A MỞ ĐẦU Chủ nghĩa Mác là một hệ thống lí luận khoa học và cách mạng, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế giới. Khi nói về Chủ nghĩa Mác, người ta thường đề cập tới nhiều vấn đề then chốt được xem là nền tảng tư tưởng, cơ sở lí luận quan trọng của học thuyết này. Nhà nước là một trong những vấn đề căn bản trong Triết học xã hội nói chung và Triết học Mác nói riêng. Mác và Ăngghen đã nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về vấn đề nhà nước, hai ông đã trả lời được câu hỏi: Thế nào là nhà nước, nó xuất hiện khi nào và trên cơ sở nào, tại sao trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhà nước lại mang các hình thức khác nhau và đóng vai trò khác nhau. Bằng hoạt động lí luận và thực tiễn cách mạng sôi nổi, Mác Ăngghen đã chỉ ra được nhà nước có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt cả về phương diện lí luận và phương diện chính trị thực tiễn. Trong nhiều tác phẩm tiêu biểu: Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Chống Đuy rinh, Phê phán Cương lĩnh Gotha, Sự khốn cùng của Triết học, Ngày mười tám tháng sương mù, Nội Chiến Pháp…hai ông đã đưa ra các luận điểm khoa học và cách mạng về nhà nước, vạch ra được nguồn gốc ra đời, bản chất giai cấp và tính chất bóc lột của nhà nước, cũng như khẳng định tính tất yếu lịch sử của chuyên chính vô sản và nhà nước chuyên chính vô sản trong tương lai. Học thuyết của Mác Ăngghen về nhà nước đã cho chúng ta thấy vấn đề nhà nước bao giờ cũng là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Đó cũng là lí do khiến cho các chính đảng lần lượt nối gót nhau đấu tranh giành chính quyền, đều coi việc đoạt lấy tòa lâu đài nhà nước đồ sộ kia là chiến lợi phẩm chủ yếu của kẻ chiến thắng. Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ nội dung Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước nói chung. Trong mỗi vấn đề cụ thể, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản của Mác Ănghen về cơ sở, nguồn gốc ra đời, đặc trưng, bản chất và chức năng của nhà nước, cũng như nêu ra một số kiểu nhà nước bóc lột trong lịch sử nhân loại mà hai ông đã tiến hành phân tích, tổng kết từ lịch sử của nhân loại. B NỘI DUNG Trong lịch sử tư tưởng Triết học từ thời cổ đại đến thời hiện đại, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước, tuy nhiên họ lại không giải thích được đầy đủ cơ sở ra đời cũng như nguồn gốc hình thành nhà nước. Khi xem xét nguồn gốc ra đời của nhà nước, họ đã tách nhà nước ra khỏi điều kiện vật chất xã hội, phủ nhận những nguyên nhân kinh tế và cho rằng nhà nước là một lực lượng đứng trên xã hội, đứng ngoài xã hội để giải quyết tranh chấp và điều hòa mâu thuẫn giai cấp; nhà nước là chung cho mọi giai cấp, tồn tại vĩnh viễn trong lòng xã hội. Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu sự phát triển của xã hội, Chủ nghĩa Mác đã chứng minh nhà nước không phải là một thể chế vốn có tự nhiên của xã hội loài người; nhà nước cũng không phải là một bộ máy siêu giai cấp, đứng trên xã hội, thay xã hội, thay mặt thượng đế cai quản xã hội. Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, được hình thành, phát triển và tiêu vong trên một cơ sở kinh tế xã hội nhất định. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác về nguồn gốc Nhà nước được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước của Ăngghen. Đây là một trong những tác phẩm quan trọng của Chủ nghĩa Mác, một trong những công trình đầu tiên viết về nguồn gốc nhân loại, sự hình thành và phân chia giai cấp dẫn đến sự hình thành Nhà nước. Tác phẩm được phát triển từ tư tưởng Quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử của Mác, tiếp thu và phát triển những thành tựu nghiên cứu Xã hội cổ đại của nhà bác học Mỹ Louis H.Morgan. Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng, sự phát triển của sản xuất vật chất đã làm cho chế độ công xã nguyên thủy tan rã và hình thành xã hội có giai cấp dựa trên sự sở hữu tư nhân. Đồng thời, ông cũng khẳng định quan điểm duy vật lịch sử về Nhà nước như là sản phẩm của sự phân chia xã hội thành giai cấp.
