1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay. Những thách thức đặt ra và giải pháp khắc phục

29 409 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 185 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi tiêu công là một trong các công cụ quan trọng nhất của chính phủ, sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới (từ năm 1986), Việt Nam đang ở giai đoạn đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển đó cũng đòi hỏi Nhà Nước cần phải đổi mới chính sách chi tiêu công để phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội có hiệu quả. Chi tiêu công gắn liền với các chức năng quản lý của nhà nước và có liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt ra trong bối cảnh nguồn lực của mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phải làm như thế nào để thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết gắn liền với các mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước là điều cấp bách hiện nay.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chi tiêu công là một trong các công cụ quan trọng nhất của chính phủ, sauhơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới (từ năm 1986), Việt Nam đang ở giaiđoạn đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Sự phát triển đó cũng đòi hỏi Nhà Nước cần phải đổi mớichính sách chi tiêu công để phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội có hiệu quả.Chi tiêu công gắn liền với các chức năng quản lý của nhà nước và có liên quan đếnnhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt

ra trong bối cảnh nguồn lực của mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phảilàm như thế nào để thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết gắn liền với các mụctiêu quản lý kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước là điều cấp bách hiện nay

Chi tiêu công là một trong các công cụ quan trọng nhất của chính phủ đểthúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đấu tranh giảm nghèo Bản chất của chi tiêu công

là nhằm khắc phục các thất bại thị trường Ngoài ra, Chi tiêu công còn là công cụ

để Chính phủ phân phối lại thu nhập, tạo công bằng xã hội Thông qua chi tiêucông, Chính phủ cũng có thể khuyến khích phát triển những hàng hóa và dịch vụkhuyến dụng hoặc kìm hãm, nghiêm cấm phát triển hàng hóa mà xã hội khôngmong muốn Trong thời gian qua, việc quản lý chi tiêu công ở Việt Nam đã đạtđược một số các thành tựu đáng kể Các xu thế ngân sách phát triển theo hướngtích cực, cả về thu và chi, đảm bảo cân đối một cách khá vững chắc Tuy nhiên,hiện tại việc quản lý chi tiêu của Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém Quy trìnhphân bổ nguồn lực tài chính Nhà nước còn thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong khuôn khổ kinh tếvĩ mô được dự báo, còn có nhiều khiếm khuyết trong hệ thống thông tin quản lýchi tiêu công Điều đó cho thấy việc phân tích nghiêm túc thực trạng trong quản lýchi tiêu công ở Việt Nam, làm rõ các vấn đề và nguyên nhân khiến cho hiệu quả

Trang 2

chi tiêu công còn nhiều hạn chế, để từ đó chỉ ra những giải pháp cải thiện tình hình

là một đòi hỏi thực tiễn bức xúc Do đó, em chọn đề tài “Quản lý chi tiêu công ởViệt Nam hiện nay Những thách thức đặt ra và giải pháp khắc phục”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý chi tiêu công ở Việt Nam trongthời gian gần đây

Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Trong phạm vi khuôn khổ của đề tài, tiểu luận phân tích hoạtđộng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam dưới góc độ Kinh tế chính trị, không đi sâunghiên cứu các vấn đề cụ thể, mang tính nghiệp vụ

- Về mặt thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản

lý chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay

- Về không gian: Khái quát chung về quản lý chi tiêu công và thực trạng chitiêu công ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam,

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công

Nhiệm vụ của bài tiểu luận: từ mục đích tổng quát trên, các nhiệm vụ cụ thểđược xác định là:

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về chi tiêu công và quản lý chitiêu công

- Phân tích, đánh giá về thực trạng của quản lý chi tiêu công của Việt Nam,những yếu kém, bất cập và nguyên nhân của chúng

- Xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp có tính khảthi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công ở Việt Nam

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp

5 Kết cấu của Tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm

3 phần:

Phần 1: Cơ sở lý luận về chi tiêu công và quản lý chi tiêu công

Phần 2: Thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam và những thách thứcđặt ra

