Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT PHÙ HỢP VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM .... V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ HỒNG
QuyÒn trî gióp ph¸p lý cña ng-êi ch-a thµnh niªn vi ph¹m ph¸p luËt trong ph¸p luËt quèc tÕ vµ ph¸p luËt ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ HỒNG
QuyÒn trî gióp ph¸p lý cña ng-êi ch-a thµnh niªn vi ph¹m ph¸p luËt trong ph¸p luËt quèc tÕ vµ ph¸p luËt ViÖt Nam
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TƯỜNG DUY KIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thị Hồng
Trang 4CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền trợ giúp pháp lý của người chưa
thành niên vi phạm pháp luật 8 1.2 Nội dung quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi
phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 24 1.3 Vai trò của pháp luật bảo đảm quyền trợ giúp pháp lý của người
chưa thành niên vi phạm pháp luật 40 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
Chương 2: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ
QUYỀN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG PHÁP LUẬT QUỐC
TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 45
2.1 Những điểm tương đồng về quyền trợ giúp pháp lý của người
chưa thành niên vi phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 45 2.2 Những điểm khác biệt về quyền được trợ giúp pháp lý của người
chưa thành niên vi phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 63 2.3 Nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt về quyền
trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
Trang 5Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN TRỢ
GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT PHÙ HỢP VỚI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM 74
3.1 Những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 74
3.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 79
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam và bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự LHQ: Liên Hợp quốc
NCTN: Người chưa thành niên TGPL: Trợ giúp pháp lý
TGVPL: Trợ giúp viên pháp lý
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, Việt Nam tham gia nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người, bao gồm Bộ luật nhân quyền và các công ước về quyền của các nhóm yếu thế Trong các văn kiện quan trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định đường lối nhất quán quan điểm luôn tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
và thúc đẩy quyền con người, thể hiện cam kết mạnh mẽ cùng mong muốn góp phần xây dựng, thúc đẩy phát triển nền văn hóa nhân quyền trên toàn thế giới, song, cũng nhấn mạnh những khó khăn, thách thức trong mặt trận này, đặc biệt là việc đảm bảo quyền tiếp cận pháp lý và sự bình đẳng pháp luật cho các nhóm yếu thế, thiệt thòi Do đó, phát triển TGPL được Đảng và Nhà nước
ta xác định không chỉ là một trong những giải pháp của chương trình “xóa đói, giảm nghèo”, thu hẹp các khoảng cách trong xã hội mà còn là biện pháp
hỗ trợ cho các thiết chế thực thi pháp luật, bảo đảm bảo vệ quyền con người nói chung và quyền con người của các nhóm người yếu thế nói riêng, đảm bảo công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa
Ngay từ khi đất nước ta vừa mới được thành lập, Đảng và Nhà nước đã luôn xem việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trọng trách, liên quan đến tiền đồ của dân tộc Việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục và thực hiện trách nhiệm phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em - NCTN vi phạm pháp luật là một trong những việc làm quan trọng từ trước đến nay của gia đình, nhà trường và
xã hội Do vậy, hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế về tư pháp NCTN, TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật đã được hình thành tương đối đầy đủ và toàn diện các quy định về vấn đề này Các quy định trong văn bản pháp luật
về TGPL đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, đó là quyền tiếp cận công lý và quyền công bằng trước
Trang 8pháp luật Hiện nay, tình hình NCTN vi phạm pháp luật gần đây là rất đáng lo ngại Thực trạng đó dẫn đến vai trò của tư pháp NCTN nói chung và pháp luật
về TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật nói riêng ngày càng trở nên quan trọng về nhiều phương diện Nếu không có sự trợ giúp của các chuyên gia pháp luật có tâm huyết và được đào tạo bài bản, rất ít trẻ em có khả năng tự bảo vệ quyền của mình theo quy định của pháp luật
Về mặt lý luận, Luật TGPL năm 2006 đã đưa công tác TGPL trở thành cầu nối giữa chính quyền và nhân dân, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, thực hiện tốt chính sách nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội Luật TGPL đã có tác động tích cực trong việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, nhất là đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương: trẻ em, góp phần đáng kể vào sự ổn định, phát triển nhiều mặt của đời sống xã hội Sau 9 năm thực hiện Luật TGPL và các văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật, các văn bản pháp luật này đã bộc lộ một số bất cập, gây khó khăn cho hoạt động TGPL đối với NCTN Luật TGPL năm 2017 được thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017, có hiệu lực thi hành và thay thế Luật TGPL năm 2006 kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2018 Về cơ bản, đối tượng NCTN được TGPL đã được sửa đổi theo hướng tương thích với pháp luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tương thích với BLTTHS 2015 và các quy định khác về TGPL cho NCTN, thể hiện bản chất nhân đạo và chính sách của Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu về TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật sẽ có nhiều đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này theo hướng đảm bảo tương thích hơn nữa với pháp luật quốc tế, để pháp luật của Nhà nước ta là công cụ thực sự hiệu quả trong việc đảm bảo quyền được TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật, ngăn ngừa sự vi
Trang 9phạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và giáo dục các em trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội
Xuất phát từ những yêu cầu như phân tích ở trên, việc nghiên cứu đề
tài: “Quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” là yêu cầu khách quan, cần
thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn, nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết viết riêng về tư pháp NCTN
và vai trò TGPL nhưng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
- Nhóm tác giả TS Cao Dức Thái, GS.TS Hoàng Văn Hảo, TS Hoàng Thị Ngân, TS Tường Duy Kiên, Th.S Hoàng Hùng Hải, Th.S Nguyễn Lộc, Th.S Nguyễn Thị Báo – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về “Tư pháp người chưa thành niên”,
Cục Xuất bản năm 2006, để đáp ứng công tác nghiên cứu, giảng dạy và xử lý trẻ làm trái pháp luật
- Tiến sĩ Đỗ Thị Ngọc Tuyết – Học viện Tư pháp; Đỗ Ngọc Hà, Đỗ Thu Hằng – Học viện Nghiên cứu Thanh niên; Nguyễn Hương Giang, Lê
Ngọc Bảo – Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Anh nghiên cứu, biên soạn: “Tài liệu tập
huấn tư pháp người chưa thành niên”, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội 2008
Cuốn sách trình bày kết quả khảo sát các nhu cầu và những vấn đề có liên quan của tình trạng NCTN vi phạm pháp luật, đưa ra mục tiêu hỗ trợ những người làm công tác tập huấn các kiến thức và kỹ năng cần thiết về tư pháp NCTN, trang bị đầy đủ hơn, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ cơ sở về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và những nội dung quan trọng của pháp luật Việt Nam về tư pháp NCTN Từ đó nâng cao kỹ năng thực hành
