Là một dòng họ pháp luật lớn trên thế giới nên Luật hồi giáo có những đặc trưng riêng so với các dòng họ pháp luật khác. trên cơ sở những tìm hiểu và nghiên cứu về luật hồi giáo của nhiều tác giả trước đó, em xin chọn một đề tài để tìm hiểu và nghiên cứu về Luật hồi giáo đó là: “Phân tích và bình luận về Luật hồi giáo và sự thích ứng của Luật Hồi giáo với xã hội hiện đại”. Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, tôi hi vọng sẽ cung cấp cho các bạn những hiểu biết pháp luật Hồi giáo, qua đó có thể có những đánh giá về luật hồi giáo để từ đó có thể xem xét được sự thích ứng của Luật Hồi giáo với xã hội hiện đại trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Trang 1MỞ ĐẦU
Cùng với Thiên chúa giáo và Phật giáo, Hồi giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có hơn một tỷ tín đồ trong khoảng 30 quốc gia trên thế giới được coi là quốc gia Hồi giáo Hệ thống pháp luật Hồi giáo (Islam) có mối quan hệ mật thiết với đạo Hồi, ở đâu không có đạo Hồi thì ở đó không có pháp luật Hồi giáo Các tín đồ hồi giáo bắt buộc phải tuân theo Luật Hồi giáo, ở các quốc gia hồi giáo không phải chỉ có duy nhất Luật Hồi giáo mà còn có luật thực định riêng của quốc gia nhưng hệ thống pháp luật thực định đó phần nhiều bị ảnh hưởng bởi Luật hồi giáo Là một dòng họ pháp luật lớn trên thế giới nên Luật hồi giáo có những đặc trưng riêng so với các dòng họ pháp luật khác Là một sinh viên Luật, em nghĩ tìm hiểu các dòng họ pháp luật trên thế giới là một điều thú vị và cần thiết trong việc học luật, vì vậy trên cơ sở những tìm hiểu và nghiên cứu về luật hồi giáo của nhiều tác giả trước đó, em xin chọn một đề tài
để tìm hiểu và nghiên cứu về Luật hồi giáo đó là: “Phân tích và bình luận về Luật hồi giáo và sự thích ứng của Luật Hồi giáo với xã hội hiện đại” Qua việc
tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này, em hi vọng sẽ có những hiểu biết pháp luật Hồi giáo, qua đó có thể có những đánh giá của bản thân về luật hồi giáo để từ
đó có thể xem xét được sự thích ứng của Luật Hồi giáo với xã hội hiện đại trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Do còn hạn chế về kĩ năng và kiến thức nên bài viết không thể tránh khỏi những sai xót và khiếm khuyết, kính mong thầy cô cho ý kiến nhận xét và bổ sung để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin trân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
Trang 2I KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LUẬT HỒI GIÁO.
1 Khái niêm Luật Hồi giáo.
Rất khó để đưa ra một khái niêm cụ thể cho Luật Hồi giáo, muốn hiểu được khái niệm Luật hồi giáo ta phải tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ mối quan hệ của luật Hồi giáo với nhà nước thì Luật hồi giáo hoàn toàn độc lập không chịu sự chi phối của nhà nước, điều này đồng nghĩa với việc không thể dùng chung khái niệm pháp luật của nhà nước với pháp luật hồi giáo Trong khi khái niệm pháp luật của nhà nước là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội và được nhà nước đảm bảo thực hiện thì Luật hồi giáo lại khác, luật hồi giáo là hệ thống các quy định mang tính tôn giáo của những người theo đạo Hồi
Dưới góc độ nguồn của Luật Hồi giáo, Luật hồi giáo là luật được coi là
do thượng đế đặt ra một lần duy nhất và sẽ không thay đổi, nói cách khác đây là luật tối cao của thượng đế, xã hội càn phải tuân theo và không được chống lại
và thay đổi nó, nó không như pháp luật nhà nước - pháp luật nhà nước được coi
là một hiện tượng được sinh ra để đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội và khi nhu cầu đó thay đổi, pháp luật cũng có thể thay đổi để phù hợp
Dưới góc độ phạm vi điều chỉnh của luật hồi giáo, Luật hồi giáo hướng tới điều chỉnh hâu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy luật Hồi giáo không mang tính cưỡng chế nhưng các tín đồ vẫn hết mực tuân theo là bởi họ tin rằng
họ sẽ được ban một cuộc sống hạnh phúc trên thiên đường khi đi theo “ con đường cua thượng đế”
Luật Hồi giáo gồm hai bộ phận, bộ phận thứ nhất là học thuyết tôn giáo với các điều tín đồ phải tin; bộ phận thứ hai là luật thần thánh quy định những gì
mà tín đồ phải làm và không được làm Những người hồi giáo thừa nhận rằng những quy tắc xử sự được rút ra từ thần khải của thượng đế không đủ rõ ràng để tiếp nhận, bởi vậy được bình giải và phát triển bởi những học giả được cộng đồng Hồi giáo thừa nhận Tuy nhiên theo học thuyết Hồi giáo chính thống, sự
Trang 3bình giải và phát triển của các học giả không nhằm sáng tạo những quy tắc xử
sự mới mà có mục đích để làm sáng tỏ, để hiểu ý nghĩa của những quy tắc đã tồn tại sẵn.[1]
Từ những tìm hiểu trên ta có thể rút ra một khái niệm mang tính khái quát cho luật Hồi giáo như sau: Luật Hồi giáo là những quy tắc xử sự trong thế giới hồi giáo được các tín đồ hồi giáo tin là do thượng đế đặt ra dùng để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của đời sống những người Hồi giáo
2 Đặc điểm của Luật Hồi giáo.
