1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động theo pháp luật lao động việt nam

93 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm của tác giả, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là một bộ phận của quyền lao động, trên cơ sở những quyền con người nói chung, gắn liền với mỗi cá nhân N

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

QUYÒN §¦îC LµM VIÖC TRONG M¤I TR¦êNG AN TOµN CñA NG¦êI LAO §éNG

THEO PH¸P LUËT LAO §éNG VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

QUYÒN §¦îC LµM VIÖC TRONG M¤I TR¦êNG AN TOµN CñA NG¦êI LAO §éNG

THEO PH¸P LUËT LAO §éNG VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

Trang 4

MÔI TRƯỜNG AN TOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7 1.1 Khái quát chung về quyền được làm việc trong môi trường

an toàn của người lao động 7

1.1.1 Khái niệm về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của

người lao động 7 1.1.2 Vai trò, ý nghĩa quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của người lao động 10

1.2 Pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của người lao động 15

1.2.1 Nội dung pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an

toàn của người lao động 15 1.2.2 Các biện pháp bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của người lao động 18

1.3 Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người

lao động theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

và một số nước trên thế giới từ đó gợi mở cho Việt Nam 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG AN

TOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 30

2.1 Về quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động 30

2.2 Về bố trí công việc phù hợp 39

2.3 Đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý 46

2.4 Về quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG AN TOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 64

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động theo pháp luật Việt Nam 64

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động theo pháp luật Việt Nam 66

3.2.1 Về các quy định pháp luật 66

3.2.2 Về tổ chức thực hiện 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLLĐ: Bộ luật lao động HĐLĐ: Hợp đồng lao động ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế NLĐ: Người lao động

NSDLĐ: Người sử dụng lao động

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Ngay từ khi giành được độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó rất quan tâm, chú trọng đến việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Cùng với sự phát triển và đi lên của đất nước, với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm hơn trước, việc bảo vệ các quyền này cũng được nhìn nhận dưới những góc độ mới, đa dạng hơn, không chỉ dừng lại ở bảo vệ những quyền cơ bản liên quan đến nhân thân hay tài sản Đảng và Nhà nước ta đã hiện thực hóa chủ trương, đường lối, chính sách cụ thể nhằm bảo quyền con người, quyền công dân không chỉ thông qua pháp luật hình sự mà còn liên quan tới luật dân sự, lao động, thương mại,…

Yêu cầu cấp thiết đề ra là các chính sách lao động hiện nay không chỉ đòi hỏi phù hợp với sự thay đổi, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa

- xã hội của đất nước mà hơn hết phải bảo đảm tôn trọng giá trị con người và các quyền công dân của họ không bị xâm phạm Luật lao động với vai trò bảo

vệ và duy trì mối quan hệ các bên trong quan hệ lao động, đồng thời phải bảo

vệ quyền con người, quyền công dân trong môi trường lao động Một môi trường làm việc an toàn cần được tạo lập là yêu cầu đặt ra phù hợp với sự phát triển cũng như hoàn cảnh cụ thể ở nước ta, phù hợp với các quy định của

Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là quy định “Người làm công ăn lương được

bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn” Nội dung của quyền

được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ rất rộng, đòi hỏi pháp luật phải thể hiện quan điểm bảo vệ họ với tư cách bảo vệ con người, chủ thể của

Trang 8

quan hệ lao động Nhằm bảo vệ NLĐ trên mọi phương diện như: quyền tự do lựa chọn việc làm, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ; quyền được đảm bảo điều kiện lao động; quyền được đảm bảo danh dự nhân phẩm của NLĐ; quyền được tự do liên kết của NLĐ và quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống của NLĐ

Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời đã có những bước phát triển vượt bậc so với văn bản pháp luật trước nó, đã có những quy định chi tiết và phù hợp hơn sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gao của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Trước những đòi hỏi của thực tiễn về vấn đề liên quan đến quyền tự do lựa chọn việc làm, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ; quyền được đảm bảo điều kiện lao động; quyền được đảm bảo danh dự nhân phẩm của NLĐ; quyền được tự do liên kết của NLĐ và quyền được đảm bảo thu nhập và đời sống của NLĐ thường xuyên nảy sinh những bất cập trong thực tiễn gây ra những hậu quả nặng nề cho NLĐ, ảnh hưởng tới tâm lý, sức khỏe thậm chí là tính mạng NLĐ Nhưng thực tế liên quan đến những vấn đề quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ không ngừng nảy sinh những vấn đề mới, những quy định của luật khi áp dụng vào thực tiễn không khả thi, còn thiếu hoặc sai lệch; một số quy định hiện nay không phù hợp với quy định của các Công ước của ILO, các Hiệp định song phương hoặc đa phương Việt Nam kí kết hoặc gia nhập Xuất phát từ những lý do như

đã nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quyền được làm việc trong môi trường

an toàn của người lao động theo pháp luật Lao động Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình, với mong muốn làm rõ các quy định pháp luật trong lĩnh vực này, đồng thời góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật lao động, nhằm đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ theo pháp luật Việt Nam trên thực tế luôn là đề tài thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội Xét trong mối quan hệ lao động, NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ đồng thời là bên phải thực hiện các nghĩa vụ lao động, trực tiếp tiến hành hoạt động lao động, sản xuất nên thường đối diện với các rủi ro dẫn đến quyền con người của họ rất dễ bị xâm phạm Qua tìm hiểu, đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu đề cập tới một số khía cạnh về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ như: vấn đề việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động, bố trí việc làm, các vấn đề liên quan đến danh dự, nhân phẩm của NLĐ Luận án Tiến sỹ Luật học

của tác giả Nguyễn Thị Kim Phụng (2006) “Pháp luật lao động với vấn đề

bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Một số

Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường (2013) “Bình

đẳng giới trong Bộ luật lao động Việt Nam”; Nguyễn Thu Phương (2016)

“Bảo đảm các quyền và lợi ích của người lao động theo pháp luật Việt Nam”;

Nguyễn Thị Hoài Thương (2015) “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao

động trong Bộ luật lao động Việt Nam” Cũng như đã có rất nhiều đề tài

nghiên cứu trực tiếp về bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của NLĐ như: Cuốn sách chuyên khảo "Đảm bảo quyền con người trong

pháp luật lao động Việt Nam" do PGS.TS.Lê Thị Hoài Thu chủ biên năm

2013 Một số bài viết trên các tạp chí: “Pháp luật hợp đồng lao động từ quy

định đến thực tiễn” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của PGS.TS Lê Thị

Hoài Thu; “Góp ý về quy định làm thêm giờ trong Bộ luật lao động năm

2012” trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu;

“Quấy rối tình dục tại nơi làm việc trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt

Trang 10

Nam – một số kiến nghị” (2016) trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật của

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn nghiên cứu một phần theo nghĩa hẹp về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động theo pháp luật Lao động Việt Nam Ngoài ra, luận văn còn làm rõ hơn thực tiễn quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ ở Việt Nam

Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận văn đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ ở Việt Nam

Nhiệm vụ của luận văn:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ và pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ như: khái niệm, đặc điểm; nội dung pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ

- Phân tích, đánh giá thực trạng các qui định pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng các qui định pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ để từ đó rút ra những ưu điểm và hạn chế trong các qui định pháp luật này cũng như thực tiễn thi hành

Trang 11

- Luận văn đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ tại các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động qui định của BLLĐ năm 2012

và các văn bản hướng dẫn thi hành

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ được hiểu rất rộng là tất cả những quyền của NLĐ, bao gồm: Quyền tự do việc làm; Quyền đảm bảo điều kiện lao động; Quyền đảm bảo danh dự nhân phẩm; Quyền tự

do liên kết; Quyền đảm bảo thu nhập; Quyền được làm việc trong niềm vui và hạnh phúc…Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, tôi chỉ nghiên cứu đề tài theo nghĩa hẹp, được giới hạn trong những quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ bao gồm: Quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động; Quyền được bố trí công việc phù hợp; Quyền được đảm bảo thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi hợp lý; Quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm của NLĐ

