Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp CoP Conference of the Parties Hội nghị các thành viên CMS Convention on the Conservation of Migratory Species of Wi
Trang 11
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 11
1.1 Khái quát chung về đa dạng sinh học 11
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học 11
1.1.2 Giá trị của đa dạng sinh học 12
1.1.3 Vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học 17
1.2 Khái quát chung về động vật hoang dã 18
1.2.1 Khái niệm động vật hoang dã 18
1.2.2 Phân loại động vật hoang dã 19
1.2.3 Vai trò của động vật hoang dã 21
1.3 Bảo vệ động vật hoang dã trong mối quan hệ với bảo tồn đa dạng sinh học 23
1.4 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ LĨNH VỰC BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 30
2.1 Pháp luật quốc tế 30
2.1.1 Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã 30
2.1.2 Điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã 32
2.2 Pháp luật một số quốc gia 39
2.2.1 Australia 39
2.2.2 Ấn Độ 41
2.2.3 Brazil 44
Trang 22
2.2.4 Nam Phi 47
2.2.5 Trung Quốc 51
2.3 Bài học kinh nghiệm 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ TẠI VIỆT NAM - CÁC KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 58
3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về động vật hoang dã tại Việt Nam 58
3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định trong các công ước quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã 58
3.1.2 Thực tiễn thi hành các quy định trong pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 70
3.2 Khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 86
3.2.1 Ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế 86
3.2.2 Hoàn thiện các văn bản pháp luật Việt Nam 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 3Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
CoP Conference of the Parties Hội nghị các thành viên
CMS
Convention on the Conservation
of Migratory Species of Wild Animals
Công ước về các Loài Di cư
ĐDSH Đa dạng sinh học Đa dạng sinh học
ĐVHD Động vật hoang dã Động vật hoang dã
EMIs Enforcement Management
EPBC Environment Protection and
Biodiversity Conservation Act
Đạo luật Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học
ICCWC
International Consortium on Combating Wildlife and Forest Crime
Hiệp hội Quốc tế về chống tội phạm động vật hoang dã
IUCN
International Union for Conservation of Nature and Natural Resources
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
IWT Illegal Wildlife Trade Hội nghị Quốc tế về Buôn bán trái
phép Động vật, Thực vật hoang
Trang 4NEMBA The National Environmental
Management: Biodiversity Act
Đạo luật Quản lý Môi trường Quốc gia: Luật Đa dạng sinh học NYZS New York Zoological Society Hiệp hội động vật học New York
UNCLOS United Nations Convention on
the Law of the Sea
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
UNEP United Nations Environment
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
WCCB The Wildlife Crime Control
Trang 55
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cùng với tình hình biến đổi khí hậu và sự ô nhiễm môi trường đang diễn biến ngày càng phức tạp, vấn nạn săn bắt, vận chuyển,buôn bán và tiêu thụ trái phép động vật hoang dã (ĐVHD) mà thế giới phải đối mặt trong những năm gần đây ngày càng gia tăng khiến cho những nguy cơgây mất cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học (ĐDSH) ngày một lớn hơn Đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng loài ĐVHD, đe dọa trực tiếp đến sự tồntại của hàng loạt các loài động vật có vú, bò sát, chim, côn trùng, động vật lưỡng cư và nhiều loài trong số này nằm trong nhóm bị đe dọa trên toàn cầu Việc buôn bán trái phép các loài hoang dã được xem là một ngành thương mại với lợi nhuận tỷ đô ở cấp toàn cầu và hoạt động của tội phạm có tổ chức đang khiến nhiều loài rơi vào tuyệt chủng, đồng thời phá hủy tài nguyên thiên nhiên một cách tàn khốc chưa từng có trong lịch
sử Một số “điểm nóng tiêu thụ ĐVHD” trên thế giới như khu rìa đông Liên minh Châu Âu, bờ Đông/Nam Châu Phi, Đông Nam Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á… là nơi mà các loài động, thực vật hoang dã bản địa bị đe dọa nhiều nhất, trong
đó Việt Nam được coi như một “trạm trung chuyển lớn”vì Việt Nam nằm ởkhu vực trung tâm có thể “tuồn” nguồn ĐVHD từ Campuchia, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia và Châu Phi sang Trung Quốc
So với các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, vị trí địa lý của Việt Nam có
sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên giá trị ĐDSH cao và do đó, Việt Nam là một trong các quốc gia cần được ưu tiên cho bảo tồn ĐDSH toàn cầu Nhiều loài thực vật và ĐVHD, không những có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa kinh tế rất lớn Tuy nhiên, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không có loài
ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và một khi đã bị khai thác, nhất là khai thác không hợp lý thì chúng sẽ nhanh chóng bị suy thoái, cạn kiệt
Trang 66
Thêm vào đó, là một trong những bộ phận quan trọng nhất của ĐDSH nhưng số lượng các loài ĐVHD đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng, mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán trái phép các loài ĐVHD Từ đó dẫn tới việc suy giảm mạnh ĐDSH, nguy cơ mất cân bằng sinh thái hiện vẫn đang diễn ra trên diện rộng, gây ảnh hưởng tiêu cực không những đến môi trường mà còn đến phát triển kinh tế - xã hội
Một trong những nguyên nhân khiến cho các vi phạm liên quan đến ĐVHD còn diễn ra tràn lan là do hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này còn lỏng lẻo, mâu thuẫn, chưa đủ tính răn đe, do đó việc nghiên cứu để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
có liên quan trở nên vô cùng cấp thiết và có thể nói đó là một công trình lớn để góp phần vào công cuộc bảo tồn ĐDSH tại Việt Nam Với mong muốn góp một phần nhỏ vào hoàn thiện nền móng của pháp luật nước nhà, đề tài phân tích, minh giải các quy định của pháp luật quốc tế và của một số quốc gia trong đó có Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD Kết quả nghiên cứu của đề tài dựa trên quá trình tổng hợp các quy định của pháp luật, tham khảo những công trình nghiên cứu với quy
mô khác nhau của các học giả trong nước và trên thế giới, qua đó nêu ra thực trạng
áp dụng pháp luật về bảo tồn loài ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, so với các vấn đề khác về phát triển kinh tế - xã hội hay hội nhập quốc tế, vấn đề về bảo tồn ĐDSH, mà đặc biệt là về bảo vệ ĐVHD vẫn chưa được quan tâm đúng mực, các công trình nghiên cứu riêng liên quan đến ĐVHD có rất ít, phần nhiều các nghiên cứu là về ĐDSH, có thể kể đến một số công trình sau:
- Sách Bảo tồn đa dạng sinh học,GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999;
- Sách Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên,GS.TS Lê Trọng Cúc,2002;
Trang 77
- Sách Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương Bảo tồn và quản lý động vật hoang dã ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Bình (Chủ biên), Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, 2004;
- Luận án Tiến sỹNghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở
hệ thống rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam,TS Trần Thế Liên,2006;
- Luận văn Thạc sỹ Pháp luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam, Đặng
Thị Thu Hải, 2006;
- Giáo trình Đa dạng sinh học, PGS.TS Tô Thất Tháp, Đại học Huế, 2008;
- Bài viết Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại trước khi có Luật Đa dạng sinh học, TS Nguyễn Văn Tài, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Trang 88
quốc tế cũng như pháp luật Việt Namvề bảo vệ ĐVHD là rất cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững Việc thắt chặt và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan tới lĩnh vực này sẽ giúp Việt Nam tiến gần hơn đến hội nhập kinh tế quốc tế theo định hướng chung của thế giới hiện nay - phát triển kinh tế cân bằng với bảo vệ môi trường - là mục tiêu mà mọi quốc gia đang hướng tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định về bảo vệ ĐVHD đặt trong
