Bảng 3.1 Mô tả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo các mục hỏi về tổ chức triển khai thực hiện chương trình GDTC Sau tr.54 Bảng 3.2 Thực trạng về cơ sở vật chất sử dụng các biện
Trang 1––––––––––––––––––––––––––
TRẦN NAM GIAO
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
THỂ CHẤT THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội – 2017
Trang 2––––––––––––––––––––––––––
TRẦN NAM GIAO
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
THỂ CHẤT THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Trần Nam Giao
Trang 4Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt trong luận án
Danh mục các biểu bảng trong luận án
Danh mục các biểu đồ trong luận án
Phần mở đầu 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo 5
1.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới 5
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học 7
1.1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc triển khai thực hiện hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ 12
1.2 Đào tạo đại học theo học chế tín chỉ 14
1.2.1 Lịch sử về đào tạo theo học chế tín chỉ 14
1.2.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ 15
1.2.3 Các điều kiện đảm bảo để tổ chức tốt đào tạo theo học chế tín chỉ 19
1.3 Các nguyên tắc và một số phương pháp giảng dạy chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng môn học Giáo dục thể chất 22
1.3.1 Các nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất 22
1.3.2 Một số phương pháp giảng dạy chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng môn học Giáo dục thể chất 24
1.4 Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ tại các trường Đại học ở Việt Nam, kinh nghiệm và đề xuất giải pháp (biện pháp) thực hiện 28
Trang 51.4.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Đà Lạt – nhận thức và kinh
nghiệm triển khai 29
1.4.3 Ý kiến đề nghị nhằm hoàn thiện học chế tín chỉ trường Đại học Cần Thơ 30
1.4.4 Ý kiến đề xuất một số giải pháp khi chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ tạo trường Cao đẳng Kon Tum 31
1.4.5 Những công việc cần làm và sớm triển khai để chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 32
1.4.6 Một số giải pháp để hoàn thiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam 33
1.5 Những công trình nghiên cứu có liên quan 34
1.6 Giới thiệu về trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 42
1.6.1 Lịch sử hình thành và phát triển 42
1.6.2 Giới thiệu về bộ môn Giáo dục thể chất 43
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 46
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 46
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 46
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 46
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.2.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liê ̣u 46
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 47
2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 47
2.2.4 Phương pháp kiểm tra Y học 48
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 49
2.2.6 Phương pháp toán thống kê 50
2.3 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 51
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu 51
2.3.2 Kế hoạch nghiên cứu 51
Trang 6trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 52
3.1.1 Xây dựng thang đo và ứng dụng đánh giá thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh theo học chế tín chỉ 52 3.1.2 Thực trạng các điều kiện đảm bảo sử dụng các biện pháp thực hiện chương trình giáo dục thể chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 55 3.1.3 Mức độ quan tâm của người học về chương trình giáo dục thể chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 62 3.1.4 Thực trạng thể chất sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 64 3.1.5 Thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố
Hồ Chí Minh 74 3.1.6 Đánh giá thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh 81
3.2 Nghiên cứu lựa chọn các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 91
3.2.1 Tổng hợp các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ 91 3.2.2 Phỏng vấn chuyên gia, người học để lựa chọn các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ 93 3.2.3 Xác định lộ trình thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 102
Trang 7hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh 125
3.3.1 Xây dựng chương trình, kế hoạch thực nghiệm 125
3.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 127
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 140
KẾT LUẬN 140
KIẾN NGHỊ 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BMI Body Mass Index – Chỉ số khối cơ thể
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 9Bảng 3.1 Mô tả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo các mục hỏi
về tổ chức triển khai thực hiện chương trình GDTC
Sau tr.54
Bảng 3.2 Thực trạng về cơ sở vật chất sử dụng các biện pháp thực hiện
chương trình giáo dục thể chất tại trường ĐHKHXH&NV
Sau tr.55
Bảng 3.3 Thực trạng về đội ngũ thực hiện chương trình GDTC tại trường
ĐHKHXH&NV
Sau tr.55
Bảng 3.4 Thành phần giảng viên theo lứa tuổi, giới tính với trình độ học
vấn, thâm niên giảng dạy và môn chuyên sâu giảng dạy tốt nhất
Sau tr.57
Bảng 3.5 Phân bổ nội dung chương trình GDTC tại trường
ĐHKHXH&NV
Sau tr.59
Bảng 3.6 Hình thức đánh giá học phần giáo dục thể chất Sau
tr.59
Bảng 3.7 Thực trạng về hoạt động TDTT ngoại khóa tại trường
ĐHKHXH&NV
Sau tr.59
Bảng 3.8
Tổng hợp kết quả khảo sát SV trường ĐHKHXH&NV về mối
quan tâm đến chương trình giáo dục thể chất chính khóa và
ngoại khóa
Sau
tr.59
Bảng 3.9 Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên về mối quan tâm đến
Bảng 3.10 Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên về mối quan tâm đến
Bảng 3.11 Tổng hợp mối quan tâm của sinh viên trường ĐHKHXH&NV
Bảng 3.12 Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên về mối quan tâm đến
Bảng 3.13 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá thể chất sinh viên năm thứ nhất
trường ĐH KHXH&NV
Sau tr.64
Trang 10tuổi
Bảng 3.15
So sánh giá trị trung bình các chỉ tiêu đánh giá thể chất nữ SV
ĐH KHXH&NV với nữ SV TP.HCM 19 tuổi và TBTCVN 19
tuổi
69
Bảng 3.16 Đánh giá thể lực nam sinh viên năm thứ nhất trường
ĐHKHXH&NV theo qui định 53/2008/BGD&ĐT 72
Bảng 3.17 Đánh giá thể lực nữ sinh viên năm thứ nhất trường
ĐHKHXH&NV theo qui định 53/2008/BGD&ĐT 73 Bảng 3.18
Kết quả khảo sát SV về thực trạng tổ chức triển khai thực hiện
chương trình GDTC theo học chế tín chỉ tại trường
ĐHKHXH&NV
Sau tr.82
Bảng 3.19 Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên về công tác triển khai
thực hiện chương trình GDTC theo giới tính
Sau tr.82
Bảng 3.20
Tổng hợp thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo
dục thể chất theo học chế tín chỉ tại một số trường Đại học tại
TP Hồ Chí Minh
Sau tr.91
Bảng 3.21
Kết quả phỏng vấn Ban giám hiệu, lãnh đạo các phòng, khoa,
bộ môn các biện pháp thực hiện chương trình GDTC theo học
chế tín chỉ
Sau tr.93
Bảng 3.22 Thể lực của sinh viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Bảng 3.23 So sánh xếp loại thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối
Bảng 3.24 Sự tăng trưởng theo từng test đánh giá thể lực của NAM sinh