Trang 1A- MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác là một hệ thống lí luận khoa học và cách mạng, là vũ khí
tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh đểnhận thức và cải tạo thế giới Khi nói về Chủ nghĩa Mác, người ta thường đề cậptới nhiều vấn đề then chốt được xem là nền tảng tư tưởng, cơ sở lí luận quantrọng của học thuyết này Nhà nước là một trong những vấn đề căn bản trongTriết học xã hội nói chung và Triết học Mác nói riêng Mác và Ăngghen đãnghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về vấn đề nhà nước, hai ông đã trả lờiđược câu hỏi: Thế nào là nhà nước, nó xuất hiện khi nào và trên cơ sở nào, tạisao trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhà nước lại mang các hình thức khácnhau và đóng vai trò khác nhau Bằng hoạt động lí luận và thực tiễn cách mạngsôi nổi, Mác - Ăngghen đã chỉ ra được nhà nước có một ý nghĩa quan trọng đặcbiệt cả về phương diện lí luận và phương diện chính trị - thực tiễn Trong nhiều
tác phẩm tiêu biểu: Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Chống Đuy - rinh, Phê phán Cương lĩnh Gotha, Sự khốn cùng của Triết học, Ngày mười tám tháng sương mù, Nội Chiến Pháp…hai ông đã đưa ra các luận điểm khoa học và cách mạng về nhà
nước, vạch ra được nguồn gốc ra đời, bản chất giai cấp và tính chất bóc lột củanhà nước, cũng như khẳng định tính tất yếu lịch sử của chuyên chính vô sản vànhà nước chuyên chính vô sản trong tương lai Học thuyết của Mác - Ăngghen
về nhà nước đã cho chúng ta thấy vấn đề nhà nước bao giờ cũng là vấn đề cơ
bản của mọi cuộc cách mạng Đó cũng là lí do khiến cho "các chính đảng lần lượt nối gót nhau đấu tranh giành chính quyền, đều coi việc đoạt lấy tòa lâu đài nhà nước đồ sộ kia là chiến lợi phẩm chủ yếu của kẻ chiến thắng"
Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận "Tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen về nhà nước", chúng tôi chỉ tập trung làm rõ nội dung Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước nói chung. Trong mỗi vấn đề cụ thể,chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản của Mác - Ănghen về
cơ sở, nguồn gốc ra đời, đặc trưng, bản chất và chức năng của nhà nước, cũng
Trang 2như nêu ra một số kiểu nhà nước bóc lột trong lịch sử nhân loại mà hai ông đãtiến hành phân tích, tổng kết từ lịch sử của nhân loại
B- NỘI DUNG
Trong lịch sử tư tưởng Triết học từ thời cổ đại đến thời hiện đại, đã có rấtnhiều quan niệm khác nhau về nhà nước, tuy nhiên họ lại không giải thích đượcđầy đủ cơ sở ra đời cũng như nguồn gốc hình thành nhà nước Khi xem xétnguồn gốc ra đời của nhà nước, họ đã tách nhà nước ra khỏi điều kiện vật chất
xã hội, phủ nhận những nguyên nhân kinh tế và cho rằng nhà nước là một lựclượng đứng trên xã hội, đứng ngoài xã hội để giải quyết tranh chấp và điều hòamâu thuẫn giai cấp; nhà nước là chung cho mọi giai cấp, tồn tại vĩnh viễn tronglòng xã hội
Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu sự phát triểncủa xã hội, Chủ nghĩa Mác đã chứng minh nhà nước không phải là một thể chếvốn có tự nhiên của xã hội loài người; nhà nước cũng không phải là một bộ máysiêu giai cấp, đứng trên xã hội, thay xã hội, thay mặt thượng đế cai quản xã hội.Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, được hình thành, phát triển và tiêu vongtrên một cơ sở kinh tế - xã hội nhất định Quan điểm của Chủ nghĩa Mác về
nguồn gốc Nhà nước được thể hiện rất rõ trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" của Ăngghen Đây là một trong những
tác phẩm quan trọng của Chủ nghĩa Mác, một trong những công trình đầu tiênviết về nguồn gốc nhân loại, sự hình thành và phân chia giai cấp dẫn đến sự hìnhthành Nhà nước Tác phẩm được phát triển từ tư tưởng "Quan niệm duy vật biệnchứng về lịch sử" của Mác, tiếp thu và phát triển những thành tựu nghiên cứu
