất động sản, vàng,… Trong khi trên thực tế, các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường
- Chỉ nghiên cứu sự thay đổi của lãi suất cân bằng bởi một yếu tố kinh
tế cụ thể trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Trên thực tế, các yếu tố kinh tế thường thay đổi đan xen => Lãi suất chịu sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố
- Cung tiền và lãi suất không phải l c nào cũng tỷ lệ nghịch với nhau bởi sự gia tăng cung tiền ngoài việc tác động trực tiếp lên lãi suất còn có
Trang 24những tác động trực tiếp lên các yếu tố khác như: thu nhập, mức giá và tỷ lệ lạm phát dự tính Các yếu tố này thay đổi do cung tiền tăng cũng có thể làm lãi suất tăng lên
Sau Keynes cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về thuyết ưa chuộng tính thanh khoản Thuyết ưa chuộng thanh khoản đưa ra những lựa chọn xác định bao nhiêu của cải được đầu tư vào các tài sản tài chính và quan tâm đến sự phân bổ số của cải này vào tiền mặt và các tài sản tài chính thay thế khác Hay nói cách khác, ưa thích tính thanh khoản là một lý thuyết về việc mong muốn giữ tài sản ngắn hạn hơn so với các tài sản dài hạn làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của một DN
1.1.3 Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty
Một công ty không thể trả nợ đ ng hạn và không thể tiếp tục giữ đ ng nghĩa vụ thanh toán của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và hàng hóa thì công ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá sản Không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến hoạt động của công ty và trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nhiều đến uy tín của công ty
Thiếu tiền mặt hoặc tài sản lưu động sẽ làm cho công ty bỏ lỡ những ưu đãi được đưa ra bởi các nhà cung cấp Mất ưu đãi như vậy có thể dẫn đến chi phí cao hơn, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty
Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một công ty Các nhà cung cấp sẽ kiểm tra tính thanh khoản của công ty trước khi cho vay hay bán chịu Thanh khoản đôi khi được yêu cầu bởi các ngân hàng khi họ đánh giá một khoản cho vay Nếu công ty cần một khoản vay, ngân hàng có thể sẽ yêu cầu công ty đó duy trì mức thanh khoản tối thiểu nhất định, như một phần của thỏa thuận cho vay Vì lý do đó, các bước cải thiện thanh khoản là cần thiết
Trang 25Các nhân viên cũng quan tâm đến tính thanh khoản của công ty để biết liệu các công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến quyền lợi của mình như: tiền lương, quỹ phúc lợi,…
Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động kinh doanh thì tính thanh khoản được xem như là mạch máu duy trì sự sống của công ty Một khi công ty bị mất tính thanh khoản thì sẽ không thể thanh toán được các khoản nợ và tất nhiên sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ Lúc này khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản chỉ còn là vấn đề thời gian nếu DN không kịp thời khôi phục được tính thanh khoản Do đó, việc hiểu rõ về tính thanh khoản của công ty giúp cho các nhà quản lý kinh doanh tránh được rủi ro thanh khoản trong tương lai
1.1.4 Đo lường tính thanh khoản
Trong quan hệ thanh toán, hầu hết các DN đều có xu hướng thực hiện việc tài trợ vốn thông qua vay nợ ngắn hạn Vấn đề đặt ra là liệu DN có khả năng thanh toán và thanh toán đ ng hạn các khoản nợ? Đây là câu hỏi, không chỉ bản thân DN mà các ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư, cũng rất quan tâm Để trả lời câu hỏi trên thì phải đo lường tính thanh khoản của DN Các
DN chủ yếu sử dụng tỷ số thanh toán để đo lường tính thanh khoản, do các tỷ
số này cho biết khả năng của một DN trong việc dùng các tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Tuy nhiên, mỗi tỷ số đều có những ưu và nhược điểm riêng trong việc đo lường tính thanh khoản Sau đây, tác giả sẽ tập trung phân tích những hạn chế của các tỷ số thanh toán này
Thứ nhất, tỷ số thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ giữa toàn bộ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của DN và được tính như sau:
Trang 26DN tốt Nếu như, trong điều kiện thị trường có những biến động xấu, hàng tồn kho bị ứ đọng, kém phẩm chất làm cho hàng tồn kho khó hoán chuyển thành tiền Lúc này, DN khó có thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn mặc dù
tỷ số thanh toán hiện thời cao Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện thời không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của DN
Thứ hai, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tương tự như khả năng thanh toán hiện hành nhưng tỷ số này loại bỏ phần tài sản tồn kho trên tử số Vì đó
là bộ phận phải dự trữ thường xuyên cho kinh doanh mà giá trị của nó và thời gian hoán chuyển thành tiền không chắc chắn Cụ thể, tỷ số này được tính như sau:
Knhanh = (TSNH – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn = (Tiền + ĐTNH + Nợ phải thu)/Nợ ngắn hạn
Theo công thức trên, ta thấy trong tài sản ngắn hạn được dùng để thanh toán nợ ngắn hạn của tỷ số thanh toán nhanh bao gồm các khoản nợ phải thu nhưng không phải l c nào DN cũng có thể thu hồi được và thu hồi đ ng hạn các khoản phải thu này Khi đó, tỷ số khả năng thanh toán hiện hành sẽ không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của DN
Hạn chế của hai chỉ tiêu này là dựa trên khái niệm thanh lý toàn bộ tài sản ngắn hạn của công ty kể cả những tài sản khó hoán chuyển thành tiền để đáp ứng tất cả các khoản nợ ngắn hạn Trong một số trường hợp, chính hạn chế này khiến tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh không phản ánh chính xác khả năng thanh khoản của DN Ví dụ sau đây, sẽ minh họa cho sự hạn chế của việc sử dụng hai tỷ số thanh toán trên trong việc đo lường tính thanh khoản của DN, giả sử có số liệu của hai DN A và B như bảng sau:
Trang 27Bảng 1.1.4 Ví dụ về tính thanh khoản
1 Tài sản ngắn hạn 1.500.000.000 1.000.000.000 Trong đó: a Hàng tồn kho 800.000.000 400.000.000
b Nợ phải thu 600.000.000 350.000.000
3 Giá vốn hàng bán trung bình ngày 5.000.000 5.000.000
4 Doanh thu trung bình ngày 7.000.000 7.000.000
5 Tỷ số thanh toán hiện hành: (5) = (1)/(2) 4,29 2,86
6 Tỷ số thanh toán nhanh: (6) = [(1)-(a)]/(2) 2,00 1,71
7 Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho: (7) = (a)/(3) 160 ngày 80 ngày
8 Kỳ thu tiền khách hàng: (8) =(b)/(4) 86 ngày 50 ngày
9 Kỳ thanh toán cho nhà cung cấp:
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Dựa vào số liệu trên cho thấy, DN A có tỷ số thanh toán hiện hành là 4,29 và tỷ số thanh toán nhanh là 2,00 Trong khi đó, DN B có tỷ số thanh toán hiện hành là 2,86 và tỷ số thanh toán nhanh là 1,71 Nhƣ vậy, nếu chỉ dựa vào khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh thì khả năng thanh toán của DN A là tốt hơn DN B Nhƣng đi sâu phân tích ch ng, ta thấy: DN A cần 86 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất 160 ngày để hàng tồn kho quay hết 1 vòng DN B cần 50 ngày để thu hồi các khoản phải thu và mất 80 ngày để hàng tồn kho quay hết 1 vòng
Nhƣ vậy, trong ví dụ trên DN A là rất kém thanh khoản Mặc dù, DN A
có tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh rất cao Vì các khoản
nợ phải trả của DN A đến nhanh hơn so với tốc độ chuyển đổi hàng tồn kho
và các khoản phải thu sang tiền mặt Trong khi đó, DN A không thể thanh
Trang 28toán các khoản nợ phải trả đến hạn mà không phải bằng tiền mặt Lúc này,
DN B có thanh khoản tốt hơn DN A vì quá trình chuyển đổi của hàng tồn kho
và nợ phải thu nhanh hơn
Thứ ba, tỷ số khả năng thanh toán tức thời: Đây là tỷ số thể hiện mối quan hệ giữa tiền và tương đương tiền so với nợ ngắn hạn:
Nhận xét, việc sử dụng ba tỷ số thanh toán nêu trên trong việc đo lường tính thanh khoản có những hạn chế nhất định, chưa đủ để đánh giá chính xác tính thanh khoản của DN Vì vậy, để khắc phục được những hạn chế trên thì ngoài ba tỷ số khả năng thanh toán, DN có thể vận dụng chỉ số Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (Cash Conversion Cycle-CCC) Đây là chỉ số được Verlyn Richards và Eugene Laughlin giới thiệu vào năm 1980 trong bài viết “Một sự tiếp cận chu kỳ chuyển đổi tiền mặt để phân tích tính thanh khoản” [22] Nói cách khác, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt phản ánh độ dài của thời gian mà một
