- Tình trạng lạm dụng thuốc lá, rượu bia, các chất gây nghiện, hoạt động tình dục không an toàn, thiếu kiến thức về SKSS, thiếu tiếp cận với các nguồn thông tin chính xác, thiếu kỹ năng
Trang 2Kỹ năng sống (KNS) được hình thành và tồn tại
trong mối tương tác mật thiết và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản
chất của KNS là kỹ năng tự quản bản thân
và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự
lực trong cuộc sống, học tập và làm việc có hiệu quả.
Kỹ năng sống giúp các em hình thành năng lực
Trang 31 Nâng cao kiến thức và hiểu biết về giới tính, sức khoẻ sinh sản (SKSS), sức khoẻ tình dục.
2 Giúp hs hiểu và tự giải quyết những vấn
đề về sức khoẻ bản thân, phát triển
những giá trị và những KNS có khả năng đưa đến một phong cách sống lành mạnh, tích cực và có trách nhiệm.
3 Khuyến khích hành vi có trách nhiệm để ngăn ngừa tình trạng mang thai sớm, sự lây truyền của bệnh BLTQĐTD và HIV/
AIDS…
4 Tạo điều kiện cho hs nhận biết được sự lạm dụng về tình cảm, tình dục và cách
xử trí với những vấn đề này.
Trang 45 Nâng cao khả năng tự đánh giá bản
thân và tính tự trọng, tự tin ở hs trong quan hệ bạn bè cùng trang lứa và
mỗi dân tộc.
Trang 5- Sức khoẻ là trạng thái thoải mái (khoẻ mạnh) hoàn
toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế.
- SKSS là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất,
tinh thần và xã hội, trong mọi thứ liên quan đến
hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của
nó chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế (Định nghĩa SKSS đầy đủ - WHO)
- Lứa tuổi Vị thành niên (VTN) theo định nghĩa của Bộ
Luật lao động là lứa tuổi dưới 18t
Theo WHO:
- VTN là những người từ 10-19 tuổi ( ở trong tuổi thiếu
nhi và trước tuổi trưởng thành) Thanh niên là
những người ở trong độ tuổi từ 15- 24t Những
người trẻ tuổi là những người trong độ tuổi từ 24t
10-
Trang 7 Quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng tăng
Tuổi lập gia đình muộn: nam 26t- nữ 24t
Tuổi quan hệ tình dục lần đầu: nam 19t- nữ 19,5 t
Thanh thiếu niên tuổi từ 18 – 20 quan hệ tình dục trước hôn
nhân chiếm 16,5%
HIV: 60% người nhiễm ở độ tuổi dưới 29 (theo BYT)
Nạo hút thai: khoảng 30% chưa lập gia đình, chủ yếu là VTN/
TN trên tổng số 1 triệu ca/năm, VTN chiếm khoảng 20% trong tổng số các ca nạo hút thai những năm gần đây
Tham gia hoạt động mại dâm: tăng, 64.9% dưới tuổi 25 (theo
Bộ LĐTBXH)
Trang 8- Tình trạng lạm dụng thuốc lá, rượu bia, các chất gây nghiện, hoạt động tình dục không an toàn, thiếu kiến thức về SKSS, thiếu tiếp cận với các nguồn thông tin chính xác, thiếu kỹ năng sống, ít tiếp cận và e ngại khi
sử dụng BCS và các biện pháp tránh thai, thiếu tiếp cận với các dịch vụ y tế công
- Các vấn đề SKSS/SKTD của VTN
Có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai không an toàn
Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục
HIV/AIDS
Lạm dụng tình dục
Trang 9 Cho rằng mình đã khôn lớn muốn tự khẳng định mình Chuẩn mực và thái độ của họ đối với giới tính và tình dục cũng thay đổi.
Thanh niên ngày nay có khuynh hướng kết hôn muộn hơn, ở nông thôn tuổi kết hôn trung bình của nữ là 22, nam là 24,6 < ở thành thị lần lượt là 24,5 và 27,1
Tuy nhiên họ lại thường bắt đầu có QHTD sớm hơn trước tuổi kết hôn trung bình là 19 đối với nam và 19,5 đối với nữ
Trang 10 Tuổi vị thành niên là giai đoạn diễn ra những
thay đổi lớn về thể chất trí tuệ và tình cảm, đó
cũng là giai đoạn dễ có các hành vi không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV như thử nghiệm QHTD, sử dụng rượu và ma túy
Có khoảng 25% trong số những người có QHTD
trước hôn nhân đã QHTD lần đầu với GMD.