Trang 10những công việc cụ thể trong lĩnh vực công tác của cán bộ cơ sở với mục đích bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN vi phạm pháp luật và phạm tội, tạo cơ hội thuận lợi cho việc tái hòa nhập cộng đồng và giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội
- TS Hoàng Phong Hà, Đinh Lục, Nguyễn Minh “hướng dẫn thực
hành các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên”, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội 2007 Cuốn sách viết về hệ thống các chính sách nhất quán coi trẻ em là lớp công dân đặc biệt mà Đảng, Nhà nước và toàn dân phải chăm sóc, dành cho những ưu tiên… và từng bước được luật hóa; đồng thời chính sách đó được cam kết thực hiện của Chính phủ Việt Nam thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn kiện quốc tế khác về quyền trẻ em bao gồm cả hệ thống TGPL về thực hành các quy định và tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến tư pháp NCTN
- Tổ chức Cứu trợ Trẻ em của Thụy Điển; UNICEF khu vực Đông
Nam Á, 2005, nghiên cứu về “Quyền trẻ em - Biến nguyên tắc thành hành
động”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Cuốn sách viết về tăng cường và hỗ
trợ công việc của Chính phủ về quyền trẻ em, và đưa ra kinh nghiệm của các
tổ chức phi Chính phủ về tuyên truyền và phổ biến Công ước quốc tế về Quyền trẻ em
- “Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với người chưa
thành niên vi phạm pháp luật”, bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 136 - tháng 12/2008 của Ths Đỗ Thúy Vân nghiên cứu chỉ ra rằng, những biện pháp xử lý tư pháp chính thống thường làm cho NCTN lún sâu hơn vào con đường lầm lỗi vì bị phân biệt đối xử Các kết quả nghiên cứu đã làm nảy sinh ý tưởng là cần phải tránh áp dụng các biện pháp xử lý chính thức đối với NCTN vi phạm pháp luật bằng cách khuyến khích cán bộ tư pháp chuyển NCTN từ hệ thống tư pháp chính thức sang các chương trình giải quyết tranh
Trang 11chấp dựa vào cộng đồng, các dịch vụ hỗ trợ hoặc các chương trình giáo dục tại cộng đồng
- Luật sư Trần Công Ly Tao với “Một số mô hình về hoạt động trợ giúp
pháp lý”, qua các nghiên cứu và thực tiễn của người làm công tác TGPL đã
góp phần trong công tác giảm thiểu sự “thiếu, đói pháp luật” trong dân Phản ánh về việc TGPL cho người nghèo, diện chính sách, trẻ em – NCTN,… đòi hỏi người trợ giúp phải là người vừa có tâm, vừa có tầm
Có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát về vai trò TGPL với mô hình, chính sách trên thế giới và ở Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL… trong đó có vai trò TGPL cho NCTN phạm tội (tại mỗi thời điểm phù hợp với nghiên cứu)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu, so sánh pháp luật về quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Từ đó, rút ra những điểm tương đồng/tương thích và chưa tương thích nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo hướng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế, đồng bộ với các quy định khác của pháp luật Việt Nam và phù hợp với thực tiễn của đất nước
3.2 Nhiệm vụ
Thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý về pháp luật TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
- Phân tích, đánh giá những điểm tương thích và chưa tương thích giữa hai
hệ thống pháp luật về TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật; luận giải vấn đề này
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật
Trang 124 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn góp phần chứng minh sự phát triển đúng đắn của hoạt động TGPL Đánh giá sâu sát, toàn diện quy định pháp luật về TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật, phân tích các yêu cầu đặt ra về mặt pháp lý để phục vụ cho việc phát triển bền vững hoạt động TGPL cho NCTN; đề xuất giải pháp có
“tính mới” để hoàn thiện pháp luật TGPL tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả TGPL cho NCTN trong thời gian tới
Đồng thời, luận văn có thể phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về pháp luật TGPL ở Việt Nam
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó có các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam để phù hợp với pháp luật quốc tế và đồng bộ với các quy định khác của pháp luật Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về pháp luật quốc tế và Việt Nam về TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật, gồm: khái niệm NCTN, NCTN vi phạm pháp luật TGPL; khái niệm TGPL; thực trạng pháp luật quốc
tế và Việt Nam về quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật; các giải pháp hoàn thiện pháp luật TGPL cho đối tượng này
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp luận của Triết học Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng về TGPL Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, năm 2013 và các văn bản pháp luật về TGPL, các báo cáo kết quả hoạt động, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cũng được tham khảo và kế thừa có chọn lọc
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp
Trang 13nghiên cứu hệ thống, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn
7 Kết cấu luận văn
Không bao gồm Mục lục, Phần mở đầu, Kết luận và nguồn tài liệu tham khảo, luận văn được xây dựng với bố cục gồm 03 Chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quyền trợ giúp pháp lý của người chưa
thành niên vi phạm pháp luật
Chương 2 Những điểm tương đồng và khác biệt về quyền trợ giúp
pháp lý trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền trợ giúp pháp lý của
người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên, người chưa thành niên vi phạm pháp luật
1.1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Thuật ngữ NCTN thường được dùng phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới cũng như ở các ngành khoa học khác nhau, nhưng khi nói đến khái niệm
về NCTN thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Ngay cả trong văn bản pháp luật thực định cũng có những tên gọi khác nhau như: “Người chưa thành niên, trẻ vị thành niên hoặc trẻ em” Trên phương diện luật pháp quốc tế khái niệm NCTN được đề cập tại các văn kiện pháp lý quan trọng và nó trở thành giá trị chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc, các quốc gia muốn hướng tới nhằm thúc đẩy sự tôn trọng để bảo vệ quyền con người của NCTN Cụ thể các văn kiện quốc tế như:
Công ước của LHQ về quyền trẻ em tại Điều 1 quy định “Trong phạm vi
Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [33, tr.177] Như
vậy, theo Công ước về quyền trẻ em thì trẻ em được xác định là người dưới
18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên; thanh niên trẻ là lứa tuổi 19-24 tuổi Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi
Trang 15Bên cạnh đó Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp
luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) cũng nêu rõ “Người chưa thành niên là
trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vi phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” [29, số 2.2, mục a]
Văn kiện Những quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do ghi:
“Những người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”
Tuy nhiên, trên thực tế các văn kiện pháp lý quốc tế đều có sự đồng nhất giữa khái niệm NCTN và trẻ em, đồng thời độ tuổi được xác định chung
là dưới 18 tuổi Bởi lẽ đây là giai đoạn trẻ em phát triển lên người lớn, và đặc điểm chính của NCTN trong giai đoạn này là chưa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách; chưa đủ khả năng để sử dụng quyền
và gánh vác nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên Do vậy, pháp luật ở mỗi quốc gia quy định riêng độ tuổi cụ thể của NCTN phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội để có hệ thống pháp luật phù hợp
Ở Việt Nam, định nghĩa, khái niệm NCTN theo Từ điển Tiếng Việt -
