Bản thân đã hết sức cố gắng, song luận văn còn nhiều thiếu sót, kính mong được sự tham gia góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn và có tác dụng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN HUY
TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN HUY
TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH ĐỨC HỢI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Trần Văn Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng”, đến nay đề tài đã được hoàn thành Tác giả
xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học, quý Thầy (Cô) giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục, phòng Đào tạo trường ĐHSP - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Đinh Đức Hợi Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn này
Đồng thời, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên các phòng, ban Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Ngô Quyền, các đồng nghiệp, các bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
Bản thân đã hết sức cố gắng, song luận văn còn nhiều thiếu sót, kính mong được sự tham gia góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn và có tác dụng thiết thực nâng cao hiệu quả quản lý dạy nghề phổ thông góp phần đẩy mạnh hoạt động dạy nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng trong thời gian tới
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả Trần Văn Huy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 3
3 Giả thuyết khoa học 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GDNN - GDTX 7
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu về quản hoạt động DNPT 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông 13
1.2.1 Hướng nghiệp 13
1.2.2 Dạy nghề 15
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX 18
1.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX 25
Trang 61.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Trung tâm GDNN - GDTX 25
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX 25
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GDNN - GDTX QUẬN NGÔ QUYỀN 35
2.1 Vài nét về kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 35
2.2 Một số nét về trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 36
2.3 Thực trạng hoạt động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 37
2.3.1 Đội ngũ CBQL của trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 37
2.3.2 Thực trạng mục tiêu dạy nghề phổ thông 39
2.3.3.Thực trạng nội dung chương trình dạy nghề phổ thông 45
2.3.4 Thực trạng về cơ sở vật chất, thiết bị DNPT 45
2.3.5.Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy nghề phổ thông 47
2.4.Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 49
2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu DNPT 52
2.4.2.Thực trạng quản lý nội dung chương trình DNPT 59
2.4.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị DNPT 63
2.4.4 Thực trạng công tác quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động DNPT 65
2.5 Đánh giá chung thực trạng lý hoạt động dạy nghề phổ tại trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 68
2.5.1.Ưu điểm 68
2.5.2 Hạn chế 68
2.5.3.Nguyên nhân của thực trạng 69
Trang 7TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN NGÔ QUYỀN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 73
3.1.Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 73
3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74
3.1.3.Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 74
3.1.4.Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 74
3.2.Các biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền - thành phố Hải Phòng 75
3.2.1.Nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của hoạt động dạy nghề phổ thông cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và dư luận xã hội 75
3.2.2 Bồi dưỡng năng lực quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho độ ngũ cán bộ quản lý trung tâm GDNN - GDTX 77
3.2.3.Xây dựng cơ chế phối hợp giữa trung tâm với các trường phổ thông 79
3.2.4 Giải quyết mối quan hệ giữa dạy nghề phổ thông với hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 82
3.2.5.Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề phổ thông 84
3.2.6 Tăng cường quản lý việc thực hiện nội dung chương trình dạy nghề phổ thông 86
3.2.7 Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy nghề phổ thông 88
3.2.8.Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, các nguồn lực để nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề phổ thông 89
3.3 Mối quan hệ của các biện pháp 92
3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
Trang 83.4.1 Tính cần thiết 94
3.4.2 Tính khả thi 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
1.1 Lý luận 100
1.2 Thực trạng 101
1.3 Đề xuất các biện pháp 101
2 Khuyến nghị 102
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 102
2.2 Đối với Sở Giáo dục & Đào tạo Hải Phòng và UBND quận Ngô Quyền 102
2.3 Đối với Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 108
Trang 96 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
7 GDNN- GDTX Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên
8 HNDN Hướng nghiệp dạy nghề
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ban giám đốc 37
Bảng 2.2: Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn 38
Bảng 2.3: Số lượng học sinh học nghề phổ thông tại trung tâmvà toàn thành
phố qua các năm 39
Bảng 2.4: Quy mô dạy nghề tại trung tâm năm học 2016 - 2017 41
Bảng 2.5: Cơ cấu giáo viên 41
Bảng 2.6: Đánh giá chất lượng DNPT tại trung tâm năm học 2016 -
2017 44
Bảng 2.7: Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động DNPT tại trung tâm
GDNN - GDTX quận Ngô Quyền 48
Bảng 2.8: Nhận thức của CBQL về sự cần thiết và đánh giá của giáo viên
về mức độ thực hiện các biện pháp quản lý DNPT 50
Bảng 2.9: Đánh giá thực trạng quản lí hoạt động lập kế hoạch 52
Bảng 2.10: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của GV
về mức độ thực hiện việc phân công chủ nhiệm và giảng dạy cho giáo viên 53
Bảng 2.11: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo
viên về mức độ thực hiện biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên DNPT 55
Bảng 2.12: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết, đánh giá của GV về
mức độ thực hiện biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh 56
Bảng 2.13: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo
viên về mức độ thực hiện biện pháp quản lý chất lượng DNPT 58
Bảng 2.14: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giá của giáo
Trang 11viên về mức độ thực hiện biện pháp quản lý chương trình DNPT 60
Bảng 2.15: Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giácủa giáo