viên nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 129 Bảng 3.25 Sự tăng trưởng theo từng test đánh giá thể lực của NỮ sinh viên
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm 131
Trang 11nghiệm
Bảng 3.27 So sánh xếp loại thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối
Bảng 3.28
Kết quả khảo sát đánh giá của SV về việc tổ chức triển khai
thực hiện chương trình GDTC theo học chế tín chỉ tại trường
ĐHKHXH&NV sau thực nghiệm
137
Bảng 3.29 Sự khác biệt về kết quả khảo sát sinh viên về công tác triển khai
Trang 12Biểu đồ 3.1 Mức độ quan tâm của sinh viên đến chương trình GDTC 64
Biểu đồ 3.2 So sánh về hình thái giữa nam SV ĐH KHXH&NV với
Biểu đồ 3.6 So sánh chỉ số công năng tim giữa nữ SV ĐH KHXH&NV
với nữ SV TP.HCM 19 tuổi và TBTCVN 19 tuổi 70 Biểu đồ 3.7
So sánh các chỉ tiêu đánh giá thể lực giữa nữ SV ĐH KHXH&NV với nữ SV TP.HCM 19 tuổi và TBTCVN 19 tuổi
71
Biểu đồ 3.8
Tỷ lệ % xếp loại thể lực nam SV năm thứ nhất trường ĐHKHXH&NV theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
73
Biểu đồ 3.9
Tỷ lệ % xếp loại thể lực nữ SV năm thứ nhất trường ĐHKHXH&NV theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
74
Biểu đồ 3.10 So sánh trung bình kết quả khảo sát sinh viên về triển khai
Biểu đồ 3.11 So sánh trung bình kết quả khảo sát CBQL, giảng viên về
triển khai thực hiện chương trình giáo dục thể chất 83 Biểu đồ 3.12 So sánh kết quả phỏng vấn của sinh viên và CBQL, GV về 83
Trang 13Biểu đồ 3.13 So sánh sự tăng trưởng trung bình các test đánh giá thể lực
của nam sinh viên nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 130
Biểu đồ 3.14 So sánh sự tăng trưởng trung bình các test đánh giá thể lực
của nam sinh viên nhóm đối chứng sau thực nghiệm 131
Biểu đồ 3.15 So sánh sự tăng trưởng trung bình các test đánh giá thể lực
của nữ sinh viên nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm 132
Biểu đồ 3.16 So sánh sự tăng trưởng trung bình các test đánh giá thể lực
của nữ sinh viên nhóm đối chứng sau thực nghiệm 133 Biểu đồ 3.17
So sánh sự tăng trưởng trung bình của các test đánh giá thể lực cho nam SV nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm
3.14
Biểu đồ 3.18
So sánh sự tăng trưởng trung bình của các test đánh giá thể lực cho nữ SV nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm
134
Biểu đồ 3.19 So sánh tỷ lệ xếp loại thể lực của nam nhóm thực nghiệm
Biểu đồ 3.20 So sánh tỷ lệ xếp loại thể lực của nữ nhóm thực nghiệm và
Biểu đồ 3.21
So sánh trung bình kết quả khảo sát sinh viên về công tác triển khai thực hiện chương trình giáo dục thể chất sau thực nghiệm của bộ môn GDTC
138
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Theo đánh giá của Tổ chức ngân hàng thế giới (World Bank), thì đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển Đây là phương thức đào tạo theo triết lý "Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo" Đào tạo theo hệ thống tín chỉ tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển năng lực của người học Đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình [46] Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang
hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là “hệ thống chuyển đổi tín chỉ” được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới [21]
Nền giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với một thử thách
vô cùng lớn trước sự tăng trưởng theo cấp số nhân của số lượng sinh viên cũng như nhận thức của người dân về vai trò nền tảng, quốc sách của giáo dục học đại học đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa – tương lai của Việt Nam trong một xã hội có sự phát triển đồng hành của nền kinh tế tri thức Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay giáo dục có vai trò rất lớn, ngoài việc đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao cho nền kinh tế; nó còn đáp ứng nhu cầu nâng cao trí tuệ, nhận thức của người dân Tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ là bước đi cần thiết, để thúc đẩy việc đổi mới triệt để từ mục tiêu, chương trình và phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá, giúp người học làm chủ
Trang 15quá trình học tập của mình, việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ là giải pháp số 1 cho
việc đảm bảo hiệu quả đào tạo, đảm bảo tính thích nghi và liên thông, hội nhập [26]
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn được thành lập trên cơ sở tách ra từ Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh và là một trong những trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có vai trò quan trọng trong nền giáo dục đại học của Việt Nam, là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học có chất lượng cao ở địa bàn các tỉnh phía Nam [71]
Năm học 2005-2006 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG – TP Hồ Chí Minh (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) đã thực hiện chuyển đổi hoạt động đào tạo từ niên chế kết hợp với học phần sang học chế tín chỉ, một bước đi đã tác động và làm thay đổi nhiều khâu, nhiều bộ
phận trong hoạt động đào tạo của trường [17]
Giáo dục Đại học ngày nay không những trang bị khối lượng kiến thức đơn thuần mà còn phải có sự quan tâm đúng mức để phát triển thể chất và nhân cách cho sinh viên Việc vận dụng chương trình giáo dục thể chất vào chương trình đào tạo chung của nhà trường là một vấn đề quan trọng cần thiết và đòi hỏi tính khoa học
Tuy rằng, từ năm học 2005-2006 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện chuyển đổi hoạt động đào tạo từ niên chế kết hợp với học phần sang học chế tín chỉ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa chuyển đổi một cách toàn diện ở tất cả các ngành đào tạo trong đó có cả giáo dục thể chất Để góp phần đạt được mục tiêu chiến lược phát triển, với vị trí của mình trong sự nghiệp thể dục thể thao của đất nước, việc giảng dạy giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp hiện nay cần đổi mới, từng bước hoàn thiện hệ thống tổ chức, thực hiện, cải tiến nội dung chương trình giáo dục thể chất, thay đổi phương pháp giảng dạy… cho phù hợp với thực tế hiện nay Cũng có nghĩa là trong việc
thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày càng toàn diện hơn
Để hòa nhập theo sự thay đổi và phát trong nền giáo dục Việt Nam hiện nay, khắc phục những mặt còn hạn chế trong hình thức tổ chức giảng dạy giáo dục thể
Trang 16chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh theo quy chế đào tạo của Bộ giáo dục và Đào tạo theo học chế tín chỉ một cách toàn diện
và hiệu quả hơn; cùng với việc thực hiện những nghiên cứu thực nghiệm, kết hợp với các phương pháp đo lường hiệu quả nhằm xây dựng những cơ sở lý luận mới, nâng cao tính hiệu quả trong việc giảng dạy môn học giáo dục thể chất cho sinh viên tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh theo học chế tín chỉ Điều này đã ấp ủ, thôi thúc tôi xây dựng và đề xuất được thực hiện
đề tài nghiên cứu:
“Biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài sẽ tiến hành giải quyết
các mục tiêu cơ bản sau:
Mục tiêu 1: Thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể
chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn các biện pháp thực hiện chương trình Giáo
dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh:
Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các biện pháp thực hiện chương
trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh:
Giả thuyết khoa học của đề tài
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2005-2006 Tuy nhiên, việc
Trang 17tổ chức giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất theo học chế tín còn nhiều mặt hạn chế
Do đó, với những biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ phù hợp sẽ góp phần tích cực khắc phục những mặt hạn chế để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG – TP Hồ Chí Minh
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào tạo
1.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới
Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa
và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển [25, tr.71]
Một số chủ trương của Đảng về giáo dục và đào tạo từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay được thể hiện rõ trong Tài liệu nghiên cứu nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên):
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, Người đã đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ba nhiệm vụ quan trọng, đó là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm Đảng ta luôn khẳng định cách mạng khoa học - kỹ thuật giữ vai trò then chốt, giáo dục
và đào tạo là nền tảng văn hóa dân tộc Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo là một bộ phận quan trọng của chiến lược con người, mà chiến lược con người nằm ở vị trí trung tâm của toàn bộ chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước Vì vậy, đầu tư cho giáo dục và đào tạo không phải là phúc lợi đơn thuần, mà là đầu tư cho phát triển, chỉ
có đầu tư thỏa đáng cho giáo dục và đào tạo thì đất nước mới phát triển bền vững được
Ngày 13/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, nhằm cụ thế hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
về “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập” và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong bối cảnh, nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới
Trang 19Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước trong tình hình mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
đã xác định một trong ba đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011-2020 là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ” Đây cũng được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất để đưa nước ta phát triển ngang tầm với
xu thế phát triển của thời đại
Tài liệu nghiên cứu nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI cũng đã nêu rõ sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng:
Trong bối cảnh hiện nay, nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với nhiều biến động to lớn, phức tạp, rất nhiều vấn đề đặt
ra cho cách mạng Việt Nam; mục tiêu nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, phát triển bền vững, nền kinh tế của nước ta chuyển từ mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, từng bước đi vào nền kinh tế tri thức, vươn lên sánh vai cùng các nước tiên tiến đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đông đảo với chất lượng cao Muốn như vậy, cần phải tiến hành một cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Hiện nay, tình hình thế giới biến đổi hết sức phức tạp, khó lường, xu thế hợp tác là chủ yếu nhưng cũng đang xuất hiện những cuộc cạnh tranh gay gắt Cùng với trào lưu phát triển trên toàn thế giới, trào lưu đổi mới, cải cách giáo dục và đào tạo đã mang tính chất thời đại, trở thành xu thế khách quan Trong nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa, thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay trên thế giới là cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực, mà giáo dục và đào tạo phải tạo ra con người Việt Nam có tri thức, có khả năng sáng tạo, tiếp thu, làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại
Trong bốì cảnh đó, đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu mang tính toàn cầu, nhiều quốc gia đã và đang tiến hành cải cách giáo dục hướng tới một nền giáo dục hiện
Trang 20đại Nước nào không đổi mới, hoặc cải cách giáo dục không thành công, nước đó sẽ mất khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và sẽ bị tụt hậu xa hơn [7, tr 233-248]
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học
Từ năm 1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 180-CT/TW ngày
26 tháng 8 năm 1970 về tăng cường công tác Thể dục thể thao trong những năm tới, với phương hướng chung: “Trên cơ sở làm thấu suốt đường lối và quan điểm thể dục thể thao của Đảng và Nhà nước và nhằm mục tiêu khôi phục và tăng cường sức khoẻ của nhân dân, góp phần tích cực phục vụ lao động sản xuất, phục vụ quốc phòng, phục vụ đời sống, phục vụ xây dựng con người mới, cần ra sức phát triển thể dục thể thao thành một phong trào có tính quần chúng rộng rãi, lấy thể dục, rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn và 5 môn: chạy, nhảy, bơi, bắn, võ làm trọng tâm, đồng thời cố gắng phát triển những môn thể thao khác Cần tăng cường xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên, huấn luyện viên, vận động viên thể dục thể thao, tăng cường việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật thể dục thể thao, kết hợp những thành tựu hiện đại của thế giới với kinh nghiệm, truyền thống của dân tộc, do đó mà từng bước vững chắc nâng cao chất lượng của phong trào” Đối với thể thao trường học, Chỉ thị cũng đã nêu ra rõ nhiệm vụ và nội dung cụ thể: "Đối với trường học, phải cải tiến nội dung phương pháp và tổ chức huấn luyện thể dục, hoạt động thể thao nhằm nâng cao sức khỏe và chữa một số bệnh của học sinh Phải từng bước tổ chức thực hiện tốt chế độ rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn cho thanh niên, thiếu niên Cần phải cải tiến tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và tổ chức việc tập luyện cho phù hợp với lứa tuổi và điều kiện sinh hoạt, công tác của thanh niên trai và gái" [2]
Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 227/CT/TW, ngày 18 tháng
11 năm 1975 về công tác Thể dục thể thao trong tình hình mới, đưa ra những nội dung hoạt động Thể dục thể thao trong điều kiện mới, chỉ đạo công tác Thể dục thể thao trong nhà trường cần được chú trọng: "Tổ chức tốt việc học tập thể dục buổi sáng, thể dục trước giờ, giữa giờ cho các trường học Phát triển các trò chơi vận động trong thiếu niên và học sinh Phát triển các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, thể dục đồng diễn làm cho hoạt động thể dục phong phú và hấp dẫn" Chỉ thị cũng đề ra biện pháp
Trang 21chính “…phát triển rộng các trường, lớp thể dục thể thao thanh niên, thiếu niên nghiệp
dư, trên cơ sở đó tuyển chọn những học sinh thực sự có năng khiếu vào các trường, lớp năng khiếu thể dục thể thao theo một qui chế chặt chẽ” [3]