DN bán hàng tồn kho, thu các khoản phải thu và trả các khoản phải trả của mình Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được tính theo công thức sau:
Trang 29 CCC = ICP + RCP – PDP
Trong đó:
- ICP là kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (Inventory Conversion Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày của một vòng quay hàng tồn kho và được tính như sau:
ICP = Giá trị hàng tồn kho bình quân/Giá vốn hàng bán trung bình ngày
- RCP là kỳ thu tiền khách hàng (Receivable Conversion Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân của một chu kỳ nợ, t khi bán hàng đến khi thu tiền và được tính như sau:
RCP = Số dư bình quân nợ phải thu/Doanh thu trung bình ngày
- PDP là kỳ thanh toán cho nhà cung cấp (Payable Deferral Period): Chỉ tiêu này phản ánh số ngày DN cần để thanh toán các khoản phải trả của mình
và được tính như sau:
PDP = Số dư bình quân nợ phải trả/Giá vốn hàng bán trung bình ngày
T công thức tính CCC, ta thấy chỉ tiêu này càng thấp sẽ rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, giảm lượng vốn lưu động bị ứ đọng, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng tính thanh khoản cho DN
Ví dụ trên, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của DN A và B lần lượt được tính như sau:
CCCA = ICPA + RCPA – PDPA = 160 + 86 – 70 = 176 (ngày)
CCCB = ICPB + RCPB – PDPB = 80 + 50 – 70 = 60 (ngày)
Dựa vào kết quả tính toán trên, ta thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của
DN B (60 ngày) ngắn hơn DN A (176 ngày), tức là tính thanh khoản của DN
B tốt hơn DN A
Bên cạnh đó, chỉ số vòng quay vốn lưu động cũng có thể được xem xét
để đánh giá chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của một DN Một DN có thể có lợi nhuận nhưng khả năng thanh khoản thấp nếu tài sản của nó không thể dễ dàng
Trang 30được chuyển đổi thành tiền mặt Việc quản lý vốn lưu động liên quan đến quản lý hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả và tiền mặt Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu t việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong DN tổ chức tiêu thụ để thu
về một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưu động DN sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các DN phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn t ng đồng vốn lưu động làm cho mỗi đồng vốn lưu động hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tức là có thể tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, rút ngắn thời gian vốn lưu động nằm trong các khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông, t đó giảm bớt số lượng vốn lưu động chiếm dùng, tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển Thông qua việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, DN có thể giảm bớt số vốn lưu động chiếm dùng mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh như cũ hoặc với quy mô vốn lưu động không đổi DN vẫn có thể mở rộng được quy mô sản xuất
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một DN làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến nhất vẫn
là việc sử dụng vốn không hiệu quả trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí vốn lưu động, tốc
độ luân chuyển vốn lưu động thấp, mức sinh lợi kém và thậm chí có DN còn gây thất thoát, không kiểm soát được vốn lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán Do đó, tác giả nhận thấy cần
Trang 31phải xem xét chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động để đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động và khả năng thanh khoản của một DN
T những nghiên cứu trước đây về Tính thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của DN, có thể thấy tính thanh khoản được đo lường chủ yếu bởi tỷ số thanh toán hiện hành Tuy nhiên, xét trong bối cảnh ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống Việt Nam hiện nay, tác giả nhận thấy tỷ