Luật Hồi giáo có tính lỗi thời Như đã nói ở trên những quy định và nguyên tắc trong Luật Hồi giáo được xem là lời răng dạy của thượng đế, và không thể bị thay đổi bởi bất cứ ai, thậm chí là Hiến pháp hay nhà nước, bởi vậy cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của đời sống xã hội Luật hồi giáo sẽ có nhiều quy định bị lỗi thời
Luật hồi giáo mang tính vụn vặt và thiếu hệ thống hóa bởi luật Hồi giáo
có những quy định can thiệp vào cả những vấn đề mà hệ thống pháp luật khác xét thấy không cần điều chỉnh bằng pháp luật, ví dụ như luật Hồi giáo quy định chi tiết cả về việc tẩy uế trước khi cầu nguyện
Trong cấu trúc quy phạm luật Hồi giáo thì khác với các quy phạm pháp luật thông thường Một quy phạm pháp luật thông thường bao gồm ba bộ phận: giả định, quy định, chế tài Tuy nhiên, trong luật Hồi giáo không tuân theo những cấu trúc thông thường như vậy Trong các quy phạm pháp luật hồi giáo thông thường không có phần chế tài, mà nội dung chính của nó bao gồm các lời răn đe, khuyên bảo, quy định những việc được làm và không được làm mà không đặt ra chế tài nào, thông thường quy định
Ba đặc điểm trên được coi là hai đặc điểm chính của luật Hồi giáo, ngoài hai đặc điểm chính đó, luật Hồi giáo còn có một số đặc điểm khác như sau:
Trang 4Luật Hồi giáo có ảnh hưởng mạnh trong việc điều chỉnh các lĩnh vực pháp luật về hôn nhân và gia đình, thừa kế, hình sự Còn trong các lĩnh vực pháp luật về hợp đồng, sở hữu thì ảnh hưởng của luật Hồi giáo có phần yếu hơn
Khi hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều quan niệm rằng hành
vi pháp luật bao gồm những hành vi phải làm và những hành vi không được làm Luật Hồi giáo chia hành vi của con người thành 5 loại và đây là nguyên tắc
cơ bản để đánh giá hành vi của con người về phương diện pháp luật cũng như đạo đức:
Hành vi bắt buộc phải làm ( obligatoire ) như nghĩa vụ chăm sóc con cái, nghĩa vụ đóng thuế
Hành vi nên làm ( Recommandes ) ví dụ thăm người bạn bị ốm, giúp đỡ người nghèo khó
Hành vi làm cũng được không làm cũng được ( indiffrerentes ) ví dụ như tham dự các trò tiêu khiển có tính lành mạnh
Hành vi bị khiển trách ( blamables ) ví dụ sai giờ hẹn, chậm trễ, nói lời không tế nhị, thiếu lễ phép, đi đứng không đúng tác phong Kinh Koran phê phán những ai giao kết hợp đồng thương mại vào sáng ngày thứ 6 trước buổi cầu kinh buổi trưa Mặc dù vậy, hợp đồng được kí kết vào sáng thứ 6 không bị mất hiệu lực và người giao kết hợp đồng cũng không phải chịu bất cứ chế tài nào
Hành vi cấm ( interdites ) ví dụ như giết người, cướp của, lừa đảo, trộm cắp [2]