Số người nạo hút thai vị thành niên chiếm khoảng
20% trong tổng số các ca nạo hút thai những năm gần đây
Trang 11 Nguyên nhân hàng đầu làm lây lan HIV trong thanh thiếu niên trên toàn quốc trước đây là do dùng chung BKT
trong TCMT, nguyên nhân thứ hai không kém phần quan trọng vì có liên quan tới đại bộ phận thanh thiếu niên là QHTD không an toàn Tuy nhiên theo xu hướng dịch hiện nay, QHTD không an toàn đang có xu hướng tăng lên.
Tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục cao ở lứa tuổi từ 15-24
Nữ thanh thiếu niên đặc biệt dễ có nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục vì cơ thể họ còn đang thay đổi Và họ thường có QHTD với người đàn ông nhiều tuổi hơn mạnh mẽ về tình dục hơn Họ ít có khả
năng từ chối QHTD ngoài ý muốn hoặc hạn chế trong việc thuyết phục bạn tình sử dụng các biện pháp an toàn như việc sử dụng bao cao su trong QHTD).
Trang 123 Những yếu tố thúc đẩy thanh thiếu niên tới bối cảnh có nguy cơ cao
• Tình trạng nghèo đói làm cho nhiều thanh thiếu niên phải tìm cách xoay sở để kiếm sống, kể cả việc thực hiện những hành vi có nguy cơ lây nhiễm cao
• Sự thay đổi môi trường sống làm cho nhiều thanh
thiếu niên từ nông thôn ra thành phố tìm kế sinh nhai rơi vào các hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm.
• Sự mất mát hay đổ vỡ của gia đình làm cho nhiều
thanh thiếu niên không được hưởng sự quan tâm chăm sóc và quản lý từ phía cha mẹ, nhà trường và cộng đồng
Trang 133 Những yếu tố thúc đẩy thanh thiếu niên tới bối cảnh có nguy cơ cao (tt)
• Sự rủ rê lôi kéo thúc ép của bạn bè, sự hiện diện của các tệ nạn xã hội, việc bùng nổ thông tin với mạng
internet phát triển cũng như các loại văn hoá phẩm
khiêu dâm, phim ảnh bạo lực, game online không được kiểm soát
• Thiếu các dịch vụ y tế và xã hội dành riêng cho thanh
thiếu niên hoặc chưa đảm bảo sự dễ dàng tiếp cận cho họ.
• Phần lớn thanh thiếu niên chưa được trang bị đầy đủ
kiến thức về nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, chưa được tiếp cận với các nguồn thông tin chính xác và chưa được hỗ trợ để thực hiện các hành vi an toàn.
Trang 144 Thiếu hiểu biết dẫn tới không sử dụng
biện pháp bảo vệ
• Nhiều thanh niên và cả người lớn tuổi hiểu sai về các
biện pháp tránh thai hiện đại Nhiều người còn đánh
đồng bao cao su với việc làm tình hay có nhiều bạn tình.
• Một số thanh thiếu niên cho rằng BCS chỉ thích hợp với
những người đã lập gia đình để tránh thai, BCS làm
giảm khoái cảm khi QHTD
• Tỷ lệ sử dụng BCS trong thanh thiếu niên chưa lập gia
đình rất thấp điều này có liên quan tới việc thiếu thông tin và dịch vụ.
• Thanh thiếu niên tán thành QHTD nếu không kiềm
chế được hoặc nếu quan hệ đó là trong sáng dẫn tới
QHTD không định trước và không sử dụng các biện
pháp bảo vệ
Trang 15 Hành vi và các quyết định cá nhân cuả thanh thiếu niên chịu nhiều ảnh hưởng từ:
- Quan điểm của bạn bè
- Chuẩn mực cá nhân của chính họ
- Niềm tin của chính họ vào khả năng thực hiện loại hoạt động nào đó.
- Tác động của gia đình và cộng đồng.
- Chuẩn mực xã hội
Các bậc cha mẹ và những người có trách nhiệm khác trong xã hội thường cảm thấy không thoải mái khi phải nói những chuyện liên quan tới TD
Trang 16 Các thầy cô giáo (kể cả các GV dạy sinh vật) khi giảng về đề tài này thường rất ngại.