bối cảnh bảo tồn ĐDSH trong pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia và tình hình thực thi pháp luật trong lĩnh vực này tại Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật của một số quốc gia và pháp luật
quốc tế về lĩnh vực bảo vệ ĐVHD, qua đó so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực này tại Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích nghiên cứu
Là tổng hợp của những nghiên cứu luật pháp quốc tế, sự tham khảo nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài cùng với những phân tích và đề xuất của người viết, mục đích lớn nhất của đề tài là được đóng góp cho việc bảo tồn ĐDSH Đề tài nghiên cứu một cách tổng thể những quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ ĐVHD, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện những thiếu sót và lỗ hổng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về vấn đề này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm về ĐDSH nói chung và ĐVHD nói riêng, qua đó chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa việc bảo vệ ĐVHD và bảo tồn ĐDSH;
Trang 9- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp duy vật biện chứng: xem xét chính sách pháp luật về bảo vệ ĐVHD một cách toàn diện trong mối tương quan với vấn đề bảo tồn ĐDSH trên thế giới cũng như tại Việt Nam
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể về tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong việc bảo vệ ĐVHD
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung
- Phương pháp thống kê: đề tài tập hợp những số liệu về kinh tế, pháp lý và thực tiễn làm cơ sở khoa học
- Phương pháp so sánh: đề tài nghiên cứu pháp luật về bảo vệ ĐVHD trong từng văn kiện riêng biệt nhưng đặt chúng trong sự so sánh với nhau để tìm ra điểm chung, điểm khác biệt và từ đó đưa ra những nhận định về tính hợp lý và hiệu quả của chúng
Trang 1010
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành03 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ động vật hoang dã
Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trong lĩnh vực bảo
vệ động vật hoang dã
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam – các khuyến nghị và giải pháp
Trang 1111
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ
BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ
1.1 Khái quát chung về đa dạng sinh học
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học năm 1992, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần, ; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wildlife Fund) thì ĐDSH là “sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống” Do đó, ĐDSH cần phải được xem xét ở ba mức độ: đa dạng loài, đa dạng di truyền và đa dạng sinh thái
Đa dạng loài bao gồm tất cả loài trên trái đất Mỗi loài thường được xác định
theo một trong hai cách Thứ nhất, một loài được xác định là một nhóm các cá thể
có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá đặc trưng khác biệt với những nhóm
cá thể khác (định nghĩa về hình thái của loài) Thêm vào đó, sự khác biệt về DNA cũng được sử dụng để phân biệt những loài có đặc điểm hình thái bên ngoài gần như giống hệt nhau (loài đồng hình), như các loài vi khuẩn Thứ hai là một loài có thể được phân biệt như là một nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để sinh sản thế hệ con cái hữu thụ và không thể giao phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác (định nghĩa về sinh học của loài)
Trang 1212
Đa dạng di truyền bao gồm các thành phần các mã di truyền cấu trúc nên cơ
thể sinh vật (nucleotides, genes, chromosomes) và sự sai khác về di truyền giữa các
cá thể trong một quần thể và giữa các quần thể với nhau
Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú về sinh cảnh, nơi ở, tổ sinh
thái và các hệ sinh thái ở các cấp độ khác nhau Sự đa dạng này được phản ảnh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, ĐDSH là sự phong phú về sự sống trên trái đất, là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên, bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia
1.1.2 Giá trị của đa dạng sinh học
Giá trị của ĐDSH là vô cùng to lớn đối với tự nhiên và cuộc sống của con người Về mặt lý thuyết, giá trị của ĐDSH được chia làm hai loại: giá trị trực tiếp
và giá trị gián tiếp Giá trị kinh tế trực tiếp của ĐDSH là những giá trị của các sản phẩm sinh vật mà được con người trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống; còn giá trị gián tiếp bao gồm những thứ mà con người không thể dùng làm hàng hóa để trao đổi, buôn bán, những lợi ích đó bao gồm số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu và cung cấp những phương tiện cho tương lai của xã hội loài người
Cụ thể, ĐDSH mang lại những giá trị trực tiếp như sau:
- Giá trị cho tiêu thụ: bao gồm các sản phẩm tiêu dùng phục vụvà duy trì
cuộc sống hàng ngày như củi đốt hay nguồn thức ăntừ các loài động thực vật hoang
dã sinh trưởng trong tự nhiên
- Giá trị sử dụng cho sản xuất: là giá trị trao đổi cho các sản phẩm thu lượm
được từ thiên nhiên trên thị trường trong nước và ngoài nước Những sản phẩm này được định giá theo các phương pháp kinh tế tiêu chuẩn, thường dưới dạng sơ chế
Trang 1313
hay nguyên liệu Những sản phẩm này đóng vai trò như những nguyên vật liệu cung cấp cho ngành công nghiệp, nông nghiệp và là cơ sở để cải tiến cho các giống loài mới ưu việt hơn Sự phát triển các giống mới có thể mang lại những hiệu quả kinh
tế to lớn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
Bên cạnh đó, so với giá trị trực tiếp, những giá trị gián tiếpmà tính ĐDSH
mang lại có tác động và ảnh hưởng lớn hơn tới thiên nhiên và con người Đây là những khía cạnh khác của ĐDSH, như chức năng của hệ sinh thái hay các quá trình diễn ra trong tự nhiên, chúng đem đến những lợi ích vô giá và không thể đo đếm
Do những lợi ích này không phải là hàng hoá hay dịch vụ, nên thường không được tính đến trong quá trình tính toán giá trị GDP của quốc gia Tuy vậy, chúng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì những sản phẩm tự nhiên mà nền kinh tế của các nước đó phụ thuộc, nếu các hệ sinh thái tự nhiên không còn khả năng cung cấp những lợi ích như vậy thì quốc gia đó phải tìm những nguồn tài nguyên thay thế khác tốn kém hơn.Những giá trị gián tiếp của ĐDSH bao gồm:
- Giá trị sử dụng không cho tiêu thụ: các quần xã sinh vật mang lại hàng loạt
các hình thức dịch vụ môi trường mà không bị tiêu thụ trong quá trình sử dụng Việc xác định những giá trị dịch vụ sinh thái tương đối khó khan, nhất là trên phạm
vi toàn cầu Có thể nếu một số những lợi ích gián tiếp mà ĐDSH mang lại như:
Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: khoảng 40% sức sản xuất của hệ sinh
thái trên cạn phục vụ cho cuộc sống của con người, tương tự đối với hệ sinh thái dưới nước, ở những vùng cửa sông, dải ven biển là nơi những thực vật thuỷ sinh và tảo phát triển mạnh, chúng là nơi bắt đầu của chuỗi thức ăn tạo thành các hải sản như trai, sò, tôm cua, cung cấp thực phẩm cho con người
Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật có vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm, phòng chống lũ lụt và hạn hán cũng như việc duy trì chất lượng nước
Trang 1414
Điều hoà khí hậu: quần xã thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc
điều hoà khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu
Phân huỷ các chất thải: các quần xã sinh vật có khả năng phân huỷ các chất
ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càng gia tăng do các hoạt động của con người
Mối quan hệ giữa các loài: nhiều loài có giá trị được con người khai thác,
nhưng để tồn tại, các loài này lại phụ thuộc rất nhiều vào các loài hoang dã khác Nếu những loài hoang dã đó mất đi, sẽ dẫn đến việc mất mát cả những loài có giá trị kinh tế to lớn Một trong những quan hệ có ý nghĩa kinh tế lớn lao nhất trong các quần xã sinh vật là mối quan hệ giữa cây rừng, cây trồng
và các sinh vật phân giải sống trong đất, phân huỷ các chất hữu cơ, cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng
Nghỉ ngơi và du lịch sinh thái: mục đích chính của các hoạt động nghỉ ngơi
là việc hưởng thụ mà không làm ảnh hưởng đến thiên nhiên thông qua những hoạt động như đi thám hiểm, chụp ảnh, quan sát chim, thú, câu cá