viên về mức độ thực hiện biện pháp quản lý CSVC,thiết bị phục
vụ cho hoạt động dạy học 64
Bảng 2.16 Nhận thức của CBQL về mức độ cần thiết và đánh giácủa giáo
viên về mức độ thực hiện biện pháp quản lý kiểm tra,đánh giá kết quả học tập của học sinh 66 Bảng 3.1 Hợp đồng trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt động dạy nghề giữa
trung tâm GDNN - GDTX 80 Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 94 Bảng 3.3 Thăm dò tính khả thi của các biện pháp 97
Trang 12và đó cũng là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tuy nhiên,
sẽ là không đủ để con người sẵn sàng thích ứng và đảm nhận vai trò làm thay đổi trong đời sống xã hội Đất nước ta đang trên đường đổi mới, với sự chuyển dịch
đa dạng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng CNH - HĐH và chú trọng phát triển ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Vì khoa học - công nghệ là trí tuệ của con người được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục và đào tạo, nên ta đang đứng trước rất nhiều thời cơ và thách thức mới Nhận thấy rõ tầm quan trọng này, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực thông qua Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT), Đảng ta xác
định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [13]
Một trong những vấn đề tồn tại của giáo dục Việt Nam hiện nay, khiến toàn xã hội phải quan tâm đó là việc định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học sơ sở (THCS) và trung học phổ thông(THPT) Theo
số liệu thống kê hàng năm tính trung bình cả nước có khoảng 80% số học sinh THCS vào học THPT, riêng đối với thành phố Hải Phòng trong những năm học gần đây, mỗi năm có khoảng 18000 học sinh vào học lớp 10 và số học sinh tốt nghiệp THPT hầu hết đều đăng kí thi Đại học, Cao đẳng Vì vậy dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS và THPT có ý nghĩa rất to lớn, xét về mặt giáo dục đó
Trang 13là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của học sinh, của các em theo xu thế phân công lao động xã hội, góp phần vào việc cụ thể hoá các mục tiêu đào tạo của trường phổ thông
Để thực hiện tốt vấn đề này, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH đất nước, đồng thời tạo ra cơ hội canh tranh nguồn nhân lực trong nước, khu vực và trên thế giới, Bộ GD&ĐT ra chỉ thị số 33/ 2003/CT - BGDĐT ngày 23/7/2003 về việc tăng cường dạy nghề cho học sinh phổ thông, trong đó nêu rõ vai trò, vị trí của hoạt động giáo dục dạy nghề; nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện hoạt động giáo dục dạy nghề cho học sinh phổ thông [7]
Như vậy, vấn đề giáo dục dạy nghề có ý nghĩa hết sức quan trọng và được coi là một bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện, được khẳng định trong Luật giáo dục năm 2009
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng được thành lập theo Quyết định số 1017- QĐ/UBND, ngày 16/6/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng trên cơ sở sáp nhập giữa hai đơn vị là Trung tâm Dạy nghề quận Ngô Quyền và Trung tâm Giáo dục thường xuyên Ngô Quyền; Quyết định số 1992- QĐ/UBND ngày 15/9/2016của UBND thành phố Hải Phòng về việc bổ sung nhiệm vụ và đổi tên Trung tâm Dạy nghề quận Ngô Quyền và Trung tâm Giáo dục thường xuyên Ngô Quyền thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) quận Ngô Quyền.Là đơn vị mới được thành lập, còn non trẻ, lại ở vị trí một trong những quận trung tâm Thành phố, đối tượng tham gia học nghề phổ thông tại Trung tâm là học sinh Trung học cơ sở (THCS) của 4 trường THCS trên địa bàn quận nên việc quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông là một yêu cầu cấp thiết Mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định trong quá trình phát triển, nhưng chất lượng giảng dạy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập đó là: Cơ sở
Trang 14vật chất, trang thiết bị dạy nghề, điều kiện học tập chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới; phụ huynh học sinh chưa nhận thấy được vị trí vai trò, tác dụng của hoạt động Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) và DNPT, cho nên hiệu quả đạt được chưa cao;Việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cho hoạt động DNPT còn ít hiệu quả, chưa tập trung vào những hướng ưu tiên như việc tổ chức hoàn thiện nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện dạy nghề, thiếu thông tin nghề Việc học nghề phổ thông hiện nay chỉ được xem là một hình thức cộng điểm khuyến khích khi thi vào 10 và thi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT)
vì vậy chưa đáp ứng được mục tiêu giúp học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kỹ năng lao động nghề nghiệp, cũng như công tác phân luồng học sinh sau THCS và THPT
Với những lý do trên, việc tìm ra những biện pháp mang tính khả thi
và hiệu quả cao trong công tác quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông là một nhu cầu thiết yếu không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn cao đối với sự phát triển của Trung tâm trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên quận Ngô quyền - Thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp cho mình
2.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông (DNPT) đề xuất biện pháp quản lý hoạt động DNPT tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN - GDTX) quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
2.1 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Trang 152.1.2 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX
3 Giả thuyết khoa học
Vấn đề dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng hiện nay còn nhiều bất cập trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH - HĐH Nếu nghiên cứu và thực hiện thành công các biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông một cách khoa học,
có tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông tại Trung tâm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông (một
số khái niệm cốt lõi liên quan đến quản lý giáo dục dạy nghề)
- Đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng từ đó phân tích các nguyên nhân của thực trạng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 166.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Để có cơ sở lý luận làm chỉ dẫn cho quá trình nghiên cứu, tiến hành thu thập tài liệu, đọc tài liệu, từ đó phân tích tổng hợp vấn đề từ góc độ lý luận có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
Thiết kế các phiếu điều tra, đánh giá về quản lý hoạt động dạy học theo tiêu chí trên các mặt tư tưởng, đạo đức, kiến thức, kỹ năng Từ đó đi sâu phân tích đánh giá được thực trạng của việc quản lý hoạt động của Trung tâm trong
những năm qua cũng như trong thời gian tới
Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý của Giám đốc Trung tâm GDNN - GDTX về hoạt động DNPT của đội ngũ giáo viên
6.2.2 Phương pháp quan sát
Nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông Trung tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
6.2.3 Phương pháp chuyên gia
Thu thập lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực quản
lý hoạt động DNPT
6.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
Thông qua các báo cáo của Trung tâm, của ngành về lĩnh vực này trong
các năm để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm
6.3 Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu thập được thông qua khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông, làm cho kết quả nghiên cứu đảm bảo chính xác, khách quan
Để đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động DNPT tại trung tâm GDNN
- GDTX quận Ngô Quyền tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra, xin ý kiến đánh giá ở hai nhóm khách thể:
Trang 17+ Nhóm 1: Cán bộ quản lý
+ Nhóm 2: Giáo viên
- Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào hai vấn đề sau:
+ Nhận thức của cán bộ quản lý về mức độ cần thiết phải thực hiện các biện pháp quản lý DNPT
Với câu hỏi ở 3 mức độ, mỗi biện pháp trả lời “Rất cần thiết” được tính 3 điểm, “Cần thiết” được tính 2 điểm, “Không cần thiết” được 1 điểm
+ Đánh giá của giáo viên về mức độ thực hiện các biện pháp quản lý DNPT
Với câu hỏi ở 3 mức độ, mỗi biện pháp trả lời “Tốt” được tính 3 điểm;
“Khá” được tính 2 điểm; “Trung bình” được 1 điểm
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo: luận văn gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại
Trung tâm GDNN - GDTX
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung
tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung
tâm GDNN - GDTX quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
Trang 18Trên thực tế, khi khoa học - kĩ thuật phát triển, quy trình công nghệ thay đổi, đặc biệt là trong thời kì bùng nổ thông tin, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá như hiện nay, người lao động thường không có khả năng để thích ứng kịp thời Trong khi đó, số học sinh phổ thông khi rời ghế nhà trường với vốn kiến thức “văn hoá chay” không có cơ sở và khả năng hội nhập vào cuộc sống lao động - xã hội Xuất phát từ thực tiễn như vậy, trong xã hội có giai cấp, đã có các nhà tư tưởng và giáo dục học tiến bộ, đã đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với cuộc sống
Vào giữa thế kỉ 19, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải
giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp”nhằm sử dụng
hiệu quả lao động trẻ tuổi Đến năm 1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến
Trang 19thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo
sự liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữa vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp
Vấn đề dạy học lao động nghề nghiệp đã được nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kĩ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy và học của Cộng hoà liên bang Đức nghiên cứu Các công trình nghiên cứu
đó đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp, tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp,
ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ Qua đó cho thấy rằng hoạt động dạy học lao động - kĩ thuật - kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với những môn học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục trung học phổ thông bởi vì nó tạo điều kiện cho học sinh phổ thông phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống - xã hội
Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông ở cộng hòa liên bang Đức quán triệt quan điểm nguyên tắc hướng nghiệp, để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em Trẻ được phân loại ngay từ bậc Tiểu học, sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, trường phân loại học sinh thành hai loại: Loại học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm dạy nghề và loại học hết trung học (lớp 12) Đến đây lại phân loại lần nữa, chỉ cho những học sinh học khá lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trường đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề Trung cấp Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học, nhưng sẽ phúc tra đưa ra quyết định chính xác vào sau lớp 9 Tới lớp 10, ngay từ học kì 1, giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ sở hướng nghiệp, những trường dạy nghề của các công ty tư nhân và nhà nước để đưa học sinh đến tìm hiểu nghề
Trang 20nghiệp mình muốn học Những học sinh có nhu cầu hay năng lực học lên đại học buộc phải học lực khá, và từ khi lớp 11 được vào học tại trường phổ thông hệ học lên đại học Xu hướng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh
Vấn đề giáo dục hướng nghiệp (GDHN) và lập nghiệp ở các trường học
Úc không chỉ dạy lý thuyết đơn thuần, mà còn cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động, vừa có tri thức Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết tự ra được những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động
Các nước ASEAN: Đang tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông:
- Tại Malaysia: Một trong những chức năng chính của giáo dục bên cạnh việc góp phần phát triển nhân cách là xây dựng nguồn nhân lực Mục tiêu của khoá học phổ thông 9 năm (từ lớp 1 - lớp 9) là tạo điều kiện cho mỗi học sinh có
cơ hội bước vào ngưỡng của nghề nghiệp
- Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề Chính vì thế mà ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp, và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề Sang cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp - dạy nghề
- Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công Sang cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên
cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh, đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng
Trang 21nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp, tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, lao động chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất- kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới hoạt động GDHN
và dạy nghề phổ thông Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó còn chưa chú ý tới cách tổ chức, quản lý hoạt động GDHN và dạy nghề phổ thông
1.1.2 Ở Việt Nam
- Ở nước ta, trước hết phải kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, rất coi trọng và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp người lao động mới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; Lí luận đi với thực hành; Cần cù đi với tiết kiệm” [28, Tr 55]