"Xã hội cổ đại" của nhà bác học Mỹ Louis H.Morgan Ph.Ăngghen đã chứngminh rằng, sự phát triển của sản xuất vật chất đã làm cho chế độ công xã nguyênthủy tan rã và hình thành xã hội có giai cấp dựa trên sự sở hữu tư nhân Đồngthời, ông cũng khẳng định quan điểm duy vật lịch sử về Nhà nước như là sảnphẩm của sự phân chia xã hội thành giai cấp
Trang 31 Cơ sở ra đời và nguồn gốc của nhà nước
1.1 Xã hội nguyên thủy và tổ chức xã hội tự quản của nó
Dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước", Ăng ghen đã phân tích tỉ mỉ và sâu
sắc lịch sử của xã hội nguyên thủy, phân tích những điều kiện kinh tế - xã hộicủa các chế độ thị tộc I rô qua, thị tộc Hy Lạp, thị tộc Rôma và thị tộc của ngườiLelte và người Giéc - manh, trên cơ sở đó ông đã chứng minh cho chúng ta thấyrằng không phải lúc nào cũng có nhà nước, từng có những xã hội không cần đếnnhà nước Đó chính là xã hội công xã nguyên thủy
- Về cơ sở kinh tế: Chế độ sở hữu của xã hội công xã nguyên thủy là chế
độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Mọi người đều bìnhđẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không có sự chiếm
đoạt tài sản của người khác Ăngghen viết: "Trong tất cả các giai đoạn phát triển trước đây của xã hội, nền sản xuất, về căn bản, là một nền sản xuất chung; việc tiêu dùng, cũng vậy, được tổ chức thông qua sự phân phối trực tiếp những sản phẩm trong nội bộ các cộng đồng cộng sản chủ nghĩa lớn hay nhỏ Tính chất chung đó của nền sản xuất đã được thực hiện trong những khuôn khổ chật hẹp nhất, nhưng đồng thời những người sản xuất lại làm chủ được quá trình sản xuất và sản phẩm của họ Họ biết rõ điều xảy ra đối với sản phẩm: họ tiêu dùng sản phẩm đó, nó không rời tay họ; và chừng nào mà sản xuất còn được tiến hành trên cơ sở đó thì nó không thể được sự kiểm soát của những người sản xuất, không thể làm xuất hiện trước mắt họ cái bóng ma những lực lượng xa lạ, như trường hợp đã xảy ra thường xuyên và không thể tránh khỏi được trong thời
đại văn minh" [C.Mác và Ph.Ăngghen tuyển tập, Nxb sự thật, HN, 1984, tập
Trang 4gia đình tiến hành chung và theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa; đất đai là tài sản của toàn thể bộ lạc, chỉ có những mảnh vườn nhỏ bé mới tạm giao cho các gia đình sử dụng Ở đây, không thể có người nghèo khổ và thiếu thốn, - nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa và thị tộc biết rõ những nghĩa vụ của mình đối với những người già yếu, ốm đau và những người thương tật trong chiến tranh Tất
cả đều bình đẳng và tự do, - kể cả phụ nữ Chưa có nô lệ và thường còn chưa có
sự nô dịch những bộ lạc khác" [Sđd, tập VI, tr.152] "Kinh tế gia đình là kinh tế
cộng sản chủ nghĩa chung cho nhiều gia đình, thường là chung cho một số lớn gia đình Cái gì cùng nhau làm ra và dùng chung, cái đó là tài sản chung, như
nhà cửa, vườn tược và thuyền độc mộc" [Sđd, tập VI, tr.244].
- Về cơ sở xã hội: "Chúng ta cũng thấy rằng một khi thị tộc đã được coi
là một đơn vị cơ sở của xã hội, thì toàn bộ cái chế độ thị tộc, bào tộc và bộ lạc đều phát triển từ cái đơn vị ấy với một sự tất yếu hầu như không thể ngăn cản nổi - bởi vì đó là điều hoàn toàn tự nhiên Cả ba tổ chức ấy là những mức độ khác nhau của quan hệ họ hàng; hơn nữa, mỗi một tổ chức đó là một thể hoàn
chỉnh và tự quản lý lấy công việc của mình" [Sđd, tập VI, tr.151] Như vậy, cơ
sở xã hội của xã hội công xã nguyên thủy được xây dựng dựa trên cơ sở thị tộc,thị tộc là một tổ chức lao động và sản xuất, một đơn vị kinh tế - xã hội Thị tộcđược tổ chức theo huyết thống, các quan hệ họ hàng; Xã hội chưa có sự phân
chia giai cấp và không có đối kháng giai cấp "Chế độ cùng dòng máu tương ứng với thị tộc dưới hình thức lúc ban đầu của nó - người Hy Lạp đã có chế độ
ấy, cũng như những người khác sống trên thế gian này, - làm cho các thành viên
thị tộc có thể biết được những mức độ quan hệ họ hàng giữa họ với nhau" [Sđd, tập VI, tr.160 - 161].