Du lịch sinh thái là một ngành du lịch không khói đang dần dần lớn mạnh tại nhiều nước đang phát triển, nó mang lại nguồn doanh thu khổng lồ trên toàn thế giới
Giá trị giáo dục và khoa học: nhiều sách giáo khoa đã biên soạn, nhiều
chương trình vô tuyến và phim ảnh đã được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục và giải trí Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những người yêu thích sinh thái học đã tham gia các hoạt động quan sát, tìm hiểu thiên nhiên Các hoạt động này mang lại lợi nhuận kinh tế cho khu vực nơi họ tiến hành nghiên cứu khảo sát; nhưng giá trị thực sự không chỉ có vậy mà còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cường tính giáo dục và tăng cường vốn sống cho con người
Trang 1515
Quan trắc môi trường: những loài đặc biệt nhạy cảm với những chất độc có
thể trở thành hệ thống chỉ thị báo động rất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường Một số loài có thể được dùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc đắt tiền Một trong những loài có tính chất chỉ thị cao là địa y sống trên đá hấp thụ những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trong không khí Thành phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ ô nhiễm không khí Các loài động vật thân mềm như trai sò sống ở các hệ sinh thái thuỷ sinh có thể là những sinh vật chỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trường
- Giá trị lựa chọn: là tiềm năng của một loài để cung cấp lợi ích kinh tế cho
xã hội loài người trong tương lai Do xã hội luôn vận động và phát triển, nhu cầu của con người cũng thay đổi qua thời gian, nên việc lựa chọn những loài động, thực vậtphù hợp là cần thiết để vừa đảm bảo cân bằng sinh thái vừa có thể duy trì được nguồn cung Ví dụ như chuyên gia về côn trùng tìm kiếm những loài côn trùng có thể sử dụng như các tác nhân phòng trừ sinh học; các nhà vi sinh vật học tìm kiếm những loài vi khuẩn có thể trợ giúp cho các quá trình nâng cao năng suất sản xuất; các cơ quan y tế, chăm sóc sức khỏe và các công ty dược phẩm luôn nỗ lực nghiên cứu và tìm kiếm các loài có thể cung cấp những hợp chất phòng chống và chữa
bệnh cho con người
- Giá trị tồn tại: nền kinh tế phát triển, kéo theo đó là quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn liền với đô thị hóa, đã và đang để lại những tác động tiêu cực tới môi trường, đẩy cuộc sống hoang dã vào vòng nguy hiểm Quần xã sinh vật có mối quan hệ mật thiết tới việc duy trì môi trường sống, do đó, sự tồn tại của quần xã sinh vật trong tự nhiên ngày càng đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của con người.Kinh phí để bảo vệ ĐDSH, cân bằng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế, nhất là tại các nước đang phát triển lên tới tỷ đô la mỗi năm Số tiền này cũng nói lên tầm quan trọng của giá trị tồn tại của các loài và các quần xã
- Những khía cạnh mang tính đạo đức:
Trang 1616
Quyền tồn tại: mỗi loài đều là một phần của tạo hoá và đều có quyền được
tồn tại như con người, trên cơ sở đó, sự tồn tại của các loài phải được bảo đảm mà không cần tính đến sự phong phú hay đơn độc hoặc giá trị của chúng đối với con người Con người không những không có quyền làm hại các loài khác mà còn phải có trách nhiệm bảo vệ sự tồn tại của chúng
Mối quan hệ giữa các loài: tất cả các loài đều có mối quan hệ với nhau,
chúng là một phần của các quần xã tự nhiên Việc mất mát của một loài sẽ
có ảnh hưởng đến các thành viên khác trong quần xã Vì vậy, bảo tồn các loài, bảo tồn ĐDSH cũng chính là tự bảo vệ mình Khi thế giới tự nhiên đạt được sự phồn thịnh, cuộc sống của con người cũng sẽ phồn thịnh và bền vững
Giới hạn sinh thái: con người cũng phải sống trong một giới hạn sinh thái
như các loài khác,và bị giới hạn bởi khả năng sức tải của môi trường sống Mỗi một loài sử dụng nguồn tài nguyên trong môi trường để tồn tại và số loài sẽ bị suy giảm khi những nguồn tài nguyên này bị huỷ hoại và cạn kiệt Những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ gây hại đối với các loài mà còn gây hại đến chính bản thân con người
Trách nhiệm của con người: con người là một trong những nguyên nhân gây
tổn hại tới môi trường nhiều nhất, nếu như nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt và các loài bị đe dọa tuyệt chủng thì những thế hệ tiếp theo sẽ phải trả giá bằng một cuộc sống có chất lượng thấp Do vậy, con người ngày nay cần phải biết sử dụng các nguồn tài nguyên một cách khôn ngoan, tránh gây tác hại cho các loài và các quần xã sinh vật
Sự tôn trọng đa dạng văn hoá phải được đặt ngang tầm với sự tôn trọng ĐDSH: việc đánh giá cao giá trị đa dạng văn hoá và thế giới tự nhiên làm
cho con người biết tôn trọng hơn đối với tất cả sự sống phong phú và phức tạp của nó Những cố gắng đem lại hoà bình cho toàn thể các dân tộc trên thế giới và chấm dứt tình trạng nghèo khó, bạo lực và phân biệt chủng tộc sẽ
Trang 1717
mang lại lợi ích cho loài người và cho cả ĐDSH Những hành động bạo lực trong xã hội loài người là một trong những hình thức khốc liệt tàn phá ĐDSH
Giá trị tinh thần và giá trị thẩm mỹ:thiên nhiên đã mang lại cho những nhà
thơ, nhà văn, những nghệ sĩ và nhạc sỹ cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, nhờ
có thiên nhiên mà kho tàng tri thức cũng như văn hóa nghệ thuật của con người ngày càng đa dạng và phong phú, vượt xa cả những giá trị kinh tế.[66]
1.1.3 Vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn ĐDSH là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn ĐDSH,
điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai
Hiện nay có các phương thức bảo tồn chủ yếu là bảo tồn tại chỗ (In-situ) và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ).Trong khi phương thức bảo tồn tại chỗ là nhằm bảo tồn
các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên để duy trì và khôi phục quần thể các loài trong môi trường tự nhiên của chúng, phương thức bảo tồn chuyển vị bao gồm các hoạt động nhằm bảo tồn các loài mục tiêu bên ngoài nơi phân bố hay môi trường tự nhiên của chúng
Hai phương thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau Những cá thể từ các quần thể dược bảo tồn Ex-situ có thể được đưa vào thiên nhiên nơi có phân bố
tự nhiên của chúng để tăng cường cho các quần thể đang được bảo tồn In-situ và việc nghiên cứu các quần thể được bảo tồn Ex-situ có thể cung cấp cho chúng ta
Trang 1818
những hiểu biết về các đặc tính sinh học của loài, từ đó có thể hỗ trợ cho việc hình thành các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể được bảo tồn In-situ.[61]
Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiện môi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảo tồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn tạo
ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai của loài Vì vậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn gen động cho thực vật, thay vì chỉ được duy trì như đúng tình trạng di truyền mà chúng vốn có Điều cốt lõi của khái niệm này là khuyến khích tính thích nghi của loài bằng cách đặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và trong quá trình tiến hóa theo các hướng khác biệt để đa dạng hóa nguồn gen của loài, chuẩn bị cho việc thích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi trường khác nhau
1.2 Khái quát chung về động vật hoang dã
1.2.1 Khái niệm động vật hoang dã
Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về loài hoang dã được đưa ra bởi các viện nghiên cứu và các tổ chức chuyên môn trên toàn thế giới Ví dụ, theo từ điển Cambridge Advanced Learner’s Dictionary and Thesaurus, loài hoang dã là các loài động vật và thực vật sinh trưởng không phụ thuộc vào con người, thường sống ở trong môi trường tự nhiên[96]; theo Tổ chức bảo tồn loài Gorilla (The Gorilla Species Survival Plan – SSP) của Hoa Kỳ, ĐVHD hay động vật ngoại lai là động vật sống trong tự nhiên, ĐVHD đã sinh trưởng từ hàng ngàn năm nay mà không chịu sự tác động trực tiếp từ con người[99]; hay theo Bộ quy tắc về bảo tồn rừng và
tự nhiên (Forest and Nature Conservation Rules) năm 2006 của Vương quốc Bhutan, loài hoang dã có nghĩa là bao gồm tất cả loài động vật có vú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá, động vật không xương và các tổ chức vi sinh vật mà không bị thuần hóa [39]; v.v…
Trang 1919