Để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu, luận văn còn tham khảo, so sánh, đối chiếu với các qui định của ILO mà Việt Nam đã tham gia ký kết và pháp luật của một số nước trên thế giới có liên quan đến đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội và các phương pháp nghiên cứu đặc thù của luật học để nghiên cứu đề tài Các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp mô tả; phương pháp phân tích qui phạm và phân tích vụ việc; phương pháp phân tích lịch sử; phương pháp trừu tượng hóa; phương pháp khái quát hóa, mô hình hóa; phương pháp

so sánh pháp luật…

Trang 12

6 Bố cục Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền được làm việc trong môi trường an

toàn của người lao động và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về quyền được làm

việc trong môi trường an toàn của người lao động và thực tiễn thi hành

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao

hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM VIỆC

TRONG MÔI TRƯỜNG AN TOÀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát chung về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

1.1.1 Khái niệm về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

Theo Từ điển Tiếng Việt “quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công

nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [5, tr.815]

Trong khi đó đối với khái niệm NLĐ thì có quan điểm cho rằng:

Thuật ngữ NLĐ có thể hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, NLĐ bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong xã hội Theo nghĩa hẹp, NLĐ là những người làm công cho các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình trên cơ sở hợp đồng lao động… Tùy từng ngữ cảnh, từng trường hợp mà thuật ngữ NLĐ được sử dụng để chỉ những phạm vi đối tượng khác nhau… Thuật ngữ NLĐ chủ yếu được sử dụng theo nghĩa hẹp chỉ những lao động làm việc trên cơ sở hợp đồng lao động [6, tr.10]

Hay bên cạnh việc pháp luật quy định quyền của NLĐ công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi thì việc được hưởng, được làm, được đòi hỏi của NLĐ được hình thành thông qua hợp đồng lao động được ký kết giữa NLĐ và NSDLĐ hay thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa đại diện tập thể NLĐ và NSDLĐ [7, tr.8]

Trong khi đó theo quy định tại BLLĐ 2012 thì “Người lao động là

người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao

Trang 14

động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [8, Điều 3, khoản 1]

Có thể thấy rằng quan điểm trên cùng với quy định của BLLĐ là phù hợp với cách hiểu về NLĐ Trong khuôn khổ luận văn, tác giả nghiên cứu khái niệm NLĐ cũng mang nghĩa hẹp trên cơ sở chỉ những người làm việc theo hợp đồng lao động

Môi trường lao động bao gồm tổng hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động, bao gồm cả những vấn đề liên quan tâm sinh lý của NLĐ trong khi lao động tại chỗ làm việc Môi trường tự nhiên liên quan đến nước, không khí, âm thanh, ánh sáng,… bao gồm cả những vấn đề các loại hóa chất, bức xạ, phóng xạ, các chất độc hại… Trong khi đó môi trường xã hội bao gồm các yếu tố thuộc sự tác động của con người mà chủ yếu đến từ phía NSDLĐ Những yếu tố môi trường này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tâm lý, tinh thần của NLĐ Bảo đảm quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là sự tổng hợp tất cả các hoạt động trên các mặt luật pháp, tổ chức, hành chính, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu là thúc đẩy một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh như cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động, đảm bảo an toàn sức khoẻ, tính mạng, tinh thần,… cho NLĐ Môi trường an toàn được hiểu không chỉ là các biện pháp bảo vệ, ngăn chặn mọi sự xâm hại đối với NLĐ mà còn phải hướng tới cải thiện môi trường lao động cho NLĐ

Đối với vấn đề quyền của NLĐ có quan điểm cho rằng “Các quyền về lao

động là một bộ phận trong hệ thống quyền con người nói chung” [11, tr.13]

Trang 15

Xem xét theo quan điểm trên có thể nhìn nhận rằng, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là một bộ phận của hệ thống quyền của NLĐ, quyền con người

Theo quan điểm của tác giả, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là một bộ phận của quyền lao động, trên cơ sở những quyền con người nói chung, gắn liền với mỗi cá nhân NLĐ được đảm bảo làm việc trong một môi trường tự do lựa chọn cũng như được bảo vệ trước những bất lợi của môi trường lao động hay sự xâm hại của các chủ thể khác, đặc biệt là NSDLĐ, tạo ra môi trường làm việc ngày càng tốt hơn đối với NLĐ Theo đó

có thể hiểu, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với những người có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu

sự quản lý, điều hành của NSDLĐ để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế trong quá trình lao động Các quyền này không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế (tuyên ngôn, công ước, khuyến nghị), mà còn được cụ thể hóa và quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, Bộ luật, Luật Những quyền trên được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ, bởi để bảo đảm các quyền của NLĐ các quốc gia buộc phải ban hành các quy định về nghĩa vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực hiện các quyền của NLĐ, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ

bao gồm một số quyền sau: Quyền tự do việc làm; Quyền đảm bảo điều kiện lao động; Quyền đảm bảo danh dự, nhân phẩm; Quyền tự do liên kết; Quyền đảm bảo thu nhập; Quyền được làm việc trong niềm vui và hạnh phúc…

Trang 16

Có thể thấy rằng, quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ theo nghĩa này bao gồm rất nhiều quyền lớn, đảm bảo cho NLĐ trên tất

cả các mặt khi tham gia vào quan hệ lao động NLĐ được đảm bảo đầy đủ trên mọi phương diện, bảo đảm một cách toàn diện từ khi tham gia vào quan

hệ lao động và trong suốt quá trình lao động Những quyền này của NLĐ đảm bảo cho họ được làm việc trong một môi trường an toàn từ các vấn đề tự do lựa chọn, chấm dứt việc làm theo ý muốn của bản thân; bảo đảm toàn diện về các điều kiện lao động từ an toàn, vệ sinh lao động đến thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; bảo đảm quyền tự do liên kết thành lập, tham gia công đoàn và đình công theo quy định của pháp luật; bảo đảm quyền về tiền lương và những vấn đề liên quan đến bảo hiểm lao động; thậm chí còn đảm bảo cho NLĐ được làm việc trong niềm vui và hạnh phúc trong công việc

Theo nghĩa hẹp: quyền được làm việc trong môi trường an toàn lao

động bao gồm: Quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động; Quyền được

bố trí công việc phù hợp; Quyền được đảm bảo thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi hợp lý; Quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm của NLĐ Do vậy, NLĐ được bảo đảm trong những vấn đề cơ bản về môi trường an toàn liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động; về bố trí một công việc phù hợp; bảo đảm thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi hợp lý và quyền được đảm bảo danh dự, nhân phẩm của NLĐ Theo nghĩa này, NLĐ được bảo đảm những quyền lợi cơ bản nhất trong môi trường lao động, môi trường an toàn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn nhưng đảm bảo cho NLĐ những quyền lợi cơ bản nhất

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

Tuyên bố Philadelphia năm 1944 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nêu rõ: “lao đô ̣ng không phải là hàng hóa” NLĐ là yếu tố mấu chốt để phát triển kinh tế, phát triển kinh tế sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người - chủ thể

Trang 17

của phát triển kinh tế - không được hưởng lợi từ chính sự phát triển kinh tế của mình Vì vậy, phát triển kinh tế và phát triển xã hội phải đi liền với nhau Quan điểm phát triển của Việt Nam là “tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” (Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội 2011-2020) Để đạt mục tiêu này, thúc đẩy các quyền được làm việc trong môi trường an toàn lao động cần được coi là nền tảng đ ể từ đó xây dựng tiêu chuẩn quốc gia ngang b ằng với tiêu chuẩn quốc tế Xã hội không thể tồn tại nếu thiếu quá trình lao động, tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong quan hệ lao động có thể triệt tiêu một bên trong quan hệ do đó quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là một công cụ của nhà nước nhằm bảo vệ sự tồn tại của quan hệ trọng yếu này, đồng nghĩa đảm bảo sự tồn tại của xã hội mà nó quản lí và cho chính nó Pháp luật

về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ giúp tạo nguồn lực phát triển kinh tế một cách ổn định nhất, đóng một vai trò quan trọng trong định hướng phát triển nguồn nhân lực