- Quyền lực và tổ chức quản lí xã hội: Chưa tách ra khỏi xã hội mà gắn
liền với xã hội, hòa nhập với xã hội Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và
phục vụ lợi ích của cả cộng đồng, "mỗi một tổ chức đó là một thể hoàn chỉnh và
tự quản lí lấy công việc của mình" - tức là thị tộc, bào tộc, bộ lạc Trong xã hội nguyên thủy, Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, "là cơ quan quyền lực thường trực" bao gồm tất cả những người lớn tuổi không phân
Trang 5biệt nam hay nữ trong thị tộc "có lẽ lúc đầu hội đồng gồm có các trưởng thị tộc, rồi về sau, khi số trưởng thị tộc trở nên quá đông thì Hội đồng gồm một số
người được bầu ra trong những trưởng thị tộc này" [Sđd, tập VI, tr.163] "Trong
những công việc quan trọng Hội đồng được quyết định cuối cùng" và quyết định
của Hội đồng thị tộc là sự thể hiện ý chí chung của cả thị tộc và có tính bắt buộcđối với mọi thành viên Các tộc trưởng do nhân dân bầu ra sẽ giải quyết tất cảnhững công việc có liên quan đến cộng đồng, điều chỉnh các quan hệ xã hộibằng những quy tắc chung Trong tay họ không có và không cần một công cụcưỡng bức đặc biệt nào, và cái uy quyền của họ là quyền lực thuộc về uy tín vàđạo đức được xã hội tôn kính một cách tự nguyện Theo Ăng ghen, trong thời kỳ
này "Mặc dù công việc chung là nhiều hơn ngày nay rất nhiều nhưng người ta vẫn không hề cần đến cái bộ máy quản lí cồng kềnh và phức tạp của chúng ta Mọi việc đều do những người hữu quan tự giải quyết lấy và trong đa số các
trường hợp, một tập quán lâu đời đã giải quyết trước tất cả mọi việc rồi" [Sđd, tập VI, tr.152] Tuy nhiên, do nhu cầu tồn tại của các thị tộc và bộ lạc, Hội đồng
thị tộc đã bầu ra người đứng đầu như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự, để thực hiện
quyền lực quản lí các công việc chung của thị tộc Các thủ lĩnh quân sự "ngoài những chức năng quân sự của mình ra, người thủ lĩnh quân sự còn có những chức năng tế lễ và tư pháp nữa; những chức năng tế lễ và tư pháp này không được quy định một cách thật chính xác, còn những chức năng quân sự thì người thủ lĩnh quân sự thực hành với tư cách là đại biểu tối cao của bộ lạc, hay của liên minh bộ lạc Không bao giờ người ta nói đến những chức vụ dân sự, chức
vụ quản lí cả, nhưng hình như thủ lĩnh quân sự do chức vụ của mình nên cũng
mặc nhiên là thành viên của Hội đồng" [Sđd, tập VI, tr.167]
Như vậy, tổ chức thị tộc là thiết chế đầu tiên của xã hội loài người, là thểchế "tự quản" của nhân dân, tồn tại trong vòng "trật tự" do chính ý thức của
nhân dân bảo đảm "Tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và nó chỉ thích hợp với một xã hội kiểu ấy mà thôi Ngoài dư luận
và công chúng ra, không có một phương tiện nào cưỡng chế cả" [Sđd, tập VI, tr.258] Lịch sử cho thấy, không phải khi nào xã hội cũng có nhà nước "đã từng
Trang 6có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà
nước và chính quyền nhà nước cả" [Sđd, tập VI, tr.265] Trong xã hội nguyên
thủy, do kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp, cho nên chưa có
nhà nước "Với tất cả cái tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả
là một tổ chức tốt đẹp biết bao! không có quân đội, hiến binh, và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà
tù, không có những vụ xử án, - thế mà mọi việc đều trôi chảy Mọi sự xích mích
và mọi sự tranh chấp đều được giải quyết bởi tập thể những người có liên quan,
- tức là thị tộc hoặc bộ lạc, hoặc giữa các thị tộc với nhau; việc báo thù nợ máu
có thể xảy ra, nhưng đó chỉ là một thủ đoạn cực đoan nhất, ít khi dùng đến, và tội tử hình của chúng ta ngày nay chẳng qua cũng chỉ là hình thức văn minh của việc báo thù đó thôi, một hình thức vốn có tất cả những mặt tích cực và tiêu cực
của thời đại văn minh" [Sđd, tập VI, tr.151 - 152].