Để có một cách nhìn rõ hơn về đặc điểm luật Hồi giáo, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về đặc điểm từng ngành luật cụ thể của Luật hồi giáo
Trang 5Thứ nhất, là luật dân sự: Chế định nghĩa vụ trong luật Hồi giáo rất phát
triển Nghĩa vụ xuất phát từ hợp đồng chia làm hai nhóm, sự phân chia này dựa trên cơ sở có hay không sự chuyển giao tài sản(là đối tượng của hợp đồng)
Nhóm thứ nhất liên quan đến việc có chuyển giao tài sản là đối tượng của giao dịch dân sự bao gồm hợp đồng trao đổi, hợp đồng cho vay, hợp đồng mua bán
Nhóm thứ hai là nhóm không cần chuyển giao tài sản bao gồm hợp đồng vận chuyển hàng hóa và hợp đồng ủy thác
Kinh Coran đò hỏi các bên tham gia hợp đồng lập thành văn bản và phải
có ít nhất hai người làm chứng ( Kinh Coran câu 2282)
Về thừa kế, người làm di chúc chỉ có quyền định đoạt ⅓ tài sản của mình Người thừa kế chỉ hưởng quyền chứ không thừa kế nghĩa vụ; tài sản phân chia đêu cho những người được thừa kế không phân biệt hàng thừa kế.[3]
Thứ hai, Là luật hình sự: Khái niệm tội phạm trong Luật Hồi gáo nếu xét
từ góc độ hình phạt bao gồm hai loại đó là tội phạm có thể đề bù được bằng tiên
và tội phạm phải đền bù bằng thân thể hoặc cuộc sống
Các học giả hồi giáo chi thành ba loại tội phạm theo mức độ nặng nhẹ Loại thứ nhất: Hudud - tội phạm nguy hiểm cho xã hội nhất, chống lại những “ quyền của Allah” bao gồm ngoại tình, vu cáo, uống rượu, trộm cắp, cướp, phản đạo và vi phạm kinh Coran
Loại thứ hai: Quesas - tội phạm chống lại các cá nhân, đòi hỏi sự trả thù của người bị hại hoặc gia đình người bị hại bao gồm các tội giết người ( cố ý hoặc vô ý); gây thương tích (cố ý hoặc vô ý); cưỡng dâm
Loại thứ ba: Taazir - các tội phạm liên quan đến “ quyền của Allah” bao gồm tội ăn thịt lợn, , làm chứng gian, hối lộ, làm gián điệp, nói năng tục tĩu, mặc quần áo hở hang Những hình phạt cho các tội này thường không nặng so
vớ hai loại tội trên
Trang 6Pháp luật hồi giáo coi tội chống lại niềm tin vào Allah là nặng nhất Tội giết người có thể chuộc bằng vật nuôi hoặc tiền Ví dụ, theo luật hồi giáo, giết một người Hồi giáo có thể chuộc bằng 50 con lạc đà [4]
Thứ ba, là luật hôn nhân và gia đình Luật Hồi giáo thể hiên tính bất bình
đẳng giữa nam và nữ rõ nét, người đàn ông có quyền tuyệt đối trong gia đình và
có quyền lấy nhiều vợ, người phụ nữ thì rất ít quyền, thậm chí trong hôn nhân
sự đồng ý hay không đồng ý của họ là không cần thiết, khi người phụ nữ bị phát hiện ngoại tình thì có những hình phạt vô cùng tàn bạo như ném đá đến chết…
II SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HỒI GIÁO.