Viện ngôn ngữ học viết “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy
đủ, toàn diện về thể lực, trí lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [22, tr.55] Khái niệm đã chỉ rõ, NCTN là người
chưa hoàn thiện cả về thể lực, trí lực lẫn tinh thần Do sự phát triển chưa hoàn thiện mà NCTN chưa tự mình thực hiện quyền cũng như chưa thể tham gia một cách đầy đủ, chủ động vào các quan hệ pháp luật làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ cụ thể từ các quan hệ pháp luật đó
Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét quan niệm NCTN theo Từ điển Tiếng việt thì rất khó xác định phạm vi đối tượng cụ thể trong cơ cấu dân số là NCTN Theo quan niệm này, yếu tố để xác định đối tượng là NCTN hoàn toàn phụ thuộc vào dấu hiệu sự phát triển về tâm sinh lý, nhận thức Dấu hiệu này được xác định bởi yếu tố định tính, còn yếu tố định lượng (có thể coi độ tuổi là yếu
Trang 16tố định lượng) chưa được xác định Pháp luật Việt Nam hiện hành, độ tuổi của NCTN đã được thống nhất trong BLHS, BLTTHS, Bộ luật Dân sự, Bộ luật lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Các văn bản này đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi
+ Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Người chưa thành niên
là người chưa đủ mười tám tuổi” [24];
+ Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định “Người lao động
chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [23];
+ BLHS năm 2015 có những quy định về các nguyên tắc xử lý khác nhau đối với các độ tuổi khác nhau của người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XII), theo đó:
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm [24]
+ BLTTHS năm 2015 cũng có quy định liên quan đến việc tham gia tố
tụng hình sự của người dưới 18 tuổi và dành hẳn một chương quy định về thủ
tục tố tụng đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi (Chương XXVIII) [25]
Như vậy về độ tuổi, NCTN là người chưa đủ 18 tuổi Đây có thể coi là giới hạn trên (tối đa) của tuổi chưa thành niên, còn giới hạn dưới (tối thiểu) thông thường là 0 [28] Ở độ tuổi này, những đặc điểm về tâm sinh lý của NCTN có những biểu hiện khá phức tạp và mang những đặc trưng về tâm, sinh lý, xã hội của NCTN, có thể nhận thấy một số điểm khác biệt của NCTN
so với người thành niên:
Trang 17- NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất Sự phát triển biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan… Điểm khác biệt này là do nhân tố sinh học
- NCTN là người chưa phát triển đầy đủ về trí tuệ và tâm sinh lý Cũng
là quá trình sinh học, bộ não của nhóm đối tượng này phát triển cùng với sự phát triển thể chất
- NCTN chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Độ tuổi của NCTN là ranh giới để phân biệt họ với người thành niên Theo đó, người chưa
đủ 18 tuổi là NCTN, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân Còn người
từ đủ 18 tuổi trở lên, về nguyên tắc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân
Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa, khái niệm “NCTN là
người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa
có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên”
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm
"NCTN" và khái niệm "trẻ em" không đồng nhất với nhau như theo pháp luật
quốc tế Về khái niệm “trẻ em”, Công ước về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em
có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi
trẻ em thấp hơn quy định chung của Công ước về quyền trẻ em Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi Như vậy, tương tự như một
số nước, quy định về độ tuổi trẻ em dưới 16 tuổi của Luật Trẻ em Việt Nam không trái với quy định của Công ước về quyền trẻ em vì thuộc phần “ngoại lệ” Điều 1 Công ước này
Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm “NCTN” có nội hàm rộng hơn so với khái niệm “trẻ em”; NCTN bao gồm cả trẻ em và những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Quyền và nghĩa vụ của NCTN tùy thuộc vào quan hệ pháp luật mà người đó tham gia Do đó, việc nắm vững các khái niệm và đặc
Trang 18thù của trẻ em và NCTN rất quan trọng vì liên quan đến việc xác định năng lực pháp luật, năng lực hành vi, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của một người khi tham gia vào các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính; năng lực chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em và NCTN; cũng như trách nhiệm của Nhà nước đối với các đối tượng này
1.1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Theo từ điển pháp luật “vi phạm pháp luật” có hai ý nghĩa Theo nghĩa rộng, vi phạm pháp luật là các việc sai, trái pháp luật nói chung, bao gồm tất cả các loại vi phạm pháp luật được quy định trong hệ thống pháp luật Theo nghĩa hẹp, vi phạm pháp luật cũng là các việc sai, trái pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm (không phải là tội phạm theo quy định của BLHS 2015), theo nghĩa này, thì các hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi bị phạt vi phạm hành chính như phạt tiền, phạt cảnh cáo, bồi thường thiệt hại, phạt kỷ luật lao động Tất cả các hành vi trên có mức độ nguy hiểm cho xã hội ít hơn tội phạm
Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận chung nhà nước và pháp luật thì vi phạm pháp luật được hiểu theo cách thứ nhất, trên cơ sở đó phân loại vi phạm pháp luật được chia ra:
- Vi phạm hình sự: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã
hội, được quy định trong BLHS, do người có trách nhiệm hình sự thực hiện
- Vi phạm dân sự: là hành vi vi phạm đến các quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân, chủ yếu được quy định trong Bộ luật Dân sự
Vậy, vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động)
Trang 19trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ NCTN vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ mà chủ thể thực hiện hành vi là NCTN, có năng lực trách nhiệm pháp lý, có lỗi và có thể bị xử lý hành chính, hình sự, lao động, kỷ luật Nói cách khác, NCTN vi phạm pháp luật là người dưới 18 tuổi thực hiện bất cứ hành vi nào bị pháp luật cấm
1.1.2 Khái niệm trợ giúp pháp lý, quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
1.1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” có nguồn gốc từ tiếng Anh là “legal aid” được sử dụng phổ biến trên thế giới từ giữa thế kỷ 20 Theo đó, “legal aid” được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi và thuật ngữ khác nhau Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 thì “legal aid” có nghĩa là “trợ cấp pháp lý” Trong Từ điển pháp luật Anh- Việt, Nhà xuất bản Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì “legal aid” trong cụm từ “legal aid schem” (kế hoạch bảo trợ tư pháp) có nghĩa là
“bảo trợ tư pháp” Trong một số tài liệu khác còn dịch là “hỗ trợ pháp luật”,
“hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp” Từ điển Anh - Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1999) không đưa ra thuật ngữ chung bằng tiếng Việt về cụm từ “legal aid” mà diễn giải nghĩa của thuật ngữ này bằng tiếng Việt là “lấy tiền từ công quỹ để trả chi phí cho việc cố vấn hoặc làm đại diện pháp lý”
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý” Theo Từ điển tiếng Việt, thì “trợ giúp” được hiểu là “giúp đỡ”, pháp lý tức là “nguyên lý về pháp luật” [34, tr.1045] Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, thì “trợ giúp” là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một
Trang 20việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công, còn “pháp lý” là “nguyên lý của pháp luật” [13, tr.1431] Theo Đại từ điển tiếng Việt, thì “trợ giúp” được hiểu là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, lúc khó khăn, đang lúc cần đến”, thuật ngữ “pháp lý” được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lý luận; theo Từ điển Luật học, NXb Từ điển Bách khoa - Nxb Tư pháp, 2006, thì pháp lý là những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia,