Trong Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn mới đã xác định mục tiêu trước mắt, từ nay đến năm 2000, phấn đấu đạt được việc: “Thực hiện giáo dục thể chất trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện thể dục thể thao trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên, thanh niên, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, cán bộ, công nhân viên, công nhân viên chức và một bộ phận nhân dân” Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, thông qua Chỉ thị số 36-CT/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng đề nghị: “Đề nghị các cơ quan Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy về công tác thể dục thể thao; quy định chế độ tập luyện thể dục thể thao trong trường học, lực lượng vũ trang, cơ quan, xí nghiệp Trong quy hoạch xây dựng, cải tạo, mở rộng các đô thị, xã, phường, trường học, cơ quan, xí nghiệp phải ghi rõ các cơ sở thể dục thể thao; ban hành các chính sách, chế độ khuyến khích mở rộng phong trào
và nâng cao thành tích thể thao Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục - Đào tạo và Ban cán sự Đảng Tổng cục Thể dục thể thao phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác giáo dục thể chất, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học” [4]
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp thể dục thể thao nước ta phát triển nhanh, vững chắc và trong một thời gian không xa đuổi kịp trình độ các nước trong khu vực, ngày 07/3/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 113/TTg về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành Thể dục thể thao Chỉ thị đã yêu cầu: "Bộ Giáo dục
và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học; có quy chế bắt buộc các trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập thể dục thể thao, có định biên hợp lý
và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, đáp ứng nhu cầu
Trang 22ở tất cả các cấp học Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có một thứ trưởng chuyên trách
chỉ đạo công tác thể dục thể thao trong trường" [58]
Nhằm tiếp tục phát triển sự nghiệp thể dục thể thao, Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 17- CT/TW, ngày 23 tháng 10 năm 2002 về phát triển thể dục thể thao đến năm 2010, trong Chỉ thị đã nêu rõ: Trong giai đoạn mới, sự nghiệp thể dục thể thao cần được tiếp tục phát triển theo những quan điểm đã nếu trong CT 36-CT/TW
và phương hướng, nhiệm vụ đã được Đại hội IX của Đảng xác định:
Công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, trước hết là góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa phương Phấn đấu đến năm 2010 toàn quốc đạt tỷ lệ 18 – 20% dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên; 80 – 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo quy định…
Để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ trên, các cấp uỷ đảng và chính quyền cần lãnh đạo thực hiện tốt những việc sau:
Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở trường học Tiến tới bảo đảm mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục thể chất; xem đây là một tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia
Tăng cường đầu tư của nhà nước cho lĩnh vực thể dục thể thao, ưu tiên cho việc phát triển thể dục thể thao ở trường học, ở nông thôn và miền núi
Các địa phương cần có biện pháp tích cực nhằm huy động nguồn đóng góp, đầu tư của xã hội để phát triển thể dục thể thao Thực hiện nghiêm túc việc quy hoạch đất đai cho hoạt động thể dục thể thao ở xã, phường, trường học [5]
Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn trong nước và hội nhập quốc
tế, ngày 12/12/2006, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố Luật thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006 tại kỳ họp thứ 10 Luật thể dục, thể thao có hiệu lực thi hành kể từ ngày
Trang 2301/7/2007 Trong Mục 2, Điều 20 và Điều 21, quy định rất rõ về công tác Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường:
Điều 20 Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập
và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi
và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao
Điều 21 Trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
Nhà nước có chính sách dành đất đai, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, bảo đảm đủ giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các bậc học
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao xây dựng chương trình giáo dục thể chất, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên thể dục thể thao, hướng dẫn nội dung hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xây dựng cơ sở vật chất, bố trí giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường thuộc phạm vi quản lý của mình
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm sau đây:
- Quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, nhà tập đa năng, bảo đảm trang thiết bị, dụng cụ thể thao, chỉ tiêu biên chế giáo viên, giảng viên thể dục thể thao cho các trường công lập thuộc địa phương;
- Thực hiện chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định của pháp luật đối với trường tư thục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường [47]
Trang 24Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao, Ngày 01 tháng 12 năm 2011, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020, trong phần đánh giá những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết đã chỉ rõ: "Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên chưa thường xuyên và kém hiệu quả" Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 " Phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể", Nghị quyết cũng đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học, cụ thể:
- Thể dục thể thao trường học là bộ phận quan trọng của phong trào thể dục, thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên, cần được quan tâm đầu tư đúng mức
- Xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học” Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao
- Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học [6]
Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có nền thể dục, thể thao phát triển ở châu lục Mục tiêu cụ thể của giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường đã được thể hiện rõ trong Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Thủ Tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Quy hoạch phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030":
Tỷ lệ học sinh, sinh viên thực hiện chương trình giáo dục thể chất chính khóa đạt 100% từ năm 2015 trở đi đối với tất cả các cấp học, bậc học
Trang 25Từ sau năm 2015, phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất chính khóa, đáp ứng yêu cầu và xu thế phát triển của đất nước
Tỷ lệ trường thực hiện đầy đủ các hoạt động giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường ở các cấp học, bậc học
Đối với trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, cao đẳng và cao đẳng nghề, đại học: Đạt 70% vào năm 2015, đạt 80% vào năm 2020 và đạt trên 90%
Diện tích sân tập dành cho giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường
ở các cấp học, bậc học (m 2 /học sinh, sinh viên):
Đối với trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề, cao đẳng và cao đẳng nghề, đại học: Đạt 02 m2 vào năm 2015, đạt 03 m2 vào năm 2020 và đạt 04
Nhằm tăng tính liên thông của hệ thống giáo dục đại học nước ta và hội nhập với giáo dục đại học thế giới, Nhà nước đã đưa ra chủ trương mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học nước ta Trong Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg có nêu: “Thực hiện quy trình đào tạo