Đạo Hồi và hệ thống pháp luật Hồi giáo hình thành từ thế kỷ thứ VII, khi nhà tiên tri Mohammed, một thương gia thành phố Mécca, bắt đầu truyền đi bức thông điệp từ đấng Allah Mohammed đã kêu gọi người dân thành Mecca hãy nghe theo lới dạy của thượng đế nhưng những cố gắng của ông ngoài được một
bộ phận người dân tin thì có không ít những người phản đối và chống lại nó đặc biệt là giới nhà giàu, thận chí người thuộc bộ tộc Quryash còn tìm các sát hại ông Mohammed và những người đồng hành đã rời Mecca năm 622 sau Công nguyên, và sau 8 năm Mohammed cùng các tín đồ hành quân quay trở lại chiếm đóng và đã trị vì vùng này, lập nên một đế chế tôn giáo Ngày Mohammed rời Mecca được gọi là ngày hijra, ngày bắt đầu lịch Hồi giáo mà phần lớn các nước Trung Đông sử dụng Trong khi châu Âu còn đang chìm đắm trong đêm trường Trung cổ thì nền văn hoá Hồi giáo đã phát triển mạnh mẽ Các nhà toán học, triết học, các nhà văn Hồi giáo đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền văn hoá nhân loại
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến XIV, ảnh hưởng của nền văn minh Hồi giáo với thế giới lớn hơn bất kỳ một đế quốc nào khác trong lịch sử bấy giờ Lãnh thổ Hồi giáo mở rộng ra rất nhanh chóng, chủ yếu bằng con đường xâm chiếm, chinh phục Những người thế vị của Mohammed đã tiến hành công cuộc trinh phục đất đai và bành chướng đạo hồi của mình và đã tạo
Trang 7nên một đế quốc lớn nhất thờ bấy giờ, trải dài từ biên giới Ấn Độ cho đến bờ biển Đại Tây Dương Tuy vậy, trong những thế kỷ sau đó, việc phát triển của đạo Hồi chủ yếu là qua con đường buôn bán và truyền giáo của các giáo sĩ đạo Hồi
Bước sang thế kỷ XVI, Đế quốc Ottoman, trung tâm thống trị của thế giới Hồi giáo khi đó, do chính trị suy vi, kinh tế đình đốn, đã thất bại liên tiếp trong các cuộc chiến tranh với bên ngoài và bất lực trước sự tan rã của chính quyền các cấp Các nước thực dân Châu Âu bắt đầu chọn các quốc gia hồi giáo là đối tượng để khống chế và cao hơn là mục tiêu của các cuộc xâm lược, do đó sự phát triển của thế giới Hồi giáo dường như bắt đầu trì trệ, thế giới Hồi giáo đã mất đi vầng hào quang của những thời đại hoàng kim trước đó Đến thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia hồi giáo đều nằm trong vòng ảnh hưởng của châu Âu hay trực tiếp bị cai trị như các nước thuộc địa.[5]
Từ nửa sau thế kỉ XIX, một số trào lưu tư tưởng xã hội có tính tôn giáo bắt đầu nổi lên trong thế giới Hồi giáo Các trào lưu này do các tinh anh tri thức trong tín đồ Hồi giáo khởi xướng sau khi đã trải qua ách thống trị của những kẻ thực dân Châu Âu đối với các nước Hồi giáo Họ cảm nhận được sự thách đố mạnh mẽ cũng như những nguy cơ đe dọa sự sinh tồn của Hồi giáo từ ưu thế vượt trội của phương Tây về khoa học kĩ thuật, thực lực kinh tế và kĩ thuật quân
sự Chủ nghĩa chính thống (Fundamentalism), chủ nghĩa hiện đại (Modernism)
và chủ nghĩa truyền thống (Traditionalism) là những trào lưu tư tưởng xã hội
chủ yếu nhằm phục hưng Hồi giáo trong bối cảnh thế giới hiện đại, nhưng mỗi trào lưu thực hiện mục tiêu đó bằng những biện pháp khác nhau.[6]
Kết quả của sự phát triển đạo Hồi là người dân của nhiều dân tộc khác nhau, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau đã hoà trộn vào nhau Tiếng Ả rập trở thành ngôn ngữ chung trong buôn bán và giao tiếp, ở nhiều vùng Trung Đông dân chúng bị Ả rập hoá, ngôn ngữ và văn hoá của họ trở thành của Arập Đạo
Trang 8Hồi và luật Hồi giáo đã tồn tại hơn 1.300 năm và phát triển ảnh hưởng của mình
từ bán đảo Ả rập đến châu Phi, châu Á
Ngày nay, các nước từ Philippines, Indonesia, Malaisia đến các nước thuộc Liên Xô cũ như Azerbaijan, Uzbekistan, Kirgistan, Kazakstan, vẫn còn theo truyền thống văn hoá và chịu ảnh hưởng của pháp luật Hồi giáo Pháp luật Hồi giáo vẫn chi phối, điều chỉnh các quan hệ xã hội ở phần lớn các nước Ả rập [7]
III NGUỒN CỦA LUẬT HỒI GIÁO.