Loài hoang dã trong pháp luật Việt Nam, cụ thể là tại Khoản 13 Điều 3 Luật đa dạng sinh học năm 2008, được định nghĩa là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật
Như vậy, từ những định nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm về ĐVHD là tất cả những loài động vật sinh trưởng trong môi trường tự nhiên mà nằm ngoài sự tác động trực tiếp của con người
1.2.2 Phân loại động vật hoang dã
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà các nhà khoa học phân loại ĐVHD theo những tiêu chí khác nhau Hiện nay, ĐVHD thường được phân loại dựa trên những tiêu chí phổ biến như đặc điểm sinh học (động vật có xương sống và động vật không xương sống), địa điểm phân bố, mức độ nguy cấp, v.v… Để phù hợp với mục tiêu của luận văn, tác giả xin được tham khảo cách phân loại ĐVHD theo tiêu chí mức độ nguy cấp của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources – IUCN)
Liên minh IUCN là tổ chức phát hành và cập nhật thường xuyêndanh sách thể hiện tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới,
hay còn gọi làSách đỏ (IUCN Red List of Threatened Species/IUCN Red Listhay
Red Data List) Trong đó, để đánh giá tình trạng của các loài hoang dã, các nhà nghiên cứu đã dựa trên các tiêu chí như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation) Cụ thể,theo quy định trong Sách đỏ phiên bản từ năm 2001, mức độ nguy cấp của các loài hoang dã được chia thành 3 mức với 9 bậc như sau:
Mức tuyệt chủng (Extinct):
Tuyệt chủng (Extinct –EX)
Tuyệt chủng trong tự nhiên (Extinct in the Wild - EW)
Mức bị đe dọa (Threatened):
Trang 2020
Cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng (Critically Endangered - CR)
Nguy cấp cao (Endangered - EN)
Bị đe dọa, sắp nguy cấp U (Vulnerable - V)
Mức ít nguy cấp (Least concern):
Sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ (Near Threatened - N)
Ít quan tâm (Least Concern - LC)
Thiếu dữ liệu (Data Deficient - DD)
Không phân loại hoặc không đánh giá (Not Evaluated - NE)
Chính thức gia nhập IUCN từ năm 1993, Việt Nam đã tiếp bước các thành viên của Liên minh trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống
Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên phần động vật được xuất bản năm 1992 với 365 loài
nằm trong danh mục, phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục, đây là công trình do Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với IUCN thực hiện với sự tài trợ của Quỹ SIDA (Thụy Điển) Các tiêu chuẩn sử
dụng trong Sách đỏ Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các tiêu chuẩn của Sách
đỏ IUCN kết hợp với việc nghiên cứu hiện trạng phân bố quần thể loài ở Việt Nam
Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam năm 2007, được công bố vào
ngày 26 tháng 6 năm 2008 Ngoài ra, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng
đã hoàn thành việc soạn thảo Danh lục đỏ Việt Nam 2007
Theo đó, dựa trên sự phân loại vể mức độ nguy cấp của loài cũng như danh mục các loài động thực vật hoang dã đi kèm trong Sách đỏ Việt Nam, các cơ quan thực thi pháp luật đã tham khảo, nghiên cứu và cho ra đời một số danh mục động
thực vật rừng được ban hành kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị
định 160/2013/NĐ-CP vể tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Thông tƣ 47/2012/TT- BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Quyết định 82/2008/QĐ-BNN về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quý
Trang 2121
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển;
và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm
1.2.3 Vai trò của động vật hoang dã
Với vị trí là thành phần tất yếu trong chu trình dinh dưỡng và tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái, là một nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh, ĐVHD có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì một hệ sinh thái tự nhiên bền vững, qua đócó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Vai trò của ĐVHD đối với ĐDSH: tất cả các cá thể sống đều là một phần của
mạng lưới phức tạp, cân bằng một cách tinh vi gọi là sinh quyển Ngược lại, sinh quyển của trái đất của tạo nên bởi vô số các hệ sinh thái - bao gồm các loài động thực vật và môi trường sống tự nhiên của chúng Trong cùng một hệ sinh thái, các loài đều có tác động nhất định tới nhau, do đó sự biến mất của một loài sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, ảnh hưởng tới rất lớn tới các loài khác Đặc biệt đối với các loài có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thì sự tuyệt chủng của chúng có thể dẫn đến những hậu họa khó lường
Những đóng góp về y học của ĐVHD: Trong cuộc đấu tranh sinh tồn không có
hồi kết với những loài sinh vật khác, nhiều loài ĐVHD đã tự tìm ra cách để kháng
vi khuẩn và các tế bào gây ung thư Chúng có thể tạo ra các phân tử mới, lạ mà các nhà hóa học chưa từng biết tới Việc tìm hiểu và nghiên cứu về đặc tính này của các loài có thể giúp các nhà khoa học tìm ra những phương pháp chữa bệnh mới, hiệu quả cho những căn bệnh nan y Thêm vào đó, trong cơ thể của nhiều loài động thực vật còn chứa các chất hóa học hữu ích, phục vụ cho việc sản xuất dược phẩm Nhiều loại thuốc kháng sinh, chất chống ung thư, thuốc giảm đau và thuốc chữa bệnh máu khó đông hiện nay có nguồn nguyên liệu là từ ĐVHD Trên thực tế, hơn 1/4 số đơn thuốc được kê ở Mỹ hàng năm có chứa các chất tìm thấy trong các loài động thực vật Nếu không có những gốc có hoạt tính tự nhiên trong cơ thể của các sinh vật hoang dã thì con người khó có khả năng phát hiện được những gốc có hoạt tính đó
Trang 2222
để sử dụng hoặc dựa vào đó làm mô hình để tổng hợp thuốc Do đó, nếu những loài này bị làm tổn hại trước khi lợi ích y học của chúng được biết đến thì những bí mật này cũng sẽ biến mất theo
Giá trị kinh tế của ĐVHD: Theo Ban quản lý vườn quốc gia và động vật hoang
dã bang Tesax, Hoa Kỳ, xem chim là hoạt động giải trí ngoài trời phát triển nhanh nhất, ước tính mỗi năm đóng góp khoảng 400 triệu USD vào ngân sách của bang Nghiên cứu của Cục Bảo vệ Động vật hoang dã và Thủy sản Hoa Kỳ cũng cho biết hoạt động quan sát môi trường tự nhiên - không chỉ tính riêng hoạt động ngắm chim
- đã thu về 85 tỷUSD cho Hoa Kỳ trong năm 2001.Mậu dịch quốc tế về động thực vật hoang dã cũng đem lại doanh thu lớn, những nước phát triển chăn nuôi ĐVHD như Nam Phi, Dimbabwe, Namibia hằng năm thu được lợi nhuận từ 1,3 -2,4 triệu USD; Australia hằng năm xuất khẩu 1,8 triệu con Kangaroo thu được 8,5 triệu USD
Bên cạnh những giá trị về mặt y tế, kinh tế và khoa học kỹ thuật, rất nhiều loài ĐVHD còn mang lại niềm cảm hứng cho các tác giả, nghệ sĩ và tất cả những ai quan tâm tới sự đa dạng của thế giới tự nhiên Hàng loạt các triển lãm ảnh về các loài động thực vật hoang dã đã được tổ chức trên toàn thế giới, thu hút sự chú ý của đông đảo dư luận Tiêu biểu như hai triển lãm ảnh khai mạc ngày 24/9 tại công viên Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh và công viên Hòa Bình, Hà Nội nằm trong chuỗi các hoạt động thường kỳ được tổ chức tại các khu vực đô thị ở Việt Nam trong năm
2011 [71]
Những giá trị mà ĐVHD mang lại cho hệ sinh thái cũng như ĐDSH và sự phát triển của nhân loại là không thể phủ nhận, tuy nhiên con người lại là nguyên nhân chính dẫn tới sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng các loài động thực vật hoang dã, đẩy chúng đến bên bờ tuyệt chủng, khiến chohệ sinh thái không còn giữ được sự cân bằng theo quy luật tự nhiên vốn có, điều này làm ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống của chính chúng ta Suy cho cùng, bảo vệ ĐVHD chính là bảo vệ sự tồn tại của xã hội loài người
Trang 2323
1.3 Bảo vệ động vật hoang dã trong mối quan hệ với bảo tồn đa dạng sinh học
Từ phân tích vai trò của ĐVHD đối với hệ sinh thái, có thể thấy bảo tồn ĐDSH và việc bảo vệ ĐVHD có một mối quan hệ gắn bó không thể tách rời, chúng
bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó bảo tồn ĐDSH bao gồm bảo vệ ĐVHD và bảo vệ ĐVHD chính là bảo tồn một phần của ĐDSH
Từ những năm 80 của của thế kỷ XX, quan điểm về bảo vệ ĐVHD là bảo vệ theo các cấp độ từ bảo vệ nguồn gen, bảo vệ từng loài và bảo vệ hệ sinh thái Khi Công ước ĐDSH ra đời năm 1992 đã cung cấp cách tiếp cận khác về bảo vệ ĐVHD ĐVHD để có thể tồn tại được trong môi trường tự nhiên, các đặc điểm sinh học của chúng sẽ phải biến đổi để thích nghi với sinh cảnh, như vậy sẽ tạo nên sự khác biệt về gen giữa các loài động vật, từ đó hình thành tính đặc hữu của từng loài, dẫn tới sự đa dạng về loài và trở thành một phần của ĐDSH.Nếu sinh cảnh thay đổi, tính đặc hữu cũng sẽ thay đổi Bảo vệ ĐDSH theo Công ước ĐDSH có nghĩa là bảo