“pháp lý” chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận
về pháp luật [35, tr.606] Do vậy, dù là “giúp đỡ”, “bảo trợ” hay “hỗ trợ” cũng
có thể được hiểu là “trợ giúp” Ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai
đó đang gặp khó khăn, nhằm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần và cái họ đang cần ở đây là pháp lý
Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau có cùng nghĩa với thuật ngữ
“TGPL” nhưng thuật ngữ “TGPL” có nghĩa chung nhất, rõ nhất nêu bật được
sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những trường hợp có khó khăn về mặt pháp lý
Ở Việt Nam, mặc dù, được sử dụng từ năm 1995, tuy nhiên, phải đến khi Luật TGPL ra đời năm 2006 thì khái niệm “TGPL” mới được xây dựng tổng quát và mang tính pháp lý Luật TGPL năm 2006 vừa được thay thế bởi Luật TGPL năm 2017 (được Quốc hội thông qua vào ngày 20 tháng 6 năm
2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018) Theo đó, Luật TGPL năm 2017 quy định:
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [27, Điều 7]
Trang 21Như vậy, dù pháp luật các nước quy định tương đối khác nhau, song tựu chung khái niệm TGPL đều được xây dựng dựa trên những nền tảng sau:
- Sự hỗ trợ về chi phí: hỗ trợ một phần hoặc hoàn toàn các chi phí liên
quan đến các dịch vụ pháp lý Các chi phí này có thể là chi phí thuê luật sư, phí tư vấn pháp luật, phí soạn thảo văn bản, đơn kiện Thậm chí, một số quốc gia còn trang trải cho việc đi lại, điện thoại liên hệ trong quá trình người TGPL cung cấp thông tin Một số quốc gia quy định cụ thể những trường hợp được miễn phí hoàn toàn và những trường hợp phải đóng một khoản phí phù hợp với mức thu nhập của người được TGPL
- Đối tượng hưởng lợi: là người không có khả năng hoặc bị hạn chế về
khả năng tiếp cận pháp lý Sự hạn chế này có thể xuất phát do yếu tố tài chính (nghèo đói, trẻ em không có cha mẹ, người giám hộ lo các khoản phí ), thể chất, tinh thần (người khuyết tật ), giới tính, quốc tịch (người nước ngoài )
- Mục đích: nhằm tạo sự công bằng về khả năng tiếp cận công lý cho tất
cả mọi người trong xã hội Xuất phát từ quan điểm “bình đẳng thực chất” cho tất
cả mọi người, sự TGPL sẽ giúp mọi cá nhân có thể tiếp cận với pháp luật, vượt qua các rào cản để thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa TGPL như sau:
TGPL là một hoạt động hỗ trợ xã hội, cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc thu phí một phần cho những người gặp khó khăn trong việc tiếp cận, thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình do cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ tiến hành nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý, công bằng xã hội của họ
1.1.2.2 Khái niệm quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Quyền TGPL là một bảo đảm để mọi công dân và cá nhân trong xã hội đều có thể thực hiện quyền tiếp cận công lý Công lý là điều mọi người hướng
Trang 22tới và do đó quyền tiếp cận công lý như một vấn đề hiển nhiên trong trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước đối với công dân và các cá nhân trong xã hội
mà mình là chủ thể được trao quyền quản lý Tiếp cận công lý là nhu cầu của mọi người trong xã hội, nhưng không phải ai cũng bình đẳng về cơ hội được tiếp cận công lý Trong một xã hội luôn có những đối tượng yếu thế, gặp khó khăn về nhận thức pháp lý, về yếu tố kinh tế trong sử dụng các dịch vụ pháp
lý để thực hiện các quyền tố tụng của mình so với những người khác trong thực hiện quyền tiếp cận công lý, vì vậy trách nhiệm của Nhà nước phải trợ giúp họ có cơ hội thực hiện được quyền này Từ đó, quyền được TGPL có thể hiểu như một quyền phái sinh của quyền tiếp cận công lý
Như vậy, có thể hiểu quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật là việc được tiếp cận hệ thống dịch vụ và tư vấn pháp lý miễn phí dựa trên quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa họ và các chủ thể khác trong tiếp cận công lý Quyền TGPL này dùng để chỉ khả năng và năng lực của chủ thể thụ hưởng sự TGPL được pháp luật bảo đảm
Quyền TGPL của NCTN nhằm mục đích kiểm tra xem việc tước tự do của họ trước tòa án có đúng quy định của pháp luật hay không và nhằm đưa ra câu trả lời cho câu hỏi trên một cách nhanh chóng và chính xác Quyền TGPL còn là điều kiện để tiếp cận, thúc đẩy, thực thi các quyền con người khác của NCTN nên nó có vị trí đặc biệt trong hệ thống các quyền con người
1.1.3 Đặc điểm quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật
NCTN luôn là đối tượng được quan tâm ở bất kỳ một quốc gia nào Bởi
lẽ, đó là thế hệ trẻ, thế hệ tương lai quyết định vận mệnh phát triển của một đất nước, một dân tộc Theo Luật TGPL năm 2017, “trẻ em”, “người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” và “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là
bị hại trong vụ án hình sự” sẽ được TGPL miễn phí Trong thời kì này, NCTN
Trang 23đang trong quá trình trưởng thành thành người lớn, sự “đang phát triển” chính
là yếu tố làm họ dễ tổn thương nhất Họ phải trải qua những khó khăn, thách thức liên quan đến quá trình phát triển thể chất, tâm lý và tâm lý xã hội Khoa học cũng như pháp luật đều coi NCTN là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về thể chất và nhân cách, chưa có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Vì vậy, pháp luật có những chế định riêng đối với NCTN nhằm mục đích bảo vệ và tạo điều kiện cho đối tượng này phát triển và hoàn thiện
Vì năng lực hành vi không đầy đủ, NCTN không thể thực hiện được quyền của mình, nên rất cần sự trợ giúp của gia đình, nhà nước và xã hội Do đó, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật cũng có những điểm khác biệt so với những đối tượng khác Có thể xem xét quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật ở những đặc điểm dưới đây:
Một là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật là quyền con người
Trong pháp luật tố tụng, quyền con người được bảo vệ thông qua việc quy định các quyền của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho đối tượng trong quá trình tham gia tố tụng Các quyền cơ bản như: quyền được tham gia bào chữa ngay khi đối tượng bị tạm giữ, tạm giam; quyền được
có mặt trong hỏi cung, lấy lời khai; quyền được tranh tụng tại phiên tòa; quyền xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp cho Tòa án…được pháp luật quy định rất cụ thể
Mục đích của TGPL là nhằm giúp đỡ, tương trợ cho những người gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua các rào cản để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, góp phần đảm bảo công bằng xã hội Các đối tượng trên do sức khỏe, giới tính, xu hướng tình dục, nguồn gốc, dân tộc và các yếu tố khác mà
có vị thế chính trị, xã hội, kinh tế hay pháp lý thấp hơn các nhóm khác, vì vậy, không có khả năng hoặc bị hạn chế về khả năng tiếp cận, thực hiện và bảo vệ các quyền con người của mình, dẫn đến có nguy cơ cao bị phớt lờ, bị bỏ quên
Trang 24hoặc bị vi phạm các quyền con người đó Chính bởi thế, họ cần có sự trợ giúp
về pháp lý, kinh tế, giáo dục, y tế nhằm khắc phục hoặc hạn chế phần nào đặc tính bị dễ tổn thương để hòa nhập cộng đồng và phát triển đời sống cá nhân Quyền được TGPL không những đem lại nhiều lợi ích cho NCTN vi phạm pháp luật, mà còn giúp cho các cơ quan chức năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân từ cơ sở, nhất là những nguyện vọng chính đáng của người nghèo và đối tượng chính sách, qua đó, Nhà nước sẽ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của mình [19]
Hai là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, các tổ chức được pháp luật quy định
