KHÁI NIỆM VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH Báo cáo tài chính BCTC là các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình k
Trang 1Nhóm 1
Đề t à i : PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
VÀ CÁC THỦ THUẬT BÓP MÉO SỐ LIỆU KẾ TOÁN
GVGD: PGS.TS TRÂN THỊ THANH TÚ
TS TRỊNH THỊ PHAN LAN
Phần I: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH
I KHÁI NIỆM VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính (BCTC) là các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu, cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp (DN) đáp ứng các cầu cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế
Mỗi quốc gia có hệ thống báo cáo tài chính riêng và cần tuân thủ theo Hệ thống tiêu chuẩn tài chính quốc tế chung Ở Việt Nam, hệ thống báo cáo tài chính bao gồm:
1 Bảng cân đối kế toán
2 Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 2BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan chủ quản và các đối tượng quan tâm thể hiện ở những điểm sau đây:
BCTC là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
BCTC cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
BCTC là căn cứ quan trọng trong việc phân tích, nghiên cứu, phát hiện những khả năng tiềm tàng và là căn cứ quan trọng đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư của chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
BCTC còn là những căn cứ quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tài chính của doanh nghiệp là những căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Chính vì vậy, BCTC là đối tượng quan tâm của Hội đồng quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư (NĐT), người cho vay, các cơ quan quản lý và toàn bộ cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng với nhiều đối tượng khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư, tài trợ Tuy nhiên báo cáo tài chính chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh một cách trung thực tình trạng tài chính doanh nghiệp,
vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong ngành Muốn vậy, thông tin sử dụng trong BCTC phải chính xác, có độ tin cậy cao Có rất nhiều những nhân tố
Trang 3ảnh hưởng đến chất lượng thông tin của BCTC mà doanh nghiệp công bố ra công chúng, có thể kể đến như sau:
1 Chất lượng dữ liệu đầu vào
Dữ liệu đầu vào là bước đầu để tạo lập nên BCTC Dữ liệu đầu vào là các hóa đơn, các số liệu kế toán được thu thập theo ngày, tháng, quý, năm và được tổng hợp tính toán để lập nên BCTC
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định chất lượng báo cáo tài chính, bởi một khi thông tin sử dụng không chính xác, không phù hợp thì kết quả mà báo cáo tài chính đem lại chỉ là hình thức, không có ý nghĩa gì Vì vậy, có thể nói thông tin sử dụng trong báo cáo tài chính là nền tảng của báo cáo tài chính
Từ những thông tin bên trong trực tiếp phản ánh tài chính doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài liên quan đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, người phân tích có thể thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai
Tình hình nền kinh tế trong và ngoài nước không ngừng biến động, tác động hàng ngày đến điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, tiền lại có giá trị theo thời gian, một đồng tiền hôm nay có giá trị khác một đồng tiền trong tương lai
Do đó, tính kịp thời, giá trị dự đoán là đặc điểm cần thiết làm nên sự phù hợp của thông tin Thiếu đi sự phù hợp và chính xác, thông tin không còn độ tin cậy và điều này tất yếu ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp
Nếu trong quá trình thu thập, tổng hợp và tính toán các dữ liệu này có sai sót thì thông tin trong BCTC sẽ có sự sai lệch, không phản ánh được đầy dủ và đúng đắn thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Đảm bảo chất lượng của các dữ liệu đầu vào
sẽ góp phần nâng cao chất lượng thông tin của BCTC trong doanh nghiệp
2 Năng lực nhân viên kế toán
Vấn đề nguồn nhân lực cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác kế toán, lập và trình bày BCTC
Có được thông tin phù hợp và chính xác nhưng tập hợp và xử lý thông tin đó như thế nào để đưa lại kết quả báo cáo tài chính có chất lượng cao lại là điều không đơn giản Nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ thực hiện phân tích Từ các thông tin thu thập được, các cán bộ phân tích phải tính toán các chỉ tiêu, thiết lập các bảng biểu Tuy nhiên, đó chỉ là những con số và nếu chúng đứng riêng lẻ thì tự chúng