- Nghị quyết TW2, khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cần
mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Văn
kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Tới Đại hội X, Đảng ta đã xác định đổi mới
toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ THCS
- Quyết định 126/CP ngày 27/4/1981 của Thủ tướng Chính phủ về công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và sử dụng học sinh các cấp THCS và THPT ra trường Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2001/QĐ - TTg ngày 28/12/2001
đã nêu rõ: “Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
Trang 22động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
- Trong những năm gần đây các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề DNPT và hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau
- Trong công trình khoa học của mình, tác giả Phạm Tất Dong đã điều tra:
“Trong những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên Trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề” [12, Tr
25] Trên cơ sở đó, tác giả đã xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, [12, Tr 19] đồng thời:
“Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây
sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản” [12, Tr 40]
- Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được
tác giả Hoàng Đức làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội” Học vấn phổ thông
và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá
ở mức phổ thông Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và dạy nghề phổ thông được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho
sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [21] Trong đó
tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp và DNPT trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất hướng nghiệp - dạy nghề, các lực lượng khác tham gia vào công tác GDHN và DNPT cho học sinh phổ thông
- Có thể nói rằng các công trình khoa học khác nhau về lĩnh vực GDHN
và DNPT ở trong nước và ngoài nước đều quan tâm đến hoạt động dạy học lao
Trang 23động, chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông dưới các hình thức và cách gọi khác nhau, mà thực chất của vấn đề là quan tâm tới hoạt động DNPT và hoạt động GDHN, nhằm chuẩn bị cho đa phần học sinh trung học, sau khi tốt nghiệp
dễ dàng hoà nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
- Định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo được Đảng, Nhà nước
ta rất quan tâm, trong các nghị quyết Đảng ta luôn coi trọng giáo dục, đặc biệt đổi mới nội dung giáo dục góp sức tạo ra nguồn nhân lực mới thúc đẩy xã hội phát triển, “Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm, khuyến khích thành lập tổ chức thông tin, tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh chọn nghề và tìm việc làm sau khi tốt nghiệp” [14, Tr 43] Trong giai đoạn đổi mới đất nước, Đảng ta xác định:
“phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [13,
Tr 108] Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung Ương khóa XI đã thảo luận
về đề án: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [14,Tr 90]
- Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng, Bộ GD&ĐT lên kế hoạch cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện ở tất cả những ngành học, bậc học.Thực hiện nguyên lý “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội” [7] Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề là một bộ phận quan trọng trong nội dung giáo dục toàn diện đã được xác định trong Luật Giáo dục DNPT đã được triển khai trong những năm qua ở phạm vi toàn quốc và đã thu được những thành tích đáng kể
- Dạy nghề phổ thông ở Việt Nam thực hiện theo mô hình liên kết giữa Trường phổ thông với các Trung tâm dạy nghề và Trung tâm kĩ thuật tổng hợp hướng nghiệp Mỗi một trung tâm phụ trách DNPT cho một số trường phổ thông
Trang 24trong cụm được Sở Giáo dục và Đào tạo đồng ý Trường phổ thông thực hiện xây dựng kế hoạch học nghề, biên chế lớp và thống nhất chương trình DNPT với trung tâm Hai cơ quan thống nhất nội dung, kế hoạch, thời gian thực hiện và thời gian đánh giá, kiểm tra học sinh Mô hình quản lý và DNPT trên được Bộ GD&ĐT triển khai và rút kinh nghiệm thường xuyên
- Việc đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp, DNPT trong những năm tới là rất cấp thiết Ngày 23/07/2003, Bộ GD&ĐT ra chỉ thị số 33/2003/CT- BGDĐT
về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trong đó đặt
ra yêu cầu: Nâng cao chất lượng và mở rộng việc DNPT để giúp học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kĩ năng lao động nghề nghiệp; Các Sở GD&ĐT tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, có kế hoạch bổ sung đội ngũ và cơ
sở vật chất cho các Trung tâm hiện có để các trung tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ hướng nghiệp, DNPT và có đủ điều kiện thực hiện nội dung nghề phổ thông trong chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thông mới [7]
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông
- Các chuyên gia tâm lý học, kinh tế học, chính trị học ở nước ngoài cũng như ở trong nước đã nghiên cứu về vấn đề này và cho rằng: để giúp các em trong việc chọn nghề cần làm tốt công tác hướng nghiệp cho các em, dưới nhiều hình
Trang 25thức khác nhau và có thể hiểu theo hai cách sau:
Hướng nghiệp trên bình diện xã hội
- Như chúng ta đều biết các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường , các cơ quan quản lý kinh tế và quản lý nhà nước, ngay cả các cơ quan đoàn thể chính trị và xã hội, đến các trường học, đều cần đến những con người
có năng lực và những phẩm chất phù hợp Để chọn được người theo đúng những tiêu chuẩn đã định, những cơ quan, tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện công tác của mình, giúp cho họ hiểu được những nghề nghiệp, chuyên môn mà mình cần tuyển chọn
- Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sư phạm, y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân; các nhà kinh tế thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực đối với lao động, và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bổ lực lượng lao động xã hội theo K.K.Platônốp - một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng của Nhà nước Xô Viết (cũ) thì: Hướng nghiệp, đó là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục,
y học, nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân
Hướng nghiệp trên bình diện phổ thông
- Trong trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội
- Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông là một bộ phận của công tác hướng nghiệp ngoài xã hội, nhà trường phổ thông sẽ giúp các em đi vào các