Phần 3: Những giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêucông ở việt nam hiện nay

Trang 4

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG

1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chi tiêu công

1.1 Khái niệm

Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản

lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ của Chính phủ.Ngoài các khoản chi của các quỹ ngân sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện cáckhoản chi của Chính phủ được Quốc hội thông qua Chi tiêu công phản ánh giá trịcác hàng hoá mà Chính phủ mua vào để đó cung cấp các loại hàng hoá công cho xãhội nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước

1.2 Đặc điểm của chi tiêu công

Chi tiêu công phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng haycác quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế xã hộicủa Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, Nhà nướccung cấp một lượng hàng hoá khổng lồ cho nền kinh tế

Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh

tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện Các khoản chi tiêu công do chínhquyền Nhà nước các cấp đảm nhiệm theo các nội dung đã được quy định trongphân cấp quản lý ngân sách Nhà nước và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo chocác cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển kinh tế - xã hội Cáccấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nộidung, mức độ của các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụkinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Chi tiêu công mang tính chất công cộng, tương ứng với những đơn đặt hàngcủa Chính phủ về mua hàng hoá, dịch vụ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa Nhà nước Đó cũng là những khoản chi cần thiết và phát sinh tương đối ổn

Trang 5

định như chi lương cho đội ngũ cán bộ, công chức, chi hàng hoá, dịch vụ công đápứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của dân cư…

Chi tiêu công mang tính chất không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp vàthể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địachỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới hình thức các khoản chi tiêu công

1.3 Vai trò của chi tiêu công đối với nền kinh tế

a Vai trò phân bổ nguồn lực:

Một trong những vai trò quan trọng của chính phủ là can thiệp vào nền kinh

tế thị trường để khắc phục những khuyết tật của thị trường như độc quyền, hànghóa công cộng, ngoại ứng hay thông tin không đối xững, tất nhiên cũng cần phảithấy sự can thiệp của chính phủ vào phân bổ nguồn lực không phải là chìa khóavạn năng để giải quyết mọi vấn đề Bởi lẽ chính phủ cũng có những hạn chế củamình và mọi chính sách can thiệp của chính phủ đều kèm theo chi phí nhất định

Vì thế, nguyên tắc biên đã chỉ ra một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của chính sáchcan thiệp chính phủ, đó là các chính sách đó phải mang lại cho xã hội những lợi íchlớn hơn những chi phí phát sinh mà xã hội gánh chịu

b Vai trò phân phối lại thu nhập:

Đây là một mục tiêu quan trọng đứng sau nhiều chính sách của chính phủ.Chính phủ có thể thực hiện mục tiêu này bằng cách thức trực tiếp thường dùngnhất là đánh thuế lũy tiến và chi trợ cấp bằng tiền cho các đối tượng cần thiết, việcchính phủ cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở và các dịch vụ xã hội kháccũng là những trọng tâm của các chính sách phân phối lại Ngoài ra, các hoạt độngđiều tiết như bảo vệ người tiêu dùng, chống độc quyền, đảm bảo an toàn lao động,

vệ sinh thực phẩm… cũng mang hàm ý phân phối lại Tuy nhiên, đứng sau mỗimức độ phân phối lại đó đều chưa thực sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng, vì

Trang 6

nó có lien quan đến những chi phí nhất định để đảm bảo hoạt động phân phối lạimang tính hiệu quả cao

c Vai trò ổn định hóa nền kinh tế:

Các chính sách chi tiêu công giữ vai trò thiết yếu trong việc đạt được cácmục tiêu kinh tế vĩ mô như cải thiện cán cân thanh toán, nâng cao tốc độ tăngtrưởng dài hạn của nền kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ổn định thúc đẩytăng trưởng nền kinh tế bao gồm các chính sách chìa khóa (thuế và chi tiêu củachính phủ) và chính sách tiền tệ (mức cung tiền, lãi suất, tín dụng) Bằng việc sửdụng một cách cẩn thận 2 công cụ chính sách này, chính phủ có thế tác động tớitổng chi tiêu của xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản lượng, tỷ lệ người laođộng có việc làm, mức giá cũng như tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế

2 Cơ cấu chi tiêu công và các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu công

2.1 Cơ cấu chi tiêu công

Cách phân loại này được thực hiện dựa trên việc xem xét các khoản chi tiêucông có thực sự đòi hỏi tiêu hao nguôn lực của kinh tế quốc dân hay không, theo

đó chi tiêu công được chia thành chi mua sắm hàng hóa dịch vụ, dịch vụ và chichuyển nhượng

Phân loại theo tính chất:

- Chi mua sắm hang hóa dịch vụ: là những khoản chi tiêu đòi hỏi các nguồnlực kinh tế Việc khu vực công sử dụng những nguồn lực này sẽ loại bỏ việc sửdụng chúng vào các khu vực khác Vì thế, với một tổng nguồn lực có hạn của kinh

tế, vấn đề đặt ra là cần phải cân nhắc chi tiêu vào đâu sẽ có hiệu quả nhất

- Chi phí chuyển giao: (chi lương hưu, trợ cấp, phúc lợi xã hội): nhữngkhoản chi tiêu này không thể hiện yêu cầu của khu vực công cộng đối với nguồnlực thực của xã hội, vì chúng đơn thuần chỉ là sự chuyển giao từ người này sang

Trang 7

người khác thông qua khâu trung gian là khu vực công Tuy nhiên nói như vậykhông có nghĩa là chi chuyển giao không gây tổn thất gì cho xã hội.

Phân loại theo chức năng:

Các phân loại này thương được sử dụng trong đánh giá phân bổ nguồn lựccủa Chính phủ nhằm thực hiện hoạt động và mục tiêu khác nhau của chính phủ.Theo cách phân loại này, chi tiêu công bao gồm:

- Chi thường xuyên: Đây là nhóm chi phát sinh thường xuyên cần thiết chohoạt động của các đơn vị khu vực công Chi thường xuyên bao gồm chi lương, chinghiệp vụ, chi quản lý các hoạt động

- Chi đầu tư phát triển: Đây là nhóm chỉ gắn liền với các chức năng pháttriển kinh tế của nhà nước chi đầu tư phát triển gồm có chi xây dựng cơ sở hạtầng; đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt của nềnkinh tế có sự quản lý và điểu tiết từ nhà nước, chỉ hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tàichính của nhà nước; chi dự trự quốc gia

Phân loại theo quy trình lập ngân sách, gồm có:

- Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: Nhà nước xác lập mức kinh phí chocác khoản chi tiêu công dựa trên danh sách liệt kê các khoản mua sắm nhữngphương tiện cần thiết cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị Thông thường chocác khoản mục cơ bản sau: chi mua tài sản cố định, chi mua tài sản lưu động, chitiền lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác

- Chi tiêu công theo đầu ra: Kinh phí phân bổ cho một đơn vị cơ quan,không căn cứ vào các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra vàkết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng chi tiêu công

Tỷ trọng chi tiêu công trong GDP thường có xu hướng tăng dần theo từngnăm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này:

Trang 8

Thứ nhất là do sự mở rộng không ngừng vai trò của nhà nước: Khi xã hộingày càng phát triển, ngày càng công nghiệp hóa thì hệ thống các mối quan hệ xãhội, thương mại và pháp lý trong nền kinh tế càng trở nên nhiều và phức tạp hơn.Khi đó, chính phủ cần phải có vị thế mạnh hơn để thiết lập và vận hành tổ chứcgiải quyết những mối quan hệ đan xen đó, điều này tất yêu dẫn đến sự tăng nhanh

và mở rộng của chi tiêu công, đặc biệt trong lĩnh vực luật pháp và duy trì trật tựcho giao thông, liên lạc