HS không dám trao đổi thẳng thắn với thầy cô về vấn đề này.
Nhiều người lo ngại rằng việc khuyến khích sử
dụng BCS sẽ làm tăng hoạt động tình dục trong
thanh thiếu niên (Tuy nhiên thực tế nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc tiếp cận và sử dụng BCS
không hề thúc đẩy thanh thiếu niên đi tới QHTD sớm hơn hoặc có nhiều thêm bạn tình hơn)
Thực tế: Việc cung cấp thông tin về tình dục và
HIV/AIDS không những không làm tăng hoạt
động tình dục trong thanh thiếu niên mà còn giúp thanh thiếu niên đưa ra được những quyết định cá nhân đúng đắn để phòng ngừa HIV/AIDS.
Trang 17 Thanh thiếu niên thường cho rằng các thông điệp chưa phù hợp với họ và chưa giúp họ có được kiến thức đúng đắn về HIV/AIDS, STD
Phần lớn thanh thiếu niên chưa tiếp cận được với thông tin về giới tình và Sức khoẻ sinh sản VTN, bên cạnh đó chương trình giáo dục trong lĩnh vực này còn rất hạn chế.
Thiếu giáo viên đã qua đào tạo để truyền đạt thông tin và huấn luyện các kỹ năng cần thiết cho thanh thiếu niên.
Trang 18Thanh thiếu niên ngoài nhà trường rất bị hạn chế
trong việc tiếp cận thông tin thường họ chỉ có thể tìm hiểu thông qua bạn bè và sách báo, nhiều bạn trẻ không đủ tiền mua sách báo thông tin được bạn
bè chia sẻ lại không đúng
VD: một số bạn cho rằng không thể có thai ngay
trong lần QHTD đầu tiên, một số khác lại cho rằng chỉ có nghiện ma tuý mới có nguy cơ nhiễm HIV
Trang 19 Nhận thức về quyền SKSS/SKTD vẫn chưa đạt mức độ mong muốn
◦ Của cán bộ địa phương;
◦ của cha mẹ;
◦ Của thầy cô giáo;
◦ Của vị thành niên;
Trang 20 Giáo dục giới tính
Giúp vị thành niên hiểu về sức khoẻ
sinh sản (sinh lý sinh sản, thụ thai,
các biện pháp tránh thai)
Nguy cơ thai nghén ngoài ý muốn
Các bệnh lây truyền đường tình dục
(STDs) và bệnh nhiễm khuẩn đường
sinh sản (RTIs)
Giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh
Vấn đề bình đẳng giới
Giáo dục về sức khoẻ tình dục
Trang 21- Cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục.
- Sự thay đổi về thể chất cũng như tinh thần,
cảm xúc của tuổi dậy thì cho cả hai đối tượng nam và nữ
- Vệ sinh cá nhân tuổi dậy thì (chú trọng giáo dục vệ sinh kinh nguyệt cho các em nữ).
- Quá trình sinh sản: thụ tinh, thai nghén, sinh con
- Hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn,
có thai ngoài ý muốn và làm mẹ sớm ở tuổi vị thành niên.
- Các biện pháp tránh thai (BPTT)
- Nguyên nhân và hậu quả khi mắc bệnh
LTQÐTD và nhiễm khuẩn đường sinh sản, cách phòng ngừa và cách xử trí nếu không may đã
bị mắc
- Những kiến thức về tình bạn khác giới trong sáng, tình yêu lành mạnh, tình dục an toàn
trách nhiệm.
Trang 22- Kỹ năng tư duy như kỹ năng ra quyết định gồm kỹ
năng suy nghĩ mang tính phê phán và sáng tạo, kỹ năng thu thập thông tin, đánh giá thông tin, đưa ra nhiều giải pháp, kỹ năng phân tích để đánh giá nguy cơ; kỹ năng nhận thức được hậu quả; kỹ năng giải
quyết vấn đề
- Các kỹ năng cá nhân như kỹ năng tự nhận thức (tự
đánh giá, tự khẳng định, suy nghĩ tích cực, sự tự tin,
sự trân quý bản thân), kỹ năng xác định giá trị, kỹ
năng kiên định, kỹ năng từ chối, kỹ năng tự bảo vệ sức khỏe, ứng phó với căng thẳng, cảm xúc
- Các kỹ năng xã hội như kỹ năng giao tiếp gồm kỹ
năng thiết lập tình bạn, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông, thương lượng và xử lý mâu
thuẫn, giải quyết xung đột không dùng bạo lực, kỹ năng đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè
- Các kỹ năng thực hiện công việc và hoàn thành tốt
các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, xây dựng kế hoạch
Trang 23- Những kiến thức về cấu tạo và chức năng của cơ
quan sinh dục Thông qua đó, các em biết được cấu trúc bình thường và nhận ra những điều bất thường/ bệnh lý của các cơ quan hệ sinh dục => giáo dục kỹ năng quan sát, nhận biết tình trạng sức khỏe bản
thân, kỹ năng trình bày, thổ lộ với người thân.
- Những kiến thức về sự thay đổi về thể chất cũng
như tinh thần, cảm xúc của tuổi dậy thì cho cả hai đối tượng nam và nữ => giáo dục kỹ năng ứng xử, ứng phó với căng thẳng, cảm xúc cho các em.
- Những kiến thức về vệ sinh cá nhân tuổi dậy thì
(chú trọng giáo dục vệ sinh kinh nguyệt cho các em nữ) => giáo dục KN tự bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là trong thời kỳ dậy thì.
Trang 24- Những kiến thức về quá trình sinh sản: thụ tinh, thai nghén, sinh con, hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn, có thai ngoài ý muốn và làm
mẹ sớm ở tuổi VTN => giáo dục KN phân tích để đánh giá nguy cơ, KN nhận thức được hậu quả,
KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định, KN từ chối, KN phòng vệ quấy rối tình dục,
KN trình bày, thổ lộ với người thân, chia sẻ và tìm kiếm sự giúp đỡ
- Những kiến thức về các biện pháp tránh thai
(BPTT)=>giáo dục KN phân tích đánh giá nguy
cơ, KN ứng phó tình huống và KN ra quyết định.
- Những nguyên nhân và hậu quả khi mắc bệnh
LTQÐTD và nhiễm khuẩn đường sinh sản, cách phòng ngừa và cách xử trí nếu không may đã bị mắc => giáo dục KN phân tích để đánh giá nguy
cơ, KN nhận thức được hậu quả, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN trình bày, thổ lộ với
người thân, tìm kiếm sự giúp đỡ
Trang 25- Những kiến thức về tình bạn khác giới trong sáng, tình yêu lành mạnh, tình dục an toàn trách nhiệm => Giáo dục các kỹ năng xã hội như kỹ năng giao tiếp gồm kỹ năng thiết lập tình bạn, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông (KN thấu cảm); KN
thương lượng và xử lý mâu thuẫn, giải quyết xung đột không dùng bạo lực; kỹ năng xác định giá trị ; kỹ năng đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè (kỹ năng từ chối); kỹ năng trình bày, chia sẻ và tìm kiếm sự giúp đỡ
Trang 26- Cần tổ chức và phát triển nhiều nơi vui chơi
lành mạnh, tập luyện thể dục thể thao giúp
VTN có cuộc sống thoải mái, lành mạnh, giảm
đi nhiều giờ phút sống nhàn rỗi, lặng lẽ, buồn chán dễ dẫn đến ý thức và hành vi tiêu cực.
- Tổ chức và nhân rộng nhiều hình thức hoạt
động tập thể thu hút sự tham gia của VTN
dạng các câu lạc bộ.
- Các trường học nên có bộ phận tư vấn tâm lý sức khỏe học đường XH mở nhiều trung tâm tư vấn về tình yêu - hôn nhân và gia đình và cả
hoạt động tư vấn qua điện thoại
- Có các trung tâm cung cấp dịch vụ chăm sóc
SKSS cho VTN (dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN/TN) giúp các em giải quyết những bất
thường, tai biến do hậu quả của các hành vi
hoạt động tình dục lầm lỡ do thiếu hiểu biết
hoặc do cách sống sai lầm, buông thả, phóng túng gây ra
Trang 27Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa
mang tính xã hội, nó cần thiết đối với thanh thiếu niên, kể cả trẻ nhỏ, để các em có thể hình thành năng lực ứng phó một cách tự
tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản
thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh
Tiếp cận giáo dục kỹ năng sống trong giáo
dục SKSS VTN giúp các em không chỉ tự bảo
vệ sức khỏe bản thân, chăm sóc SKSS-VTN
mà còn góp phần mang lại cho mỗi cá nhân cuộc sống thoải mái, lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội
Trang 28Xin Cám ơn!