vệ các yếu tố mà nó tác động đến, đặc biệt là môi trường sống của chúng Bên cạnh
đó, Luật đa dạng sinh học năm 2008 cũng có cách tiếp cận tương tự, theo khoản 1
và khoản 5 tại Điều 3,ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên, bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia.Như vậy, bảo tồn ĐDSH chính là duy trì sự đa dạng và phong phú ấy của các quần xã sinh vật, của môi trường sống
tự nhiên
Do đó, để bảo toàn được sự phong phú, đa dạng về tính đặc hữu của từng loài, cần phải bảo vệ ĐVHD trong chính môi trường sống của chúng,và ngược lại, bảo tồn môi trường sống của sinh vật là bảo tồn được tính đặc hữu, sự đa dạng về loài tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái, tạo nên ĐDSH
Việc bảo vệ ĐVHD nói riêng và bảo vệ cũng như phát triển các loài hoang dã khác nói chung nhất thiết phải được thực hiện một cách nghiêm túc để ĐDSH được bảo tồn, bởi ĐVHD là một thành phần tất yếu trong hệ sinh thái, cùng với các loài sinh vật khác tạo nên một ĐDSH riêng biệt Khi mỗi một loài bị mất đi, ĐDSH bị
Trang 2424
giảm sút, theo phản ứng dây chuyền sẽ dẫn tới có sự thay đổi lớn trong quần xã sinh vật gây mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, nhiều đặc tính có thể bị mất vĩnh viễn
mà không kịp phục hồi, làm ảnh hưởng tới cả các loài hoang dã khác
Những giá trị mà ĐDSH mang lại không hề nhỏ đối với cuộc sống của con người, do đó bảo tồn ĐDSH không phải vấn đề của riêng ai mà đòi hỏi sự chung tay của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, để bảo vệ môi trường sống của chính chúng ta, bảo vệ ĐHVD chính là bảo tồn ĐDSH
1.4 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật
Bảo vệ ĐVHD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc bảo tồn ĐDSH Tất cả các cá thể sống đều là một phần của mạng lưới phức tạp, khi một loài mất đi ĐDSH sẽ bị phá vỡ gây ra những hậu quả khó lường cho môi trường, làm cho quá trình biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và khốc liệt hơn Số lượng cá thể các
loài ĐVHD đang giảm mạnh trong những năm trở lại đây, theo bản báo cáo Hành tinh sống (Living Planet) của Hiệp hội Động vật học London (Zoological Society of
London - ZSL) và Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (World Wildlife Fund - WWF) trong năm 2016, quần thể ĐVHD trên toàn cầu đã giảm 58% kể từ năm 1970,Báo cáo nhấn mạnh rằng số lượng các loài khác như voi, tê giác và tê tê châu Phi đã bị sụt giảm rất lớn trong những năm gần đây với sự gia tăng của nạn săn trộm, hoặc các loài cá mập đang bị đe dọa do bị đánh bắt quá mức Các nhà nghiên cứu kết luận rằng các quần thể loài có xương sống đang giảm trung bình 2% mỗi năm, và đưa ra cảnh báo rằng nếu không có hành động kịp thời, các quần thể ĐVHD có thể giảm tới 67% vào cuối thập kỷ này [89]
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm số lượng loài hoang dã, nhưng các hoạt động của con người bao gồm việc đô thị hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng làm thu hẹp sinh cảnh, nạn chặt phá rừng trái phép dẫn tới việc phá hoại môi trường sống của động vật, gây ô nhiễm môi trường và làm biến đổi khí hậu, và đặc biệt nghiêm trọng là hoạt động săn bắt, buôn bán các loài động vật nguy cấp như hổ, tê giác, voi… tràn lan để phục vu nhu cầu ngày càng tăng của con người mới là nguyên
Trang 2525
nhân chủ yếu gây nên tình trạng này Trước đây, Việt Nam đã từng tự hào về cá thể
tê giác Java hoang dã duy nhất của Đông Dương còn sót lại tại Vườn Quốc gia Cát Tiên Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 2010, các cơ quan chức năng đã phát hiện cá thể
tê giác cuối cùng này bị bắn chết trong tình trạng sừng bị cắt, loài này sau đó đã bị tuyên bố chính thức tuyệt chủng ở Việt Nam
Trước tình hình tội phạm săn bắt trái phép ĐVHD ngày càng gia tăng, trong những năm qua, Liên hợp quốc đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn nạn buôn bán bất hợp pháp ĐVHD và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Cụ thể, vào năm
2010, Ban Thư ký CITES, Cảnh sát quốc tế, Văn phòng Liên hợp quốc về Ma túy
và Tội phạm, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hải quan thế giới đã cùng nhau thành lập Hiệp hội Quốc tế về chống tội phạm động vật hoang dã (International Consortium on Combating Wildlife and Forest Crime - ICCWC) Năm 2013, tại Hội nghị các nước thành viên Công ước CITES lần thứ 16 diễn ra ở Bangkok (Thái Lan), 170 quốc gia đã nhất trí tăng cường công tác bảo vệ hàng trăm loài gỗ, rùa và các loài động, thực vật khác Vào tháng 1/2014, Nghị viện châu Âu đã thông qua Nghị quyết về tội phạm có liên quan tới ĐVHD Nghị quyết này đã đưa ra một số biện pháp và kế hoạch hành động nhằm đẩy lùi hoạt động buôn bán trái phép ĐVHD Tại Mỹ, trong tháng 2/2014, Chính phủ đã ban hành Lệnh cấm xuất nhập khẩu, hoặc bán lại ngà voi
Tại Hội nghị London về buôn bán ĐVHD bất hợp pháp diễn ra ở London (Anh) vào ngày 13/2/2014,Tuyên bố London về Buôn bán trái phép các loài động vật hoang dã đã đươ ̣c 46 nước chính thức thông qua, nhằm thể hiê ̣n quyết tâm chấm dứt tình trạng này bằng nhiều giải pháp và hành động cụ thể như xóa bỏ thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ ĐVHD, tăng cường hiệu quả của hệ thống pháp luật ở các quốc gia, nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư, thúc đẩy sự phát triển bền vững, đồng thời kêu gọi sự cam kết, hợp tác, hỗ trợ của tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế có liên quan để sớm ngăn chặn và loại trừ nạn buôn bán trái phép loài hoang
dã xuyên biên giới đang xảy ra trên toàn cầu Tuy nhiên, Tuyên bố London cũng
Trang 2626
nêu rõ, thời gian tới, các nước cần phải có nhiều hành động cấp thiết hơn để giải quyết cuộc khủng hoảng săn bắn các loài ĐVHD hiện nay, trong đó phải tính đến các yếu tố về kinh tế xã hội, pháp lý và thị trường Cụ thể, phải sửa đổi luật pháp, đẩy mạnh việc thực thi pháp luật, tăng cường năng lực tài chính và con người, nâng cao nhận thức, chống tham nhũng bằng cách hạn chế nhu cầu đối với sản phẩm ĐVHD có nguồn gốc bất hợp pháp hoặc khai thác không bền vững Các nước phải xác định rõ, hoạt động buôn bán trái phép ĐVHD là "một loại tội phạm nghiêm trọng" xét theo các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức và xuyên quốc gia
Trong năm vừa qua, tại Hội nghị Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) lần thứ 17 (CoP17) được tổ chức tại Johannesburg (Nam Phi) từ 24/9 đến 5/10 với sự tham gia của 182 nước thành viên cùng đại diện các tổ chức bảo vệ ĐVHD từ khắp các châu lục, Chính phủ các nước
đã đồng lòng đưa ra một loạt các biện pháp cứng rắn nhằm bảo vệ tốt hơn nhiều loài đang bị đe doạ, đồng thời tăng cường nỗ lực giải quyết vấn đề săn bắn và buôn lậu các loài hoang dã hiện đang phát triển rầm rộ Đặc biệt, các quyết định và thông cáo quan trọng của hội nghị là về các loài bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng trong đó có ngà voi, sừng tê giác, tê tê và hổ
Một trong những thành công của Hội nghị là hơn 180 quốc gia đã đã bỏ phiếu bác bỏ đề nghị hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác của Vương quốc Swaziland, bởi
lẽ các quốc gia thành viên cho rằng sự tồn tại song song của sừng tê giác hợp pháp
và bất hợp pháp trên thị trường sẽ gây ra nhiều cản trở và ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi pháp luật Chính vì vậy, hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác sẽ là mối đe dọa lớn đối với các quần thể tê giác trong tự nhiên và sẽ tiếp tục làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác
Thành công tiếp theo là tất cả 8 loài tê tê trên thế giới (loài ĐVHD bị buôn bán trái phép nhiều nhất thế giới) đã được nâng cấp mức độ bảo vệ, từ Phụ lục II lên Phụ lục I (cấp độ bảo vệ cao nhất) trong CITES, đồng thời Hội nghị đã ban hành
Trang 2727
lệnh cấm toàn cầu về buôn bán các loài tê tê và vẹt xám châu Phi Tiếp đó, Hội nghị