Thứ hai là do thu nhập bình quân đầu người tăng: quá trình tăng trưởng GDPtrên đầu người cũng chính là quá trình phát triển của nền kinh tế từ độ thấp lên cao.Hiển nhiên trong quá trình đó, đầu ra của các hàng hoá công cộng cũng khôngngừng tăng theo, số liệu thống kê cho thấy, mức chi tiêu của hàng hóa công cộngkhông chỉ tăng về số tuyệt đối mà còn cả tỷ trọng trong GDP

Thứ ba do thay đồi công nghệ: Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng lớn đến tỷtrọng chi tiêu cho hàng hóa công cộng, thể hiển qua việc làm thay đổi quy trình sảnxuất và các sản phẩm được tạo ra, sự tác động đó có thể theo chiều hướng làm tănghoặc giảm tầm quan trọng tương đối của các loại hàng hóa công cộng, do đó cũnglàm chi tiêu công cộng thay đổi theo

Thứ tư là thay đổi dân số: Đây cũng là một yếu tố quan trọng quyết định sựthay đổi tỷ trọng chi tiêu công cộng Dân số tăng sẽ ảnh hướng đến các khoản chitiêu cho giáo dục, y tế Tương tự hiện tượng “Lão hóa dân số” cũng khiến chínhphủ phải tăng thêm các khoản chi cho y tế và phúc lợi xã hội, đó là các chi phí phátsinh khác do việc thiếu hụt lực lượng lao động gây ra

Thứ năm là quá trình đô thị hóa: Quá trình đô thị hóa sẽ làm nảy sinh nhiềunhu cầu mới vốn không có ở các vùng nông thôn Đại bộ phận những nhu cầu phátsinh thêm đó là các hàng hóa và dịch vụ công cộng như đường xá, cầu cống, khuvui chơi, giải trí, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục… vì thế, chi tiêu công cũng

sẽ tăng

Trang 9

PHẦN II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI TIÊU CÔNG Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐẶT RA

1 Thực trạng quản lý chi tiêu công ở Việt Nam hiện nay

Xét về góc độ chi ngân sách, có một số tiền không nhỏ đã bị lãng phí, thấtthoát thông qua việc đầu tư công, thông qua việc chi tiêu của các cơ quan nhànước, thông qua việc làm ăn kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước Nhữngkết quả kiểm toán, thanh tra với số tiền bị lãng phí, thất thoát lớn mới được công

bố và được đưa lên mặt báo hằng ngày là điều không thể coi thường Đầu tư, chitiêu kém hiệu quả góp phần làm bội chi ngân sách, làm tăng nợ nần của Chính phủ

và tạo sức ép lạm phát Nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, Chínhphủ buộc phải thực hiện các biện pháp quyết liệt nhằm cắt giảm chi đầu tư công,giảm chi thường xuyên để kiềm chế lạm phát Thế nhưng, nếu đi sâu vào phân tíchvấn đề, ngoài những nguyên nhân khách quan, lãng phí, bội chi ngân sách kéo dài,còn do hệ lụy từ những tồn tại trong thu chi ngân sách

- Quản lý chi tiêu công ở việt nam kém năng động:

Chi tiêu công ở Việt Nam được quản trị theo phong cách truyền thống, rấtchính tắc nhưng ít năng động và khá hình thức Cách làm này đang trở nên lỗi thời,trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới với cảquyền lợi lẫn nghĩa vụ đầy đủ của một thành viên; do đó cần phải được đổi mới.Quản trị chi tiêu công ở Việt Nam trong thời gian qua đã bộc lộ những tồn tại yếukém rất cơ bản, xét theo những tiêu chí quản trị khu vực công hiện đại, phổ biếntrên thế giới như tính công khai minh bạch chưa cao, trách nhiệm giải trình còn hạnchế, hiệu quả kinh tế - xã hội chưa đạt như mong muốn và đặc biệt chưa có sựtham gia đáng kể của người chủ đích thực của đồng tiền ngân sách là nhân dân.Cách phân bổ vốn đầu tư ngân sách thời gian qua còn theo kiểu bao cấp - chia đều,vẫn mang khá nặng dấu ấn của cơ chế xin cho, việc chi tiêu ngân sách chưa thực sựgắn chặt với trách nhiệm đến cùng; chỉ chịu sự ràng buộc của những hình thức chếtài có hiệu lực không cao, kèm theo đó là năng lực bộ máy còn yếu