Luật TGPL năm 2017 quy định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước Nhà nước có trách nhiệm quản lý sự hoạt động, phối hợp của các cơ quan này trong hoạt động TGPL: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa
án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, trách nhiệm Liên đoàn Luật sư Việt Nam
và tổ chức chủ quản của các tổ chức tư vấn pháp luật Đồng thời Nhà nước cần có trách nhiệm đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; khuyến khích các lực lượng xã hội đóng góp, hỗ trợ cho công tác TGPL và tiếp tục sử dụng nguồn lực của mình để thực hiện các dịch vụ TGPL miễn phí, thiện nguyện cho xã hội thực hiện nhằm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước; hơn nữa cần có sự ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực cho công tác TGPL Việc thực hiện TGPL cho người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và một số nhóm người yếu thế khác trong xã hội là một loại hình dịch vụ sự nghiệp công, là chức năng xã hội của Nhà nước Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, do đó, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm
Trang 25việc cung ứng dịch vụ pháp lý vì lợi ích chung của cộng đồng nhằm bảo đảm
sự ổn định và công bằng xã hội
Nhà nước có trách nhiệm tổ chức cung ứng dịch vụ TGPL với tư cách
là một dịch vụ công với những cơ chế, biện pháp, cách thức để bảo đảm các đối tượng thuộc diện TGPL được TGPL một cách tốt nhất Do đó, cần thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, bảo đảm quyền được TGPL phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ của đất nước Quyền tiếp cận tư pháp nói chung và quyền tiếp cận TGPL nói riêng được quy định tại một số công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và là thành viên như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW), Công ước quốc
tế về quyền trẻ em… Từ đó, với tư cách là một trong những những phương thức nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đòi hỏi Nhà nước có các biện pháp để bảo đảm quyền TGPL nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp cận pháp luật ngày càng cao của người dân
Việc huy động xã hội thực hiện TGPL là quan điểm tồn tại ở hầu khắp các nước trên thế giới, chỉ khác nhau ở mức độ tham gia vào hoạt động này Mức độ tham gia của xã hội thường phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước khuyến khích xã hội tham gia; nguồn kinh phí hoạt động; trách nhiệm của các lực lượng xã hội; nhu cầu được cung cấp một dịch vụ TGPL khách quan
và độc lập của công dân Do đó, Luật TGPL đề cập đến việc Nhà nước
khuyến khích các tổ chức, cá nhân đóng góp, hỗ trợ công tác TGPL Việc Nhà nước khuyến khích, kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện việc TGPL cho người dân cũng phù hợp với việc khẳng định TGPL là trách nhiệm của Nhà nước, do đó, Nhà nước cũng đưa ra những biện pháp nhằm cung cấp kịp thời, đầy đủ nhu cầu TGPL trong xã hội như đa dạng hóa chủ
thể thực hiện TGPL
Trang 26Đồng thời, các chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí khác được Nhà nước khuyến khích dùng kinh phí của họ hoặc nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước để cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật có liên quan Tức là, Nhà nước luôn khuyến khích những hoạt động dịch vụ pháp lý miễn phí không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này tiếp tục hoạt động và phát triển nhằm giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền lợi cho người dân
Ba là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật đòi hỏi NCTN phải được ưu tiên hơn so với các đối tượng khác theo nguyên tắc TGPL bảo đảm quyền lợi tốt nhất của NCTN
Trong mọi trường hợp lợi ích hợp pháp của trẻ em phải được ưu tiên Trẻ em không chỉ là đối tượng cần quan tâm đặc biệt mà còn phải được hưởng
sự TGPL tốt nhất, được ưu tiên so với các nhóm còn lại cũng như cần có những biện pháp trợ giúp đa dạng về pháp lý và xã hội phù hợp với lứa tuổi
và tâm sinh lý của đứa trẻ Ví dụ, với sự hỗ trợ của luật sư, trẻ em và NCTN
có các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy sẽ được tư vấn, đại diện bào chữa trước tòa nhằm làm giảm tính chất nghiêm trọng của hành vi cũng như làm cho hình phạt ít hà khắc hơn đối với các em Đặc biệt, đối với các trường hợp vi phạm hành chính thì sự tham gia của luật sư không những làm cho các quyết định xử lý của cơ quan nhà nước được đúng đắn hơn, đồng thời cũng bảo đảm được quyền lợi của NCTN vi phạm pháp luật Mặt khác, với sự am hiểu sâu sắc về vấn đề NCTN liên quan đến ma túy, luật sư còn có thể giúp đỡ các em trong việc áp dụng các biện pháp cai nghiện phù hợp và có hiệu quả cao
Khi quyết định bất cứ vấn đề gì liên quan đến trẻ em, các chủ thể phải xem lợi ích của trẻ em là mối quan tâm hàng đầu Điều này bao gồm quyền của trẻ em được bảo vệ và có cơ hội được phát triển toàn diện Trong quá
Trang 27trình thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL kết hợp giải thích, hướng dẫn trẻ em và gia đình họ về các quy định của pháp luật, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để họ thực hiện theo hướng có lợi nhất cho con em mình
Bốn là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật đòi hỏi người thực hiện TGPL không những là người có trình độ và kiến thức sâu rộng về pháp luật mà còn phải rất am hiểu tâm sinh lý của trẻ em, biết nhìn nhận, phân tích các khía cạnh xã hội tác động lên đời sống của đối tượng này
Người thực hiện TGPL là người cung cấp dịch vụ pháp lý cho người được TGPL Người thực hiện TGPL cho NCTN gồm: TGVPL, cộng tác viên TGPL, luật sư, tư vấn viên pháp luật Họ cung cấp dịch vụ pháp lý cho các đối tượng thuộc diện được TGPL thông qua các hình thức: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng NCTN là đối tượng được TGPL đặc biệt, khác với những đối tượng khác ở chỗ NCTN thường có tâm lý sợ hãi, e
dè, tâm sinh lý chưa hoàn thiện Do vậy, để công tác TGPL cho NCTN đạt hiệu quả cao, trước hết người thực hiện TGPL phải thấu hiểu được hoàn cảnh, đặc điểm nhân thân cũng như biết rõ việc họ nên hành động như thế nào tùy thuộc vào mức độ phát triển về mặt tâm lý, tình cảm và thể chất của trẻ, xem xét động cơ phạm tội và nghiên cứu các tình tiết khác để xây dựng hướng bảo
vệ, TGPL cho các em, sao cho vừa đạt được mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các em vừa giáo dục giúp các em có những nhận thức, cái nhìn đúng đắn, giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người công dân có ích cho xã hội Người TGPL cho NCTN ngoài yêu cầu có
đủ trình độ và kiến thức sâu rộng về pháp luật (bao gồm cả pháp luật nội dung
và pháp luật hình thức), nhất là pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em, còn phải là người am hiểu tâm sinh lý của trẻ em Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đều
Trang 28phải rất uyển chuyển, mềm mỏng để giúp các em xóa bỏ tâm lý mặc cảm, e
dè, sợ sệt Vì khi các chủ thể là NCTN phạm tội tham gia vào một quan hệ pháp luật tố tụng, xét về mặt nhận thức về pháp luật đã là hạn chế và sẽ bị các điều kiện khác chi phối như lần đầu tiên phạm tội, bị tạm giữ bị cách ly khỏi gia đình, đời sống sinh hoạt hàng ngày Việc người thực hiện TGPL cần phải khai thác diễn biến tâm lý, nguyên nhân, mục đích, động cơ của việc phạm tội
để giúp cho NCTN vi phạm pháp luật an tâm khai đúng hành vi việc làm của mình trong quá trình lấy cung để từ đó chúng ta thấy được bản chất thật sự của vụ án Hơn thế, điều quan trọng nhất luôn cần ở người thực hiện TGPL là một tinh thần làm việc hăng say, yêu nghề, yêu trẻ, luôn luôn lắng nghe để thấu hiểu trẻ như một luật sư đã đúc kết: với trẻ em, điều cần thiết là phải thể hiện được lòng nhân ái, chúng ta phải nhẫn nại, kiên trì để nhìn, nghĩ và cảm nhận “như đứa trẻ”, nếu không chỉ đứng ngoài thôi thì không bao giờ bảo vệ trẻ em tốt được