sẽ không nói lên điều gì Nhiệm vụ của người phân tích là phải gắn kết, tạo lập mối liên hệ giữa các chỉ tiêu, kết hợp với các thông tin về điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của
Trang 4yếu cũng như nguyên nhân dẫn đến điểm yếu trên Hay nói cách khác, cán bộ phân tích là người làm cho các con số “biết nói” Chính tầm quan trọng và sự phức tạp của phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ phân tích phải có trình độ chuyên môn cao
Nếu bộ máy kế toán của doanh nghiệp không đủ chuyên môn, có vấn đề về đạo đức sẽ tạo nên việc hiểu và diễn giải sai chính sách, ảnh hưởng lớn tới chất lượng thông tin của BCTC
Vì vậy, nhân viên kế toán của các doanh nghiệp cần luôn được bồi dưỡng về đạo đức, đào tạo nâng cao năng lực để luôn giữ vững đạo đức nghề nghiệp, kịp thời cập nhật các quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực tài chính, góp phần làm tăng tính chính xác, độ tin cậy của thông tin trong BCTC
3 Bộ máy quản trị của công ty:
Trong một doanh nghiệp, nhiệm vụ của hội đồng quản trị là thay mặt các cổ đông giám sát hoạt động của giám đốc điều hành để phát hiện ra những sai sót, gian lận để kịp thời ngăn chặn những hành vi đi ngược lại với lợi ích của cổ đông Một công ty có hội đồng quản trị độc lập với giám đốc điều hành sẽ làm tăng hiệu quả giám sát, giảm được những hành vi vì lợi ích riêng của các nhà quản lý
Dưới sự giám sát chặt chẽ của hội động quản trị, giám đốc điều hành sẽ đưa ra được những thông tin chi tiết, chính xác, minh bạch cho các cổ đông, không thể vì lợi ích của bản thân mà che giấu hoặc làm sai lệch thông tin trong báo cáo, từ đó tăng số lượng cũng như chất lượng thông tin của BCTC
4 Mục đích của ban lãnh đạo
Trong một số trường hợp, vì mục đích riêng của ban lãnh đạo doanh nghiệp mà thông tin trong BCTC có sự sai lệch Các doanh nghiệp nhà nước hoặc các công ty niêm yết thường có xu hướng luôn báo cáo có lãi Với các doanh nghiệp nhà nước, nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ thì sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của các lãnh đạo công ty, làm giảm lương thưởng của ban điều hành, vì vậy
mà họ sẽ sử dụng các biện pháp làm thay đổi số liệu của BCTC, chuyển lỗ thành lãi Còn với các công ty đại chúng, do chịu áp lực từ các cổ đông, do muốn làm tăng giá cổ phiếu, thu hút thêm các nhà đầu tư, ban lãnh đạo của công ty có thể bóp méo số liệu, làm gia tăng lãi hoặc chuyển lỗ thành lãi trong BCTC Chính điều này sẽ làm sụt giảm nghiêm trong chất lượng thông tin cũng như độ chính xác của BCTC
5 Áp lực từ thuế
Áp lực từ việc nộp thuế cũng có tác động đến việc đưa ra thông tin trong BCTC BCTC là một trong những căn cứ quan trọng để lập nên báo cáo thuế nên nếu
cơ quan thuế không kiểm tra được sự chính xác của BCTC thì báo cáo thuế cũng bị sai
Trang 5lệch đáng kể Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thuế bắt buộc với các doanh nghiệp, nó sẽ làm giảm bớt thu nhập cuối cùng của doanh nghiệp
Trong một số trường hợp, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một số công ty không muốn nộp khoản thuế này khi lập báo cáo sẽ giấu đi doanh thu, làm giảm lãi hoặc chuyển lãi thành lỗ nhằm giảm khoản thuế phải nộp hoặc để không phải nộp thuế Điều này làm thông tin của BCTC không còn chính xác, đủ độ tin cậy nữa
6 Chất lượng kiểm toán
Kiểm toán là khâu quan trọng bắt buộc trong lập BCTC Kiểm toán viên sẽ kiểm tra và cho ý kiến xác nhận về tính chính xác, độ tin cậy của BCTC Kiểm toán độc lập sẽ không bị ảnh hưởng bởi công ty được kiểm toán, từ đó đưa ra được những thông tin chính xác, khách quan hơn Khi BCTC được kiểm toán bởi các doanh nghiệp lớn, có uy tín, chuyên nghiệp như Big 4 (Doilotte, PWC, E&Y, KPMG) thì sẽ đảm bảo chất lượng của thông tin được đưa ra; những ý kiến của họ đưa ra sẽ nâng cao tính minh bạch của công ty, tăng giá trị công ty và tạo sự an tâm, niềm tin cho nhà đầu tư
và các đối tượng sử dụng thông tin
7 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng nhất định tới chất lượng thông tin BCTC Hệ thống chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, luật kế toán, và các quy định khác có liên quan càng chi tiết rõ ràng thì việc lập và trình bày BCTC càng chính xác, thông tin đưa ra trong BCTC càng đầy đủ, minh bạch, có độ tin cậy hơn Ngược lại, nếu hệ thống chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán chưa hoàn thiện thì có thể tạo ra các lỗ hổng để các công ty có thể dựa đó để lách luật, làm sai lệch thông tin, giảm chất lượng thông tin BCTC
Trang 6Phần II: CÁC THỦ THUẬT BÓP MÉO
SỐ LIỆU KẾ TOÁN (BAO GỒM
NGHIỆP VỤ TÀI TRỢ NGOẠI BẢNG)
I Thủ thuật bóp méo số liệu
1 Khái niệm:
Theo kết quả nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (The Association of Certified Fraud Examiners-ACFE), bóp méo số liệu của Báo cáo tài chính (BCTC), là một hành vi gian lận khi các thông tin trên BCTC bị bóp méo, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người sử dụng thông tin
2 Nguyên nhân:
Thông thường, có ba nguyên nhân chính dẫn đến việc bóp méo báo cáo tài chính:
Nguyên nhân thứ nhất do ban giám đốc có động cơ để tô vẽ báo cáo tài chính lạc quan hơn so với thực tế, nhằm đạt được kỳ vọng của nhà đầu tư và tăng quyền lợi được hưởng từ phía doanh nghiệp
Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ việc áp dụng các chuẩn mực kế toán Các tiêu chuẩn kế toán được thừa nhận khá linh động trong từng trường hợp Điều này dễ dàng để ban giám đốc tạo ra một báo cáo tài chính có lợi cho công ty để cung cấp cho NĐT và các bên liên quan
Nguyên nhân thứ ba, hiếm khi việc bóp méo báo cáo tài chính bị phát hiện bởi NĐT do mối quan hệ mật thiết của nhà kiểm toán độc lập và DN Về nguyên tắc,
tổ chức kiểm toán làm việc như một đơn vị độc lập Tuy nhiên, có sự phát sinh xung đột về lợi ích do lợi nhuận thu được từ các DN mà tổ chức kiểm toán tham gia tác nghiệp Hậu quả là kiểm toán viên có thể linh động hóa các tiêu chuẩn kế toán, nhằm thay đổi tình trạng tài chính của DN khiến khách hàng DN hài lòng Ngoài ra, đơn vị kiểm toán cũng nhận được khoản doanh thu tương đối lớn từ
Trang 7khách hàng DN Do vậy, áp lực chứng nhận tính minh bạch của báo cáo tài chính cho DN để giữ mối khách hàng là rất lớn
II Một số thủ thuật bóp méo để thực hiện hành vi chi phối thu nhập
1 Thay đổi chính sách kế toán áp dụng
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam đưa ra một số phương pháp kế toán, chính sách kế toán và cho phép DN được lựa chọn chính sách phù hợp với DN mình
Ví dụ: Các phương pháp tính giá hàng tồn kho (nhập trước xuất trước, bình quân gia quyền, thực tế đích danh); các phương pháp khấu hao tài sản cố định (phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm),
Tuy nhiên, khi lựa chọn chính sách kế toán nào thì phải áp dụng nhất quán, để đảm bảo thông tin trình bày trên BCTC có khả năng so sánh được, nếu thay đổi chính sách cần thuyết minh về sự thay đổi này Chính việc có nhiều cơ hội lựa chọn chính sách kế toán, nên nhà quản lý có thể đưa vào áp dụng chính sách kế toán thích hợp nhất theo xét đoán chủ quan của nhà quản lý, để phục vụ cho các mục tiêu định trước của DN trong từng thời kỳ
2 Thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản
Kế toán Việt Nam cho phép, DN thực hiện việc lập dự phòng tổn thất tài sản liên quan đến bốn nhóm tài sản Đó là, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh,
dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác, dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho Để thông tin tài sản được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được, thì trước khi lập BCTC DN cần xem xét lại giá trị các khoản mục tài sản này Việc xác định mức dự phòng tổn thất cần lập để tiến hành trích lập thêm hay hoàn nhập dự phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trong đó, có yếu tố xét đoán chủ quan của nhà quản lý và người làm công tác
kế toán tại đơn vị Một khi điều này xảy ra, sẽ tạo cơ hội cho nhà quản lý can thiệp,
Trang 8tác động đến giá trị tài sản và khoản mục chi phí trình bày trên BCTC, từ đó chi phối đến thu nhập của DN
3 Thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Theo quy định, khi tính giá thành sản phẩm, các DN sản xuất có thể áp dụng một trong các phương pháp xác định trị giá sản phẩm dở dang, như: Phương pháp đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính, đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, đánh giá theo phương pháp ước tính sản lượng hoàn thành tương đương, Thực
ra đây là công việc tính toán, phân bổ chi phí cho các sản phẩm chưa hoàn thành Công việc này trực tiếp tác động đến giá thành sản phẩm DN sản xuất ra, đồng thời gián tiếp tác động đến khoản mục chi phí hoạt động kinh doanh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của DN
Tuỳ theo đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất, tính chất của các khoản mục chi phí, để nhà quản lý lựa chọn và sử dụng phương pháp đánh giá thích hợp Điều này mang đến cơ hội cho nhà quản lý, lựa chọn phương pháp đánh giá “có lợi nhất” để tác động đến thu nhập của DN, nhằm đạt được những mục đích riêng nhất định
4 Thông qua các khoản trích trước và phân bổ
Để đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kế toán, chế độ kế toán cho phép DN sử dụng các kỹ thuật trích trước hoặc phân bổ, để xử lý các khoản mục chi phí liên quan đến nhiều kỳ kế toán