Trang 10

Đó chính là căn nguyên của tình trạng “có vấn đề” của hoạt động ngân sáchNhà nước: như tình trạng tăng trưởng nóng, đầu tư cao nhưng kém hiệu quả, dẫntới lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô vài năm gần đây đi liền với xu hướng giatăng đầu tư dàn trải, trầm trọng hơn tình trạng lãnh phí, thất thoát, tham nhũng…chứng tỏ hiệu quả thấp của hoạt động thu chi ngân sách và nhiều vấn đề gay gắtđang tồn tại trong lĩnh vực này Thực tế cũng chứng tỏ căn bệnh nói trên đang khánghiêm trọng và có nguồn gốc cơ chế kinh tế, nằm trong chính sự không phù hợpcủa Luật Ngân sách Nhà nước với các điều kiện, yêu cầu của nền kinh tế sau hơn

20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế thành công

- Kém hiệu quả trong phân bổ:

Mặc dù, đã có nhiều cải thiện, quản lý chi tiêu của Việt nam đã bộc lộ nhiềuyếu điểm, cụ thể như sau:

Lập ngân sách ngắn hạn, chủ yếu ngân sách hàng năm, do đó không đượcđánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triểnkinh tế xã hội hàng năm

Thiếu vắng hệ thống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chitiêu Phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là khôngkhuyến khích đơn vị chi tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng buộchợp lý, chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở đầu ra do sửdụng ngân sách đó Lập ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra những ưu tiêntrong phân bổ bị lệch lạc, méo mó Nguồn lực của xã hội được đầu tư vào những

dự án, mang lại lợi ích xã hội rất thấp, trong khi ngân sách thiếu nguồn lực chonhững nhu cầu thiết thực như: y tế, văn hóa, giáo dục

Tạo ra những quy định đặc biệt, hình thành những quỹ tiền tệ riêng biệt tách

ra khỏi ngân sách để thực hiện những chương trình có tính ưu tiên Từ đó giảm đirất nhiều vai trò của ngân sách và vi phạm những nguyên tắc thống nhất trong quản

lý ngân sách

Trang 11

- Tính kém hiệu quả hoạt động:

Cho đến nay, ở Việt Nam chưa đạt được nhiều tiến bộ trong việc cải cáchhành chính công, tinh giảm biên chế trong khu vực công Hiệu suất trong khu vựccông giảm, công chức không thực sự cố gắng, trình độ và năng suất không cảithiện, thêm vào đó điều kiện làm việc nghèo nàn làm suy yếu hiệu quả hoạt động

Nguồn lực hiện hữu của ngân sách chưa đáp ứng đủ cho hoạt động công,thậm chí ngay sau khi ngân sách đã được phê chuẩn Người quản lý luôn bị động,không nắm chắc nguồn lực để chủ động cân đối cho nhu cầu trong ngắn hạn lẫn dàihạn Về mặt pháp luật, kiểm soát ngân sách được thiết lập theo hướng tập trung cao

độ với nhiều quy định rất chi tiết về mua sắm tài sản, định mức chi tiêu… Thếnhưng trên thực tế, sự kiểm soát chính thức không được thực hiện có hiệu quả, dothiếu thông tin về tổ chức quản lý Cách thức quản lý không chính thức tồn tại songsong cùng với những quy định chính thức Chẳng hạn, sự tuyển chọn cán bộ côngchức, chi tiêu mua sắm…mặc dù luật pháp quy định rất chặt chẽ nhưng trên thực tếdường như lại được thực hiện theo những quy định không chính thức Một khinhững quy định chính thức không được thực hiện thì tham nhũng có xu hướng giatăng, gây phương hại đến nguồn lực tài chính quốc gia