Năm là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật là được TGPL miễn phí
Tính chất miễn phí được ghi nhận trong Luật TGPL năm 2017 ngay tại khái niệm “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL” [27, Điều 2]; nguyên tắc hoạt động “không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL” [27, Điều 3] và là một trong những hành vi bị nghiêm cấm là “nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL; sách nhiễu người được TGPL [27, Điều 6] Tính chất miễn phí ở đây nghĩa là đối tượng thụ hưởng dịch vụ này không hề mất một khoản chi phí nào, kể cả chi phí thủ tục, giấy
tờ yêu cầu được TGPL Pháp luật TGPL nghiêm cấm tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được TGPL Các chi phí thực hiện do ngân sách Nhà nước bảo đảm và huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, đây là
Trang 29một đặc điểm ghi nhận cố gắng của Đảng và Nhà nước trong điều kiện kinh tế
- xã hội còn khó khăn [30]
Sáu là, quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật xuất hiện trong tất
cả các giai đoạn của quá trình tố tụng
BLTTHS năm 2015 quy định, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Các hoạt động của người thực hiện TGPL trong các vụ việc tham gia tố tụng liên quan đến NCTN phạm tội được xác định kể từ thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa và chấm dứt khi kết thúc phiên toà [31] Kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận người thực hiện TGPL sẽ tham gia vào một số hoạt động như: tham dự vào các buổi lấy lời khai của NCTN bị tạm giữ (hay tại ngoại), tham dự vào hoạt động hỏi cung bị can, đối chất giữa các bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, thực nghiệm điều tra, trao đổi đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng (toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra) Khi tham gia vào các hoạt động trên, người thực hiện TGPL không những có trách nhiệm tìm ra những chứng cứ có lợi cho NCTN phạm tội mà còn theo dõi, kiểm tra các hành vi, các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, người TGPL được phép tiếp cận toàn
bộ hồ sơ vụ án Trong quá trình này, mỗi người thực hiện TGPL đều có kỹ năng tiếp cận hồ sơ riêng của mình và cần tận dụng tối đa cơ hội tiếp cận để
có được cái nhìn toàn diện, khách quan đối với vụ việc Trong giai đoạn xét
xử là thủ tục xét hỏi tại phiên toà, tập trung hỏi những câu hỏi để làm rõ những tình tiết của vụ án chưa được Hội đồng xét xử làm rõ, hay hỏi những câu hỏi giúp cho bị cáo trả lời lại những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa rõ hay hiểu chưa đúng Tiếp đó, người TGPL (hay gọi là người bào chữa ở giai đoạn này) sẽ trình bày bản luận cứ bào chữa, bảo vệ
Do quá trình giải quyết vụ án rất phức tạp nên NCTN cần nhận được sự
Trang 30TGPL và những hỗ trợ phù hợp khác để có thể đảm bảo rằng các đối tượng này hiểu được quy trình tố tụng, có thể tham gia đầy đủ và được tư vấn phù hợp về pháp lý và các khía cạnh khác của vụ án
1.2 Nội dung quyền trợ giúp pháp lý của người chưa thành niên vi phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.2.1 Pháp luật quốc tế
Những văn kiện quốc tế về quyền con người liên quan mật thiết nhất đến việc đối xử với trẻ em và NCTN vi phạm pháp luật là Công ước về quyền trẻ em, Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về áp dụng tư pháp với NCTN (Các quy tắc Bắc Kinh), 1985; Các quy tắc chuẩn tối thiểu của LHQ về các biện pháp không giam giữ (Các quy tắc Tô-ky-ô), 1990; Các hướng dẫn của LHQ
về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN (Các hướng dẫn Ri-át), 1990; và Các quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước tự do, Các Nguyên tắc và Hướng dẫn của LHQ về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự Văn bản hướng dẫn chính trong số này là Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đòi hỏi tất cả các quốc gia thành viên phải ban hành các văn bản pháp luật, các thủ tục, quy định và thể chế áp dụng riêng cho NCTN vi phạm pháp luật Công ước tuyên
bố rằng mọi trẻ em bị tố cáo, buộc tội hay đã thừa nhận là đã vi phạm luật hình sự đều có quyền được đối xử:
Theo cách thức phù hợp, theo đó cổ vũ ý thức của trẻ em về phẩm giá và nhân cách, tăng cường sự tôn trọng của các em đối với các quyền và tự do cơ bản của người khác Cách thức đối xử phù hợp cũng phải tính đến lứa tuổi của trẻ em và đến mong muốn làm sao thúc đẩy sự tái hòa nhập cũng như giúp các em đảm nhận được một vai trò xây dựng trong xã hội
Nội dung quyền được TGPL của NCTN vi phạm pháp luật trong pháp luật quốc tế được thể hiện ở những điểm sau:
Trang 31* Điều kiện NCTN vi phạm pháp luật được TGPL
Điều 37 Khoản d Công ước về quyền trẻ em quy định:
Mọi trẻ em bị tước tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận
sự giúp đỡ pháp lý và những giúp đỡ thích hợp khác, cũng như quyền được chất vấn tính chất hợp pháp của việc tước tự do đó trước một Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền, độc lập, vô tư khác
và có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng liên quan đến bất
kỳ hành động nào như vậy
Công ước không có quy định giải thích một số khái niệm sử dụng trong Công ước cũng như quy định tại Điều 37 Khoản d này Chẳng hạn, cụm từ “bị tước tự do” cần được hiểu như thế nào? Hướng dẫn số 10 (năm 2007) của Ủy ban về quyền trẻ em (mục F đoạn 78-84) giải thích rõ hơn các nguyên tắc cơ bản trong quy định “tước tự do” tại Điều 37 Khoản d Công ước về quyền trẻ
em, bao gồm việc bắt, giam giữ, bỏ tù hoặc đưa vào nơi canh giữ trẻ em (placement in custodial settings) Tương tự, Các quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước tự do cũng giải thích rõ hơn thuật ngữ này Theo đó, “tước tự do” nghĩa là bất kỳ hình thức giam giữ hoặc cầm tù nào, hay đưa một người vào nơi giam giữ chung hoặc riêng, mà người đó không được tự ý rời bỏ nơi giam giữ trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, hành chính hoặc cơ quan công quyền Như vậy, thuật ngữ “bị tước tự do” đối với NCTN được giải thích khá rộng, không chỉ gồm việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù mà cả các biện pháp tư pháp khác như đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở phục hồi, cơ sở chữa trị bắt buộc… Nói cách khác, theo lời văn của Hướng dẫn này thì bất kỳ việc hạn chế quyền tự do có sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền đều có thể
bị coi là “tước tự do” của NCTN Hội đồng Kinh tế, xã hội LHQ nhấn mạnh các quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước tự do và Điều 37 Khoản d của Công ước về quyền trẻ em cũng được áp dụng đối với bất kỳ cơ sở công hoặc
Trang 32tư nhân nào đang quản chế trẻ em mà tại đó trẻ em không thể rời khỏi nơi quản chế theo ý chí hoặc mệnh lệnh của bất kỳ cơ quan tư pháp, hành chính hay
cơ quan công quyền nào khác [9, Đoạn 19] Khi bị tước tự do, trẻ em có quyền được nhanh chóng tiếp cận sự hỗ trợ pháp lý và những hỗ trợ thích hợp
khác Công ước về quyền trẻ em cũng như Hướng dẫn số 10 không giải thích
cụm từ “legal and other appropriate assistance” Các bản dịch tiếng Việt về khái niệm “legal assistance” cũng khác nhau: “TGPL”, “giúp đỡ pháp lý” hoặc “hỗ trợ pháp lý” Theo quan điểm của tác giả luận văn, nên hiểu cụm từ “legal assistance” theo nghĩa rộng hơn, đó là “hỗ trợ/giúp đỡ pháp lý”, có thể là sự giúp
đỡ về mặt pháp lý của các luật sư, chuyên gia pháp luật hoặc sự trợ giúp pháp lý miễn phí của Nhà nước nếu pháp luật quốc gia đó có quy định về vấn đề này Cách giải thích này cũng phù hợp với cách giải thích của Công ước về các quyền dân sự và chính trị và Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về tư pháp NCTN