1.2 Sự ra đời của nhà nước trong lịch sử
1.2.1 Sự tan rã của tổ chức thị tộc, bộ lạc
Những chuyển biến lớn về kinh tế - xã hội thời kỳ cuối của xã hội công xãnguyên thủy chính là nguyên nhân dẫn đến sự tan rã và sụp đổ thiết chế đầu tiêncủa xã hội loài người - tổ chức thị tộc, bộ lạc Đó là sự phát triển của lực lượngsản xuất, sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành các giai cấpđối kháng đối lập nhau về lợi ích không thể điều hòa được
Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng sự ra đời củacông cụ lao động bằng đồng, bằng sắt thay cho công cụ bằng đá Sự cải tiến củacông cụ lao động đã làm tăng năng suất lao động và làm dư thừa tương đối cácsản phẩm tiêu dùng trong xã hội Một số người có thẩm quyền được nhân dânbầu ra trước đây để quản lí các công việc chung của thị tộc như: tộc trưởng, tùtrưởng, thủ lĩnh quân sự…đã lợi dụng quyền lực có trong tay để chiếm đoạtkhông công các thành quả lao động của xã hội Đây là nguyên nhân thúc đẩynhanh chóng sự phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, thành các giai cấp
có lợi ích đối lập nhau Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã đồng thời
Trang 7đưa đến kết quả song trùng: chế độ sở hữu chung bị thay thế bởi chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất; xuất hiện chế độ người bóc lột người Ăngghen viết:
"Những cơ quan của tổ chức thị tộc đã dần dần tách khỏi cái gốc rễ của chúng
trong nhân dân, trong thị tộc, bào tộc, bộ lạc; và toàn bộ tổ chức thị tộc chuyển hóa thành cái đối lập với nó; từ chỗ là một tổ chức của bộ lạc nhằm giải quyết một cách tự do những công việc của mình, tổ chức thị tộc đã trở thành một tổ chức để cướp bóc và áp bức láng giềng; và do đó, các cơ quan của nó, lúc đầu
là công cụ của ý chí của nhân dân, đã trở thành những cơ quan độc lập nhằm thống trị và áp bức chính nhân dân Nhưng tình hình đó không bao giờ có thể xảy ra được, nếu thói hám của không chia các thành viên thị tộc thành kẻ giàu
và kẻ nghèo, nếu sự "chênh lệch về tài sản trong nội bộ cùng một thị tộc không biến sự thống nhất về quyền lợi thành sự đối kháng giữa các thành viên của thị tộc" (Mác), và nếu sự bành trướng của chế độ nô lệ chưa bắt đầu làm cho người
ta quan niệm rằng sống bằng lao động của chính mình là một hoạt động chỉ
xứng với những người nô lệ và nhục nhã hơn là đi cướp bóc" [Sđd, tập VI, tr.252 -253].
Ba lần phân công lao động là những bước tiến lớn của xã hội, gia tăng sự
tích tụ tài sản và góp phần hình thành, phát triển chế độ tư hữu "Sự phân công
xã hội lớn đầu tiên, do tăng năng suất lao động, tức là tăng của cải và do mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất định phải đưa đến chế độ nô lệ Từ sự phân công xã hội lớn đầu tiên đã nảy sinh ra sự phân công lớn đầu tiên trong xã
hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột" [Sđd, tập
VI, tr.247] Sự phân công lớn lần thứ hai và thứ ba diễn ra đưa đến "sự phân biệt
giữa kẻ giàu và người nghèo đã xuất hiện bên cạnh sự phân biệt giữa người tự
do và người nô lệ: cùng với sự phân công mới, lại có kèm sự phân chia một lần
nữa xã hội thành giai cấp" [Sđd, tập VI, tr.250 - 251], cũng như sản sinh ra một
giai cấp mới không còn trực tiếp tham gia sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc
trao đổi sản phẩm, đó là giới thương nhân trong xã hội Sự chênh lệch về tài sản
giữa những người chủ gia đình riêng rẽ đã phá vỡ cộng đồng gia đình cộng sản,
và do đó việc sản xuất theo đơn vị gia đình ưu việt hơn đã được thay thế cho
Trang 8phương thức sản xuất tập thể của cộng đồng nguyên thủy Ăngghen viết: "Sự
phân công lao động đã thâm nhập từ từ vào quá trình sản xuất…Nó phá hủy tính chất chung của nền sản xuất và của sự chiếm hữu, nó đưa sự chiếm hữu tư nhân lên thành một quy tắc chiếm ưu thế và do đó, làm nảy sinh ra sự trao đổi
giữa những cá nhân đó với nhau…" [Sđd, tập VI, tr.267].
Chiến tranh ăn cướp giữa các bộ lạc, thị tộc cũng là một trong nhữngnguyên nhân góp phần làm cho thế lực của các thủ lĩnh quân sự, tù
trưởng được củng cố và tăng cường "Chiến tranh trước đây giữa bộ lạc với bộ lạc, từ thời kỳ này, đã biến chất thành cuộc cướp bóc có hệ thống trên đất liền