- Đối với người lao động

Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ nâng cao vị thế, đảm bảo tâm lý ổn định cho NLĐ yên tâm tham gia vào quan hệ lao động và không vì nhu cầu mưu sinh mà phải mất đi những giá trị quý giá của một con người NLĐ có nhận thức đúng về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của mình sẽ giúp bản thân NLĐ biết cách tự bảo vệ mình, tránh bị xâm hại từ phía các chủ thể khác Khi tham gia quan hệ lao động, NLĐ có nhu cầu, nguyện vọng về một công việc bền vững, lâu dài, đem lại nguồn thu nhập ổn định nhưng cũng phải được đảm bảo về điều kiện lao động ngày một tốt hơn Thế nhưng đa phần NLĐ khi tham gia quan hệ lao động cũng không có được những hiểu biết cần

Trang 18

thiết về quyền mà đáng ra họ phải được hưởng Mối quan tâm hàng đầu của NLĐ thường hướng đến là những vấn đề về thu nhập, tiền công, đó là những lợi ích cơ bản trước mắt đáp ứng nhu cầu cuộc sống của NLĐ Do chỉ quan tâm đến thu nhập nên NLĐ thường bị lạm dụng, xâm phạm đến quyền lợi thiết yếu của bản thân họ Trong điều kiện đó, để NLĐ có thể yên tâm làm việc và phát huy năng lực của mình thì đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ sẽ giúp bản thân NLĐ có được tâm lý thoải mái nhất, thỏa mãn về cả nhu cầu vật chất và tinh thần

- Đối với người sử dụng lao động

Thứ nhất, khi đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của NLĐ sẽ thúc đẩy họ hăng say lao động, đem lại lợi ích cho chính NSDLĐ Trong điều kiện lao động thì các yếu tố tâm lý, tình cảm, sự thoái mái, tin tưởng đối với điều kiện, môi trường làm việc, đối với NSDLĐ có tác động rất quan trọng đến hiệu quả công việc Khi NLĐ được đảm bảo an toàn

vệ sinh lao động, bố trí công việc phù hợp, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý

và tôn trọng danh dự nhân phẩm, họ sẽ có ý thức tự nguyện làm việc, không còn coi công việc là nghĩa vụ để đổi lấy tiền lương NSDLĐ tạo điều kiện đảm bảo thì NLĐ sẽ phát huy hết khả năng sáng tạo của mình làm cho năng suất chất lượng lao động tăng cao, tạo ra sản phẩm đem lại lợi nhuận tương ứng cho NSDLĐ

Thứ hai, việc đảm bảo tốt quyền được làm việc trong môi trường an

toàn của NLĐ còn giúp NSDLĐ tránh được những chi phí không cần thiết như: chi phí để khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, các vấn đề liên quan đến vệ sinh lao động; chi phí giải quyết các tranh chấp lao động có liên quan; chi phí tuyển dụng đào tạo những NLĐ đã chấm dứt hợp đồng lao động do quyền lợi không được đảm bảo NSDLĐ đảm bảo quyền ngay từ đầu cho NLĐ chỉ phải bỏ ra chi phí ban đầu nhưng giảm được rất

Trang 19

nhiều số tiền phát sinh trong giai đoạn sau này Nếu không đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ thì NSDLĐ phải bỏ ra lượng lớn tiền của để giải quyết các vấn đề liên quan, không chỉ vậy NSDLĐ còn phải giành rất nhiều thời gian, công sức để giải quyết những vấn đề liên quan đến bồi thường, tranh chấp lao động Thiệt hại có thể xảy ra vượt ngoài

dự tính như khi một số lượng lớn NLĐ có liên kết với nhau tiến hành đình công hoặc khởi kiện, gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách bình thường của NSDLĐ Như vậy, để tình hình kinh doanh ổn định, hiệu quả cũng như giảm tải các chi phí không đáng có thì các quyền cơ bản của NLĐ cần được đảm bảo

Thứ ba, việc đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của NLĐ còn đem lại uy tín cho NSDLĐ Trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi NSDLĐ phải có sức cạnh tranh, sức cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào chất lượng, giá cả hàng hóa mà còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những vấn đề liên quan đến uy tín, danh tiếng của họ Những NSDLĐ gây ra những vấn đề tranh chấp với NLĐ, các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ bị mất đi danh tiếng, tạo ra hình tượng doanh nghiệp xấu trong mắt đối tác và người tiêu dùng Đối tác thường e ngại gặp những rắc rối liên quan khi NSDLĐ thường xuyên xảy ra các tranh chấp hoặc các vấn đề về an toàn, vệ sinh liên quan đến NLĐ Trong khi đó đa phần người tiêu dùng lại là NLĐ và họ sẽ có tâm lý bất bình với những doanh nghiệp như vậy, sản phẩm của NSDLĐ do

đó khó có chỗ đứng trong thị trường Không chỉ vậy, tạo được danh tiếng tốt

sẽ giúp NSDLĐ thu hút được lượng lớn NLĐ có tay nghề, khả năng về làm việc cho doanh nghiệp từ đó tăng khả năng cạnh tranh của họ Do đó, việc đảm bảo tốt các quyền đối với tính mạng sức khỏe và các giá trị tinh thần của NLĐ cũng chính là cách thức để NSDLĐ gây dựng uy tín, niềm tin từ người tiêu dùng và quảng bá thương hiệu

Trang 20

- Đối với xã hội

Đảm bảo quyền con người trong lao động góp phần bảo đảm sự ổn định

và công bằng xã hội Trong xu hướng hội nhập với thế giới, đề cao quyền con người, quyền công dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia mà còn ghi nhận ở nhiều Công ước, các Hiệp định giữa các quốc gia, việc thực hiện tốt quyền này đảm bảo sự hội nhập với xu thế chung trên thế giới Ngoài ra, việc đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường

an toàn của NLĐ còn giúp cho nền kinh tế của đất nước ổn định và phát triển, làm tăng tổng sản phẩm của toàn xã hội, giúp mức sống của các thành viên trong xã hội được đảm bảo, tăng phúc lợi xã hội, ổn định kinh tế của đất nước Không thể đảm bảo được vấn đề này sẽ dẫn đến NSDLĐ làm ăn không hiệu quả, các tranh chấp lao động và đình công thường xuyên xảy ra gây thiệt hại về mặt kinh tế và thu nhập cho cả NSDLĐ và NLĐ, rộng hơn nữa ảnh hưởng tới cả ngân sách Nhà nước trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực NLĐ chiếm số đông trong xã hội, họ là lực lượng lao động trực tiếp và chủ yếu trong xã hội, đem lại nguồn thu nhập ổn định nuôi dưỡng bản thân và gia đình

họ Khi tính mạng, sức khỏe của NLĐ được đảm bảo và danh dự, nhân phẩm của NLĐ được tôn trọng sẽ là động lực để NLĐ làm tốt công việc của mình, điều đó sẽ làm tăng năng suất lao động của toàn xã hội, tạo lợi nhuận cho NSDLĐ, đồng thời góp phần ổn định nền kinh tế chung của đất nước

Đồng thời, đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ giảm thiểu tối đa mâu thuẫn giữa NSDLĐ và NLĐ, giảm thiểu mâu thuẫn trong xã hội Không đảm bảo được quyền này có thể ảnh hưởng đến các phương diện xã hội khác như chính trị, văn hóa Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ bị xâm phạm là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công, tranh chấp của NLĐ, tập thể NLĐ Khi nảy sinh vấn đề tranh chấp

sẽ làm ảnh hưởng tới cả NSDLĐ, NLĐ, ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh

Trang 21

doanh của NSDLĐ Không chỉ vậy, không giải quyết tốt những vấn đề này còn gây tác động xấu đến dư luận xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế

và môi trường đầu tư ở Việt Nam Đồng thời khi các quyền này của NLĐ không được đảm bảo, tâm lý chung là dễ phát sinh các phản ứng tiêu cực, gây ảnh hưởng tới nội bộ xã hội, thậm chí ảnh hưởng tới đầu tư của các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước

Trên hết các quy định này thể hiện tinh thần nhân đạo, tôn trọng quyền con người, quyền công dân, đảm bảo sự ổn định công bằng xã hội Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ không nhằm tạo ra sự khác biệt, đối xử bất bình đẳng đối với NSDLĐ khi đặt mục đích bảo vệ NLĐ lên trước hết mà xuất phát từ sự phụ thuộc nhất định của NLĐ đối với NSDLĐ Quyền này không nảy sinh vì phục vụ mục tiêu chính trị hay giai cấp mà là nhằm bình ổn quan hệ lao động ở cán cân ngang bằng

1.2 Pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

1.2.1 Nội dung pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường

an toàn của người lao động

Thứ nhất, quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động NLĐ được

bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động bao gồm những vấn đề về bảo hộ lao động, phòng tránh sự xâm hại từ yếu tố môi trường lao động Tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động để chủ động phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại trong quá trình lao động Tham vấn ý kiến tổ chức đại diện của người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, Hội đồng về an toàn, vệ sinh lao động các cấp trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch về an toàn, vệ sinh lao động NLĐ có quyền yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện các chế độ đối với người bị tai nạn

Trang 22

lao động và bệnh nghề nghiệp; Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình nhưng phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý; Khiếu nại, tố cáo đến người có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án khi người sử dụng lao động vi phạm quy định của pháp luật hoặc không thực hiện đúng các giao kết về an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể Trong khi đó, NSDLĐ phải buộc NLĐ tuân thủ các nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm

an toàn, vệ sinh lao động khi làm việc; Khen thưởng người chấp hành tốt và

kỷ luật người vi phạm trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động; Khiếu nại đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định của Thanh tra về

an toàn, vệ sinh lao động, nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó; tố cáo hoặc khởi kiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; Huy động người lao động tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố, tai nạn lao động

Thứ hai, quyền được bố trí công việc phù hợp Quyền được bố trí công

việc phù hợp là việc NSDLĐ cần bố trí công việc phù hợp với trình độ, năng lực, sức khỏe, giới tính, tuổi tác… dựa trên những thỏa thuận trong hợp đồng lao động NLĐ và NSDLĐ có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng khi điều kiện công việc thay đổi hoặc trình độ, năng lực của NLĐ thay đổi, ưu tiên thực hiện những quy định có lợi nhất cho NLĐ Bố trí và sử dụng NLĐ phải căn cứ đúng vào sở trường và các tố chất khác nhau của mỗi người để tính toán các cấp độ sử dụng, cũng như mức độ mà mỗi người có thể đạt đến Hơn nữa, trong xã hội hiện đại nguyện vọng của người lao động cũng cần được chú ý nhằm tạo ra động lực cho họ trong quá trình lao động Đảm bảo đúng nơi, đúng chỗ, đúng theo yêu cầu của quá trình kinh doanh, đúng theo nhu cầu của bộ phận sử dụng lao động Trong quyền được bố trí công việc

Trang 23

phù hợp cần xem xét đến cả việc bố trí phù hợp với tuổi tác, xem xét cẩn trọng độ tuổi nghỉ hưu của NLĐ

Thứ ba, quyền được đảm bảo thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi

hợp lý Thời giờ làm việc là độ dài thời gian mà người lao động phải tiến hành lao động theo quy định của pháp luật, theo thoả ước lao động tập thể hoặc theo hợp đồng lao động Thời giờ nghỉ ngơi là độ dài thời gian mà người lao động được tự do sử dụng ngoài nghĩa vụ lao động thực hiện trong thời giờ làm việc Quyền làm việc và quyền nghỉ ngơi là một trong những quyền rất cơ bản của con người, trước hết là người lao động trong quan hệ lao động, phải được pháp luật can thiệp, bảo vệ Hiến pháp của các nước đều ghi nhận điều này trong đó có Hiến pháp của nước ta Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948 cũng nghi nhận quyền đó Pháp luật lao động quốc gia quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, tạo hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động trong quan hệ lao động

để làm việc được lâu dài, có lợi cho cả hai bên; đảm bảo có một tỷ số hợp lý giữa hai loại thời giờ này, có tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, vừa không thiệt hại cho sản xuất kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động, khả năng sáng tạo của người lao động, suy cho cùng

là nhằm bảo vệ việc làm, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của lao động, hướng vào chiến lược con người

Thứ tư, quyền được đảm bảo danh dự nhân phẩm của NLĐ: Quyền

được bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm,danh dự là quyền cơ bản của công dân nói chung và NLĐ nói riêng được Hiến pháp 2013 ghi nhận tại điều

20: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo

hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” Danh dự là yếu tố luôn gắn liền với một chủ

Trang 24

thể nhất định và là một trong những yếu tố để khẳng định vị trí, vai trò và uy tín của chủ thể đó trong xã hội Nhân phẩm là phẩm chất, là giá trị của con người, là yếu tố nhân thân gắn liền với một con người nhất định và được pháp luật bảo đảm Được bảo vệ danh dự nhân phẩm là quyền cơ bản của con người nhưng đặc biệt quan trọng trong quan hệ lao động bởi sự yếu thế và phụ thuộc của NLĐ vào NSDLĐ Pháp luật lao động bảo vệ danh dự, nhân phẩm, không bị cưỡng bức lao động của NLĐ khi bị NSDLĐ xúc phạm trong quan hệ lao động Khi bị xâm phạm, NLĐ có quyền tố cáo hành vi của NSDLĐ, và yêu cầu được pháp luật, tổ chức đại diện của NLĐ bảo vệ danh

dự, nhân phẩm của mình NSDLĐ phải bồi thường thiệt hại theo quy định để

bù đắp tổn thất về sức khỏe, tinh thần mà NLĐ phải gánh chịu Đồng thời, cần

có những biện pháp để ngăn chặn, răn đe sự xâm phạm diễn ra

1.2.2 Các biện pháp bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động

Biện pháp bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ trong pháp luật lao động là những biện pháp do pháp luật lao động quy định nhằm bảo đảm cho các quyền này của NLĐ trong pháp luật lao động được thực thi đầy đủ trên thực tế Trên thực tế tồn tại nhiều biện pháp bảo vệ tuy nhiên

có một số biện pháp cơ bản sau:

- Thứ nhất, biện pháp tự bảo vệ

Pháp luật quy định cho NLĐ có quyền tự bảo vệ trước sự thiếu an toàn đặc biệt từ phía NSDLĐ Khi ký kết hợp đồng lao động, NLĐ được phép thỏa thuận với NSDLĐ về những điều khoản trong hợp đồng lao động, khi thỏa thuận về nội dung của những quy định trong hợp đồng ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của NLĐ

NLĐ có thể tự bảo vệ thông qua biện pháp liên kết tạo sức mạnh tập thể Thông qua công đoàn, tổ chức được thành lập cơ sở tự nguyện, NLĐ

Trang 25

liên kết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình Kinh tế ngày càng phát triển thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng của các thành phần kinh tế và sự phát triển về số lượng của đội ngũ những NLĐ Cơ chế thị trường sẽ tác động lớn đến quan hệ lao động; mâu thuẫn về lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ sẽ ngày càng sâu sắc, quyết liệt Và với lợi thế về kinh tế

và quyền quản lý, điều hành, NSDLĐ thường chiếm ưu thế còn người lao động thường ở vào thế yếu Trong điều kiện đó, cần thiết lập biện pháp cần thiết nhằm duy trì sự cân bằng tương quan lực lượng hai bên trong quan hệ lao động, bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ Đồng thời để quyền tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội quy, điều lệ của doanh nghiệp

và quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về sử dụng lao động của NLĐ cũng cần có giải pháp Như vậy, một cá nhân NLĐ thường khó có thể bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền được làm việc trong môi trường an toàn của mình mà cần phải có sự liên kết