Điều 40, Khoản 2, Điểm b của Công ước về quyền trẻ em khẳng định mọi trẻ em bị coi là hay bị buộc tội đã vi phạm pháp luật hình sự phải được bảo đảm tối thiểu sau: (ii) Được thông báo nhanh chóng và trực tiếp về lời buộc tội… và được hỗ trợ pháp lý hoặc hỗ trợ thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày sự biện hộ/bào chữa của mình; (iii) Được nhà chức trách hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền, độc lập và vô tư xem xét vụ việc một cách khẩn trương tại một phiên tòa công bằng theo pháp luật có sự hỗ trợ về mặt pháp lý hoặc hỗ trợ thích hợp khác Như vậy, Điều 40 này quy định các biện pháp hỗ trợ trẻ em trong tố tụng hình sự; các biện pháp này tương tự như quy định tại Khoản 3 Điều 14 của Công ước về các quyền dân sự và chính trị Người hỗ trợ pháp lý có thể là các luật sư chuyên nghiệp hoặc các chuyên gia/luật sư bán chuyên (paralegal professional) phải được đào tạo phù hợp Các biện pháp hỗ trợ thích hợp khác có thể được thực hiện bởi các nhà hoạt động xã hội có kiến thức chuyên môn và hiểu biết pháp luật về tư pháp hình sự Thêm
Trang 33vào đó, khoản 2 điểm b đoạn iii Điều 40 yêu cầu phải có sự hỗ trợ pháp lý hoặc hỗ trợ thích hợp khác trong quá trình quyết định đưa vụ việc ra xét xử Ngoài ra, Công ước về quyền trẻ em còn quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc thực thi các cam kết trong Công ước, phổ biến rộng rãi các quy định của Công ước, ban hành các đạo luật, quy định thủ tục và biện pháp, thiết lập các cơ quan và thể chế thực thi…
Tại Quy tắc 18 (a) của Quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước
quyền tự do quy định: “Người chưa thành niên cần phải có quyền có luật sư
bào chữa và có quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý miễn phí, nếu sự giúp đỡ đó
có sẵn, và có quyền thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình Các bí mật
và sự riêng tư trao đổi đó phải được đảm bảo”
Theo Hướng dẫn của Tổng thư ký LHQ về cách tiếp cận của LHQ về tư pháp trẻ em, các quốc gia cần có biện pháp hỗ trợ các dịch vụ pháp lý và dịch
vụ TGPL tại cộng đồng cho trẻ em, bao gồm cả việc xây dựng năng lực cho mạng lưới luật sư, đoàn luật sư, các cán bộ trợ lý pháp lý tại cộng đồng; và hỗ trợ thành lập các dịch vụ của các tổ chức phi chính phủ tại cộng đồng như: trung tâm thông tin pháp lý, trung tâm TGPL, và trung tâm bào chữa pháp lý -
xã hội để cung cấp thông tin pháp lý và đại diện cho trẻ em
Các Nguyên tắc và Hướng dẫn của LHQ về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự khuyến nghị các quốc gia thành viên phải thiết lập các dịch vụ TGPL chuyên biệt, thân thiện với NCTN để bảo đảm TGPL phù hợp
và hiệu quả cho NCTN trong tố tụng hình sự, dân sự và hành chính Các quốc gia thành viên cần ưu tiên cung cấp các dịch vụ TGPL cho NCTN; Pháp luật, chính sách và quy định về TGPL cũng cần được điều chỉnh chú trọng đến quyền của NCTN và các nhu cầu phát triển đặc biệt Các chuẩn mực của LHQ cũng yêu cầu NCTN phải luôn được miễn trừ các biện pháp thẩm tra về thu nhập để xác định đủ điều kiện được TGPL; lợi ích tốt nhất của NCTN luôn
Trang 34phải được cân nhắc trước tiên trong tất cả các quyết định về TGPL có ảnh hưởng tới NCTN
Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế không có quy định gì về điều kiện NCTN được TGPL, mà tất cả trẻ em (người dưới 18 tuổi) đều được hưởng sự TGPL, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, như phân biệt đối
xử trên cơ sở chủng tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần kinh tế và những điều kiện khác
* Tính miễn phí của việc TGPL
Tại Khoản 3, Điểm d Điều 14 của Công ước quốc tế về các quyền chính trị, dân sự quy định: khi bị khởi tố về hình sự, bất cứ ai (bao gồm cả NCTN) cũng có quyền:
Tự bào chữa hoặc thông qua người trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông tin về quyền trên nếu họ không có người bào chữa; và trong trường hợp cần thiết được cử người bào chữa mà không phải trả tiền nếu họ không có đủ tiền để trả
Điều 40 Công ước về quyền trẻ em quy định trẻ em quy định, trẻ em:
Được thông báo nhanh chóng và trực tiếp về lời buộc tội và nếu thích hợp, được thông báo qua cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của mình, được trợ giúp về mặt pháp lý hoặc những trợ giúp thích hợp khác để chuẩn bị và trình bày lời bào chữa của mình Theo Hướng dẫn số 10 thì quy định này không yêu cầu sự hỗ trợ trong mọi trường hợp nhưng phải phù hợp Các quốc gia thành viên tự quyết định cách thức hỗ trợ nhưng “nên miễn phí”
Các quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước tự do khuyến nghị: NCTN bị tạm giam có quyền có luật sư bào chữa và có thể yêu cầu TGPL miễn phí, nếu sự trợ giúp đó sẵn có và có quyền tiếp xúc thường xuyên với cố
Trang 35vấn pháp lý của mình Tương tự, Quy tắc Bắc Kinh năm 1985 nêu rõ: “Trong
suốt quá trình tố tụng, người chưa thành niên có quyền được đại diện bởi một luật sư/cố vấn pháp lý hoặc có quyền yêu cầu sự trợ giúp pháp lý miễn phí, trong điều kiện có dịch vụ trợ giúp pháp lý như vậy ở quốc gia đó”
Về quyền được phiên dịch miễn phí trong quá trình TGPL
Điểm b, Đoạn vi, Điều 40 Công ước về quyền trẻ em quy định trẻ em
“được trợ giúp phiên dịch miễn phí nếu trẻ em không hiểu hay không nói
được ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tố tụng” Điều 16 Các Hướng dẫn làm
việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự quy định các quốc gia “cần ưu
tiên thành lập các cơ quan và chương trình nhằm cung cấp trợ giúp pháp lý miễn phí nếu cần thiết; chẳng hạn như các dịch vụ phiên dịch ”
Như vậy, các văn bản quốc tế nói trên là những quy tắc linh hoạt, mang tính mở, khuyến nghị các quốc gia thành viên trong việc tạo điều kiện cho NCTN bị tước tự do hoặc khi tham gia các thủ tục tố tụng được quyền có luật
sư bào chữa hoặc yêu cầu TGPL miễn phí nếu quốc gia đó có TGPL miễn phí cho các đối tượng này Nói cách khác, việc cung cấp TGPL miễn phí cho NCTN khi bị tước tự do không phải là nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia nhưng được LHQ khuyến nghị thực hiện
* TGPL cho NCTN trong tư pháp hình sự
Nguyên tắc 3 của Các nguyên tắc của LHQ về tiếp cận TGPL trong hệ
thống tư pháp hình sự quy định: “Nhà nước cần bảo đảm tất cả những người
bị bắt, bị giam giữ, bị tình nghi hoặc vi phạm luật hình sự bị tù có thời hạn hoặc bị kết án tử hình đều có quyền được trợ giúp pháp lý ở tất cả các giai đoạn của tư pháp hình sự” Như vậy, cũng đối với NCTN, họ được TGPL ở
tất cả các giai đoạn trong tố tụng hình sự Quyền được TGPL nên có ở tất cả các giai đoạn của thủ tục tố tụng, bao gồm cả giai đoạn thẩm vấn, họ cần được cung cấp đầy đủ các cơ hội, thời gian và các phương tiện để giao tiếp với luật
Trang 36sư [36] Theo khuyến nghị của LHQ thì trẻ em phải được miễn thẩm tra thu nhập xác định điều kiện được TGPL; trẻ em bị tước tự do được tiếp cận TGPL từ giai đoạn trước khi xét xử (bị tạm giam, bị bắt, bị tình nghi, bị cáo buộc hoặc bị truy tố hình sự) đến giai đoạn sau khi xét xử, được thông tin về quyền và các dịch vụ TGPL hiện có [14] Để làm được việc đó, các quốc gia thành viên cần đảm bảo các biện pháp đặc biệt đối với trẻ em, trong đó có việc bảo đảm quyền được TGPL của trẻ em ở tất cả các giai đoạn kể cả khi chuyển hướng không xử lý vi phạm qua hệ thống tư pháp hình sự nhằm thúc đẩy sự tiếp cận công lý cho trẻ em Các quốc gia cần tiến hành các biện pháp phù hợp để thiết lập “hệ thống TGPL thân thiện với trẻ em” (child-friendly legal aid system) Hệ thống này được giải thích là việc cung cấp TGPL cho trẻ em trong quá trình tố tụng hình sự, dân sự, hành chính có thể tiếp cận được, phù hợp với độ tuổi, đa ngành, có hiệu quả, đáp ứng một loạt các nhu cầu pháp lý và xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên Đồng thời, các quốc gia thành viên cần ban hành pháp luật, chính sách và các quy định về TGPL có tính đến quyền và nhu cầu phát triển đặc biệt của trẻ, trong đó có quyền được TGPL và hỗ trợ phù hợp khác trong việc chuẩn bị và trình bày biện hộ cho trẻ; ưu tiên thành lập cơ quan và chương trình nhằm cung cấp hỗ trợ pháp lý