Trang 26nghề trong xã hội Vì vậy, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông phải thống nhất với công tác hướng nghiệp ở ngoài xã hội, hai bộ phận này có quan
hệ hết sức mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau
- Một cách tổng quát: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối thiểu nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”
- Nói một cách khác, “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường giữ vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho học sinh cả về tâm thế và kĩ năng, để các
em có thể săn sàng tham gia các hoạt động hoặc tự tạo việc làm ở các ngành nghề mà xã hội cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân cũng như hoàn cảnh gia đình”
Như vậy, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
1.2.2 Dạy nghề
1.2.2.1 Dạy nghề phổ thông
- Nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng (đang cần phát triển ở địa phương) Những nghề ấy có kĩ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương, thời gian học nghề ngắn Nghề phổ thông được tiến hành dạy trong các trung tâm dạy nghề, trung tâm KTTH - HN, tại các trường phổ thông và các lớp dạy nghề tư nhân, nhằm trang bị một số kĩ
Trang 27năng nghề cơ bản để học sinh tiếp tục học lên hoặc vào đời lao động
- Tác giả Phạm Tất Dong quan niệm: “Ở THCS, học sinh cần được giới thiệu nghề và những công nghệ mới nhất đang được sử dụng trong nghề Mặt khác, các em vẫn được học nghề bởi vì trong số các em này, không ít sẽ đi vào trường dạy nghề sau khi tốt nghiệp bậc học này”
- Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư cách là dạy tri thức, kĩ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [31, Tr 44] Tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lệ đã đề cập tới nhiệm vụ dạy nghề của giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh có được năng lực tìm được việc làm, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường, đó là những con người có tri thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” [22, Tr 105, 106]
Vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và Đoàn Chi đã thể hiện quan điểm của mình: “Là một hoạt động dạy học, dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục”
- Xuất phát từ những điều phân tích trên, tôi quan niệm rằng NPT là một môn học nằm trong kế hoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề cho học sinh phổ thông Thông qua tổ chức hoạt động dạy NPT nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng lao động nghề nghiệp cần thiết
và tư duy kĩ thuật mà còn giáo dục học sinh thái độ, tác phong lao động nghề nghiệp thích ứng những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội, đồng thời tạo điều kiện
để dịch chuyển lao động nghề nghiệp phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
Như vậy Dạy nghề phổ thông là một hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông, dạy những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương Nắm được nghề này, học sinh có thể tự tạo việc làm, để được sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư Những nghề ấy có
Trang 28kỹ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải có những trang thiết bị phức tạp Nguyên liệu dùng trong việc dạy nghề dễ kiếm phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư ở địa phương Thời gian học nghề thường ngắn kế, hoạch dạy học của cấp THCS, THPT có thể giải quyết được số tiết lý thuyết và thực hành để nắm được trình độ tối thiểu của nghề”
1.2.2.2 Dạy nghề xã hội
- Cần phân biệt giữa dạy nghề phổ thông và dạy nghề xã hội, dạy nghề xã hội được tổ chức dạy ở các Trung tâm dạy nghề, các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề nhằm đạo tạo những người lao động có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp
ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức tổ chức
kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm và hành nghề kiếm sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
- Nghề xã hội đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao, quá trình dạy học cần đến những trang thiết bị hiện đại, thời gian đào tạo dài, có chương trình dạy nghề ngắn hạn 3 đến 6 tháng, có chương trình dạy nghề đài hạn từ 1 đến 3 năm, học sinh tốt nghiệp được cấp bằng nghề (bậc thợ 3/7)
- Khái niệm NPT của giáo dục phổ thông khác với khái niệm nghề được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp - dạy nghề Giữa NPT và nghề được đào tạo có mối quan hệ hữu cơ và hỗ trợ nhau trong giáo dục - đào tạo
- Nghề được đào tạo có nhiệm vụ cung cấp cho người học hệ thống các tri thức về văn hoá - xã hội nói chung, khoa học - công nghệ nói riêng và hình thành các kĩ năng lao động chung và chuyên biệt cơ bản, nhằm hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất nghề nghiệp tương ứng với một dạng lao động nghề nghiệp nhất định
- Như vậy nghề được đào tạo khác NPT ở chỗ, đòi hỏi người học nghề sau khi được đào tạo nghề phải có trình độ nghề nghiệp nhất định (tay nghề - bậc
Trang 29nghề) để có thể hành nghề và gắn bó lâu dài với hoạt động đó như là một phương thức sinh sống trong xã hội, còn nghề phổ thông, sau khi học xong chương trình quy định, học sinh nắm vững được những kiến thức cơ bản về một lĩnh vực nghề nào đó, thông qua đó rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức lao động, định hướng giúp cho học sinh chọn nghề có cơ sở khoa học
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại Trung tâm GDNN - GDTX
1.2.3.1 Quản lý
Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế bằng một hệ thống các luật
lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện phát triển của đối tượng” [15, Tr 97]
- Theo Nguyễn Minh Đắc “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể Trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” [16, Tr 60]
Theo từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Từ Điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản năm 1992 [37], quản lý có nghĩa là: trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định;
tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định
- Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều thể hiện
4 yếu tố cơ bản của quản lý là: hướng tới các mục tiêu; thông qua con người; với kỹ thuật và công nghệ; thực hiện trong một tổ chức nhất định [32, Tr 12]
Như vậy sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa
ra khái niệm về quản lý dưới đây: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra 1.2.3.2.Quản lý giáo dục
- Trong các nước xã hội chủ nghĩa(XHCN) thì lý luận quản lý giáo dục được
Trang 30bắt nguồn từ quản lý xã hội Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người trong quản lý