và trên mặt biển để chiếm đoạt gia súc, nô lệ, báu vật, tức là đã biến thành một phương tiện kiếm ăn thường xuyên; tóm lại, của cải được người ta tán dương và coi trọng như là một phúc lợi tối cao và những quy tắc cổ xưa của thị tộc đã bị người ta lạm dụng để biện hộ cho hành vi cướp đoạt của cải bằng bạo lực"
[Sđd, tập VI, tr.168] Bên cạnh đó, sự xuất hiện của chế độ gia đình một vợ một
chồng cũng đã trở thành lực lượng đe dọa sự tồn tại của thị tộc Gia đình cá thểbắt đầu trở thành đơn vị kinh tế của xã hội, phá vỡ hoàn toàn kiểu gia đình cộngsản chủ nghĩa và cũng từ đây mà chế độ tư hữu được củng cố và phát triển Tổng
kết về chế độ thị tộc Hy Lạp, Ăngghen đã khẳng định "Chế độ phụ quyền, với việc để lại tài sản cho con cái, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích lũy của cải trong gia đình và biến gia đình thành một thế lực đối lập với thị tộc; sự chênh lệch về tài sản đã ảnh hưởng trở lại đến tổ chức xã hội bằng cách tạo ra những mầm mống đầu tiên của giới quý tộc thế tập và vương quyền thế tập; chế độ nô
lệ, lúc đầu chỉ thi hành đối với tù binh, đã mở ra cái triển vọng nô dịch ngay cả những thành viên cùng một bộ lạc và thậm chí cả những thành viên của chính
ngay thị tộc mình nữa" [Sđd, tập VI, tr.168] Như vậy, sự ra đời của chế độ phụ
quyền và việc kế thừa "vương quyền" trong một gia đình đã làm cho những
người có quyền lực trong xã hội ngày càng trở nên giàu có hơn về của cải, vậtchất Địa vị thống trị của họ càng được củng cố, mở rộng Điều đó cũng đồngnghĩa với việc họ bóc lột nhân dân ngày càng thậm tệ hơn, trở thành một lựclượng đối lập với nhân dân trong chính thị tộc của mình
Trang 9Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã làm phá vỡ cuộc sống định
cư của thị tộc Sự phân công lao động và nguyên tắc phân phối bình quân sảnphẩm của xã hội nguyên thủy giờ đây không còn phù hợp nữa Chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất ra đời đã dẫn đến sự chênh lệch giàu - nghèo trong xã hội, mâuthuẫn giữa giai cấp có của và giai cấp không có của, giữa người tự do và nô lệ
đã phá vỡ chế độ sở hữu chung và bình đẳng của xã hội công xã nguyên thủy
Xét đến cùng thì cơ sở kinh tế và sự phát triển của kinh tế là nguyên nhântrực tiếp phá vỡ chế độ thị tộc và phân chia xã hội thành giai cấp Đây cũng là
cơ sở để thượng tầng kiến trúc mới của xã hội được xây dựng Sự tan rã của tổchức thị tộc - bộ lạc là tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật sự phát triểncủa quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất Ăngghen khẳng định: "Nhưng chúng ta không nên quên rằng, tổ chức ấy nhất định phải đi đến chỗ diệt vong Nó không vượt xa hơn bộ lạc được; liên
minh những bộ lạc đã đánh dấu bước đầu của sự suy tàn của tổ chức ấy" [Sđd, tập VI, 153] "Bộ lạc vẫn còn là một biên giới đối với con người, trước những
người ở bộ lạc khác cũng như đối với bản thân mình: bộ lạc, thị tộc và các thiết chế của bộ lạc và thị tộc đều là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực cao do tự nhiên ban cho, quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tình cảm, tư tưởng và hành động của mình Những người ở thời đại ấy oai nghiêm như thế nào đối với chúng ta, thì họ cũng không khác nhau như thế ấy, và như Mác nói, họ vẫn chưa tách khỏi cái cuống nhau của công xã nguyên thủy Quyền lực của công xã nguyên thủy đó nhất định phải
bị đập tan - và nó đã bị đập tan Nhưng nó đã bị đập tan bởi những ảnh hưởng
mà ngay từ đầu chúng ta coi là một sự suy đồi, là một sự sụp ngã từ đỉnh cao của nền đạo đức của chế độ thị tộc cũ Chính những lợi ích thấp hèn nhất - tính tham lam tầm thường, lòng khao khát hưởng lạc thô bạo, tính bủn xỉn bẩn thỉu, nguyện vọng ích kỷ muốn ăn cắp của công - báo hiệu sự ra đời của xã hội của
xã hội văn minh mới, xã hội có giai cấp; chính những thủ đoạn bỉ ổi nhất - trộm cắp, bạo lực, tính giảo quyệt, sự phản bội - đã phá vỡ xã hội thị tộc không có giai cấp và đã đưa xã hội đó đến chỗ diệt vong Và bản thân xã hội mới, trong
Trang 10suốt hai nghìn năm trăm năm tồn tại, vẫn không phải là cái gì khác mà chỉ là sự phát triển của cái thiểu số nhỏ, một sự phát triển bằng mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số những người bị bóc lột, áp bức và hiện nay, xã hội mới đó vẫn là
như vậy, trên một mức độ còn lớn hơn bao giờ hết" [Sđd, tập VI, tr.154 - 155].