và các hỗ trợ khác cho trẻ em; các hỗ trợ này “sẽ miễn phí nếu cần thiết” Như vậy, theo Hướng dẫn của LHQ về tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự thì việc TGPL miễn phí với tư cách là trách nhiệm của Nhà nước cho trẻ em tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia “nếu cần thiết” trên cơ sở các điều kiện kinh tế, xã hội và khả năng của mỗi quốc gia
* Nguyên tắc làm việc của luật sư khi TGPL cho NCTN vi phạm pháp luật
TGPL thân thiện với trẻ em được thực hiện bởi các luật sư và những người không phải luật sư nhưng được đào tạo về pháp luật liên quan đến trẻ
em và sự phát triển của trẻ em và người vị thành niên, người có khả năng giao
Trang 37tiếp hiệu quả với trẻ em và người chăm sóc của trẻ [14] Những luật sư mà nhận thức rõ về vai trò và trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ trẻ em và quyền của các em phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết để làm việc một cách hiệu quả với trẻ em và NCTN Luật sư có nghĩa vụ về mặt đạo đức phải hành động mẫn cán, phù hợp với các quy định pháp luật và các chuẩn mực đạo đức được thừa nhận của nghề luật
Theo các Nguyên tắc 12, 13, 14, 15 trong Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư, các luật sư phải luôn giữ gìn danh dự và đạo đức nghề nghiệp, coi đó là một nhân tố sống còn trong quá trình bảo vệ công lý Trong khi bảo
vệ quyền lợi của thân chủ và bảo vệ công lý, luật sư phải “tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản mà pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế thừa nhận” Luật sư có nghĩa vụ phải trung thành và bảo vệ lợi ích của thân chủ Khi luật sư đại diện cho trẻ em, thân chủ của họ là trẻ em chứ không phải cha mẹ của trẻ hoặc bất cứ người nào trả tiền cho các dịch vụ pháp lý của luật
sư Một vài nghĩa vụ của luật sư trước thân chủ của mình được quy định trong Nguyên tắc 13 của Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư như sau:
(a) Tư vấn cho khách hàng về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ, về cơ chế làm việc của hệ thống pháp luật trong chừng mực
có liên quan đến quyền và trách nhiệm pháp lý của khách hàng;
(b) Giúp đỡ khách hàng bằng mọi cách thích hợp và tiến hành các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi của họ;
(c) Giúp đỡ khách hàng trước tòa án hay các cơ quan hành chính khi thích hợp
* Trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm quyền TGPL của NCTN vi phạm pháp luật
Chính phủ tạo điều kiện để NCTN vi phạm pháp luật tiếp cận TGPL nhanh nhất và hiệu quả nhất
Nguyên tắc 1 trong Các Nguyên tắc cơ bản của LHQ về vai trò của luật
Trang 38sư năm 1990 quy định: “Tất cả mọi người có quyền yêu cầu sự giúp đỡ của
luật sư mà mình lựa chọn để bảo vệ và xác định các quyền của mình và để bảo vệ cho mình trong các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự” Nguyên
tắc 5 quy định tất cả những người bị bắt, giam giữ hoặc kết án đều phải được nhanh chóng thông báo về quyền được luật sư giúp đỡ theo sự lựa chọn của
họ Nguyên tắc 7 nêu rõ một người bị bắt hoặc giam giữ phải có cơ hội tiếp xúc với luật sư không chậm hơn 48 giờ kể từ thời điểm bị bắt hoặc bị giam giữ Theo Nguyên tắc 6:
Bất cứ ai trong hoàn cảnh trên mà không có luật sư riêng, thì trong mọi trường hợp công lý đòi hỏi như vậy, đều có quyền có một luật sư có kinh nghiệm và năng lực phù hợp với tính chất của tội phạm
đã quy kết cho họ để hỗ trợ pháp lý một cách hiệu quả, và miễn phí nếu họ không có đủ khả năng chi trả những dịch vụ như vậy
Nguyên tắc 2 và 3 đòi hỏi các chính phủ phải bảo đảm những thủ tục hữu hiệu và các cơ chế nhanh chóng để việc tiếp cận luật sư có hiệu quả và bình đẳng cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và quyền tài phán của mình
mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, như phân biệt đối xử trên cơ sở chủng tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần kinh tế và những điều kiện khác Hơn nữa, các chính phủ cần đảm bảo cung cấp đầy đủ kinh phí và những nguồn lực khác cho các dịch vụ pháp lý dành cho người nghèo và nếu cần thiết cho những người bị thiệt thòi khác Các hiệp hội chuyên môn của luật sư phải phối hợp trong việc tổ chức cung cấp những dịch vụ, phương tiện và các nguồn lực khác
Chính phủ đảm bảo bí mật trao đổi giữa luật sư với người được TGPL
là NCTN vi phạm pháp luật
Việc giữ bí mật trong giao tiếp giữa luật sư và thân chủ là một tiêu chí
Trang 39để thực hiện đầy đủ quyền được TGPL cũng như mối quan hệ giữa thân chủ
và luật sư Nguyên tắc 8 Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư đòi hỏi tất cả những người bị bắt, giam hay cầm tù phải được tạo ra các cơ hội, thời gian và phương tiện đầy đủ để luật sư đến thăm, và được trao đổi hay tư vấn hoàn toàn riêng với luật sư không chậm trễ, không bị theo dõi hay kiểm duyệt Những cuộc tiếp xúc hay tư vấn như vậy, có thể được tiến hành trong tầm nhìn, nhưng không trong tầm nghe của các nhà thi hành pháp luật Tương tự, Nguyên tắc 22 yêu cầu các chính phủ phải “công nhận và tôn trọng bí mật của tất cả các trao đổi và bàn bạc giữa luật sư và thân chủ của họ”
Đối với thân chủ là NCTN vi phạm pháp luật, thì trách nhiệm giữ bí mật trong giao tiếp giữa luật sư và thân chủ càng được nhấn mạnh hơn cả Trách nhiệm này của chính phủ cũng là nhằm đảm bảo “quyền bảo vệ và giữ
bí mật đời tư” của NCTN Nếu quyền về đời tư không được bảo vệ thì NCTN
vi phạm pháp luật có thể bị gia đình, bạn bè của nạn nhân trả thù, bêu xấu và chế giễu trước công chúng NCTN đặc biệt dễ bị ảnh hưởng do bị mất danh
dự Do đó, cần ngăn ngừa điều này xảy ra vì nếu xảy ra, có thể gây tổn hại lớn đến NCTN Không được tiết lộ thông tin liên quan đến hành vi phạm tội của NCTN với bất kỳ ai không liên quan trực tiếp đến hệ thống tư pháp Tất cả cán bộ có liên quan phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền về đời tư của NCTN
1.2.2 Pháp luật Việt Nam
* Điều kiện NCTN được TGPL
- Điều 14 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”
- Điều 37 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước,
Trang 40gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn
đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”
- Điều 31 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ,
tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rõ rằng, ở Việt Nam quyền con người rất được tôn trọng và bảo vệ, trong đó có quyền của NCTN Mặc dù trong Hiến pháp không có quy định trực tiếp về vấn đề TGPL cho NCTN, tuy nhiên sự liên kết các quy định chung về quyền con người, quyền của NCTN
và đặc biệt là quyền bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đã tạo nên cơ sở hiến định quan trọng, làm tiền đề để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cụ thể hóa thành hệ thống văn bản pháp luật về TGPL nói chung và TGPL cho NCTN nói riêng
Quyền TGPL của NCTN lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật TGPL năm 2006 Theo quy định tại Điều 10 của Luật TGPL năm 2006 thì “trẻ em không nơi nương tựa” là một trong những đối tượng được TGPL bằng các hình thức trong các lĩnh vực như các đối tượng khác Ngoài ra, theo quy định tại Điều 2 của Luật này thì trẻ em theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng thuộc đối tượng được TGPL nếu điều ước quốc
tế đó có quy định về TGPL cho trẻ em Tuy nhiên, đối tượng “trẻ em không nơi nương tựa” không được đề cập trong Công ước về quyền trẻ em và các nguyên tắc, hướng dẫn của LHQ có liên quan đến TGPL cho trẻ em Có thể nói, đây là một hạn chế của pháp luật TGPL trước đây của nước ta Quy định này không phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và thực tế công tác TGPL cho trẻ
em hiện nay Trẻ em là nhóm người dễ bị tổn thương nhất cả về tâm sinh lý, khi gặp khó khăn, hoạn nạn mới nhờ cậy đến công cụ TGPL của nhà nước,