xã hội” của Viện sĩ Liên Xô (cũ) Afanaxép thì ông đã phân chia xã hội thành 3 lĩnh vực: “Chính trị - xã hội; văn hoá - tư tưởng và kinh tế” và từ đó có 3 loại quản lý: “Quản lý chính tị - xã hội, quản lý văn hoá - tư tưởng và quản lý kinh tế, quản
lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá - tư tưởng” [1, Tr 97 - 99] Ở nước
ta vào cuối thập niên 70 của thế kỉ trước, với sự phát triển giáo dục sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nhất là từ khi có trường cán bộ quản lý giáo dục
TW và các trường cán bộ quản lý giáo dục ở các thành phố ra đời, thì việc nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục phát triển mạnh mẽ Vào cuối thập kỉ 80 nhiều sách, tài liệu chuyên khảo về quản lý giáo dục đã ra đời từ một số trung tâm nghiên cứu như: Viện khoa học giáo dục Việt Nam, khoa Tâm lý - giáo dục của trường Đại học sư phạm Hà Nội I, các trường cán bộ quản lý TW (nay là Học viện quản lý cán bộ), cục đào tạo và bồi dưỡng Bộ Giáo dục
- Để có thể đưa ra được khái niệm quản lý giáo dục, trước hết cần tìm hiểu quan niệm về quản lý giáo dục của các tác giả Liên Xô (cũ)
- Theo Khuđôminski, trong cuốn “Quản lý giáo dục ở địa bàn huyện (quận)” đã viết: “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác
động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các
cơ sở giáo dục khác ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý
của trẻ em, thiếu niên và thanh niên” [dẫn theo 29]
- Còn trong cuốn sách “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thì Mj.Kondakov, đã từng là chủ tịch Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô (cũ)
đã viết:
“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ
Trang 31thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối
ưu xã hội - kinh tế và tổ chức - sư phạm của quá trình dạy - học và giáo dục thế
hệ đang lớn lên” [25, Tr 94]
Qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những ý chính sau:
- Quản lý là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ giáo dục (hệ thống giáo dục)
- Quản lý giáo dục được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục, đó có thể là một trường học, một trung tâm GDNN - GDTX, một tập hợp các cơ sở giáo dục phân bố trên một địa bàn dân cư
- Và muốn quản lý một cách khoa học (hoặc tối ưu) thì chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối vận hành của đối tượng quản lý
- Trong phần trên chúng ta đã đề cập đến các tác động của hoạt động quản
lý, đó là các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm thực hiện một mục đích đã định Nếu ta sắp xếp các tác động quản lý này thành từng nhóm, mỗi nhóm tương ứng với một giai đoạn nào đó trong quá trình quản lý và tương ứng với một nội dung công việc xác định, thì chúng ta đã hình thành chức năng quản lý Ngày nay đa số các nhà nghiên cứu khoa học quản lý gần như thống nhất nêu ra 4 chức năng quản lý cơ bản sau: Chức năng lập (xây dựng) kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra
- Thực tiễn trong quá trình quản lý, người quản lý thường ghép chức năng
tổ chức và chức năng chỉ đạo thành một chức năng đó là chức năng tổ chức chỉ đạo
Tóm lại, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục; là sự điều hành hệ
Trang 32thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội
1.2.3.3.Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông
- Hoạt động dạy NPT được thực hiện trong các trường phổ thông và trong các trung tâm GDNN - GDTX, nằm trong chương trình giáo dục phổ thông, nên việc quản lý hoạt động dạy NPT cũng tuân theo 4 chức năng quản lý cơ bản, đó là: Xây dựng kế hoạch hoạt động dạy NPT, Tổ chức hoạt động dạy NPT, dạy NPT và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy NPT
Đến đây chúng ta cần bàn tiếp về “Quá trình dạy học” Trong cuốn sách giáo dục học, các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã xem xét “Quá trình dạy học là một hệ thống”, và theo quan điểm của lý luận dạy học các tác giả đã viết: “Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản sau đây: mục đích dạy học, nhiệm vụ dạy học, nội dung day học, thầy và hoạt động dạy, trò và hoạt động học, các phương pháp và phương tiện dạy học, kết quả dạy học” [29, Tr140] Tất cả các nhân tố cấu trúc của hệ thống quá trình dạy học tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với nhau
- Mặt khác, toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất với môi trường của nó: Môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ Ở đây có điều đáng chú ý là các môi trường kinh
tế - xã hội, và cách mạng khoa học - kĩ thuật một mặt đòi hỏi phải hoàn thiện quá trình dạy học; mặt khác lại đòi hỏi quá trình dạy học phải phục vụ đắc lực cho chúng, đồng thời chúng cũng tạo điều kiện cho việc hoàn thiện quá trình dạy học
- Quá trình dạy học là quá trình trang bị, cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản, những kĩ năng nghề nghiệp nhất định, đó là cơ sở tạo nguồn
Trang 33nhân lực cho xã hội, phục vụ xã hội Do vậy, để quá trình dạy học đạt kết quả tốt, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, nó đòi hỏi phải có một nền khoa học, kĩ thuật tiên tiến, môi trường giáo dục lành mạnh, đó là mối quan hệ hữu cơ thống nhất và hỗ trợ nhau trong một hệ thống
- Qua các yếu tố trên ta thấy, quản lý hoạt động DNPT có tính chất độc lập tương đối với các nhiệm vụ khác trong trung tâm, bởi vậy công tác quản lý hoạt động DNPT thực hiện có hình thái riêng, mọi chức năng quản lý đều bám sát mục tiêu DNPT do nhà trường đặt ra Công tác quản lý DNPT cần được xem xét
có thực hiện được hiệu quả khi công tác quản lý hoạt động DNPT được chú trọng, các nhà quản lý bổ sung và thực hiện mục tiêu DNPT Chính vì vậy quản lý hoạt động DNPT được thực hiện liên tục và ngày càng hoàn thiện, những người tham gia quản lý lĩnh vực này phải hết sức linh hoạt, uyển chuyển trước thực tiễn, luôn cần sự bổ sung kinh nghiệm và cách thức quản lý mới
Như vậy quản lý hoạt động DNPT là quản lý việc xây dựng, thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình trong quá trình DNPT, quản lý các hoạt động chuyên môn của giáo viên, học sinh một cách nề nếp ổn định, quản lý chất lượng DNPT
để phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, quản lý các hoạt động kiểm tra, đánh giá
1.2.3.4 Vai trò của quản lý hoạt động DNPT
- Mặt khác, việc coi “Quá trình dạy học là một hệ thống” còn đem đến cho
ta nhiều lý tưởng mới mẻ và sâu sắc Theo lý thuyết hệ thống thì “Hệ thống là các phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, có sự tác động chi phối đến nhau
theo các quy luật nào đó để trở thành một chỉnh thể, nhờ đó nó sẽ xuất hiện những thuộc tính mới gọi là Tính trồi của hệ thống mà từng phần tử riêng lẻ không có,
hoặc có nhưng không đáng kể”