Luật hồi giáo có bốn nguồn luật chủ yếu, trong đó có nguồn luật cơ bản là kinh Korran và Sunna; nguồn phát sinh bao gồm Ijma và Qias, bốn nguồn này đợc coi là bốn gốc rễ của luật Hồi giáo
a Kinh Koran
Thành tố đầu tiên mang tính chất chủ đạo của Luật Hồi giáo là Kinh Koran Kinh Koran là cuốn kinh thánh của đạo hồi dược viết bằng tiếng Ả Rập Kinh Koran hình thành từ những gì mà Mohammed tuyên đọc hay đọc lại những lời của thượng đế thần khải qua ông khi thuyết giảng Những lời tuyên đọc này được tập hợp lại thành sách hai mươi năm sau khi Mohammed chết Kinh Koran là nguồn luật cao nhất của Luật Hồi giáo, được coi là những lời của Thánh Allah tiết lộ cho tiên tri Mohammed Về cấu trúc Kinh Qu’ran được chia thành 30 phần và 114 chương và được sắp xếp theo ý của nhà tiên tri Các chương lại chia nhỏ thành hơn 6.200 khổ thơ, các luật gia Đạo Hồi gọi chúng là
“Những khổ thơ pháp luật” Chỉ có khoảng 3% các khổ thơ đó là liên quan đến pháp luật Ví dụ, Luật Gia đình được quy định trong khoảng 70 khổ thơ; các vấn
đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng
30 khổ thơ được coi là đặc trưng cho Luật Hình sự; các vấn đề về tài chính và hiến pháp thì được đề cập trong khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy định trong khoảng 20 khổ thơ.[8]
Trang 9Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và luật pháp rất ngắn gọn trong Koran và hầu như mang tính nguyên tắc, không cụ thể Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được đề cập Vì vậy, về nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác, bên cạnh Kinh Koran vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để nguồn luật quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna
b Kinh Sunna.
Kinh Sunna chứa đựng những lời dạy bảo và cách hành xử của tiên tri Mohamed và những giai thoại, những câu chuyện (gọi là Hadith) về nhà tiên tri Nói rõ hơn, Hadith là sử kí viết lại cuộc sống của Mohammed và các tín đồ của mình đã sống một cuộc sống phù hợp với trật tự tôn giáo được quy định trong Kinh Koran, những sử ký này được chính những người sống cùng thời với Mohammed viết lại để truyền lại cho hậu thế Những câu chuyện và giai thoại
đó đã chi tiết hóa những vấn đề được đề cập mang tính nguyên tắc, chưa có hoặc chưa rõ ràng trong Kinh Koran Chẳng hạn như Kinh Koran cấm uống rượu nhưng lại không có quy định nào về hình phạt, do đó Kinh Sunna đã bổ sung bằng cách kể lại chuyện Mohammed đã nói gì khi có người uống rượu và chính nhà tiên tri đã thực hiện việc đánh roi.[9]
Cuộc sống của Mohamad và tín đồ của ông dần được xem là khuôn mẫu cho cuộc sống của người dân trong xã hội Nội dung của Sunna gồm 3 loại: lời nói của tiên tri về tôn giáo; hoạt động và hành vi của nhà tiên tri và sự chấp nhận của tiên tri đối với một số hành vi nhất định của con người
c Ijma.
Trong khi Kinh Koran và Kinh Sunna là hai nguồn luật của Luật Hồi giáo mang tính thần thánh, tự nhiên thì thành tố thứ ba của Luật Hồi giáo là Ijma lại được ra đời trên cơ sở sự thống nhất về quan điểm pháp luật của các học giả pháp lý Đạo Hồi Những vấn đề mà các nhà học giả pháp lý Đạo Hồi bàn luận là những Giải pháp pháp lý của những tình huống mới về con người và cả chính trị
Trang 10nữa Những bàn luận và các quan điểm thống nhất của các học giả Hồi giáo phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của nguồn luật cơ bản là Koran và Sunna
Những khái niệm và ý kiến trong Ijma thì không tìm thấy trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna Đơn cử như một quy định được đề cập trong Ijma, phụ
nữ không thể trở thành thẩm phán Quy định này không hề được đề cập trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna mà lại được rút ra từ quan điểm thống nhất của các học giả pháp lý Đạo Hồi Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Ijma để tìm kiếm nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện đại Và
họ hoàn toàn tự do sáng tạo phương pháp mới để giải quyết các vấn đề tội phạm
và vấn đề xã hội dựa trên cơ sở những quan điểm được đề cập trong Ijma Do vậy thẩm phán có quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Ijma để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.[10]
d Qias.
Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét theo sự việc tương tự” để giải thích luật Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có thể suy luận theo vụ việc tương tự đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng giải quyết vụ việc đó không được
đề cập trong Kinh Koran, Kinh Sunna và Ijma Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy tính mà trong các nguồn Luật trước đó không đề cập đến loại tội phạm này.[11]
Như vậy, ta có thể kết luận lại rằng có bốn thành tố cấu thành nguồn của luật Hồi giáo đó là Kinh Koran, Kinh sunna, Ijma và Qias Trong đó Kinh Koran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá trị pháp lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính thần thánh và tự nhiên, còn Ijma và Qias đóng vai trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là nguồn luật thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp những tư tưởng thần thánh tự nhiên với lý trí của con người