Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động dẫn độ nhưng phần lớn các công trình nghiên cứu đó chỉ dừng ở việc nghiên cứu về mặt lý luận hoạt động dẫn độ, chưa đi phân tích cụ thể các hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ thực tế của nước ta với các nước trên thế giới để tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ. Chính vì vậy, tôi xin nghiên cứu về đề tài: “Dẫn độ và hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ của Việt Nam với một số nước trên thế giới.”. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ đưa ra được những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ ở nước ta, qua đó có thể đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tương trợ tư pháp về dẫn độ.
Trang 1Table of Contents
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẪN ĐỘ 3
1 Khái niệm dẫn độ 3
2 Đặc điểm của dẫn độ 3
3 Nguyên tắc dẫn độ 4
4 Trường hợp bị dẫn độ 6
5 Các trường hợp bị từ chối dẫn độ 7
II HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DẪN ĐỘ CỦA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 8
1 Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003 8
2 Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a 11
III NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 16
1 Thuận lợi 16
2 Tồn tại và nguyên nhân 17
IV KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DẪN ĐỘ 17
KẾT LUẬN 18
Trang 2MỞ ĐẦU
Ngày nay, toàn thế giới đang bước vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế Do đó việc mở rộng quan hệ giữa các nước láng giềng, các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới ngày càng phát triển Toàn cầu hóa cũng như việc hợp tác sâu rộng giữa các quốc gia đã mang lại cho các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam những điều kiện thuận lợi để phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội và thực tế đã đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên bên mặt tích cực đó, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại không ít những nguy cơ, thách thức lớn đối với các quốc gia Một trong những khó khăn thách thức đó là việc phát sinh một số tội phạm mới có tính chất xuyên quốc gia, loại tội phạm này diễn biến ngày càng phức tạp về cả tính chất, quy mô và hậu quả, đe dọa đến an ninh quốc gia và hòa bình trên thế giới Việt Nam cũng là một trong những nước đối mặt với thách thức này, trong thời gian gần đây tình trạng người nước ngoài và người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi trốn vào Việt Nam và phạm tội ở Việt Nam rồi trốn ra nước ngoài ngày càng gia tăng Trước tình hình này, một trong những vấn đề cấp bách là đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường hợp tác, liên kết với nhau trong tất cả mọi mặt để nâng cao hiệu quả đấu tranh và phòng chống tội phạm Trong đó việc hợp tác về dẫn độ là một tất yếu khách quan và vô cùng cần thiết trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung và việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người phạm tội ở quốc gia này nhưng đang lẩn trốn ở quốc gia khác nói riêng Ở nước ta
đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động dẫn độ nhưng phần lớn các công trình nghiên cứu đó chỉ dừng ở việc nghiên cứu về mặt lý luận hoạt động dẫn độ, chưa đi phân tích cụ thể các hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ thực tế của nước ta với các nước trên thế giới để tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ Chính vì vậy, tôi xin nghiên cứu về đề tài:
“Dẫn độ và hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ của Việt Nam với một số nước trên thế giới.” Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ đưa ra
Trang 3được những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ ở nước ta, qua đó có thể đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tương trợ tư pháp về dẫn độ
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẪN ĐỘ.
1 Khái niệm dẫn độ.
Dẫn độ là một chế định của luật hình sự quốc tế, vì vậy khái niệm dẫn độ sẽ có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên từ việc tìm hiểu các cách tiếp cận đó thì khái niệm dẫn độ được hiểu một cách chung nhất là một hoạt động tương trợ tư pháp giữa các quốc gia, theo đó quốc gia được yêu cầu dẫn độ dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia chuyển giao người có hành vi phạm tội hoặc người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia được yêu cầu để quốc gia yêu cầu tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặt thi hành bản án đối với người đó
2 Đặc điểm của dẫn độ.