đã đưa ra quyết tâm quản lý chặt chẽ tình trạng gây nuôi hổ nhằm tăng cường thực thi Quyết định 14.69 rằng hoạt động gây nuôi hổ chỉ được phép tiến hành vì mục đích bảo tồn Trung Quốc ra sức bác bỏ Quyết định này nhưng đã bị nhiều quốc gia phản đối, trong đó có Ấn Độ và Lào Đặc biệt, Lào - đất nước có ít nhất ba trại hổ lớn đang gây nuôi hàng trăm cá thể hổ - cũng đã tuyên bố tại Hội nghị về quyết tâm đóng cửa các cơ sở gây nuôi hổ và gấu tại quốc gia này Qua đó cho thấy, hầu hết các quốc gia thành viên đều nhận thấy hoạt động gây nuôi hổ nhằm buôn bán các bộ phận cơ thể và thu lợi nhuận là mối đe dọa với công tác bảo tồn hổ hoang dã
Ngoài ra, Hội nghị cũng nâng mức bảo vệ cá mập mắt, cá mập lụa và cá đuối quỷ lên Phụ lục II của Công ước CITES, mặc dù gặp phải sự phản đối quyết liệt của Nhật Bản, Iceland và Trung Quốc Được liệt kê trong Phụ lục II đồng nghĩa với những biện pháp kiểm soát, bao gồm việc đảm bảo tính bền vững của ngành khai thác thủy sản, sẽ được áp dụng cho các loài này
Tổng kết lại, CoP17 là cuộc họp lớn nhất trong lịch sử 43 năm của CITES, qua
đó Hội nghị đã thảo luận, xem xét và quyết định nhiều nội dung quan trọng liên quan đến thực thi CITES như sửa đổi phụ lục các loài động, thực vật thuộc CITES; sửa đổi các nghị quyết, quyết định thực thi Công ước; tăng cường hợp tác với các thể chế quốc tế khác; tăng cường năng lực; sinh kế bền vững; nâng cao nhận thức và giảm nhu cầu sử dụng động vật hoang dã; thực thi pháp luật chống tội phạm vi phạm pháp luật bảo vệ động, thực vật hoang dã và nghiên cứu khoa học trong thực thi CITES Đồng thời, Hội nghị nhấn mạnh việc săn bắn trộm, buôn bán các loài ĐVHD trái phép đã và đang ảnh hưởng đến gần 500 loài, đặc biệt các cá thể động vật hoang dã quý hiếm như voi, tê giác, sư tử… tại châu Phi và nhiều quốc gia khác trên thế giới Và lần đầu tiên, Hội nghị cũng chính thức tranh luận và thông qua các nghị quyết về nhiều vấn đề liên ngành trọng yếu liên quan tới buôn bán các loài hoang dã, trong đó có vấn đề tham nhũng và giảm nhu cầu tiêu thụ các loài hoang
dã nguy cấp và các sản phẩm làm từ các bộ phận của chúng
Trang 2828
Như vậy, vấn đề bảo vệ các loài ĐVHD luôn cần được quan tâm đúng mực, trong các biện pháp bảo vệ ĐVHD, việc sử dụng công cụ “pháp luật” luôn mang tính bao quát, tác động tới mọi đối tượng và có mức độ răn đe cao với các quy định
và chế tài nhằm quản lý mọi hoạt động trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát các hành vi khai thác trái phép các loài động thực vật hoang dã để tránh trình trạng dẫn đến tuyệt chủng Theo đó, những hành vi kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật Từ đó hướng tới việc xóa bỏ hoàn toàn nạn buôn bán trái phép các loài động thực vật quý hiếm nguy cấp có nguy cơ tuyệt chủng, góp phần bảo vệ hệ sinh thái, bảo tồn các quần thể động vật và sinh cảnh của chúng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
ĐDSH là nền tảng cho sự sống và phát triển của con người, ĐDSH được xem
là “vốn tự nhiên” cho giảm nghèo, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực, khủng hoảng kinh tế mà nhiều khu vực, quốc gia đang phải đối mặt Cam kết bảo tồn và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH được quốc tế xem là sự đầu tư cho tương lai và đang trở thành một điều kiện, nội dung bắt buộc trong các tiến trình đàm phán về hợp tác kinh tế và thương mại quốc
tế Tuy nhiên, hiện nay các giống loài sinh học đang bị mất dần, quần thể sống tự nhiên bị hủy hoại, hệ sinh thái bị xuống cấp.Để đáp ứng nhu cầu phức tạp của một nền dân số ngày càng gia tăng, ngành sản xuất thực phẩm đang là ngành dẫn đầu trong việc phá hủy sinh cảnh sống và khai thác cạn kiệt các loài hoang dã, bên cạnh
đó, thương mại quốc tế cũng tạo ra khoảng 30% mối đe dọa tuyệt chủng đối với các sinh vật trên khắp thế giới
Để tồn tại và phát triển, các quốc gia cần phải lấy con người làm trung tâm và dựa trên cơ sở bảo tồn, hay nói cách khác là cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất
cả mọi người trên cơ sở duy trì tính đa dạng và năng suất của thiên nhiên Công cuộc bảo tồn ĐDSH luôn bao hàm cả việc bảo vệ ĐVHD, để duy trì sự cân bằng
Trang 2929
sinh thái, để bảo vệ môi trường sống và suy cho cùng là để bảo vệ chính sự tồn vong của loài người Để đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả, cần phải hành động trên nhiều lĩnh vực như nâng cao nhận thức và hiểu biết của con người về môi trường tự nhiên, nghiên cứu khoa học chuyên sâu về bảo tồn loài, nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật làm quy chuẩn và khuôn khổ cho các hoạt động kinh tế -
xã hội của con người
Mỗi loài ĐVHD đều có những vai trò và giá trị riêng của mình trong tự nhiên,ĐVHD hơn bao giờ hết cũng rất cần được bảo vệ trước sự bành trướng của con người
Trang 30đã dần dần xây dựng các tập quán và các hiệp định đa phương nhằm duy sự cân bằng sinh thái đi đôi với phát triển bền vững.Để tìm hiểu về các quy định liên quan tới các loài hoang dã, trước hết cần phải nắm được lịch sử hình thành và phát triển của luật môi trường quốc tế Tuy việc chỉ ra chính xác luật môi trường quốc tế có từ bao giờ không phải chuyện dễ dàng bởi chính những đặc điểm cốt lõi của lĩnh vực này, nhưng khi nhìn lại những sự kiện lịch sử, ta có thể nêu ra một số ví dụ được xem là tiền đề cho luật môi trường quốc tế
Từ thời Phoenicians thế kỷ thứ IX trước Công nguyên, nho và rượu vang là các sản phẩm chủ chốt có mối quan hệ về mặt lịch sử đối với tình hình kinh tế - xã hội của nhiều địa phương thuộc lãnh thổ của Málaga - một tỉnh thuộc Tây Ban Nha, người dân nơi đây lấy việc canh tác nho và sản xuất rượu vang là phương tiện mưu sinh chính Theo thời gian, thị trường sản xuất rượu vang phát triển mạnh mẽ, rượu vang ở đây được xuất khẩu qua cảng Málaga với số lượng lớn sang các nước châu
Âu khác và cả châu Mỹ Năm 1865, qua con đường giao thương các giống nho giữa
Mỹ và Pháp, một loài rệp tên là Phylloxera vastatrix có nguồn gốc từ Đông Bắc Mỹ
chuyên tấn công lá và rễ cây nho đã tràn sang đất Pháp và hai năm sau đó, dịch bệnh Phylloxera đã bùng phát gây nên sự phá hoại trên diện rộng toàn bộ các vườn
Trang 3131
nho của Pháp và nhanh chóng lan ra các khu vực lân cận.Trong vòng gần hai thập
kỷ từ năm 1865, hơn 70% diện tích trồng nho trên toàn châu Âu đã bị tàn phá nặng
nề gây ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của người dân[54].Trong nỗ lực nhằm chống lại dịch bệnh, các quốc gia đã thống nhất cho ra đờiCông ước quốc tế Phylloxera, được ký tại Berne ngày 3/11/1881, đây là một điều ước quốc tế đa phương đầu tiên được xem là liên quan tới môi trường[86] Có thể thấy rằng, từ chính những vấn đề phát sinh trong môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, luật môi trường quốc tế dần được hình thành từ những hiệp định đa phương về môi trường
mà các quốc gia ký kết, từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế, từ quyết định của
cơ quan tài phán quốc tế và từ tập quán quốc tế
Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế liên quan tới bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn ĐVHD được thành lập ngày càng nhiều ở khắp các quốc gia và khu vực trên thế
giới Một trong những tổ chức về bảo vệ ĐVHD có lịch sử lâu đời nhất là Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife Conservation Society – WCS), Hiệp hội được thành lập năm 1895 tại New York dưới tên gọi Hiệp hội động vật học New York
(New York Zoological Society – NYZS) với nhiệm vụ bảo tồn các loài ĐVHD và sinh cảnh của chúng trên phạm vi toàn cầu bằng các hoạt động nghiên cứu khoa học
về bảo tồn, giáo dục và truyền cảm hứng cho con người cần phải trân trọng thiên nhiên Đến với Việt Nam từ năm 2005, với mục tiêu ngăn chặn các vi phạm về luật bảo vệ rừng và ĐVHD, Hiệp hội tập trung hoạt động về mảng chính sách và pháp luật, làm việc chủ yếu với các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương.Ngoài việc hỗ trợ đào tạo kỹ thuật điều tra và thực thi pháp luật cho các cán
bộ thực thi pháp luật đến từ nhiều cơ quan đơn vị, Hiệp hội còn tổ chức nghiên cứu
và đề xuất xây dựng hệ thống phân tích thông tin tình báo tội phạm, các thỏa thuận
và hợp tác liên ngành, luật pháp quốc gia và các cuộc đối thoại song phương
Thế kỷ 20 là thời kỳ nở rộ của các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì môi trường, có thể kể đến một số tổ chức lớn như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (1945) (United Nations Educational, Scientific and Cultural