1.2.2 Sự ra đời của Nhà nước
Những yếu tố mới xuất hiện đã làm đảo lộn đời sống thị tộc Chế độ thịtộc đã không thể đáp ứng được và tỏ ra bất lực trước nhu cầu, đòi hỏi của conngười về phát triển kinh tế - xã hội Để thích ứng với sự vận động và phát triểnkhông ngừng đó, đòi hỏi xã hội phải có một tổ chức đủ sức giải quyết các nhucầu chung của cộng đồng, một tổ chức mới phù hợp với cơ sở kinh tế và xã hộimới, nhất định phải có một tổ chức đứng ra làm chức năng quản lí để xã hội phát
triển trong một trật tự nhất định "Chỉ còn thiếu một cái thôi: đó là một thiết chế không những bảo vệ những của cải mà các tư nhân vừa mới có được, chống lại những truyền thống cộng sản chủ nghĩa của chế độ thị tộc, một thiết chế không những thần thánh hóa cái sở hữu tư nhân rất bị khinh rẻ trước đây, và tuyên bố
sự thần thánh hóa đó là mục đích tối cao của mọi xã hội loài người, mà còn in cái dấu ấn của sự công nhận của xã hội nói chung, lên những hình thức mới, phát triển nối tiếp nhau, của việc kiếm được tài sản, nói một cách khác là của việc tích lũy của cải ngày càng nhanh; một cơ quan không những kéo dài mãi mãi sự phân chia xã hội thành giai cấp, một sự phân chia mới chớm nở, mà còn kéo dài mãi mãi quyền của giai cấp của được bóc lột giai cấp không có của, và quyền thống trị của giai cấp có của đối với giai cấp không có của
Và cơ quan đó xuất hiện Nhà nước đã được phát minh ra" [Sđd, tập VI, tr.168 - 169].
Tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến những sự đối chọi
nội tại và nó chỉ thích hợp với xã hội kiểu ấy mà thôi Bây giờ, "một xã hội mới
đã ra đời, một xã hội do toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó
mà phải chia ra thành những người tự do và nô lệ, thành những kẻ giàu có đi bóc lột và những người nghèo khổ bị bóc lột, một xã hội không những không thể
Trang 11lại điều hòa một lần nữa những mặt đối lập đó, mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng gay gắt Một xã hội như vậy chỉ có thể tồn tại trong cuộc đấu tranh không ngừng và công khai giữa các giai cấp đó với nhau, hoặc giả là tồn tại dưới sự thống trị của một lực lượng thứ ba, một lực lượng tựa hồ như đứng trên các giai cấp đang đấu tranh với nhau, dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy và cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp Tổ chức thị tộc đã không còn tồn tại nữa Nó đã bị sự phân công và hậu quả của sự phân công ấy tức là sự phân chia của xã hội thành giai cấp, phá tan Nó đã bị nhà nước thay
thế" [Sđd, tập VI, tr.258 - 259].
Sự đấu tranh gay gắt giữa các giai cấp đối kháng lần đầu tiên xuất hiệntrong lịch sử loài người - giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ, đã dẫn đến nguy cơchẳng những các giai cấp đó tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội
Để thảm họa đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời Đó làNhà nước - tổ chức tiền thân có mầm mống từ những tổ chức phi chính trị đầutiên xuất hiện ngay trong lòng xã hội thị tộc, bộ lạc Các tổ chức này làm chứcnăng bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng, giờ đây khi xã hội phân chiagiai cấp, các thiết chế đó biến thành công cụ bảo vệ lợi ích của một giai cấp
"Ngay từ đầu, trong mỗi công xã đó đều có một số lợi ích chung nào đó mà người ta phải trao cho những cá nhân giữ gìn, tuy là dưới sự giám sát của toàn
xã hội Dĩ nhiên là những cá nhân ấy có một sự toàn quyền nào đó, và tiêu biểu cho những mầm mống của quyền lực nhà nước Làm thế nào mà cùng với thời gian - sự độc lập ngày càng phát triển đó của các chức năng xã hội đối với xã hội lại có thể phát triển thành sự thống trị đối với xã hội; làm thế nào mà hễ ở đâu gặp cơ hội thuận lợi, người đầy tớ ban đầu lại biến thành người làm chủ;
làm thế nào mà người chủ đó lại thể hiện ra, tùy theo hoàn cảnh " [C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, HN, 1994, tập 20, tr.252 - 253]
Như vậy, Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một
giai đoạn nhất định Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ công xã
Trang 12nguyên thủy Tức là Nhà nước chỉ xuất hiện khi nào xã hội có sự phân chia vàđối kháng giai cấp Hay nói cách khác, Nhà nước chính là sản phẩm và biểu hiệntrực tiếp của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Ăngghen
khẳng định: "Nhà nước quyết không phải là một lực lượng được áp đặt từ bên ngoài vào xã hội Nó càng không phải là cái "hiện thực của ý niệm đạo đức", là
"hình ảnh và hiện thực của lí trí" như Hêghen khẳng định Đúng ra, nhà nước là sản phẩm của xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định, nó là sự thú nhận
xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với chính bản thân mà không sao giải quyết được; rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được Nhưng muốn cho những mặt đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự"; và lực lượng đó, nảy sinh ra từ xã hội, nhưng
lại đứng lên trên xã hội và ngày càng xa rời xã hội, chính là nhà nước" [Sđd, tập VI, tr.260 - 261]
Nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, một cơ quan áp bức của giaicấp này đối với một giai cấp khác Đó là sự kiến lập một "trật tự", trật tự nàyhợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung đột giai cấp
Nhà nước xuất hiện một cách khách quan nhưng không phải là một hiệntượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giaiđoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của
nó không còn nữa Lúc ấy, nhà nước sẽ trở về vị trí thật sự của nó, vào viện bảo
tàng đồ cổ "Như vậy là không phải lúc nào cũng đã có nhà nước Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà nước và chính quyền nhà nước cả Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì sự phân chia đó làm cho nhà nước trở thành một tất yếu Bây giờ chúng ta đang bước nhanh đến gần một giai đoạn phát triển sản xuất, trong đó sự tồn tại
Trang 13của những giai cấp nói trên không những không còn là một sự tất yếu nữa, mà
đã trở thành một trở ngại trực tiếp cho sản xuất Những giai cấp đó nhất định sẽ biến mất cũng như xưa kia, chúng nhất định phải xuất hiện Giai cấp tiêu vong thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong theo Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hiệp tự do và bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào
viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng" [Sđd, tập VI, tr.265 - 266]
2 Bản chất, đặc trưng, vai trò của nhà nước và các kiểu nhà nước bóc lột
2.1 Bản chất của nhà nước
Trong lịch sử có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước: "Nhà nước làhiện thân của ý niệm đạo đức" (Hêghen), "Nhà nước toàn dân", "Nhà nước là cơquan điều hòa giai cấp", "Nhà nước vạn năng, đứng trên giai cấp bênh vực lợiích của người nghèo" (Bêben) Đó là những quan điểm sai lầm, chủ quan, phimácxít, có tính chất phản động, đã xuyên tạc bản chất nhà nước
Theo quan điểm của học thuyết Mác, nhà nước mang bản chất giai cấp.Nhà nước chỉ ra đời khi xã hội phân chia giai cấp Giai cấp nào thì nhà nước đó,không có và không thể có nhà nước siêu giai cấp, nhà nước đứng trên giai cấp,nhà nước chung cho mọi giai cấp Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập đểduy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình,
bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản"
(1848), C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định "Tất cả những giai cấp trước kia sau khi chiếm được chính quyền, đều ra sức củng cố địa vị mà họ đã nắm được bằng cách bắt toàn xã hội phải tuân theo những điều kiện bảo đảm cho phương
thức chiếm hữu của chính chúng" [C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, HN, 1995, tập 4, tr.611] Luận điểm này tiếp tục được nhấn mạnh trong tác phẩm "Chống Đuy - rinh", Ăngghen viết: "Bên cạnh
đại đa số hoàn toàn phải lao động một cách không tự nguyện ấy, thì hình thành
Trang 14nên một giai cấp được giải phóng khỏi công việc lao động sản xuất trực tiếp và
do vậy nó làm những công việc chung của xã hội như: quản lí lao động, công việc nhà nước, tư pháp, khoa học, nghệ thuật…Nhưng điều đó không loại trừ việc sử dụng bạo lực, cướp bóc, mánh khóe và lừa bịp trong sự hình thành các giai cấp, và không cản trở giai cấp thống trị một khi đã nắm được chính quyền
sẽ củng cố địa vị của nó trên lưng các giai cấp lao động và biến việc quản lý xã
hội thành việc bóc lột quần chúng" [Sđd, tập 20, tr.391] Không có nhà nước,
một tổ chức bạo lực chuyên được dùng để trấn áp thì giai cấp thống trị không thểduy trì được áp bức, bóc lột của mình đối với giai cấp bị trị Như vậy, sự ra đờicủa nhà nước là một tất yếu khách quan để làm "dịu" sự xung đột giai cấp, đểlàm cho sự xung đột ấy diễn ra trong vòng "trật tự" nhằm duy trì chế độ kinh tế,trong đó giai cấp này được bóc lột giai cấp khác
Mác - Ăngghen cho rằng, nhà nước ra đời tựa hồ như đứng ngoài xã hội,làm cho xã hội tồn tại trong vòng "trật tự" nhất định, nhưng trên thực tế thì nhànước là công cụ đàn áp của giai cấp này đối với giai cấp khác, là công cụ chuyên
chính của giai cấp này đối với giai cấp khác Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", Ăngghen viết: "Vì nhà nước
nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp, nhưng vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy; cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước, mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp, bóc lột giai cấp bị áp bức Chính do vậy mà nhà nước thời cổ thì trước hết là nhà nước của chủ nô dùng để đàn áp nô lệ, cũng như nhà nước phong kiến là cơ quan của bọn quý tộc dùng để đàn áp nông nô và những nông dân bị phụ thuộc, và như nhà nước đại nghị hiện đại là công cụ của tư bản dùng để
bóc lột lao động làm thuê" [Sđd, tập VI, tr.263] Trong đa số những nhà nước đã
từng tồn tại trong lịch sử, những quyền ban cho công dân còn "tỉ lệ với tài sản của họ", và điều đó nói rõ lên rằng "Nhà nước là một tổ chức của giai cấp hữu