Từ khái niệm được đưa ra, ta có thể rút ra một số đặc điểm của dẫn độ như sau:
Về chủ thể của quan hệ dẫn độ: Chủ thể của quan hệ dẫn độ là các quốc gia,
trong đó bao gồm quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia được yêu cầu dẫn độ Quốc gia yêu cầu dẫn độ là quốc gia có bị cá nhân xâm hại quyền và lợi ích, quốc gia được yêu cầu dẫn độ là nơi mà cá nhân thực hiện hành vi xâm hại đang hiện diện
ở đó
Về đối tượng dẫn độ: Là người đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ
nước được yêu cầu và người thực hiện hành vi phạm tội đang hiện diện trên nước được yêu cầu Và người này chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đó hoặc đã có bản án kết tội về hành vi phạm tội đó nhưng chưa chấp hành hình phạt hoặc chấp hành chưa xong hình phạt
Trang 4Về cơ sở pháp lý của hoạt động dẫn độ: Các điều ước quốc tế mà các quốc gia
đã tham gia với nhau chính là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động dẫn độ được tiến hành Ngoài ra trên cơ sở nguyên tắc “có đi có lại” giữa các quốc gia thì hoặt động dẫn độ dẫn độ vẫn có thể tiến hành khi không có điều ước quốc tế liên quan
đế hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia
Về mục đích của hoạt động dẫn độ: Hoạt động dẫn độ có mục đích nhằm truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với người bị yêu cầu dẫn độ Việc dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành bản án đối với người bị yêu cầu nhằm mục đích hành vi phạm tội phải bị trừng trị, đảm bảo sự ổn định xã hội, tính tối cao của Luật pháp và công lý phải được thực thi
3 Nguyên tắc dẫn độ.
Nguyên tắc của hoạt động dẫn độ là những tư tưởng chính trị - pháp lý có tính chỉ đạo, xuyên suốt, bao trùm toàn bộ hoạt động của các chủ thể khi tiến hành dẫn
độ Khi tiến hành dẫn độ, các quốc gia phải nghiêm chỉnh tuân thủ những nguyên tắc sau đây1:
3.1 Nguyên tắc có đi có lại.
Nguyên tắc có đi có lại được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong hoạt động tương trợ tư pháp về dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia, nguyên tắc này thể hiện ở việc khi một quốc gia được yêu cầu dẫn độ cho một quốc gia khác thì quốc gia được yêu cầu sẽ chỉ tiến hành hoạt động dẫn độ tội phạm nếu có sự đảm bảo chắc chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng nếu trong trường hợp tương tự ở tương lai thì quốc gia yêu cầu sẽ chấp nhận yêu cầu dẫn độ tội phạm nếu có yêu cầu dẫn độ tội phạm Nguyên tắc này thể hiện sự bình đẳng
và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, nâng cao được hiệu quả đấu tranh và phòng chống tội phạm trên cơ sở thiện chí và tôn trọng sự giúp đỡ
1 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016 Tr 144.
Trang 53.2 Nguyên tắc tội phạm kép.
Nguyên tắc tội phạm kép được nhiều nước công nhận và là là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động dẫn độ tội phạm Nguyên tắc tội phạm kép được hiều là một người chỉ có thể bị dẫn độ khi hành vi phạm tội của người đó đều cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự của quốc gia yêu cầu dẫn độ và quốc gia được yêu cầu dẫn độ Trong thực tế, pháp luật của các nước quy định tội danh đối với một hành vi phạm tội cụ thể là không giống nhau, những yếu tố cấu thành tội phạm cũng không hoàn toàn giống nhau Vì vậy để áp dụng linh hoạt nguyên tắc này, nhiều quốc gia đã quy định hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ không nhất thiết phải cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật hình sự của các nước Việc quy định như vậy đã gỡ được “nút thắt” khi áp dụng nguyên tắc tội phạm kép
3.3 Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình.
Nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình được hiểu là quốc gia được yêu cầu sẽ không thực hiện yêu cầu dẫn độ của nước yêu cầu nều có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ là công dân của nước mình Nguyên tắc này thể hiện việc chủ quyền của quốc gia đối với công dân của nước mình là tuyệt đối, không
có giới hạn về không gian và thể hiện nghĩa vụ của nhà nước đối với công dân của mình là bảo vệ quyền và lợi ích cho họ Nguyên tắc này thường được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của các quốc gia, và ở Việt Nam, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã quy định: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác” (khoản 2 Điều 17) Tuy nhiên phải có những biện pháp đảm bảo việc hành vi phạm tội cần phải bị trừng trị Chính vì vậy một số điều ước quốc tế đã có những quy định khá mềm dẻo để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người là công dân của nước được yêu cầu đó là giải quyết theo nguyên tắc nếu không dẫn độ thì phải truy tố Hoặc có thể nói đến khoản 11 Điều 16 Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thông qua tại Palermo, Italia năm 2003 quy định: “Quốc gia
Trang 6được phép dẫn độ và chuyển giao công dân của nước mình theo quy định của nội luật, với điều kiện là sau khi xét xử công dân đó phải được trở về thi hành án ở quốc gia đó”
3.4 Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị.
Nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị được hiểu là các quốc gia được yêu cầu có thể từ chối yêu cầu dẫn độ của quốc gia khác đối với một cá nhân mà quốc gia được yêu cầu dẫn độ cho rằng người này đã phạm các tội về chính trị Tuy nhiên, trong các điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, thực tiễn tương trợ tư pháp hình sự quốc tế chưa có một khái niệm thống nhất về thế nào là “tội phạm chính trị” Vì vậy, khi đề cập đến vấn đề này thì xuất hiện khá nhiều tranh cãi, thực chất, đây chỉ là vấn đề quan điểm nhìn nhận riêng cũng như quan điềm chính trị của mỗi quốc gia Việc quy định nguyên tắc này là để đảm bảo quyền con người khi một người là tội phạm chính trị được dẫn độ đến một quốc gia thì có thể
bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo2
4 Trường hợp bị dẫn độ.
Thứ nhất, theo Hiệp định mẫu về dẫn độ của Liên hợp quốc về dẫn độ năm
1990 quy định: Những tội phạm dẫn độ là những tội phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo hình phạt tù hoặc tước quyền tự do tối đa từ 1 đến 2 năm hoặc
bị áp dụng hình phạt nặng hơn theo luật hình sự mỗi nước Khi một yêu cầu dẫn
độ liên quan đến một người bị truy nã nhằm để thi hành hình phạt tù hoặc tước quyền tự do về hành vi phạm tội đó thì dẫn độ sẽ được chấp nhận nếu thời gian chấp hành án còn ít nhất từ 04 đến 06 tháng trở lên đối với tội phạm đó Như vậy, tùy theo pháp luật của các quốc gia và các điều ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp giữa các quốc gia mà thời gian tối thiểu cụ thể của hình phạt đối với người bị yêu cầu dẫn độ Nhưng qua thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn độ cho thấy các quốc gia thường thỏa thuận về mức hình phạt thấp nhất đối với người thực hiện hành vi phạm tội đó từ 01 năm trở lên hoặc nặng hơn; trường hợp người
2 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016 Tr 152.
Trang 7đó đã bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn chấp hành án còn lại
ít nhất là 06 tháng
Thứ hai, như ở trên đã nói pháp luật của các quốc gia không thể tương đồng với nhau hoàn toàn về nhóm tội danh, tên tội danh và các yếu tố cấu thành tội phạm Vì vậy người phạm tội vẫn có thể bị dẫn độ khi pháp luật của quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ không tương đồng với nhau, miễn là hành vi phạm tội đó đều bị pháp luật hình sự của các quốc gia coi là tội phạm, chứ không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ
Thứ ba, hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ phải thỏa mãn nguyên tắc tội phạm kép, nghĩa là hành vi phạm tội đó đều bị pháp luật quốc gia yêu cầu