để tạo ra sức mạnh chung của tập thể NLĐ Pháp luật lao động Việt Nam cũng như pháp luật lao động của nhiều nước trên thế giới đều thừa nhận quyền liên kết và tạo điều kiện cho NLĐ được liên kết trong tổ chức công đoàn để có thể bảo vệ quyền của mình trong lĩnh vực lao động

Công đoàn có trách nhiệm đại diện cho tập thể lao động thương lượng

và ký thoả ước lao động tập thể với chủ doanh nghiệp; giúp người lao động

ký hợp đồng lao động cá nhân Công đoàn có quyền giám sát và yêu cầu chủ doanh nghiệp thực hiện đúng các chế độ, chính sách, pháp luật về lao động và những vấn đề khác có liên quan đến quyền và lợi ích của NLĐ; có quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm pháp luật về lao động, và các chính sách, pháp luật khác của Nhà nước tại doanh nghiệp Khi không đồng ý với việc giải quyết của NSDLĐ, công đoàn có quyền thay mặt NLĐ kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết Khi

Trang 26

buộc người lao động thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì NSDLĐ phải thảo luận và nhất trí với công đoàn Trường hợp hai bên không nhất trí không nhất trí thì chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

Các tổ chức Công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốc gia về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ như các Chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh lao động; Tuần lễ quốc gia về an toàn và phòng chống cháy nổ hàng năm, tham gia mạng thông tin an toàn, vệ sinh lao động

Khi mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ không thể thương lượng, thỏa thuận, NLĐ sẽ tự liên kết tiến hành đình công Thông qua đình công, NLĐ có thể bảo vệ các quyền lợi nhất định của mình

- Thứ hai, thông qua các biện pháp thanh kiểm tra xử phạt vi phạm

pháp luật lao động của Nhà nước

Nhà nước ngăn chặn những hành vi xâm hại quyền của NLĐ và xử lý nghiêm minh những chủ thể vi phạm; tạo ra phương thức, công cụ để NLĐ bảo vệ quyền tự do của mình khi quyền bị xâm hại (trong đó có quyền NLĐ

tự bảo vệ) Bảo vệ quyền NLĐ bao gồm cả hình thức xử lý vi phạm quyền của NLĐ từ phía Nhà nước sao cho mọi hành vi cản trở quyền, hạn chế quyền không đúng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

- Thứ ba, thông qua phán quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền trong giải quyết tranh chấp

Biện pháp bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ mạnh nhất chính là các quyết định, phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp lao động Khi quyền của NLĐ bị xâm phạm, các cách như tự đấu tranh, thỏa thuận, thương lượng nếu không đạt được kết quả như mong muốn, NLĐ không thể sử dụng sức mạnh công đoàn hay đình công có thể yêu cầu tòa án giải quyết Khi NLĐ không đồng ý

Trang 27

với cách giải quyết của cơ quan trước đó NLĐ cũng có thể yêu cầu tòa án giải quyết Thông qua hoạt động xét xử Tòa án sẽ buộc bên vi phạm phải chịu các chế tài như buộc phải chấm dứt tình trạng vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại cho những hậu quả đã gây ra đối với quyền được làm việc trong môi trường

an toàn của NLĐ NSDLĐ và các chủ thể khác sẽ bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật

1.3 Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của người lao động theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới từ đó gợi mở cho Việt Nam

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là cơ quan của Liên Hiệp Quốc hoạt

động trong lĩnh vực tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới có được việc làm bền vững và hiệu quả trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn và nhân phẩm được tôn trọng Mục tiêu hoạt động của tổ chức là xúc tiến các quyền tại nơi làm việc, khuyến khích các cơ hội về việc làm bền vững, tăng cường bảo trợ xã hội

và đẩy mạnh đối thoại xã hội về các vấn đề có liên quan tại nơi làm việc Các mục tiêu này được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc chủ chốt của Chương trình Việc làm Bền vững của ILO, lồng ghép các hoạt động của ILO phát triển kinh tế xã hội ở cấp quốc tế, cấp vùng, cấp địa phương và cấp quốc gia

ILO đã thiết lập ra các chuẩn mực lao động quốc tế nhằm tạo ra môi trường làm việc an toàn cho NLĐ bằng việc thông qua các Công ước và khuyến nghị bao trùm các lĩnh vực liên quan đến lao động, việc làm Đến nay, ILO đã thông qua 189 Công ước và 203 khuyến nghị, đây chính là những công cụ pháp lý chủ yếu, quan trọng nhằm khuyến trợ công bằng xã hội và bảo đảm các quyền cho NLĐ ILO có 8 Công ước cơ bản bao gồm Công ước

số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau; Công ước số 111 về phân biệt đối xử trong làm việc và nghề nghiệp; Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc;

Trang 28

Công ước số 182 về nghiêm cấm và những hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; Công ước số 87 về quyền tự do liên kết; Công ước số 98 về quyền thương lượng thỏa ước lao động tập thể và Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức Theo các văn bản này, NLĐ được đảm bảo: Quyền tự do lựa chọn việc làm, quyền công đoàn độc lập, quyền không bị ép làm việc không lương, quyền nam nữ hưởng lương bằng nhau, quyền không bị phân biệt đối

xử, quyền không bị phân biệt đối xử nếu có con cái, quyền được giúp đỡ và

có việc làm thích hợp nếu bệnh tật, quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn lương, quyền không bị đuổi việc, quyền được trả lương bằng tiền, quyền hưởng lương trên hoặc bằng mức tối thiểu, quyền được trả lương nếu chủ sử dụng lao động bị phá sản, quyền được nghỉ ít nhất nguyên một ngày mỗi tuần, quyền an toàn lao động, quyền được bồi thường nếu có tai nạn, quyền được nghỉ khi bị bệnh và chữa bệnh, quyền của phụ nữ mang thai hoặc cho con bú sữa mẹ, quyền của lao động xuất khẩu, quyền được có tiếng nói tham gia vào công việc phát triển đơn vị, cơ sở, bộ phận , nơi mình đang lao động thông qua công đoàn, quản đốc hoặc cá nhân có ý kiến

Ngoài việc ghi nhận hàng loạt các quyền của NLĐ, ILO còn có cơ chế

để theo dõi, giám sát việc thực hiện các quyền này Theo đó mọi quốc gia thành viên của ILO, ngay cả khi quốc gia đó chưa phê chuẩn các công ước vẫn phải có nghĩa vụ nộp báo cáo quốc gia hàng năm cho ILO ILO còn yêu cầu các quốc gia thành viên cần phê chuẩn và sau khi phê chuẩn các công ước phải có nghĩa vụ thi hành nhằm đảm bảo các quyền của NLĐ không bị xâm hại, giám sát quá trình thực hiện của các quốc gia

Để đảm bảo tính khả thi mạnh mẽ cho các khuyến cáo, ILO đã áp dụng nguyên tắc đồng thuận và vai trò của tổ chức 3 bên: tổ chức đại diện cho chính phủ, tổ chức đại diện cho giới chủ (NSDLĐ) và tổ chức đại diện cho người lao động (tổ chức Công đoàn) quan hệ 3 bên này đem lại sức mạnh,

Trang 29

tính mềm dẻo và cơ sở nền tảng phù hợp cho sự phát triển văn minh công nghiệp cũng như văn hóa cạnh tranh bền vững cho mọi cơ sở sản xuất

Ở Nhật Bản [15]:

Theo nguyên tắc, luật nghiêm cấm việc sa thải công nhân trong khi đang bị thương hay đang bị ốm do công việc và người công nhân đó có quyền vắng mặt để được chữa trị y tế và cộng thêm 30 ngày sau khi được chữa trị (điều 19 của Luật Lao động tiêu chuẩn) Nhà tuyển dụng phải tuân thủ thời gian làm việc được quy định theo luật là 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần (một số ngành nghề cụ thể không được làm quá 44 tiếng một tuần, NLĐ được nghỉ ít nhất một ngày trong tuần, hay 4 ngày trong thời gian 4 tuần (điều 36 của Luật Lao động tiêu chuẩn) Nhà tuyển dụng không được quy định thời gian làm việc quá 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần (một số ngành nghề cụ thể không được làm quá 44 tiếng một tuần) (theo điều 32, điều 40 của Luật Lao động tiêu chuẩn) Nhà tuyển dụng phải cho NLĐ nghỉ

ít nhất một ngày trong tuần, hay 4 ngày trong thời gian 4 tuần (điều 35 của Luật Lao động tiêu chuẩn) Đối với giờ làm việc ngoài thời gian trên sẽ được tính là thời gian làm thêm và NLĐ phải được trả thêm lương tính theo tỷ lệ 25% trở lên của thời gian làm việc bình thường trong những ngày làm việc trong tuần Nếu NLĐ phải làm thêm trong ngày nghỉ thì mức trả thêm này tối thiểu phải là 35% Thêm vào đó, thời gian làm thêm vào buổi đêm (sau

10 giờ tối đến 5 giờ sáng) sẽ được tính thêm 25% trở lên của thời gian làm việc bình thường trong những ngày làm việc trong tuần (điều 37 của Luật Lao Động tiêu chuẩn) Nhà tuyển dụng phải cho NLĐ kỳ nghỉ phép hàng năm nếu NLĐ làm việc cho nhà tuyển dụng liên tục trong vòng 6 tháng, và

đã làm việc 80% hay hơn của lượng thời gian làm việc thông thường vào các ngày thông thường trong tuần (Số lượng ngày nghỉ trong năm phụ thuộc vào thời gian làm việc của NLĐ tại công ty Đối với năm đầu tiên phục vụ, thời

Trang 30

gian nghỉ phép năm theo Luật được quy định là 10 ngày) (điều 39 của Luật Lao động tiêu chuẩn) Để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho NLĐ, nhà tuyển dụng phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tăng cường sức khỏe cho NLĐ (như việc giáo dục an toàn sức khỏe lao động trong thời gian tuyển dụng), kiểm tra sức khỏe định kỳ tối thiểu 1 năm 1 lần (điều 59, điều 66 của Luật

an toàn sức khỏe và lao động công nghiệp) [15]

Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động được Hiệp hội An toàn và Sức khỏe Công nghiệp Nhật Bản(JISHA) triển khai theo sự chỉ đạo của Bộ Y

tế, Lao động và Phúc lợi Những tác động tích cực của hệ thống quản lý này

đã được chính phủ, giới sử dụng lao động và tổ chức Công đoàn đánh giá rất cao trong việc giảm thiểu nguy cơ rủi ro và tác hại đối với NLĐ trong quá trình sản xuất Đồng thời, nó trở thành một công cụ tích cực làm cơ sở pháp lý giúp các nhà làm luật sửa đổi, chỉnh lý, bổ sung các điều luật và qui định phù hợp về an toàn vệ sinh lao động Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động của Nhật Bản là sự kết hợp của một chuỗi các biện pháp liên quan trong lĩnh vực quản lý an toàn vệ sinh lao động và dựa trên cơ sở các hướng dẫn về hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động Về cơ bản thì hướng dẫn thực hiện hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động có 5 biện pháp chủ đạo gồm: Công bố rộng rãi chính sách về an toàn vệ sinh lao động; Xây dựng các mục tiêu về an toàn vệ sinh lao động; Sáng tạo, xây dựng và thực hiện các kế hoạch về an toàn vệ sinh lao động; Thanh tra thường xuyên và tăng cường cải thiện hoạt động của các kế hoạch an toàn vệ sinh lao động; Tuân thủ và thực hiện thường xuyên các việc liên quan [16]

Ở Mỹ [17]:

Để bảo vệ quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ, một số luật lao động của bang và liên bang bảo vệ quyền của người lao động quy định:

Trang 31

Đạo luật các tiêu chuẩn lao động công bằng năm 1938 đặt ra mức lương tối thiểu và số giờ lao động tối đa trên toàn quốc mà mỗi cá nhân có thể được đòi hỏi làm việc Đạo luật này cũng đặt ra các quy định về tiền thanh toán làm việc ngoài giờ và các tiêu chuẩn để tránh lạm dụng lao động trẻ em Năm 1963, đạo luật này được bổ sung để cấm phân biệt mức lương đối với phụ nữ

Đạo luật về quyền công dân năm 1964 được ban hành để người sử dụng lao động không thể phân biệt đối xử khi thuê hoặc tuyển dụng lao động trên

cơ sở chủng tộc, giới tính, tôn giáo và nguồn gốc dân tộc (luật này cũng cấm phân biệt trong bầu cử và thuê mua nhà)

Đạo luật về lứa tuổi và phân biệt đối xử trong tuyển dụng lao động năm

1967 bảo vệ người lao động cao tuổi khỏi bị phân biệt tại nơi làm việc

Đạo luật về sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp năm 1971 yêu cầu nhà sử dụng lao động duy trì các điều kiện làm việc an toàn Theo luật này, Cục sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp (OSHA) đặt ra các tiêu chuẩn nơi làm việc, điều tra để đánh giá việc tuân thủ các tiêu chuẩn đó và đưa ra các hình thức biểu dương và phạt đối với trường hợp không chấp hành

Đạo luật về nghỉ phép để chăm sóc người ốm và gia đình năm 1993 bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong thời gian nghỉ không lương do sinh con, do chăm sóc con, hoặc chăm sóc người nhà ốm nặng [19]

Các doanh nghiệp Mỹ cũng thường đưa ra các tiêu chuẩn lao động trong quan hệ thương mại như sản phẩm hàng hóa phải được sản xuất ở những doanh nghiệp mà ở đó NLĐ không bị bóc lột về thời gian, giờ công, được làm việc trong điều kiện an toàn vệ sinh, tôn trọng danh dự, nhân phẩm

và tuyên bố công khai là họ chỉ tiêu thụ hàng hóa của những nhà sản xuất nào tuân thủ những tiêu chuẩn đó [14, tr.11]

Gợi mở cho Việt Nam:

Thông qua các quy định của ILO và các nước có thể thấy rằng, dù có

Trang 32

những quy định được thể hiện một cách khác nhau cần luôn đảm quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ ở mức tối thiểu Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ thường được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ, bởi để bảo đảm các quyền của NLĐ các quốc gia buộc phải ban hành các quy định về nghĩa vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực hiện các quyền của NLĐ, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm

Theo kinh nghiệm và thông lệ quốc tế, ở nước ta cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ của sự quản lý của Nhà nước và sự tham gia của NSDLĐ, đồng thời luôn chú trọng vai trò của đại diện tập thể NLĐ

Từ phía nhà nước: Thanh tra lao động đến cấp cơ sở cần tiến hành việc kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện chế độ an toàn vệ sinh lao động, bố trí việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, việc vi phạm các quyền về danh dự, nhân phẩm NLĐ tại các doanh nghiệp (trong đó chú trọng hình thức kiểm tra đột xuất, không báo trước) Từ đó, có khen thưởng và xử phạt nghiêm minh, phải có chế tài xử phạt cụ thể, rõ ràng, phù hợp với tình hình chung: Việc xử phạt cần thể hiện rõ tính răn đe Cần có quy định rõ ràng,

cụ thể về trách nhiệm của các doanh nghiệp Cán bộ thanh tra lao động, công đoàn chuyên trách cần thường xuyên nắm bắt tình hình của việc thực hiện chế