- Ta có thể nhận thấy “Tính trồi” của quá trình dạy học nó thể hiện ở kết quả của giáo dục - đào tạo, do vậy ta có thể đặt câu hỏi: “Tính trồi” của của quá
Trang 34trình dạy học do đâu mà có? Tất nhiên không phải tự nhiên sinh ra, mà theo như định nghĩa trên, nó do các mối quan hệ giữa các phân tử của hệ thống, do sự tác động lẫn nhau của các phân tử mà có được Vậy một lần nữa ta lại thấy vai trò của các tác động quản lý vào “Quá trình dạy học” là một quá trình nhân tạo, một quá trình xã hội
- Cái ý nghĩa triết học sâu xa mà lý thuyết hệ thống đem lại có thể gói gọn trong bất đẳng thức: 1 + 1 > 2, nghĩa là “chỉnh thể lớn hơn tổng các bộ phận” Điều này có nghĩa là: 1 + 1 = 2 (nếu chưa có hệ thống), nhưng lại trở thành 1 +
- Quản lý hoạt động đa mục tiêu, nội dung phong phú vì số nghề luôn thay đổi theo nhu cầu người học và hoạt động GDHN theo các chủ đề từng tháng Phương pháp giảng dạy phong phú đa dạng (tập trung vào toạ đàm và giao lưu kết hợp thăm quan ), hình thức tổ chức không gò bó (có thể tổ chức theo khối, lớp, nhóm )
b.Chức năng
- Xây dựng kế hoạch cho hoạt động dạy NPT được xác định trên cơ sở nhiệm vụ dạy NPT của đơn vị; Căn cứ vào những Chỉ thị, các văn bản hướng dẫn đầu năm của Bộ, của Trung tâm lao động Bộ và của Sở giáo dục - đào tạo; Căn cứ vào những kết quả đã đạt được trong năm học trước, và căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị
- Tổ chức thực hiện hoạt động DNPT được giao cho một bộ phận chức
Trang 35năng của Trung tâm, thông thường là giao cho phó giám đốc phụ trách; thông qua các môn nghề học tại Trung tâm; thông qua các giờ tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp
- Chỉ đạo việc tổ chức hoạt động DNPT được tiến hành theo lớp học nghề (30 học sinh/lớp), chỉ đạo thực hiện theo đúng chương trình của Bộ giáo dục - đào tạo
- Kiểm tra đánh giá kết quả được tiến hành thường xuyên, đánh giá kết quả cuối năm và cả khoá học thông qua thi tốt nghiệp nghề và việc nhận biết thông tin nghề nghiệp thông qua hoạt động GDHN
c Nhiệm vụ
- Cung cấp cho học sinh phổ thông những tri thức, kiến thức, kĩ năng kĩ thuật tổng hợp và kĩ năng cơ bản trong lao động nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng tri thức trong hoạt động nghề nghiệp tương lai, qua đó củng
cố, mở rộng và khắc sâu tri thức, hình thành thói quen kết hợp lao động trí óc và lao động chân tay, thói quen lao động và tư duy ngay trong quá trình học tập ở nhà trường
- Hình thành kĩ năng và thói quen thực hiện một số nhiệm vụ sản xuất cụ thể (một số công đoạn trong lao động nghề nghiệp) thuộc những nghề cơ bản, phổ biến trong sản xuất và trong sinh hoạt Đó là những cơ sở ban đầu để hình thành kĩ năng lao động của một nghề cụ thể liên quan đến các ngành, nghề đang phát triển ở địa phương; phát triển tính độc lập, sáng tạo, nhạy bén trong lao động
và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp tục học tại các trường chuyên nghiệp
- Định hướng chú ý của học sinh vào học những ngành, nghề mà Nhà nước
và địa phương đang cần phát triển, tìm hiểu thị trường lao động có nhu cầu nhân lực, giúp học sinh có thêm kiến thức để lựa chọn nghề tương lai
- Bồi dưỡng học sinh ý thức, thái độ và niềm tin đối với lao động; đạo đức nghề nghiệp và phẩm chất của người lao động Đồng thời chống những biểu hiện tiêu cực, dối trá trong lao động, thiếu lương tâm nghề nghiệp
Trang 361.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX
1.3.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Trung tâm GDNN - GDTX
Theo thông tư số 39/2015/TTLT- BLĐTBXH- BGDĐT- BNV, Giám đốc
là người đứng đầu Trung tâm, đại diện cho trung tâm trước pháp luật, chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động của trung tâm, có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Luật Giáo dục nghề nghiệp, khoản 5 Điều
13 Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục thường xuyên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và các văn bản pháp luật liên quan Theo quy chế
về tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDTX (Ban hành theo QĐ số: 01/2007/QĐ- BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục
và Đào tạo) và Quy chế hoạt động của Trung tâm Dạy nghề thì vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Giám đốc Trung tâm được quy định như sau:
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động động dạy nghề phổ thông tại trung tâm GDNN - GDTX
1.3.2.1 Quản lý mục tiêu dạy nghề phổ thông
- DNPT được hiểu là kết quả, là sản phẩm mong đợi của một quá trình đào tạo Sản phẩm của quá trình DNPT chính là những học sinh tốt nghiệp với nhân cách, hiểu biết về nghề, trình độ nghề đã được thay đổi trong quá trình đào tạo Dạy cho học sinh những tri thức chuyên môn nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng,
kỹ xảo hình thành tay nghề và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của nghề
- Quản lý việc xây dựng mục tiêu, nội dung: là quản lý việc lập kế hoạch và
nội dung chương trình giảng dạy Quản lý việc thực hiện mục tiêu và tổ chức làm sao cho các kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, đúng nội dung và thời gian, quán triệt các yêu cầu của mục tiêu đào tạo Quản lý việc xây dựng mục tiêu, nội dung được tiến hành theo chu trình 5 bước
Về công tác chuẩn bị cần tiến hành điều tra, khảo sát xác định các nhu cầu cần
Trang 37nắm bắt các thông tin về số lượng cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, các điều kiện về đào tạo Cần chú ý đến sự phối hợp các ngành, các cơ quan sử dụng lao động để nắm bắt thông tin một cách chính xác, đồng thời phải bồi dưỡng các phương pháp điều tra, các vấn đề liên quan đến kỹ thuật trong khảo sát để tránh sai lầm Việc lập kế hoạch cần chú ý xác định các yếu tố về nhân lực, các điều kiện về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cũng như tiến độ, quy trình xây dựng
kế hoạch sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng hiện có Về tổ chức thực hiện nên thiết kế cụ thể việc quản lý trực tiếp về mục tiêu, nội dung cụ thể Quản lý về tiến độ triển khai các vấn đề liên quan đến tổ chức hội thảo cũng như các bước trình duyệt Về chỉ đạo cần đôn đốc các công việc theo yêu cầu đặt ra, giám sát phối hợp thực hiện các mục tiêu, nội dung đào tạo Về kiểm tra nên xem xét các khung chương trình đã được xây dựng trình duyệt
- Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung: ở bước chuẩn bị cần quán triệt kế hoạch đào tạo, chương trình, tài liệu, giáo trình, giáo khoa, sách tham khảo, cơ
sở vật chất, giáo viên v v Lập kế hoạch cần xác định lịch trình, tiến độ, kế hoạch của việc quản lý như dự giờ, hoạt động ngoại khoá và các hoạt động có liên quan đến bồi dưỡng giáo viên, tài chính, vật tư, vật liệu Việc thực hiện nên chú trọng đến mục tiêu và nội dung phát triển như thế nào, mức độ ra sao cần tập trung vào các điểm gì? Điều quan trọng là phải chú ý đến việc cập nhập kiến thức mới Công tác chỉ đạo cần đẩy mạnh sự phối hợp giữa các giáo viên, phòng ban, bộ môn, giữa trường với các đơn vị hữu quan Việc kiểm tra giám sát cần chú trọng đến chất lượng, kết quả và hiệu quả đào tạo
1.3.2.2.Quản lý nội dung chương trình dạy nghề phổ thông
- Tổ chức hoạt động dạy nghề là việc thực hiện nghiêm túc những quy định của chuyên môn Chuyên môn là tổ hợp các tri thức và kỹ xảo thực thành
mà con người tiếp thu được qua đào tạo, để có khả năng thực hiện một loại công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo sự phân công lao động xã hội
- Chuyên môn là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng đi sâu vào lĩnh vực
Trang 38khoa học kĩ thuật
- Chuyên môn sư phạm: Là một ngành khoa học về lĩnh vực GD&ĐT, có nội dung, có phương pháp sư phạm riêng biệt Đối với chuyên môn của nhà khoa học thì lĩnh vực chuyên môn của họ là tinh thông nghề nghiệp, sự hiểu biết đầy
đủ về lĩnh vực của mình Còn chuyên môn sư phạm không chỉ phản ánh sự hiểu biết, tinh thông về lĩnh vực khoa học thuộc về nghề của mình, mà còn phải biết truyền thụ tri thức nghề nghiệp đó cho học sinh
- Quản lý chuyên môn trong nhà trường là quản lý toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của thầy, việc học tập, rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêu và đường lối giáo dục của Đảng: Trong đó quản
lý việc giảng dạy, giáo dục của thầy là tối quan trọng Hoạt động dạy học của thầy được tuân thủ chặt chẽ theo qui định thống nhất của ngành GD&ĐT
- Nhà quản lý kiểm soát hoạt động dạy của giáo viên thông qua qui chế chuyên môn Đó là kế hoạch giảng dạy bộ môn phân phối chương trình, yêu cầu bài soạn, các hồ sơ chuyên môn Chế độ cho điểm, chấm bài, sử dụng đồ dùng dạy học, có thí nghiệm, trực quan, biên chế các tiết thực hành theo qui định Việc đánh giá kết quả học sinh theo từng thời điểm qui định Bên cạnh đó tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng trường phổ thông, từng trung tâm GDNN - GDTX mà đưa ra các qui định chuyên môn để giáo viên thực hiện như: thời gian ra vào lớp, các buổi sinh hoạt tổ, nhóm, sinh hoạt chuyên đề, làm đồ dùng dạy học, giúp đỡ đồng nghiệp, kế hoạch dự giờ, giúp đỡ học sinh cá biệt
- Công tác quản lý quy chế chuyên môn của giáo viên thường đi sâu vào các yêu cầu đối với giáo viên
- Yêu cầu thứ nhất: Xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về các mặt hoạt động: giảng dạy lý thuyết, tổ chức thực hành thí nghiệm, tổ chức tham quan thực tế, giáo dục đạo đức, tinh thần học tập bộ môn, chỉ tiêu phấn đấu về tỉ lệ tốt nghiệp, kĩ năng thực hành nghề
- Yêu cầu thứ hai: Thực hiện chương trình dạy học khoa học đúng, đủ tuân
Trang 39thủ chặt chẽ qui định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học các môn nghề, thời gian dạy học từng môn
- Chương trình DNPT là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành thống nhất toàn quốc, là căn cứ pháp lý để nhà nước tiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động dạy học của các giáo viên và của người quản lý Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để nhà quản lý chuyên môn quản lý giáo viên theo yêu cầu của
Bộ GD&ĐT đã đề ra cho từng nghề
Trong yêu cầu trên, giáo viên hoàn toàn được chủ động hiểu về cấu tạo chương trình (phân phối chương trình) cho từng môn nghề và phạm vi kiến thức của chúng ngay từ đầu năm
- Thông qua tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn các giáo viên được thảo luận, bàn bạc về những quy chế chuyên môn, quy định chuyên môn để cùng thống nhất thực hiện trong năm học Đảm bảo cân đối các hoạt động trong năm học, thực hiện tốt chương trình dạy nghề, cuối năm không bị thiếu giờ, tiết học không bị cắt xén
Yêu cầu thứ ba: Thực hiện soạn bài, chế độ chấm, trả bài cho học sinh: Kết quả học tập trong từng tiết học phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị chu đáo, cẩn thận và đề ra nhiều tình huống sư phạm xảy ra Người giáo viên phải biết sử dụng linh hoạt tuỳ theo đặc điểm từng lớp, từng đối tượng học sinh Nhà quản lý chuyên môn thường yêu cầu giáo viên phải soạn xong giáo án giảng dạy trước buổi dạy khoảng 1 tuần, đưa quy định ký giáo án và phân cấp cho các nhóm trưởng quản lý giáo viên quy định trên
Chế độ kiểm tra học sinh được duy trì thường xuyên, kết quả được phản ánh thông qua sổ đầu bài, sổ ghi điểm trên lớp Nhà quản lý kiểm tra hoạt động trên thông qua một số đợt kiểm tra định kỳ, có báo cáo trước Nhờ kế hoạch định
kỳ trên, giúp giáo viên chủ động thực hiện tiến độ kiểm tra học sinh, tự giác hoàn thành yêu cầu của nhà quản lý chuyên môn
Yêu cầu thứ tư: Tăng cường kiểm tra thực hiện quy chế chuyên môn của
Trang 40giáo viên
Đó là hoạt động quan trọng, rất cần thiết của nhà quản lý Trong từng yêu cầu trên, nhà quản lý phải đề ra các biện pháp kiểm tra phù hợp Thông qua kiểm tra mới nắm được tinh thần, thái độ, ý thức của giáo viên thực hiện quy chế chuyên môn, đánh giá chất lượng giảng dạy và giáo dục của giáo viên Tăng cường công tác kiểm tra mới đưa hoạt động chuyên môn vào nề nếp, chất lượng kiểm tra nhằm đánh giá chất lượng đội ngũ để có kế hoạch sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lý
Quản lý giáo viên thực hiện tốt quy chế chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác dạy và học, đặc biệt trong hoạt động dạy nghề phổ thông giáo viên ở các trung tâm GDNN - GDTX
1.3.2.3.Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động dạy nghề phổ thông
- Như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, trong quá trình dạy học người ta phải sử dụng các phương tiện lao động nhất định Cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ dạy NPT là những phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh Đây là hệ thống bao gồm: nhà cửa, lớp học, thiết bị chung, máy móc phục
vụ môn học, đồ dùng thực hành, tranh vẽ
- Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy NPT, thiếu điều kiện này thì quá trình dạy nghề sẽ không diễn
ra, hoặc có diễn ra nhưng chất lượng rất thấp, CSVC thiết bị dạy học là nội dung,
là phương tiện chuyển tải thông tin, giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh có hứng thú học tập, rèn luyện tác phong và kỷ luật lao động, kỹ năng thực hành nghề và hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực
Nhà quản lý quyết định đầu tư CSVC, thiết bị và tăng cường kiểm tra giáo viên sử dụng CSVC phục vụ dạy NPT mới tạo ra môi trường giáo dục nghề lành mạnh và thu hút ngày càng đông đảo học sinh tham gia Trong công tác xây dựng CSVC phục vụ dạy NPT phải tránh chủ nghĩa hình thức, phải đảm bảo tính thiết