số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác tính thanh khoản của các
DN do đặc thù các DN thuộc ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống có lượng hàng tồn kho lớn nên sẽ làm ảnh hưởng đến tỷ số thanh toán hiện hành như đã trình bày ở trên Do đó, tác giả sẽ kết hợp phân tích chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động để đánh giá tốc độ quay vòng hàng tồn kho trong kỳ của các DN này Qua khảo cứu nghiên cứu học thuật của các tác giả đi trước và t đặc điểm của ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống của Việt Nam, ta có thể tổng quát được những nhân tố có tác động tới tỷ số thanh toán hiện hành và vòng quay vốn lưu động của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành này như sau:
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH TOÁN HIỆN HÀNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Quy mô của DN
Quy mô của DN biểu hiện ở quy mô của tài sản và nguồn nhân lực hay
đó là tổng giá trị tài sản, nguồn vốn hoặc số lượng lao động Một số nghiên cứu trước đây cho thấy rằng quy mô có tác động đến khả năng thanh toán hiện hành của DN Các công ty lớn thường đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, có uy tín trên thị trường nên dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay bên ngoài và các nhà cung cấp cũng sẵn sàng bán chịu cho DN, th c đẩy nợ ngắn hạn của
DN tăng nhanh Ngược lại, các công ty nhỏ có nguy cơ đối mặt với khó khăn trong vay nợ hơn các công ty lớn Vì vậy, hạn chế thanh khoản trở nên nghiêm trọng hơn khi quy mô công ty tăng
Trang 32Cụ thể, nghiên cứu của Opler và cộng sự (1999) đã thực nghiệm các yếu
tố tác động đến thanh khoản của 1048 công ty Mỹ t 1971 đến 1994 Kết quả cho thấy các công ty lớn có sự tiếp cận tốt nhất đến các thị trường vốn sẽ có
xu hướng nắm giữ ít tiền mặt hơn, khiến chỉ số khả năng thanh toán hiện hành kém hơn [21]
1.2.2 Nợ ngắn hạn
Trong đề tài này, tác giả sử dụng chỉ tiêu Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản để nghiên cứu tác động của Nợ ngắn hạn đến khả năng thanh toán hiện hành của DN Tỷ lệ nợ của công ty có thể ảnh hưởng không tốt đến tài sản lưu động Các công ty có một lịch sử dòng tiền ổn định mong muốn có Tỷ số thanh toán hiện hành cao hơn để đáp ứng cho các trường hợp bất trắc (ví dụ như cơ hội đầu tư trong tương lai hay trả các khoản nợ đến hạn thanh toán,…)
Baskin (1989) lập luận rằng khi tỷ lệ nợ của công ty tăng lên, chi phí của các quỹ sử dụng để đầu tư vào tài sản lưu động tăng, do đó làm giảm khả năng thanh khoản của các quỹ đó [11] Hay nói cách khác, khả năng thanh toán hiện hành có mối quan hệ ngược chiều với nợ ngắn hạn Giả thuyết này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Gill và Mathur (2011) [15]
1.2.3 Số vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho có ảnh hưởng đến tính thanh khoản của công ty dưới góc
độ Tỷ số thanh toán hiện hành nhưng hàng tồn kho là tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp hơn so với các tài sản lưu động khác vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ Do đó, khi quá trình luân chuyển hàng tồn kho của DN chậm sẽ ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của DN, HTK
bị ứ đọng làm DN chậm thu hồi tiền mặt để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng nhu cầu vay nợ ngắn hạn Nếu DN có số vòng quay hàng tồn kho lớn nghĩa là HTK được luân chuyển nhanh chóng, không bị ứ
Trang 33đọng, tình hình kinh doanh tốt và doanh thu tăng nhanh, DN sẽ chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm áp lực vay nợ Như vậy, số vòng quay HTK có mối quan hệ tích cực với tỷ số thanh toán hiện hành của DN
1.2.4 Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lợi của tài sản (ROA) đo lường hoạt động của công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập Chỉ tiêu ROA phản ánh cứ 100 đồng tài sản đầu tư tại DN sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng sinh lời của tài sản càng lớn