Trang 26linh hoạt, từng bước chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ” Trong “Báo cáo về tình hình giáo dục” của Chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ngay từ năm học 2005 – 2006, phấn đấu để đến năm 2010 hầu hết các trường
đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này” [55], [59]
Theo Quyết định số 73/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH
11 khóa XI kỳ họp thứ 6 của Quốc hội về giáo dục có nêu: Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy chế đào tạo, tuyển sinh theo hướng mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đổi
mới quy trình, phương thức kiểm tra, đánh giá, thi cử, công nhận tốt nghiệp [61]
Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã xác định nhiệm vụ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài” [60]
Tại Chương 2, Điều 7, Tiêu chuẩn 4 trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có quy định: Thực hiện công nhận kết quả học tập của người học theo niên chế kết hợp với học phần, có kế hoạch chuyển qui trình đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ
có tính linh hoạt và thích hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học [13]
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng
hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy chế này quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm:
tổ chức đào tạo, kiểm tra và thi học phần, xét và công nhận tốt nghiệp Quy chế này
áp dụng đối với sinh viên các khóa đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học và cao
Trang 27đẳng trong các đại học, học viện, trường đại học và trường cao đẳng thực hiện theo hình thức tích lũy tín chỉ [12]
Trong Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009 Bộ chính
trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), phương hướng phát
triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020” Bộ Chính trị đã thảo luận và kết luận:
Trước tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Cần thực hiện tốt
các nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020 là: … Thực hiện tốt đào
tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp…[8]
1.2 Đào tạo đại học theo học chế tín chỉ
1.2.1 Lịch sử về đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2.1.1 Việc áp dụng học chế tín chỉ trên thế giới
Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống Vào năm 1872, Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách rộng rãi Có thể xem sự kiện
đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ
Đến đầu thế kỷ 20, hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ Tiếp sau đó, nhiều nước lần lược áp dụng hệ thống tín chỉ trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học Vào năm 1999, 29 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký tuyên ngôn Boglona nhằm hình
thành Không gian giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area)
Trang 28thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế tín chỉ (European Credit Transfer System – ECTS) trong toàn hệ thống giáo dục đại học để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới [55]
1.2.1.2 Việc áp dụng học chế tín chỉ ở Việt Nam
Trước năm 1975, một số trường đại học chịu ảnh hưởng của Mỹ tại miền nam Việt Nam đã áp dụng học chế tín chỉ: Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức
Trong quá trình “Đổi mới” ở nước ta từ cuối năm 1986 chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục đại học nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng đại học tại Nha Trang hè năm 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới giáo dục đại học, trong
đó, có chủ trương triển khai trong các trường đại học quy trình đào tạo 2 giai đoạn
và môđun hóa kiến thức Theo chủ trương đó, học chế “học phần” đã ra đời và
được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm 1988 đến nay Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dần kiến thức theo các môđun trong quá trình học tập, tức là cùng theo ý tưởng của học chế tín chỉ xuất phát từ Mỹ Tuy nhiên, về một số phương diện, học chế học phần chưa thật sự mềm dẻo như học chế tín chỉ của Mỹ, do đó, nó được gọi là “sự kết hợp niên chế với tín chỉ”, tuy nhiên, những khó khăn về đời sống trong xã hội nói chung và trong các trường đại học nói riêng lúc đó chưa cho phép đặt vấn đề thực hiện học chế môđun hóa triệt để Vào năm 1993, khi những khó khăn chung của đất nước và của các trường đại học dịu bớt, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương tiến thêm một bước, thực hiện học chế học phần triệt để hơn, theo mô hình học chế tín chỉ của Mỹ Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1993, rồi các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thủy sản Nha Trang và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994
và các năm sau đó [55]
1.2.2 Đặc điểm của học chế tín chỉ
1.2.2.1 Khái niệm
Trang 29Theo từ điển tiếng Việt (2005): Tín chỉ có 2 nghĩa:
- Giấy đặc biệt dùng để viết văn tự, văn khế
- Giấy chứng nhận kết quả hoàn thành môn học ở bậc đại học
Theo James Quann (1985): Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: Thời gian lên lớp, thời gian ở phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác
đã được quy định ở thời khóa biểu, thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài đối với môn học lý thuyết 1 tín chỉ là 1 giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần, đối với các môn học ở studio hay ở phòng thí nghiệm - ít nhất 2 giờ trong tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà), đối với việc tự nghiên cứu – ít nhất là 3 giờ làm việc
trong 1 tuần (James Quann là Giáo sư của Đại học quốc gia Washington, đưa ra
định nghĩa này tại buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Trung (Vũ Hán – Trung Quốc) mùa hè năm 1985 trước các chuyên gia của 28 trường đại học hàng đầu của Trung Quốc) [74]
Theo Quy chế Học vụ (2005) của Trường Đại học Bách Khoa TP HCM:
Học chế tín chỉ: Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo trong đó sinh viên
chủ động lựa chọn học từng môn học (tuân theo một số ràng buộc được quy định trước) nhằm tích lũy từng phần và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo, được cấp văn bằng tốt nghiệp
Trên cơ sở lượng hóa quy trình đào tạo thông qua khái niệm tín chỉ, học chế tín chỉ tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa quy trình đào tạo, trao quyền cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, việc tích lũy các học phần, kể cả sắp xếp thời gian học ở trường, thời gian tốt nghiệp, ra trường Về phía mình, người sinh viên cần phát huy tính tích cực, chủ động để thích ứng với quy trình đào tạo này và
để đạt những kết quả tốt nhất trong học tập, rèn luyện
Tín chỉ: Tín chỉ là đơn vị quy chuẩn dùng để lượng hoá khối lượng kiến thức
và khối lượng học tập giảng dạy trong quy trình đào tạo Tín chỉ cũng là đơn vị để
đo lường tiến độ học tập của sinh viên – đánh giá dựa trên số lượng tín chỉ sinh viên
đã tích lũy được
Trang 30Một tín chỉ được tính bằng: 01 giờ giảng lý thuyết trên lớp trong mỗi tuần của một học kỳ chính; 2 đến 3 giờ bài tập, thảo luận, thực hành, thí nghiệm mỗi tuần; một khối lượng kiến thức và hoạt động quy chuẩn tương đương Để hoàn thành khối lượng kiến thức của 01 tín chỉ sinh viên cần thêm 2-4 giờ chuẩn bị, tự học mỗi tuần (ngoài giờ lên lớp) [68]