và quốc gia được yêu cầu coi là tội phạm
5 Các trường hợp bị từ chối dẫn độ.
Trong các hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn đỗ cũng như các điều ước quốc
tế có đề cập đến vấn đề dẫn độ thì hầu như đều quy định các trường hợp sẽ từ chối dẫn độ Tuy nhiên, các hiệp định quy định về các trường hợp từ chối dẫn độ có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên qua thực tiễn tương trợ tư pháp về dẫn độ cho thấy một số trường hợp từ chối dẫn độ như sau:
Thứ nhất, người bị dẫn độ là công dân của quốc gia được yêu cầu Việc quy
định trường hợp này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình
Thứ hai, người bị dẫn độ là cá nhân đã có hành vi phạm tội đã bị quốc gia được
yêu cầu dẫn độ kết án bằng một bản án có hiệu lực đối với hành vi đó hoặc vụ án
đã bị đình chỉ Quy định này nhằm đảm bảo các phán quyết của Tòa án cần phải được tôn trọng và phải được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan thi hành
Trang 8Đồng thời một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự được thừa nhận chung là không
ai bị kết tội hai lần về cùng một hành vi3
Thứ ba, hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ đã hết thời hiệu theo quy
định của pháp luật quốc gia được yêu cầu Về nguyên tắc, một người sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của họ đã hết
Thứ tư, theo nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị thì đây là một trường
hợp quốc gia được yêu cầu dẫn độ có thể từ chối yêu cầu dẫn độ khi có căn cứ cho rằng hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ có liên quan đến tội phạm chính trị
Trên đây chỉ là những trường hợp bị từ chối dẫn độ phổ biến Ngoài ra, tùy theo từng điều ước quốc tế, từng hiệp định tương trợ tư pháp giữa các quốc gia thì còn có các trường hợp bị từ chối dẫn độ được quy định cụ thể
II HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DẪN ĐỘ CỦA VIỆT
NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1 Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam – Hàn Quốc năm 2003.
1.1 Nội dung cơ bản của hiệp định.
Ngày 15 tháng 09 năm 2003 tại Seoul – Hàn Quốc, nước ta đã ký hiệp định song phương chuyên biệt đầu tiên về dẫn độ với Hàn Quốc (hiệp định có hiệu lực
từ ngày 19/04/ 2003 Hiệp định này gồm 20 Điều, với nội dung là quy định những nội dung cơ bản của hoạt động tương trợ tư pháp giữa nước ta với Hàn Quốc như các trường hợp dẫn độ, trường hợp từ chối dẫn độ và các thủ tục, tài liệu cần thiết trong việc dẫn độ tội phạm, cụ thể như sau:
Về nghĩa vụ dẫn độ, Theo quy định của Hiệp định này thì mỗi bên đồng ý dẫn
độ cho bên kia bất kỳ người nào có mặt trên lãnh thổ của mình mà bên đó yêu cầu
để tiến hành truy tố, xét xử hoặc thi hành án vì một tội có thể bị dẫn độ
3 Nguyễn Quốc Việt (chủ biên): Giáo trình Luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội,
2016 Tr 159.
Trang 9Về trường hợp bị dẫn độ, Điều 2 của hiệp định đã quy định 2 trường hợp bị dẫn
độ đó là: Dẫn độ người có hành vi phạm tội có và hành vi đó có thể bị xử phạt tù với thời hạn từ một năm trở lên hoặc nặng hơn theo quy định pháp luật của cả hai bên tại thời điểm yêu cầu dẫn độ và trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đã có bản
án kết án có hiệu lực của Tòa án mà thời gian phải chấp hành hình phạt tù phải còn lại ít nhất là 6 tháng
Về các trường hợp từ chối dẫn độ: Hiệp định này đã tuân thủ những nguyên
tắc của hoạt động dẫn độ khi quy định các trường hợp từ chối dẫn độ, cụ thể là Điều 3 hiệp định này đã quy định các trường hợp phải bắt buộc từ chối dẫn độ, đó là: khi nước được yêu cầu dẫn độ xác định rằng tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm chính trị hoặc bên được yêu cầu có căn cứ cho rằng yêu cầu dẫn độ của nước yêu cầu là nhằm trừng phạt người bị yêu cầu dẫn độ vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, giới tính, chính kiến, quan điểm chính trị Tuy nhiên hiệp định cũng quy định trường hợp ngoại lệ của các trường hợp trên là không được từ chối khi hành vi phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ tước đoạt tính mạng hoặc xâm phạm thân thể của người đứng đầu nhà nước hay thành viên gia đình của người
đó, hay trường hợp tội phạm mà các bên có nghĩa vụ thiết lập quyền truy cứu trác nhiệm hình sự hoặc thỏa thuận theo một điều ước quốc tế đa phương và cả hai bên đều là thành viên
Ngoài ra tại Điều 4 Hiệp định này còn quy định các trường hợp có thế tự quyết định từ chối dẫn độ như trường hợp khi toàn bộ hoặc một phần tội phạm bị yêu cầu dẫn độ được cho là đã được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia được yêu cầu theo pháp luật quốc gia đó; trường hợp khi người bị yêu cầu dẫn độ đã được xử vô tội hoặc bị kết án tại một quốc gia thứ 3 về cùng một tội đó, nếu bị kết
án, thì hình phạt đã được thi hành đầy đủ hoặc không còn hiệu lực thi hành nữa; trong các trường hợp ngoại lệ, xét mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lợi ích của bên yêu cầu, bên được yêu cầu thấy rằng việc dẫn độ sẽ không phù hợp với các nguyên tắc nhân đạo do hoàn cảnh cá nhân của người bị yêu cầu dẫn độ; khi một tội mà yêu cầu dẫn độ đưa ra là một tội theo luật quân sự và không phải là tội
Trang 10quy định trong luật hình sự thông thường Và theo nguyên tắc không dẫn độ công dân của nước mình thì tại Điều 6 của hiệp định này còn quy định các bên không
có nghĩa vụ phải dẫn độ công dân của nước mình
Về thủ tục và tài liệu cần thiết: Yêu cầu dẫn độ phải được thực hiện bằng văn
bản và gửi thông quan đường ngoại giao, văn bản này phải kèm theo các tài liệu được quy định trong hiệp định và phải có chữ ký hoặc xác nhận của thẩm phán hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền của bên yêu cầu
1.2 Đánh giá hiệp định và thực tiễn thực hiện.
Thông qua việc ký kế hiệp định này đã cho thấy sự quan tậm và thiện chí hợp tác giữa Việt Nam và Hàn quốc trong hoạt động đấu tranh và phòng chống tội phạm Về cơ bản Hiệp định đã quy định rõ các nội dung về hoạt động hợp tác dẫn
độ như nghĩa vụ dẫn độ của mỗi nước, các trường hợp bị dẫn độ, các trường hợp
bị từ chối dẫn độ, thủ tục và tài liệu cần thiết và những quy định quan trọng khác Những quy định trong hiệp định về cơ bản đã phù hợp với những quy định của pháp luật quốc tế về dẫn độ tội phạm, phù hợp với pháp luật và thể chế kinhh tế, chính trị của 2 quốc gia
Về thực tiễn thực hiện hiệp định Năm 2006 Bộ công an Việt Nam đã khởi tố
và phát lệnh truy nã quốc tế đối với Nguyễn Hữu Chánh về tội danh khủng bố theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam Ngay sau đó, được biết Nguyễn Hữu Chánh đã bỏ trốn sang Hàn Quốc Vì vậy Bộ Công an Việt Nam đã gửi yêu cầu dẫn độ tới Hàn Quốc, yêu cầu dẫn độ Nguyễn Hữu Chánh về Việt nam Mặc dù
đã có hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ nhưng Hàn Quốc đã từ chối dẫn độ Nguyễn Hữu Chánh về Việt Nam với lý do “Nguyễn Hữu Chánh phạm tội về chính trị và Việt Nam chưa tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống khủng
bố bằng bom”
Như ở trên đã nói, vấn đề này thể hiện quan điểm nhìn nhận riêng của mỗi nước, và đây cũng chính là những bất cập khi chưa có một khái niệm cũng như