Trang 3232
Organization – UNESCO),Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế(1948)
(International Union for Conservation of nature and Natural Resources – IUCN)
được biết đến qua việc công bố Sách đỏ hàng năm, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (1961) (World Wildlife Fund for Nature – WWF), Tổ chức Hòa bình xanh
(1971) (Greenpeace International) nổi tiếng nhất trong chiến dịch chống lại nạn săn bắt cá voi, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (1972) (United Nations Environment Programme – UNEP) v.v… Trong quá trình hoạt động, các tổ chức đã phối hợp với nhau để xây dựng nên rất nhiều các đạo luật, các công ước quốc tế
quan trọng liên quan tới lĩnh vực này như Công ước Ramsar (1971) (Ramsar
Convention on Wetlands of International Importance) về bảo tồn và sử dụng một
cách hợp lý các vùng đất ngập nước,Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp(1973) (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora - CITES), Hiến chương Thế giới về Thiên nhiên (World Charter for Nature) được Liên hợp quốc thông qua vào năm
1982 về năm nguyên tắc chung của bảo tồn thiên nhiên, Công ước về Đa dạng Sinh học (1992) (Convention on Biological Diversity - CBD) về bảo tồn đa dạng sinh
học, v.v…
Đứng trước tình hình suy thoái môi trường đang diễn ra ngày càng xấu, các tổ chức này hoạt động ngày càng mạnh mẽ trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã lôi kéo được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, hướng tới tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ các loài hoang dã Qua hoạt động linh hoạt của từng tổ chức trong mọi lĩnh vực như chính sách, xã hội, kinh tế, vấn đề về bảo tồn thiên nhiên nói chung và bảo vệ ĐVHD nói riêng đạt được nhiều thành tựu to lớn
2.1.2 Điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã
.Môi trường thiên nhiên ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia mang những đặc thù về khí hậu và đất đai với sự ĐDSH khác nhau, tạo nên sự phong phú về các quần xã sinh vật,vì vậy các đạo luật về bảo vệ ĐVHD và danh mục các loài hoang dã cần
Trang 3333
được bảo vệ của mỗi khu vực cũng khác nhau Do đó, một số lượng lớn các công ước quốc tế đa phương về bảo vệ ĐVHD đã được ký kết giữa nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, một số các công ước có tầm ảnh hưởng lớn với sự tham gia của
đa số các nước có thể kể tới:
Công ước Ramsar năm 1971 (Ramsar Convention - Convention on Wetlands
of International Importance, especially as Waterfowl Habitat)
Công ước Ramsar - Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước ra đời tại Ramsar (thành phố nhỏ của Iran) vào ngày 2/2/1971, sau đó ngày này cũng được chọn là Ngày Đất ngập nước Thế giới Dưới góc độ bảo tồn ĐDSH là bảo vệ môi trường sống của sinh vật, Công ước Ramsar đã khẳng định được mức độ ảnh hưởng của môi trường hoang dã đối với sự sống của các loài động vật Mục tiêu chính của Công ước là bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước chủ yếu làm các nơi cư trú của chim nước Tuy nhiên qua nhiều năm, Công ước đã mở rộng phạm vi ra tất cả các phạm trù khác của đất ngập nước và thừa nhận các vùng đất ngập nước là các hệ sinh thái có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với bảo tồn ĐDSH cũng như cung cấp phúc lợi cho các cộng đồng dân cư Vì vậy, hiện nay tên gọi của Công ước là “Công ước về các vùng đất ngập nước” thường được sử dụng phổ biến hơn Hiện nay đã có
168 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập Công ước với 2.231 vùng có tổng diện tích khoảng 2,1 triệu km2 được đưa vào Danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (Danh sách Ramsar)
Các tiêu chí của Công ước để xác định và nhận dạng vùng đất ngập nước có tầm quan trọng trên quốc tế được dùng cho việc khoanh định Khu Ramsar bao gồm:
Nhóm A: các điểm có tính chất tiêu biểu, loại hình đất ngập nước hiếm hay độc
đáo
Trang 3434
Tiêu chí 1: vùng đất ngập nước mang tính chất tiêu biểu, hiếm hoặc là một
hình mẫu độc đáo của loại hình đất ngập nước tự nhiên hoặc bán tự nhiên trong một vùng sinh-địa thích hợp
Nhóm B: các điểm có tầm quan trọng quốc tế trong bảo tồn ĐDSH, tiêu chí
dựa trên loài và quần xã sinh thái
Tiêu chí 2: vùng đất ngập nướclà sinh cảnh của những loài nguy cấphoặc
những quần xã sinh thái bị đe doạ
Tiêu chí 3: vùng đất ngập nước hỗ trợ những quần thể thực vật và/hay những
loài động vật quan trọng cho duy trì ĐDSH của một vùng sinh-địa lý cụ thể
Tiêu chí 4: vùng đất ngập nước hỗ trợ những loài thực vật và/hay động vật tại
một giai đoạn quan trọng trong chu kỳ sống của chúng hoặc cung cấp nơi trú ẩn trong những điều kiện khó khăn
Tiêu chí 5: vùng đất ngập nướclà sinh cảnh của hơn 20.000 cá thể chim nước Tiêu chí 6: vùng đất ngập nước thường xuyên hỗ trợ 1% trong một quần thể
của một hay nhiều loài chim nước
Tiêu chí 7: vùng đất ngập nước hỗ trợ cho một đoạn sống quan trọng của một
bộ phận những loài cá bản địa, tương tác giữa các loài và/hoặc những quần thể tiêu biểu cho những lợi ích của đất ngập nước và/hoặc những giá trị đóng góp cho ĐDSH toàn cầu
Tiêu chí 8: vùng đất ngập nước đó là một nguồn thức ăn quan trọng cho cá, nơi
đẻ trứng, ương giống và/hoặc đường di cư mà cá trong vùng đất ngập nước hoặc từ nơi khác phải phụ thuộc
Tiêu chí 9: vùng đất ngập nước thường xuyên hỗ trợ 1% cá thể trong một quần
thể của một loài động vật không phải chim phụ thuộc vào vùng đất ngập nước [29] Tháng 8 năm 1989, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực ASEAN phê chuẩn Công ước Ramsar và là thành viên thứ 50 của Công ước Cùng với sự kiện
Trang 3535
này, Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ (thuộc tỉnh Nam Định) được đưa vào Danh sách những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đây là địa danh Ramsar duy nhất ở Việt Nam và đầu tiên của vùng Đông Nam Á Từ khi trở thành thành viên của Công ước, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực lớn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của các vùng đất ngập nước Nhiều quy định, chính sách đã được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước [53]
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
năm 1973 (Convention on the International Trade in Endangered Species of Wild Flora and Fauna/Washington Convention - CITES)
Công ước CITES là hiệp định liên chính phủ được xem là có ảnh hưởng lớn nhất với sự tham gia của 183 quốc gia, để thống nhất quy định về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp nhằm mục đíchđảm bảo các loài này không bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại Tính đến năm 2013, khoảng 35.600 loài động thực vật hoang dã đã được đưa vào ba phụ lục danh mục loài của CITES phân loại dựa trên mức độ nguy cấp và sự kiểm soát được áp dụng trong thương mại, trong đó có khoảng 5.600 loài ĐVHD
Công ước CITES là một hành lang pháp lý, một cơ chế thủ tục đang được áp dụng ở các quốc gia thành viên Công ước quy định và đảm bảo rằng các nước sản xuất và tiêu thụ có chung một trách nhiệm như nhau trong việc quản lý và bảo tồn nguồn lợi thiên nhiên Các hoạt động thương mại sẽ được theo dõi qua việc thu nhập và phân tích các thông tin liên quan; các loài sẽ được phân tích dựa trên các tiêu chí quản lý buôn bán của Công ước Công ước cũng quy định việc buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã (bao gồm xuất khẩu, nhập khẩu hay tái xuất các loài động vật sống, chết, các loài thực vật, các bộ phận và mẫu vật của các loài động, thực vật hoang dã) bằng cơ chế giấy phép và giấy chứng nhận Giấy phép được cấp khi một số điều kiện được bảo đảm và phải xuất trình trước khi ra hay vào một nước
Trang 3636
Công ước có 03 Phụ lục động, thực vật hoang dã:
Phụ lục I gồm 980 loài bị đe doạ tuyệt chủng và có thể bị ảnh hưởng bởi các
hoạt động thương mại Việc buôn bán mẫu vật của các loài này bị cấm hoàn toàn trừ khi việc xuất, nhập, tái xuất khẩu những mẫu vật này phục vụ những mục đích phi thương mại (như nghiên cứu khoa học, trao đổi giữa các vườn thú, quà tặng của Chính phủ) đòi hỏi phải có giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu và phải trải qua những điều kiện rất nghiêm ngặt;