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT: Tín chỉ được sử dụng để tính khối
lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết;
30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 -
60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp [12]
1.2.2.2 Triết lý của giáo dục đại học và đào tạo theo tín chỉ
Người học muốn gì? Theo Lê Đức Ngọc, Đại học Quốc gia Hà Nội:
Người học muốn học chế mềm dẻo: để chủ động trong học tập
Người học muốn được chọn ngành nghề phù hợp: để phát huy năng khiếu, hợp với tâm sinh lý, phát huy những tiềm năng đã có (gia đình, dòng tộc )
Người học muốn học những điều thiết thực: để tìm, làm được việc ngay, để đáp ứng nhu cầu học hỏi của bản thân
Người học muốn đổi nghề thuận tiện: khi cần đổi nghề không phải học lại từ đầu
Người học muốn tốn kém ít nhất: học phí, thời gian, công sức bỏ ra ít nhất (nhất là khi đổi nghề) [42]
Theo Vũ Viết Khuyến (2005) coi triết lý giáo dục là:
Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo Chương trình đào tạo phải mềm dẻo để trường đại học dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực [74]
Theo Nguyễn Chu Hùng (Trưởng Ban Đào tạo Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh) quan niệm triết lý cơ bản của đào tạo theo học chế tín chỉ là:
Xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo
Có chương trình đào tạo mềm dẻo, dễ dàng đáp ứng nhu cầu tiếp nhận kiến thức của người học
Trang 31Khi đã có nhiều trường đại học trong một quốc gia, một khu vực và trên thế giới áp dụng học chế tín chỉ thì có thể thực hiện được việc chuyển đổi tín chỉ giữa các trường đại học
Từ triết lý trên, chúng ta có thể nhận mặt tiến bộ của hệ thống đào tạo này là:
Nó không bắt buộc người học phải học những gì mà người thầy đang có, mà người học được quyền lựa chọn (chọn thầy, chọn môn học, chọn tiến trình học tập ) học những gì mà họ cần [31]
1.2.2.3 Bản chất của học chế tín chỉ
Tất cả vì người học: Cách tốt nhất đáp ứng các mong muốn của người học Hiệu quả (= chất lượng + hiệu suất) đào tạo cao:
Chất lượng cao vì đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực
Hiệu suất cao vì khai thác triệt để nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) để đào tạo
Quy mô càng lớn, trường càng nhiều lĩnh vực hiệu quả càng cao
Công nghệ hóa quy trình đào tạo: Quy trình mang tính công nghệ cao
Thích ứng với kinh tế thị trường: Tuân theo quy luật giá trị, cạnh tranh làm động lực không ngừng nâng cao chất lượng (người học được chọn thầy, chọn môn học ) và nguồn nhân lực chuyển đổi ngành nghề nhanh
Đáp ứng xu thế toàn cầu hóa: Chuyển đổi, trao đổi, liên thông toàn cầu [41]
1.2.2.4 Đặc điểm
Kiến thức được cấu trúc thành các mô đun (học phần)
Quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theo từng học phần (đơn vị và tín chỉ), có 2 ý nghĩa:
Trọng số của học phần, thời lượng mà người học phải theo học trên lớp và thời lượng mà người học phải tự học cho học phần, thông thường là 15 tiết học trên lớp và
30 tiết học ngoài lớp Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo từng học phần Người học chạy tìm lớp, không còn giảng viên chạy tìm lớp
Đơn vị học vụ là học kỳ Một năm có thể chia thành 2 học kỳ chính (15 tuần học + 3 tuần thi) và có thể có một học kỳ hè (5 tuần học + 1 tuần thi), hay chia làm 3 học
kỳ (12 tuần học + 3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học + 2 tuần thi)
Trang 32Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A,B,C,D hay 4,3,2,1), điểm trung bình chung học tiếp hay tốt nghiệp là ≥ 2,00
Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ đã tích lũy (Thông thường nếu quy định văn bằng cử nhân cần tích lũy 120 tín chỉ thì: tích lũy được 0 đến 29,9 tín chỉ là năm thứ nhất, 30 đến 59,9 tín chỉ là năm thứ hai, 60 đến 89,9 tín chỉ là năm thứ ba, tích lũy từ 90 tín chỉ trở lên là năm thứ tư)
Có hệ thống cố vấn học tập để tư vấn cho người học thiết kế chương trình học tập của mình
Chương trình đào tạo mềm dẻo: Cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn và tùy ý, cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo
Có thể tuyển sinh hoặc chuyển đổi theo học kỳ
Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình cao đẳng hoặc đại học
Chỉ có một văn bằng chính quy với 2 loại hình tập trung và không tập trung
Ổn định và công khai hóa chương trình đào tạo
Phòng đào tạo/ Ban đào tạo thống nhất quản lý mọi hoạt động đào tạo
Thay đổi phương thức quản lý sinh viên (hệ thống cố vấn học tập, chứng chỉ
đã tích lũy)
Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học
Lịch giảng dạy được triển khai nghiêm túc
Giảng viên phải dạy được nhiều học phần, ngược lại một học phần có thể bố trí nhiều lớp dạy cùng lúc
Cần có sự thống nhất, quán triệt quan điểm và công nghệ ở mọi cấp, mọi thành viên trong trường [41]
1.2.3 Các điều kiện đảm bảo để tổ chức tốt đào tạo theo học chế tín chỉ
Đội ngũ cán bộ, giảng viên, lãnh đạo cùng các tổ chức trong hệ thống chính trị của nhà trường phải có quyết tâm thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường phải xác định được phương thức quản lý và hoạt động phù hợp trong điều kiện tổ chức đào
Trang 33tạo theo học chế tín chỉ (kết hợp quản lý người học theo khóa và theo môn học) [74]
Có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
- Đội ngũ này phải hiểu đúng và đầy đủ về học chế tín chỉ Phải có tài liệu hướng dẫn chi tiết về tổ chức và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ; tổ chức nhiều hội thảo, toạ đàm trong đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên với sự tham gia, hướng dẫn của các chuyên gia Cần thành lập một nhóm chuyên gia tìm hiểu về vấn đề này: thu thập và nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước về học chế tín chỉ; tìm hiểu tình hình tổ chức đào tạo theo tín chỉ của các trường đại học, cao đẳng trong nước; tổ chức hội thảo trong nhóm về tín chỉ và lộ trình chuẩn bị đào tạo theo tín chỉ; biên soạn tài liệu hướng dẫn tổ chức và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ Sau khi nhóm chuyên gia hoàn thành các công việc trên sẽ tổ chức các cuộc hội thảo trong đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên để mọi người hiểu về học chế tín chỉ và đóng góp cho dự thảo lộ trình chuyển đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Cụ thể:
- Các giảng viên phải hiểu biết về các phương pháp dạy - học, kiểm tra - đánh giá tiên tiến như yêu cầu của hệ thống tín chỉ và có kỹ năng sử dụng các thiết
bị giảng dạy hiện đại Để có điều kiện này, nhà trường phải tổ chức các đợt tập huấn cho đội ngũ giảng viên về: biên soạn các bài giảng, hồ sơ môn học, hồ sơ giảng dạy theo cách tiếp cận mới của triết lý học chế tín chỉ, các phương pháp dạy - học, kiểm tra - đánh giá tiên tiến
- Các chuyên viên của các phòng, trung tâm được trang bị kiến thức về phương thức quản lý theo học chế tín chỉ, về kỹ thuật xây dựng thời khoá biểu môn học (lớp học phần) theo đăng ký của người học và hệ thống phần mềm công nghệ thông tin đáp ứng công việc ấy
Có đủ đội ngũ cố vấn am hiểu về chương trình đào tạo để hướng dẫn người học chọn môn học và xây dựng kế hoạch học tập