- Thiếu mối liên kết chặt chẽ:

Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước thiếu mối liên kết chặt chẽgiữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn với nguồn lực trong một khuônkhổ kinh tế vĩ mô được dự báo Nói cách khác, nguồn tài trợ cho những kế hoạchnói trên không được quan tâm đúng mức dẫn đến sự hụt hẫng về tài chính nênnhiều công trình phải chờ kinh phí hoặc bỏ dở Thêm vào đó, kinh phí đầu tư dàntrải cho nhiều dự án khiến những ưu tiên của Chính phủ không được tài trợ tươngxứng với tầm quan trọng của chúng

Trong quá trình lập ngân sách, kiểm soát các yếu tố đầu vào được coi trọnghơn là sự cải thiện kết quả hoạt động của ngành thông qua thực thi các mục tiêu và

Trang 12

nhiệm vụ của ngành Các thông số về đầu ra cũng như về kết quả thường ít đượcquan tâm, nên ngân sách thiếu thực tế dễ bị điều chỉnh và có thể tạo ra một kết quảngoại ý Ngân sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc vừakhông dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán Ngân sáchchi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng

rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công

- Về phương thức cấp phát các khoản chi tiêu công:

Hiện nay, nhà nước thực hiện cấp phát kinh phí và vốn từ ngân sách nhànước theo 2 phương thức chủ yếu đó là hạn mức kinh phí và lệnh chi tiền

Phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí đã bám sát dự toán chi ngânsách nhà nước được duyệt cả về tổng số cũng như cơ cấu các mục chi; tạo điềukiện thuận lợi cho Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong việc kiểm soát chi

Phương thức cấp phát theo lệnh chi tiền chỉ áp dụng đối với các khoản chiđột xuất, không kế hoạch hóa được hoặc áp dụng đối với những đơn vị ít có quan

hệ với ngân sách nhà nước, song trong cả một thời gian khá dài, hình thức cấp phátnày được áp dụng cho hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản và các chươngtrình mục tiêu

Cả hai phương thức cấp phát nói trên, được cơ quan tài chính sử dụng đểkiểm soát và chủ động điều hòa ngân sách nhà nước Tuy nhiên, hiện nay với xuhướng phân công nhiệm vụ rõ ràng, chuẩn hóa quy trình ngân sách, điều hành ngânsách theo luật; đặc biệt trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế và khu vực ở lĩnhvực tài chính công, để thích ứng với những chuẩn mực quản lý ngân sách nhà nướccủa các nước thì việc áp dụng các hình thức cấp phát trên cần nghiên cứu và sửađổi lại cho phù hợp

- Có nhiều khiếm khuyết trong hệ thống thông tin quản lý chi tiêu công:

Trang 13

Những chuẩn mực kế toán công chưa được quan tâm đúng mức và do vậydẫn đến tình trạng không thể thống nhất và so sánh đánh giá sự phân bổ và sử dụngnguồn lực tài chính nhà nước Hiện tại, ít nhất có 3 hệ thống kế toán đang tồn tạibên trong Chính phủ, đó là: kế toán ngân sách nhà nước, kế toán kho bạc nhà nước,

kế toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Cơ quan tài chính hạch toán chi ngânsách nhà nước theo chế độ hạch toán riêng dựa trên nguyên tắc ghi sổ đơn và mangđậm tính chất thống kê với tiêu thức lũy kế theo mục lục ngân sách nhà nước Khobạc nhà nước hạch toán kế toán chi ngân sách nhà nước theo nguyên tắc ghi sổ kép,

có theo dõi chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước do Bộ tài chính ban hành Cácđơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện kế toán theo chế độ kế toán đơn vị hànhchính sự nghiệp và cũng theo dõi các khoản chi tiêu của mình theo mục lục ngânsách nhà nước Ba chế độ hạch toán kế toán do ba đầu mối thực hiện, đương nhiênkhó mà có sự tương đồng, đặc biệt trong điều kiện các chuẩn mực về kế toán chitiêu công chưa được nghiên cứu thấu đáo và áp dụng Đây là một trong những tồntại gây cản trở cho công tác quản lý và điều hành chi ngân sách nhà nước và ápdụng công nghệ thông tin