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản là mối quan tâm đặc biệt của người cho vay hoặc chủ nợ của một công ty Những người này nhận được phần thu nhập của họ theo như hợp đồng đã ký kết Khi gia hạn nợ hoặc cung cấp các khoản
nợ dài hạn cho công ty, những người cho vay muốn chắc chắn rằng công ty có thể tạo ra mức sinh lợi trên tài sản vượt trội hơn so với chi phí của nó
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN càng cao chứng tỏ DN làm ăn càng có lãi, dẫn đến khả năng thanh toán hiện hành của DN càng tăng do DN
dễ dàng tiếp cận nguồn vốn dài hạn nên giảm bớt áp lực t nguồn vốn vay ngắn hạn, hay nói cách khác khả năng thanh toán hiện hành của DN có mối quan hệ thuận chiều với ROA
1.2.5 Vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng nhấn mạnh đến tính linh hoạt trong việc sử dụng tài sản ở DN Nếu vốn lưu động ròng dương có nghĩa là công ty có khả năng chi trả các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình Ngược lại, nếu vốn lưu động ròng âm nghĩa là hiện tại công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bằng tài sản hiện có của mình Trường hợp xấu nhất là công ty có thể bị phá sản
Như vậy, vốn lưu động ròng càng lớn chứng tỏ khả năng thanh toán hiện hành của DN càng cao Hay nói cách khác, vốn lưu động ròng có mối quan hệ
Trang 34thuận chiều với khả năng thanh toán hiện hành của DN Giả thuyết này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bruinshoofd và Kool (2004) [12]
1.2.6 Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng
Nợ phải thu góp phần làm tăng tính thanh khoản của công ty dưới góc độ
Tỷ số thanh toán hiện hành và Tỷ số thanh toán nhanh Tương tự hàng tồn kho, nợ phải thu là tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp hơn so với các tài sản lưu động khác Do đó, khi quá trình thu hồi nợ của DN chậm trễ sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng thanh toán hiện hành
Số vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Tỷ số này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho DN nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất, t đó làm giảm áp lực vay nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của DN bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của DN trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể DN sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho nguồn vốn lưu động này, dẫn đến tăng tỷ lệ nợ, làm giảm khả năng thanh toán hiện hành của DN Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và để đánh giá hiệu quả quản lý của DN, cần so sánh số ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải trả mà DN đó quy định
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VÒNG QUAY VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Quy mô của DN
Vốn lưu động được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong doanh nghiệp Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu đối với sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp VLĐ còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình hoạt động
Trang 35của hàng hoá, cũng như phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ bán hàng của doanh nghiệp Mặt khác vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh thời gian lưu thông có hợp lý hay không Do đó, thông qua tình hình luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá kịp thời đối với các mặt hàng mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Như vậy, các công ty có quy mô càng lớn, càng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh thì có lượng vốn lưu động càng lớn do quá trình kinh doanh đòi hỏi phải được duy trì liên tục, thường xuyên và phải có mức dự trữ hàng hoá phù hợp với quy mô kinh doanh Vì vậy, các công ty có quy mô lớn sẽ có lượng hàng tồn kho lớn hơn so với các công ty có quy mô nhỏ, dẫn đến việc hoàn thành một vòng quay hàng tồn kho sẽ mất nhiều thời gian hơn so với các công ty nhỏ
Tóm lại VLĐ, đặc biệt là hàng tồn kho có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có quy