độ thời giờ làm việc tại nơi mình phụ trách Có đề xuất kịp thời với ban lãnh đạo công ty nhằm thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Các cơ quan chức năng, các địa phương cần tăng cường công tác thanh tra việc thực hiện quy định của pháp luật về chế độ thời giờ làm việc tại các doanh nghiệp Thanh tra Sở lao động phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá và hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ thời giờ làm việc theo quy định của pháp luật Xử phạt nghiêm minh, tránh trường hợp biết nhưng bỏ qua, làm ngơ

Trang 33

Từ phía NSDLĐ: NSDLĐ cần chấp hành đúng quy định của pháp luật, tích cực tham gia ý kiến, xây dựng pháp luật có liên quan Việc chấp hành đúng quy định của pháp luật không chỉ đảm bảo cho người lao động

mà còn đảm bảo cả lợi ích cho NSDLĐ Tạo cơ sở vật chất để NLĐ có thể thực hiện tốt chế độ an toàn vệ sinh lao động, bố trí việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thời giờ làm việc tại công ty Thực hiện chế độ an toàn vệ sinh lao động, bố trí việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi một cách khoa học cũng sẽ đảm bảo về mặt thời gian, đồng thời tạo cơ sở vật chất tốt cũng tác động lớn việc thực hiện đúng làm việc theo tiêu chuẩn đúng quy định của pháp luật NSDLĐ cần sắp xếp, bố trí nguồn nhân lực ngay từ đầu để thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo về chất lượng công việc, bảo

vệ quyền cho NLĐ Thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, mặc dù việc pháp luật không bắt buộc các nhưng để đảm bảo lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ nên thành lập tổ chức công đoàn Việc thành lập công đoàn không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích của NLĐ mà còn đảm bảo lợi ích của cả NSDLĐ, tạo mối quan hệ gắn kết giữa NLĐ và NSDLĐ, thực hiện tốt quy định về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ

Từ phía NLĐ: NLĐ cần nắm bắt và thực hiện tốt hơn những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động Nắm bắt được những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan

hệ lao động, không nên vì lợi ích kinh tế mà bỏ qua những thiếu sót của NSDLĐ, có như vậy mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của mình Đồng thời hạn chế được những vi phạm trong quan hệ lao động Thực hiện nghiêm túc và đóng góp cho công ty về nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể để thực hiện tốt các quy định pháp luật về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ

Do đó, Việt Nam cần hướng tới phê chuẩn các Công ước cơ bản còn lại

Trang 34

của ILO là Công ước số 87 về quyền tự do liên kết; Công ước số 98 về quyền thương lượng thỏa ước lao động tập thể và Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức để có một hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với quy định quốc

tế liên quan đến quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ

Đồng thời cần chú trọng hơn nữa đến các biện pháp bảo đảm thực hiện

các quyền này, đưa ra các giải pháp thực hiện

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ là một trong những vấn đề được quan tâm mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Quyền này theo nghĩa hẹp bao gồm quyền được đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, quyền được bố trí công việc phù hợp, quyền được đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý và đảm bảo danh dự, nhân phẩm Đảm bảo tốt những quyền này không chỉ đem lại lợi ích cho NLĐ mà còn đem đến lợi ích cho cả NSDLĐ, đảm bảo sự ổn định phát triển của xã hội, của đất nước Chương 1 của luận văn đã trình bày quát các vấn đề chung về khái niệm, đặc điểm, phân loại quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ; đưa ra quan điểm về nguyên tắc, nội dung và vai trò ý nghĩa cùng với một số kinh nghiệm trên thế giới về quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ Thực trạng pháp luật Việt Nam và một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ sẽ được đề cập trong chương 2 và 3

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ QUYỀN ĐƯỢC LÀM VIỆC TRONG MÔI TRƯỜNG AN TOÀN CỦA NGƯỜI

LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1 Về quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động

Quyền được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh của NLĐ được quy định tại Chương IX BLLĐ 2012 từ Điều 133 đến Điều 152, ngoài ra pháp luật lao động còn điều chỉnh trực tiếp vấn đề này thông qua Nghị định số 45/2013/NĐ-CP, Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, những văn bản pháp luật khác để điều chỉnh an toàn, vệ sinh lao động của NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động trong những lĩnh vực khác nhau

Các biện pháp về an toàn lao động, vệ sinh lao động, ngăn ngừa sự

cố bao gồm: Việc xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất,

sử dụng, bảo quản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phải có luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật

Tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động: Muốn đảm bảo NLĐ

được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh lao động trước hết phải đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động nhằm xác định trách nhiệm của NSDLĐ trong việc thiết lập điều kiện lao động thuận lợi đối với NLĐ

NSDLĐ phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng

xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác Các yếu tố

đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường

Trang 37

Các biện pháp phòng hộ bảo vệ người lao động chống lại rủi ro

Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ phương tiện mà trong quá trình lao động, người lao động được trang bị miễn phí để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Người lao động có trách nhiệm sử dụng những phương tiện bảo vệ cá nhân để tự bảo vệ mình (như khẩu trang, khăn tay, ủng, giày, kính mũ, nút tai, yếm da, dây an toàn, mặt nạ phòng độc, mặt nạ có bình oxy, quần áo amiăng, quần áo chống a xít, chống phóng xạ, bao phơi ) và có trách nhiệm bảo quản tốt các phương tiện bảo vệ cá nhân được cấp phát Trang bị phương tiện bảo

vệ cá nhân là biện pháp kỹ thuật bổ sung, hỗ trợ nhưng có vai trò rất quan trọng (đặc biệt là trong điều kiện thiết bị, công nghệ lạc hậu) Thiếu trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân không thể tiến hành sản xuất được và có thể xảy

ra nguy hiểm đối với người lao động Ở nước ta trang bị phương tiện bảo vệ

cá nhân còn có ý nghĩa quan trọng ở chỗ: điều kiện thiết bị bảo đảm an toàn đang còn thiếu

Huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động: Trước khi nhận việc,

người lao động phải được huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động ít nhất trong công việc sẽ làm và phải được kiểm tra, huấn luyện bổ sung trong quá trình lao động

Bồi dưỡng bằng hiện vật: Người lao động không phân biệt giới tính,

tuổi tác, nơi làm việc khi làm công việc có yếu tố nguy hại vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép thì được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật

Phải có các phương án dự phòng xử lý sự cố, cấp cứu: Đối với nơi làm

việc dễ gây tai nạn lao động, người sử dụng lao động phải trang bị sẵn những phương tiện kỹ thuật, y tế thích hợp như xe cấp cứu, bình ô xy, nước chữa cháy, cáng để đảm bảo ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố

Trang 38

NLĐ được NSDLĐ đảm bảo trong việc thăm khám sức khỏe: NSDLĐ

phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi tuyển dụng lao động, và phải bố trí công việc phù hợp với sức khỏe của người lao động Người lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động (đối với người lao động bình thường ít nhất một lần trong một năm, đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại ít nhất 6 tháng một lần)

Pháp luật quy định cụ thể các biện pháp về an toàn lao động, vệ sinh lao động, ngăn ngừa sự cố Danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động Tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động áp dụng thi hành gồm cả tiêu chuẩn cấp Nhà nước và tiêu chuẩn cấp ngành Nghĩa vụ của NSDLĐ được quy định tại Điều 137 BLLĐ 2012; Điều 7, 19, 20, 21, 22, 23… Luật an toàn vệ sinh lao động 2015

Các quy định này của pháp luật đã đảm bảo về cơ bản an toàn, vệ sinh lao động cho NLĐ Tuy nhiên trong thực tiễn vẫn còn tồn tại một số vi phạm

Điểm a BLLĐ quy định “Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không

gian, độ thoáng, bụi các yếu tố có hại khác được quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra, đo lường” [8, Điều 138, Khoản 1] Hiện nay, pháp luật mới chỉ chú trọng 2

khâu cấp giấy phép nhập khẩu, việc khai báo, đăng ký, xin cấp giấy phép và

sử dụng các máy móc, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về

an toàn lao động mà lại chưa chú trọng đến quy trình thiết kế, vận chuyển, lắp đặt, bảo quản…Việc thiếu quan tâm đến các yếu tố trên tạo ra những thiếu sót gây mất an toàn lao động bởi các quy chuẩn kỹ thuật của máy móc sẽ bị ảnh hưởng rất lớn nếu quá trình lắp đặt hay bảo quản sai sót