- Chi thiếu căn cứ, sai mục tiêu:

Tồn tại nổi lên trong công tác lập và giao dự toán chi ngân sách cho các dự

án đầu tư phát triển thời gian qua là chi thiếu căn cứ, bố trí vốn không đúng vớiquy định của Luật Ngân sách Nhà nước việc phân bổ vốn cho các chương trìnhmục tiêu quốc gia của các bộ ngành, địa phương còn nhiều tồn tại, trong đó chủyếu là tình trạng phân bổ sai nội dung, mục tiêu, đối tượng hưởng thụ việc phân

bổ dự toán tại một số bộ ngành, địa phương vẫn còn diễn ra tình trạng bình quânchủ nghĩa, dẫn tới tình trạng phân bổ dàn trải, chia nhỏ kinh phí cho các dự án Cũng trong công tác phân bổ ngân sách, phân khai, giao kinh phí và nhiệm vụ cònchậm, lập và phân bổ dự toán không sát với thực tế dẫn đến điều chỉnh, bổ sungnhiều lần hoặc không thực hiện được dự án như đã đề ra

Trang 14

- Đầu tư dàn trải, lãng phí

Do khâu khảo sát, nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư của dự án còn rất hạnchế, nên nhiều dự án đã qua bước nghiên cứu khả thi phải dừng lại, gây lãng phílớn cho nguồn vốn ngân sách Nhà nước

- Vay, tạm ứng không đúng quy định:

Hiện tượng này theo nhận định là còn khá phổ biến, nhất là những khoảncho tạm ứng dây dưa nhiều năm, chậm được xử lý trong khi ngân sách của các địaphương còn phải đi vay và nhận bổ sung từ ngân sách Trung ương, dẫn đến việc sửdụng ngân sách kém hiệu quả Các vấn đề này đơn cử vụ sai phạm nghiêm trọng đãđẩy Vinashin tới bờ vực phá sản gây chấn động dư luận trong nước trong năm vừaqua Vinashin đối mặt với nguy cơ phá sản; Theo đánh giá của Chính phủ, cùngvới các nền kinh tế thế giới và trong nước, Tập đoàn Vinashin chịu tác động hếtsức nặng nề, đặc biệt về thị trường và nguồn vốn của cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu Ngân hàng thắt chặt cho vay, các dự án đầu tư đang triển khai thiếu vốnkhông hoàn thành được để đưa vào sản xuất Ngành vận tải viễn dương bị đìnhđốn, các chủ tàu đã hủy hợp đồng và các thỏa thuận đóng tàu trị giá hơn 8 tỷ USD.Mặt khác, Chính phủ cho rằng, do công tác dự báo còn nhiều bất cập nên việc lập

kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư không chính xác Các

dự án đầu tư quá nhiều, dàn trải, vượt khả năng cân đối tài chính, hầu hết các dự ánđầu tư đều triển khai dở dang Đặc biệt, để giải quyết khó khăn nêu trên, Tậpđoàn Vinashin đã phải vay nợ mới để trả nợ cũ, vay ngắn hạn trả dài hạn, thậm chílấy vốn lưu động để chi đầu tư Kết quả là từ năm 2009 Tập đoàn Vinashin kinhdoanh thua lỗ Đến tháng 6 năm 2010, tổng tài sản của Tập đoàn Vinashin khoảng104.000 tỷ đồng nhưng tổng số nợ là 86 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ thấp lại sử dụngvốn dàn trải nên tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu gần 1 lần, rơi vào tình trạng mấtcân đối tài chính nghiêm trọng, đứng trước nguy cơ phá sản, sản xuất đình đốn,

Ngày đăng: 15/01/2018, 10:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w