mô lớn đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ nhằm đưa ra những biện pháp tối ưu phục vụ cho chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp
1.3.2 Tỷ lệ Lợi nhuận sau thuế/ Tổng doanh thu
Để tăng vòng quay vốn lưu động, DN sẽ chú trọng tăng doanh thu, dẫn đến tỷ lệ LNST/DT giảm xuống Mặt khác, nếu tập trung tăng doanh thu thì chi phí của DN sẽ không được kiểm soát tốt; nếu chi phí tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng của doanh thu thì LNST của DN sẽ giảm, dẫn đến tỷ lệ LNST/DT giảm Nguyên nhân là bởi, một DN nếu muốn cải thiện kết quả kinh doanh thì sẽ phải đi theo hai mục tiêu chính: hoặc là tập trung tăng doanh thu, hoặc là tập trung giảm chi phí; DN rất khó có thể hoàn thành tốt cả hai mục tiêu nên để nâng cao hiệu quả hoạt động thì DN phải tìm cách cải thiện một khía cạnh tốt hơn để bù đắp cho khía cạnh còn lại Nghĩa là, doanh thu
Trang 36của DN phải tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của chi phí, hoặc là tỷ lệ giảm của chi phí phải cao hơn tỷ lệ giảm của doanh thu
1.3.3 Vốn lưu động ròng
Trong mối quan hệ với nợ ngắn hạn, tài sản ngắn hạn có thể được đại diện bởi vốn lưu động ròng Nếu vốn lưu động ròng dương nghĩa là nguồn vốn dài hạn thường xuyên của công ty không những đủ tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn dư để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, giúp DN chủ động trong kinh doanh và VLĐ quay vòng nhanh hơn do công ty không mất thời gian tìm kiếm nguồn vốn tạm thời, sự sẵn có của nguồn vốn sẽ giúp DN chủ động hơn trong việc mua hàng hóa, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh Nếu VLĐR âm nghĩa là công ty đang phải dùng các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn, công ty phụ thuộc vào các nguồn vay nợ bên ngoài và kéo dài thời gian luân chuyển VLĐ do công ty phải mất thời gian đi tìm nguồn vốn tạm thời Như vậy, vốn lưu động ròng dương và càng cao thì vốn lưu động quay vòng càng nhanh
1.3.4 Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Tốc độ tăng trưởng của doanh thu được đo lường bằng tỷ lệ giữa chênh lệch của doanh thu năm nay và doanh thu năm trước trên doanh thu năm trước Khi tốc độ tăng trưởng doanh thu cao, có khả năng DN nới lỏng chính sách tín dụng trong việc bán hàng, trong khi đó DN cần tăng số lượng hàng dự trữ để đáp ứng kịp sự tăng trưởng của doanh thu Bên cạnh đó, để đảm bảo duy trì tốc
độ tăng trưởng doanh thu đòi hỏi các doanh nghiệp phải có mức dự trữ hàng hoá phù hợp với quy mô kinh doanh Nếu vốn dự trữ hàng hoá thực tế nhỏ hơn mức tối thiểu cần thiết thì doanh nghiệp sẽ thiếu hàng để bán ra, hoạt động bán hàng bị gián đoạn, doanh thu đạt được không được tối đa, dẫn đến hiệu quả sử dụng VLĐ không tốt Còn nếu dự trữ hàng hoá thực tế lớn hơn mức dự trữ cao nhất thì hàng hoá bị ứ đọng trong kho gây lãng phí vốn mặc dù doanh thu có
Trang 37thể đạt được như dự tính Hàng hoá dự trữ được coi là bộ phận chủ yếu của VLĐ trong doanh nghiệp, do vậy tốc độ chu chuyển hàng hoá tồn kho có ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của toàn bộ VLĐ và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động Như vậy, DN có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao thì tốc
độ chu chuyển hàng hóa tồn kho cũng cao, dẫn đến rút ngắn thời gian quay vòng vốn lưu động Hay nói cách khác, tốc độ tăng trưởng doanh thu của DN ảnh hưởng cùng chiều đến vòng quay vốn lưu động
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận chung về tính thanh khoản và các chỉ tiêu đo lường tính thanh khoản của một công ty, đồng thời nêu ra các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của công ty dựa trên các nghiên cứu trước đây Dựa trên cơ sở lý luận đó, tác giả cũng đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của công ty như: Quy mô công ty;
Hệ số nợ; Số vòng quay hàng tồn kho; ROA; Vốn lưu động ròng; Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng; Tỷ lệ LNST/tổng DT và Tốc độ tăng trưởng doanh thu của công ty Chương 2 tác giả sẽ tiến hành thiết kế nghiên cứu để nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đó như thế nào?