Có một ban chỉ đạo chuyển đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ ở cấp trường: Ban chỉ đạo do Hiệu trưởng hoặc phó Hiệu trưởng phụ trách, các ủy viên là các trưởng Phòng, Khoa (Bộ môn), chủ tịch Công đoàn cơ sở, bí thư Đoàn
Trang 34Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, và một số thành viên khác do Hiệu trưởng quyết định Ban chỉ đạo phải xây dựng kế hoạch chuyển đổi đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và trình kế hoạch để Hiệu trưởng xem xét, phê duyệt Trong kế hoạch cần một lộ trình thực hiện (nội dung công việc, đơn vị thực hiện, thời gian thực hiện và dự trù kinh phí cho từng công việc) Mỗi mảng công việc phải thành lập tiểu ban Trưởng tiểu ban do phó hiệu trưởng hoặc trưởng phòng, giám đốc trung tâm, trưởng khoa (bộ môn) phụ trách Căn cứ vào kế hoạch nhà trường, trưởng các tiểu ban xây dựng kế hoạch thực hiện trình hiệu trưởng phê duyệt và tổ chức thực hiện
Xây dựng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ: Xây dựng chương trình đào tạo cũng là dịp để chúng ta nghiên cứu và vận dụng các lý luận về thiết kế chương trình hiện đại theo chuẩn của các trường đại học, cao đẳng tiên tiến, đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai của đất nước đối với ngành đào tạo và yêu cầu hội nhập quốc tế Khi xây dựng khung chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ nên rà soát lại để bỏ bớt những môn không cần thiết, bổ sung cập nhật các môn học mới hơn, kế thừa những yếu tố tích cực, phù hợp của khung chương trình đào tạo hiện có Cấu trúc các chương trình có tính đồng nhất và liên thông theo khối, nhóm, ngành và chuyên ngành; xây dựng ngành chính ngành phụ và song ngành mềm dẻo;
Xây dựng chương trình chi tiết từng môn học trong chương trình đào tạo theo tín chỉ của mỗi ngành đào tạo và được công bố rộng rãi
Xây dựng đủ giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo cho mỗi môn học; xây dựng và phát triển hệ thống học liệu điện tử thông qua thư viện điện tử Xây dựng, nâng cấp hệ thống Công nghệ thông tin trong trường phục vụ tốt cho mọi thành viên trong hệ thống đào tạo và quản lý;
Xây dựng các văn bản quy định liên quan tới việc tổ chức đào tạo theo tín chỉ
Có đủ điều kiện vật chất tối thiểu đạt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
- Đủ thiết bị giảng dạy hiện đại giúp giảng viên đỡ mất thời gian viết bảng hoặc trình bày, giảng giải trên lớp;
Trang 35- Đủ phòng học lớn, nhỏ, hội trường, phòng thí nghiệm, phòng đọc ở thư viện để bố trí lớp học theo yêu cầu đăng ký của sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên tự học ngoài giờ lên lớp
- Có hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu quản lý đào tạo và sinh viên theo hệ thống tín chỉ [18]
1.3 Các nguyên tắc và một số phương pháp giảng dạy chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng môn học Giáo dục thể chất
1.3.1 Các nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất
Những nguyên tắc chung nhất xác định toàn bộ phương hướng và tổ chức hoạt động giáo dục thể chất của xã hội chúng ta là phát triển cân đối, toàn diện con người, giáo dục phải liên hệ với thực tiễn lao động, quốc phòng và nâng cao sức khỏe Ngoài ra, còn có các nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất đó là những nguyên lý, cơ sở khoa học – thực tiễn, dùng để xác định những yêu cầu cơ bản về cấu tạo, nội dung, phương pháp và tổ chức quá trình dạy học và giáo dục thể chất nhằm đạt được hiệu quả mong muốn
Nguyên tắc tự giác tích cực: Tính tích cực của người tập TDTT thường thể
hiện qua hoạt động tự giác, gắng sức nhằm hoàn thành những nhiệm vụ học tập – rèn luyện Nó bắt nguồn từ một thái độ học tập tốt, sự cố gắng nắm được những kỹ năng, kỹ xảo cùng hiểu biết có liên quan, phát triển các phẩm chất về thể lực và tinh thần… nhất định cùng khắc phục những khó khăn trên con đường đó Tính tự lập là một trong những hình thức cao nhất của tính tích cực, biểu hiện qua hoạt động hăng hái để tự giải quyết những nhiệm vụ do kích thích nội tâm của từng người tạo nên
Nguyên tắc tự giác và tích cực thể hiện qua các yêu cầu sau:
- Giáo dục thái độ tự giác và hứng thú vững chắc đối với mục đích tập luyện chung cũng như đối với các nhiệm vụ cụ thể của từng buổi tập
- Kích thích việc phân tích có ý thức, việc kiểm tra và sử dụng hợp lý sức lực khi thực hiện bài tập thể lực
- Giáo dục tính sáng kiến, tự lập và thái độ sáng tạo đối với các nhiệm vụ
Nguyên tắc trực quan
Trang 36Tính trực quan trong giảng dạy và giáo dục biểu hiện ở việc sử dụng rộng rãi các cảm giác, các thụ cảm của nhiều giác quan, nhờ đó có thể tiếp xúc trực tiếp, nhiều mặt với hiện thực xung quanh
Trong giáo dục thể chất, tính trực quan đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì hoạt động của người tập về cơ bản là mang tính chất thực hành và có một trong những nhiệm vụ chuyên môn của mình là phát triển toàn diện các cơ quan cảm giác
Tính trực quan là quan trọng không chỉ vì tự bản thân nó, mà còn vì đó là một điều kiện chung nhất để thực hiện các nguyên tắc giảng dạy và giáo dục Việc
sử dụng rộng rãi các hình thức trực quan khác nhau làm tăng hứng thú đối với tập luyện, làm dễ hiểu và dễ thực hiện nhiệm vụ, đồng thời tạo điều kiện để tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo khác
Nguyên tắc thích hợp và cá biệt
Trong giáo dục thể chất, nguyên tắc này đặc biệt quan trọng vì ở đây gây tác động mạnh mẽ đến các chức năng quan trọng trong cơ thể sống Chỉ cần lượng vận động vượt quá mức cơ thể chịu đựng được phần nào là có thể nảy sinh nguy cơ đối với sức khỏe người tập, gây nên hậu quả ngược lại Việc tuân thủ đúng mức nguyên tắc này bảo đảm hiệu quả của giáo dục thể chất
Bản chất của nguyên tắc này thể hiện qua các yêu cầu cơ bản sau:
- Xác định mức độ thích hợp
- Những yêu cầu về phương pháp để đảm bảo tính thích hợp
- Cá biệt hóa theo xu hướng chung và theo các cách thức riêng trong giáo dục thể chất
Nguyên tắc hệ thống
Nguyên tắc này có liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện và hệ thông luân phiện lượng vận động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện
Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
Trong quá trình giáo dục thể chất chuyển từ những hình thức hoạt động vận động này sang những hình thức khác ngày càng phức tạp hơn, điều cần thiết trước
Trang 37hết đối với việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dưỡng là nếu không đổi mới các bài tập thì sẽ không tạo được một “vốn” rộng rãi các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng trong cuộc sống Đồng thời, việc đó cũng cần như một điều kiện để tiếp tục hoàn thiện Một điều cũng không kém phần quan trọng khác là trong quá trình tiếp thu các liên hợp động tác khác nhau, nhờ khắc phục được những khó khăn (“những nhiệm vụ vận động”) nảy sinh lúc tiếp thu đó mà phát triển được ngay cả năng lực
phối hợp vận động, cải tạo và hoàn thiện không ngừng hoạt động vận động [57]
1.3.2 Một số phương pháp giảng dạy chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng môn học Giáo dục thể chất
Phương pháp giảng dạy là những hình thức, những biện pháp được đặt ra
trong quá trình giảng dạy để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đã đề ra Một phương
pháp giảng dạy thể dục tốt sẽ tạo điều kiện cho người dạy và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy
Trong thực tế việc giảng dạy thể dục không thể chỉ sử dụng một vài phương pháp riêng lẻ mà phải sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau thì mới đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy vì không phải tất cả các phương tiện giáo dục thể chất đều cho phép sử dụng một phương pháp tập luyên nào đó thuần túy Người giáo viên phải biết chọn lựa những phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung, nhiệm vụ, đối tượng, điều kiện giảng dạy… thì mới có thể nâng cao chất lượng cho môn học
Phương pháp giáo dục tư tưởng
Vấn đề cốt lõi của quá trình giảng dạy thể dục là điều khiển tính tích cực của người tập Trong giảng dạy, giáo viên phải biết kích thích, duy trì tính tích cực của người tập và hướng nó vào việc giải quyết các nhiệm vụ do quá trình giáo dục thể chất đăt ra Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, giáo viên sẽ giúp người học tăng tính tự giác tích cực trong tập luyện
Để làm tốt công tác giáo dục tư tưởng giáo viên cần chú ý những điểm sau:
- Giảng giải rõ những lợi ích của việc tập luyện thể dục thể thao đối với sức khỏe của người tập qua đó hình thành động cơ đúng đắn cho người học
Trang 38- Khen thưởng, biểu dương kịp thời những hành vi, kết quả học tập tốt và phê bình đúng mực những thái độ, hành vi sai trái
- Giáo viên phải có uy tín, tác phong chuẩn mực, gương mẫu trong lối sống
- Biết đặt niềm tin và hy vọng vào người tập
Phương pháp giảng giải và làm mẫu
Phương pháp giảng giải và làm mẫu là một trong những phương phương pháp cơ bản để xây dựng biểu tượng vận động cho người học, đặc biệt rất quan trọng trong viêc giảng dạy một kỹ thuật mới
Khi giảng giải, giáo viên cần dùng từ chính xác, lời nói rõ ràng, mô tả và phân tích mạch lạc những điểm then chốt của động tác để hình thành những khái niệm đúng đắn cho người học Thực hiện làm mẫu động tác phải chính xác, đẹp và sinh động Động tác làm mẫu chất lượng càng cao giúp biểu tượng động tác hình thành ở người học càng chính xác điều này giúp gây hứng thú và tiếp thu nhanh cho người học
Việc kết hợp chặc chẽ giữa giảng giải và làm mẫu sẽ tạo điều kiện cho người tập tri giác đầy đủ về động tác
Phương pháp tập luyện
Phương pháp tập luyện là phương pháp dùng các hình thức họat động trực tiếp của cơ thể để làm cho học sinh hiểu được kết cấu và quá trình động tác, trên cơ
sở ấy hình thành được kỹ năng thực hiện động tác và phát triển các tố chất thể lực
- Phương pháp lặp lại: là phương pháp tập luyện lặp lại nhiều lần một động
tác kỹ thuật nhất định Nó giúp cho người tập củng cố và định hình vững chắc các
kỹ năng vừa mới hình thành Nhờ quá trình tập luyện lặp đi lặp lại nhiều lần mà kỹ năng dần được hoàn thiện và chuyển hóa thành kỹ xảo có tính tự động cao
- Phương pháp thay đổi nội dung: trong thực tế giảng dạy môn thể dục, khi
giảng dạy những động tác có kết cấu kỹ thuật khó hoặc do năng lực vận động của người học kém, giáo viên có thể thay đổi kết cấu, giảm bớt độ khó theo yêu cầu của động tác, bổ sung các bài tập bổ trợ, thay đổi môi trường tâp luyện… để tạo điều kiện thuận lợi cho người học tiếp thu và thực hiện tốt các động tác kỹ thuật Khi vận
Trang 39dụng phương pháp này, người giáo viên phải xác định rõ mục đích, nhiệm vụ của buổi học mà thay đổi nội dung tập luyện cho phù hợp
- Phương pháp hoàn chỉnh và phân đoạn: giảng dạy theo phương pháp hoàn
chỉnh là cho người tập làm toàn bộ động tác từ đầu, không phân thành các giai đoạn hoặc từng khâu riêng biệt của động tác Phương pháp này phù hợp khi dạy những động tác có kết cấu đơn giản, thực hiện liên tục và có tính nhịp điệu cao Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng phương pháp này sẽ làm cho người học không nắm vững chi tiết của kỹ thuật, làm hạn chế kết quả của viêc tập luyện nâng cao sau này
Giảng dạy theo phương pháp phân đoạn là phương pháp chia kỹ thuật động tác ra thành các giai đoạn, bộ phận khác nhau rồi tiến hành giảng dạy từng giai đoạn, bộ phận theo một trình tự nhất định Phương pháp này phù hợp khi giảng dạy những động tác khó có kết cấu phức tạp Khi sử dụng phương pháp phân đoạn cần giải thích rõ mối quan hệ của những động tác đơn lẻ trong động tác hoàn chỉnh để người học nắm được động tác một cách liên tục, trọn vẹn Tuy nhiên nếu chỉ tập nhiều động tác đơn lẻ sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành động tác Cần chuyển sang tập động tác hoàn chỉnh khi người học đã thực hiện được động tác đơn
lẻ ở mức độ nhất định
Phương pháp giảng dạy hoàn chỉnh và phân đoạn có sự tương quan mật thiết
và hỗ trợ lẫn nhau Tùy theo kết cấu của động tác hoặc trình độ tập luyện của người tập mà vận dụng một cách linh hoạt
- Phương pháp trò chơi và thi đấu: trò chơi được xem là một phương tiện
giảng dạy có hiệụ quả trong giờ học giáo dục thể chất Việc sử dụng trò chơi để tập luyện sẽ tạo nên sự hứng thú, sôi nổi, tinh thần hăng say tích cực tập luyện của người học Người dạy có thể sử dụng trò chơi trong tất cả các phần của buổi học: gây hưng phấn cho người học ở đầu giờ, phá vỡ sự nhàm chán, căng thẳng trong giữa buổi, thả lỏng hồi phục lúc cuối giờ Tùy vào nhiệm vụ, nội dung bài học mà giáo viên chọn lựa trò chơi cho phù hợp
Thi đấu là hình thức tập luyên hứng thú và sinh động trong giờ học giáo dục thể chất Giáo viên nên tổ chức các buổi thi đấu khi người học đã nắm được kiến thức và kỹ năng thực hiện động tác Thông qua thi đấu, giáo viên có thể đánh giá
Trang 40được trình độ kỹ thuật của người học và qua đó có những bài tập, biện pháp điều chỉnh phù hợp
* Phương pháp sửa chữa động tác sai
Trong quá trình tập luyện, nhất là khi tập với những kỹ thuật mới, người học
có thể mắc lỗi khi thực hiện động tác Người giáo viên phải chú ý ngăn ngừa, phát hiện những sai lầm và có biện pháp sửa chữa kịp thời giúp người học nắm được kỹ thuật chính xác, nâng cao chất lượng giảng dạy
Điều quan trọng trong việc sửa chữa động tác sai cho người học là giáo viên cần phát hiện kịp thời việc sai sót trong thực hiện động tác và có biện pháp sửa chữa ngay Để làm được việc này, người giáo viên phải hiểu rõ những thông tin về người học: năng lực vận động, khả năng tiếp thu, đặc điểm tâm lý… Nhờ vào những thông tin cụ thể trên, người dạy có thể dự báo trước những sai lầm thường mắc của người học, giúp người giáo viên phát hiện kịp thời những sai lầm và có biện pháp sửa chữa đúng đắn
Trong quá trình sửa chữa động tác sai, giáo viên nên ưu tiên sửa chữa những động tác sai chủ yếu phổ biến nhất sau đó mới đi sâu vào sửa chữa những động tác sai cá biệt của từng em Muốn phát hiện kịp thời nguyên nhân sai sót và có biện pháp sửa chữa phù hợp, người giáo viên phải không ngừng học hỏi nâng cao trình
độ nghiệp vụ chuyên môn
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực hiện sai kỹ thuật động tác:
- Khả năng tiếp thu và năng lực vận động của người học còn hạn chế;
- Nội dung, chương trình giảng dạy chưa phù hợp;
- Tổ chức và phương pháp giảng dạy chưa hợp lý;
- Tinh thần thái độ người học chưa đúng mực
Các phương pháp sửa chữa động tác sai thường dùng:
- Giảng giải và làm mẫu lại kỹ thuật động tác để người học nắm vững yếu lĩnh kỹ thuật;
- Cho tập những bài tập bổ trợ để sửa chữa kỹ thuật động tác;
- Sử dụng các tín hiệu (còi, vỗ tay, tiếng đếm…) tạo cho người học có cảm giác không gian, thời gian, tốc độ động tác và vị trí cơ thể khi thực hiện động tác;