Ví dụ, để phản ánh các khoản phải trả cho hàng hóa, dịch vụ đã nhận được từ người bán trong kỳ báo cáo nhưng thực tế chưa chi trả do chưa có hóa đơn hoặc chưa
đủ hồ sơ, tài liệu kế toán, quy định cho phép DN được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ báo cáo thông qua việc trích trước chi phí Hay kỹ thuật này còn được sử dụng để trích trước chi phí trong thời gian DN ngừng sản xuất theo mùa vụ, trích trước chi phí để tạm tính giá vốn hàng hóa, thành phẩm bất động sản đã bán, Việc trích trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phải được tính toán một cách chặt chẽ và phải có bằng chứng hợp lý, tin cậy về các khoản chi phí phải trích
Trang 9trước trong kỳ, để đảm bảo số chi phí phải trả này phù hợp với số chi phí thực tế phát sinh
Bên cạnh đó, quy định còn cho phép DN treo lại các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ
kế toán (như chi phí trả trước về thuê cơ sở hạ tầng, chi phí thành lập DN, công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê liên quan đến hoạt động kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán, ) để kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh của các kỳ kế toán sau
Đồng thời, quy định cũng nêu rõ việc tính và phân bổ chi phí trả trước vào chi phí sản xuất kinh doanh từng kỳ kế toán, phải căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí, để lựa chọn phương pháp và tiêu thức hợp lý Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định cơ sở để trích trước chi phí cũng như việc lựa chọn phương pháp và tiêu thức phân bổ hợp lý thì không giống nhau giữa các DN Bởi điều này, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cả sự can thiệp chủ quan của nhà quản lý Do đó, đây cũng là một trong những con đường dẫn tới hành vi CPTN của các DN
5 Thông qua các khoản dự phòng phải trả
Theo quy định của Thông tư 200/2014/TT-BTC, tùy theo đặc điểm hoạt động
và cách thức tổ chức quản lý mà DN được ghi nhận các khoản dự phòng phải trả như:
dự phòng phải trả tái cơ cấu DN, dự phòng phải trả bảo hành sản phẩm, dự phòng bảo hành công trình xây dựng Một trong những điều kiện để ghi nhận khoản dự phòng phải trả đó là, DN đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó Giá trị được ghi nhận của một khoản dự phòng phải trả là giá trị được ước tính hợp lý nhất về khoản tiền sẽ phải chi, để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại, tại ngày kết thúc kỳ
kế toán năm hoặc tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ
Trường hợp, số dự phòng phải trả cần lập ở kỳ kế toán này lớn hơn số dự phòng phải trả đã lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ kế toán đó Ngược lại, nếu số dự phòng
Trang 10chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ kế toán đó
Việc ước tính mức dự phòng cần lập, cho phép các nhà quản lý sử dụng khả năng xét đoán nghề nghiệp của mình, để ước tính mức dự phòng phù hợp Điều này không ngoại trừ khả năng tạo cơ hội cho các nhà quản lý tác động đến khoản mục chi phí này, từ đó CPTN của DN để phục vụ cho mục tiêu định trước
6 Việc ước tính tỷ lệ hoàn thành và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn
Trong một số DN đặc thù như đơn vị xây lắp, việc xác định doanh thu, chi phí
có những nét đặc trưng riêng biệt Cụ thể như trường hợp ghi nhận doanh thu hợp đồng xây dựng, tùy theo hợp đồng quy định thanh toán theo tiến độ kế hoạch hay theo giá trị khối lượng thực hiện, để DN xác định doanh thu, chi phí
Trường hợp, hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, thì khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, đơn vị sẽ ghi nhận doanh thu trên cơ
sở phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận Còn nếu hợp đồng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, thì khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, đơn vị sẽ phản ánh doanh thu tương ứng với phần công việc đã hoàn thành, do nhà thầu tự xác định tại thời điểm lập BCTC
Bên cạnh đó, theo hướng dẫn của Chuẩn mực hợp đồng xây dựng (VAS 15):
“Phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng làm cơ sở xác định doanh thu” có thể được xác định bằng nhiều cách khác nhau (Tùy thuộc vào bản chất của hợp đồng mà
có thể có 3 phương pháp xác định) Như vậy, quy định cho phép DN được sử dụng phương pháp tính toán thích hợp, để xác định phần công việc đã hoàn thành Điều này
có thể ảnh hưởng đến giá trị của khoản mục doanh thu, do DN xác định khối lượng công việc hoàn thành dựa trên các căn cứ khác nhau và phụ thuộc một phần vào xét đoán của nhà quản lý