Phụ lục II gồm gần 34.500 loài có thể bị đe dọa tuyệt chủng nếu các hoạt động
thương mại không được kiểm soát kỹ lưỡng, việc buôn bán các mẫu vật của những loài này yêu cầu phải có giấy phép xuất khẩu và tái xuất khẩu Theo đó, giấy phép xuất khẩu chỉ có thể được cấp nếu việc xuất khẩu không gây bất lợi cho sự tồn tại của loài đó và nếu mọi yêu cầu cho việc xuất khẩu được đáp ứng, những loài nằm trong phụ lục này không đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu
Phụ lục III gồm 161 loài hoang dã không thuộc diện đe dọa tuyệt chủng trên
toàn cầu, Các quốc gia có động vật nhóm này sinh sống cần sự hỗ trợ quốc tế để kiểm soát các hoạt động thương mại, theo đó việc buôn bán những loài này chỉ được phép khi có giấy phép xuất khẩu tương ứng và chứng nhận nguồn gốc từ quốc gia thành viên là nơi sinh sống của loài này, giấy phép xuất khẩu cũng có thể được cấp cho mẫu vật.[30]
Việc thực hiện và tuân thủ các điều khoản của Công ước CITES là một nhiệm
vụ khá khó khăn đối với nhiều quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển do thiếu nguồn lực về mặt kỹ thuật, trang thiết bị và cơ sở vật chất
Công ước về các Loài Di cư năm 1979 (Convention on the Conservation of
Migratory Species of Wild Animals/Bonn Convention - CMS)
Công ước về các Loài Di cư (còn được gọi là Công ước Bonn do được đặt theo tên thành phố của Đức nơi ký kết công ước) nhằm bảo tồn toàn bộ các loài di cư trên cạn, dưới nước và các loài chim trên lãnh thổ của các nước ký công ước Hiệp
Trang 3737
ước liên chính phủ này được ký kết dưới sự bảo trợ của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) nhằm cung cấp một nền tảng toàn cầu cho việc bảo tồn động, thực vật hoang dã và môi trường sống của chúng trên quy mô toàn thế giới
Kể từ khi Công ước có hiệu lực, số thành viên ký kết đã tăng lên đến 124 quốc gia
từ châu Phi, Trung và Nam Mỹ, châu Á, châu Âu và châu Đại Dương tính đến năm
2016
Công ước này quy định về nhiều loài di cư mang tính biểu tượng đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc buôn bán bất hợp pháp độngthực vật hoang dã như voi, khỉ đột, báo tuyết, linh dương Saiga, rùa biển, cá mập và một số loài chim Công ước đã đưa cộng đồng quốc tế lại với nhau để giải quyết hàng loạt các mối đe dọa mà những loài ĐVHD này phải đối mặt khi di cư hàng năm, gồm cả các mối đe dọa của việc buôn bán bất hợp pháp Đi kèm Công ước là hai Phụ lục liệt kê các loài di cư theo cấp độ nguy cấp và ít nguy cấp [31]
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (United Nations
Convention on the Law of the Sea -UNCLOS)
Sau Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn
đề về biển và đại dương
Công ước bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương.Trong đó, các quy định về vấn đềbảo tồn tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật, bảo vệ môi trường biển luôn được nhắc tới xuyên suốt nội dung Công ước Cụ thể, tại phần V về Vùng đặc
Trang 3838
quyền kinh tế, các loài cá di cư xa hay loài động vật có vú ở biển được Công ước đặc biệt quan tâm trong vấn đề bảo tồn, theo đó, Công ước đã chỉ rõ các quốc gia ven biển sẽ không bị giới hạn quyền trong việc quy định quản lý khai thác các loài này một cách nghiêm ngặt và phải tìm mọi cách để bảo tồn chúng, đặc biệt là loài cá
voi, đi kèm với Danh mục các loài cá di cư xa được liệt kê tại Phụ lục I của Công
ước Ngoài ra, vấn đề về bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của biển cả được Công ước quy định riêng trong phần VII mục 2 từ Điều 116 đến Điều 120 rằng bảo tồn tài nguyên sinh vật biển là nghĩa vụ của mỗi quốc gia và các quốc gia cần hợp tác với nhau để có những biện pháp cần thiết trong việc bảo tồn các tài nguyên đó [32]
Công ước về Đa dạng Sinh họcnăm 1992 (Convention on Biological
Diversity - CBD)
Công ước Đa dạng sinh học là một công ước khung được thông qua tại Hội Nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero (Brazil), có hiệu lực từ ngày 29/12/1993 Các điều khoản của Công ước đã đưa ra những mục tiêu tổng quát cần đạt được và xây dựng những điều khoản nhằm cụ thể hóa những mục tiêu ấy Theo đó, ba mục tiêu chính của Công ước bao gồm bảo tồn ĐDSH, sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, và chia sẻ công bằng và hợp
lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học Các bên tham gia Công ước, tùy thuộc vào khả năng của mình, sẽ (a)thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái; (b) bảo vệ các loài có nguy cơ bị tiêu diệt bằng pháp luật, hạn chế và quản lý các hành động gây nguy hại đến ĐDSH; (c) ban hành công tác đánh giá tác động môi trường; (d) xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển quốc gia, kế hoạch hành động về bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên ĐDSH trong và ngoài các khu bảo tồn Nội dung cơ bản của Công ước tập trung vào bảo tồn ĐDSH và sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH; tiếp cận và chuyển giao công nghệ; quản lý công nghệ sinh học và chia sẻ lợi ích Ngoài ra, Công ước còn có các quy định về biện pháp khuyến khích bảo vệ ĐDSH,
Trang 39Pháp luật một số quốc gia
Dựa trên tiêu chí về khu vực và tính ĐDSH, tác giả nghiên cứu tổng quan hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD của một số quốc gia có ĐDSH cao nhất thế giới trên khắp các khu vực châu Đại Dương, châu Á, châu Mỹ và châu Phi gồm Australia, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi và Trung Quốc
2.2.1 Australia
Châu Đại Dương có vị trí địa lý biệt lập với các lục địa khác trên thế giới với diện tích đất liền hơn 7,6 triệu kilomet vuông, được bao quanh bởi Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.Với diện tích rộng lớn và khí hậu đa dạnggóp phần hình thành nên nhiều hệ sinh thái phong phú, tạo điều kiện cho các loài động vật và thực vật ở đây tiến hóa theo chiều hướng khác hẳn với các châu lục khác trên thế giới, nên Australia sở hữu rất nhiều sinh vật bản địa độc đáo như kangaroo, gấu túi, thú mỏ vịt, chó dingo, hải cẩu Úc cùng với quần thể rặng san hô lớn nhất thế giới… Do đó, pháp luật của Australia về bảo vệ ĐVHD có xu hướng ưu tiên bảo vệ các loài sinh vật bản địa, nhưng không vì thế mà quốc gia này lơ là việc bảo vệ các loài hoang dã khác
Các quy định về bảo vệ ĐVHD của Australia luôn đi đôi với chiến lược bảo tồn ĐDSH và luôn được đề cao trong quá trình phát triển của đất nước từ những năm 90 Theo đó,các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ĐVHD và các sản phẩm từ
Trang 4040
ĐVHD được quy định trong một đạo luật trọng điểm về môi trường -Đạo luật Bảo
vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học năm 1999 (Environment Protection and
Biodiversity Conservation Act 1999 - EPBC Act).[42] EPBC là một đạo luật được Nghị viện Australia ban hành vào ngày 17/7/2000 với vai trò là một bộ luật khung cho các quy định về bảo vệ môi trường Đạo luật đã thiết lập một chuỗi các quy trình để giúp bảo vệ và thúc đẩy sự phục hồi của các loài bị đe dọa và quần xã sinh vật, đồng thời bảo tồn các địa điểm thiên nhiên trọng yếu Đạo luật EPBC ra đời
nhằm thay thế cho Đạo luật Bảo tồn Vườn quốc gia và các loài hoang dã năm 1975
[44]
Đạo luật EPBC hướng tới các mục tiêu:
- Đảm bảo Australia tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Công ước CITES và Công ước Đa dạng sinh học;
- Bảo vệ các loài hoang dã có thể bị ảnh hưởng bởi thương mại;
- Thúc đẩy việc bảo tồn ĐDSH không chỉ ở Australia mà còn ở các quốc gia khác;
- Đảm bảo rằng bất kỳ hoạt động thương mại nào của người bản địa liên quan đến các loài hoang dã nhằm mục đích xuất khẩu đều được quản lý đảm bảo bền vững sinh thái;
- Thúc đẩy việc đối xử nhân đạo với loài hoang dã;
- Đảm bảo các quy tắc đạo đức trong quá trình nghiên cứu có liên quan đến việc sử dụng loài hoang dã;
- Đảm bảo các nguyên tắc phòng ngừa sẽ được xem xét kỹ lưỡng khi đưa ra quyết định liên quan tới các loài hoang dã
Đạo luật quy định bakhía cạnh chính trong việc trao đổi buôn bán các loài hoang dã gồm nhập khẩu và xuất khẩu các loài nguy cấp quốc tế (CITES); xuất khẩu các sinh vật bản địa; và nhập khẩu động thực vật sống
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu các loài động thực vật nguy cấp, Đạo luật
đã đưa ra một danh sách các loài trong Công ước CITES với các điều kiện xuất