Trang 39CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ
UỐNG VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN VỀ NHÓM NGÀNH SẢN XUẤT THỰC PHẨM, ĐỒ UỐNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ v/v Ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, sản xuất thực phẩm – đồ uống thuộc phân ngành cấp 2, được xếp vào ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo Các hoạt động sản xuất của ngành gồm nhiều tiểu ngành nhỏ: Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm t thịt; Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm t thủy sản; Chế biến và bảo quản rau quả; Sản xuất dầu,
mỡ động, thực vật; Chế biến sữa và các sản phẩm t sữa; Xay xát và sản xuất bột; Sản xuất thực phẩm khác; Sản xuất đồ uống có cồn và không cồn Trong khi đó, kinh doanh các sản phẩm thực phẩm – đồ uống thuộc phân ngành cấp 3, xếp vào ngành Bán buôn và bán lẻ
Ngành công nghiệp Thực phẩm – Đồ uống là ngành sản xuất, chế biến thức ăn nấu chín hoặc chưa qua nấu chín; các loại nước khoáng và nước có mùi vị đóng chai, đáp ứng nhu cầu ẩm thực cho người sử dụng Ngành đóng góp vai trò quan trọng khi thu h t lượng lớn DN và tạo ra nguồn lợi nhuận lớn thứ 2 trong lĩnh vực công nghiệp
Thực phẩm – Đồ uống đóng góp tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tiêu dùng: Theo tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU), năm 2015, tổng quy mô tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình Việt Nam đạt 127,7 tỷ USD Trong đó, chi tiêu cho thực phẩm – đồ uống – thuốc lá đạt 55,3 tỷ USD,
Trang 40chiếm tỷ trọng 43,3% tổng mức tiêu dùng cả nước Tỷ trọng này giữ khoảng cách xa so với tỷ trọng mua sắm các sản phẩm dịch vụ lớn tiếp theo là Nhà ở
và vật liệu xây dựng (10,2%); Giải trí, giáo dục (9,4%); Giao thông, viễn thông (9,2%)… Điều này gián tiếp cho thấy giá trị sản xuất, nhu cầu vay vốn của ngành công nghiệp thực phẩm – đồ uống là rất lớn
Nhóm ngành thực phẩm và đồ uống Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 12% trong giai đoạn 2010 - 2015 Năm 2015, doanh thu cả ngành đạt 1.033 tỷ đồng, tăng 14,3%, trong đó thực phẩm ước đạt 690 nghìn tỷ, chiếm tỷ trọng 67%, đồ uống có cồn đạt 203 nghìn tỷ, chiếm 19,7% VNDS cho rằng trong khi nền kinh tế vận hành ổn định, giá cả hàng hóa thiết yếu có
xu hướng tăng nhẹ và tầng lớp trung lưu mở rộng, ngành Thực phẩm – đồ uống có cơ sở vững chắc để tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong năm 2017
Trong giai đoạn 2016 – 2017, thực phẩm và đồ uống có xu hướng mở rộng sản xuất Cụ thể, Vinasoy (QNS) xây dựng nhà máy sữa công suất 90 triệu lít sữa ở Bình Dương; Công ty CP Tập đoàn KiĐo (KDC) sẽ tiếp tục mở thêm nhà máy mỳ ăn liền miền Nam sau nhà máy đầu tiên ở Bắc Ninh; Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SAB) mở nhà máy công suất 50 triệu lít ở Vĩnh Long Qua đó chứng tỏ tăng trưởng dành cho ngành thực phẩm – đồ uống vẫn còn nhiều dư địa Tuy nhiên, VNDS_Research cho rằng, ngành thực phẩm và đồ uống cũng sẽ chịu áp lực trước sự bật tăng trở lại của giá năng lượng và một số nguyên liệu đầu vào, đồng thời, phải phát triển tương thích với xu hướng mới của ngành bán lẻ Xu hướng mua sắm đang dịch chuyển mạnh mẽ t kênh truyền thống (chợ, tạp hóa nhỏ) sang những kênh hiện đại hơn (siêu thị, cửa hàng tiện lợi, mua hàng trực tuyến) Mặt khác, người tiêu dùng đang dần quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm hơn vấn đề giá cả Vì vậy, sự tăng trưởng của