Pháp luật có quy định cụ thể về việc NSDLĐ có trách nhiệm trang bị cho người lao động các phương tiện bảo vệ cá nhân đúng tiêu chuẩn về chất lượng, quy cách và phải kiểm tra định kỳ để đánh giá lại chất lượng của các

Trang 39

phương tiện đó Mặc dù quy định pháp luật hết sức tiến bộ nhưng bất cập đến

từ NLĐ và cả NSDLĐ Một số NLĐ chưa thấy hết ý nghĩa nên không tích cực

sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, thậm chí có người cho là đeo kính bảo

hộ, đeo khẩu trang thì khó chịu, gò bó NSDLĐ để giảm bớt chi phí đưa vào sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh nên bỏ qua không trang

bị phương tiện này cho NLĐ Do đó, quy định này cần có sự giám sát thực hiện một cách chặt chẽ, tránh để trở thành một quy định tiến bộ, tích cực nhưng chỉ về mặt lý thuyết

Điều 13 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 quy định:

“NSDLĐ có trách nhiệm khai báo ngay với thanh tra sở lao động - thương

binh và xã hội nơi xảy ra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng làm bị thương từ hai người lao động trở lên và sự cố nghiêm trọng; thanh tra lao động có trách nhiệm điều tra tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng làm bị thương từ hai người lao động trở lên… Trong quá trình điều tra tai nạn lao động, sự cố nghiêm trọng mà phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì thanh tra lao động, NSDLĐ phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và

đề nghị chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự… NSDLĐ phải

mở sổ thống kê và định kỳ 6 tháng, hằng năm báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động”

Thế nhưng quy định này lại ít được thực hiện trên thực tế do NLĐ luôn tìm cách trốn tránh, che dấu các vụ việc tai nạn trên Lực lượng thanh tra lao động lại quá mỏng không thể kịp thời phát hiện vi phạm Đồng thời, việc phát hiện có dấu hiệu tội phạm của thanh tra lao động, NSDLĐ để báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đề nghị chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vẫn còn nhiều bất cập Lực lượng thanh tra lao động dựa vào báo cáo của NSDLĐ để biết những vi phạm về tai nạn lao động, NSDLĐ không chủ động báo thì lực lượng thanh tra khó phát hiện Trong khi đó, tai nạn lao

Trang 40

động lại thường có nhiều nguyên nhân do NSDLĐ, NSDLĐ không muốn bị

xử lý các vi phạm của mình, đặc biệt liên quan đến trách nhiệm hình sự nên không có sự chủ động báo cáo Nhiều NSDLĐ khi xảy ra tai nạn tiến hành bồi thường cho NLĐ bị nạn hoặc gia đình họ (khi NLĐ đã chết) để mong muốn che dấu vụ việc Tình trạng doanh nghiệp hoạt động thường xuyên vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh lao động, nhưng chưa lần nào bị xử phạt vi phạm; nhiều vụ tai nạn lao động, người sử dụng lao động tự thỏa thuận với gia đình người bị nạn, giấu giếm thông tin, không khai báo, mà cơ quan chức năng hoàn toàn không biết khá phổ biến

Theo quy định Điều 237 BLLĐ Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có các nhiệm vụ rất rộng với trách nhiệm hết sức nặng nề, bao quát hầu hết các vấn đề liên quan đến hoạt động ở các doanh nghiệp Tuy nhiên số lượng và chất lượng thanh tra lao động trên cả nước hiện này lại hết sức đáng báo động Số lượng, chất lượng thanh tra viên chưa tương xứng với tốc độ phát triển của các doanh nghiệp cả về số lượng lẫn quy mô sản xuất, kinh doanh Nhiều địa phương do thiếu thanh tra viên lao động nên hầu hết chỉ tham gia các cuộc kiểm tra liên ngành còn tiến hành thanh tra lao động được rất ít, do đó không kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật lao động, dẫn đến nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đã xảy ra; một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chưa được các

cơ quan quản lý Nhà nước thanh, kiểm tra, hướng dẫn thường xuyên, kịp thời nên tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn, quy phạm

kỹ thuật an toàn còn phổ biến

Trong khi đó, tình trạng vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động ở Việt Nam trong những năm qua vẫn hết sức đáng báo động Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra cho thấy, các hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu là: Không tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho NLĐ; không định

Ngày đăng: 15/01/2018, 12:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2013), Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2013 Quy định chi tiết về một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2013 Quy định chi tiết về một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
2. Chính phủ (2015), Nghị định số 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
3. Nguyễn Thị Thu Hường (2013), Bình đẳng giới trong Bộ luật lao động Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới trong Bộ luật lao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Năm: 2013
4. Phạm Thị Thúy Nga (2016), “Quấy rồi tình dục tại nơi làm việc trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam – một số kiến nghị”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (12), tr.48-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quấy rồi tình dục tại nơi làm việc trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam – một số kiến nghị”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Thị Thúy Nga
Năm: 2016
6. Nguyễn Thị Kim Phụng (2006), Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật lao động với vấn đề bảo vệ người lao động trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Phụng
Năm: 2006
7. Nguyễn Thu Phương (2016), Bảo đảm các quyền và lợi ích của người lao động theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm các quyền và lợi ích của người lao động theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Phương
Năm: 2016
11. Lê Thị Hoài Thu (chủ biên) (2013), Đảm bảo quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền con người trong pháp luật lao động Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hoài Thu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
12. Lê Thị Hoài Thu (2014), “Pháp luật hợp đồng lao động từ quy định đến thực tiễn”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (23), tr.51-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật hợp đồng lao động từ quy định đến thực tiễn”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Lê Thị Hoài Thu
Năm: 2014
13. Lê Thị Hoài Thu (2017), “Góp ý về quy định làm thêm giờ trong Bộ luật lao động năm 2012”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6), tr. 21-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý về quy định làm thêm giờ trong Bộ luật lao động năm 2012”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Lê Thị Hoài Thu
Năm: 2017
14. Nguyễn Thị Hoài Thương (2015), Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động trong Bộ luật lao động Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Hà Nội.II. Tài liệu trang Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động trong Bộ luật lao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Thương
Năm: 2015
15. Luật lao động của Nhật Bản đối với lao động nước ngoài, http://laodongxuatkhaunhatban.vn/quy-dinh-nhat-ban-voi-lao-dong-nuoc-ngoai-o-nhat.html Link
16. Lê Vân Trình, Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động của ILO và Nhật Bản, http://ducphuongnam.violet.vn/entry/show/entry_id/1250645 Link
17. Lao đông ở Mỹ, Vai trò của người lao động, http://www.maxreading.com/sach-hay/khai-quat-ve-nen-kinh-te-my/chuong-9-lao-dong-o-my-vai-tro-cua-nguoi-lao-dong-3138.html Link
18. Báo Dân sinh, Tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2016, http://baodansinh.vn/tnld-6-thang-dau-nam-2016-da-xay-ra-3674-vu-tnld-lam-chet-356-nguoi-d43353.html Link
19. Báo động tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn lao động, donghttp://www.nhandan.com.vn/bandoc/item/30501902-bao-dong-tinh-trang-vi-pham-phap-luat-ve-an-toan-lao-dong.html Link
20. Điều chuyển lung tung, coi chừng nhận quả đắng, https://baomoi.com/dieu-chuyen-lung-tung-coi-chung-nhan-qua-dang/c/19751982.epihttp://www.baohaiquan.vn/Pages/lam-them-Gio-Doanh-nghiep-nguoi-lao-dong-muon-tang-chuyen-gia-lo-lang.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm