VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN TRÊN THẾ GIỚI Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSSVTN như: - Hội nghị quốc tế tại Bắc
Trang 1Ths-Bs Hoàng Thị Tâm Phó Giám đốc Sở Y tế Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ
GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN
CHO HỌC SINH PTTH
Trang 2VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
Vấn đề giáo dục giới tính (GDGT) nói chung được nhiều nước ở Châu Âu quan tâm từ rất sớm Có thể nói rằng Thụy Điển là quốc gia đầu tiên, cái nôi nảy sinh nghiên cứu vấn đề này Năm 1921 đã coi tình dục
là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam
nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội Họ đã thành lập “Hiệp hội quốc gia tình dục” (1933) với mục tiêu là:
- Thông tin phổ biến kiến thức về giới tính, tình dục.
- Sản xuất và buôn bán thuốc tránh thai, dụng cụ tránh thai.
Trang 3VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định đưa
thí điểm GDGT vào nhà trường (1942) và
đến năm 1956 thì chính thức dạy phổ cập
trong tất cả các loại trường từ tiểu học
đến trung học Hầu hết các nước Đông Âu
(Đức, Tiệp, Ba Lan…), Tây Âu, Bắc Âu
cũng có những quan điểm xem xét vấn đề
GDGT là vấn đề lành mạnh, họ đã tuyên
truyền rộng khắp cho mọi người hiểu rõ
những quy luật hoạt động của tình dục và
vấn đề này cũng được đưa vào Dạy ở các
trường học theo những vấn đề tự chọn.
Trang 4VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
Ở Châu Á, GDGT bị xem là lĩnh vực cấm kị, do ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến và tôn giáo Dân số gia tăng quá nhanh, chất lượng cuộc sống không được đảm bảo đã khiến các nước ở Châu Á đã thức tỉnh và nhìn nhận vấn đề một cách thích đáng
Họ đã thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ xã hội.
Trang 5VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
GDDS đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, trước năm 1994 chính sách dân số và nội dung GDDS của các nước đều tập trung vào các vấn đề dân số phát triển (quy mô dân số, di cư, chuyên cư, KHHGĐ…).
Trang 6VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
Năm 1994, Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển
(Internation Conference on Population Development) ở Cairo đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay
đổi chính sách dân số ở các quốc gia Tuyên ngôn của Hội nghị đã kêu gọi các nước đặt vai trò chất lượng dân
số là ưu tiên hang đầu, trong đó các vấn đề SKSS, đặc biệt là vấn đề SKSS VTN Từ đây mục tiêu GDDS của
các nước đã thay đổi.
Nếu trước năm1994, GDDS nhấn mạnh đến các nội
dung dân số phát triển thì từ sau năm 1994, GDDS nhấn mạnh tới các nội dung SKSSVTN như là một ưu tiên.
Trang 7VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
TRÊN THẾ GIỚI
Sau hội nghị này, hàng loạt các quốc gia trên thế giới cũng lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSSVTN như:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh (1995)
- Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague Hà
Lan (1999)
- Hội nghị dân số cấp cao của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á
– Thái Bình Dương (ESCAP) và quỹ dân số liên hợp quốc
(UNFPA) tại Băng Cốc.
Nhân dịp ngày dân số thế giới (11/7/1998) UNFPA đã gửi
thông điệp tới các nước trên thế giới: “Những quan tâm hàng đầu hiện nay được tập trung vào các vấn đề về SKSSVTN”.
Trang 8em, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Ngày 18/12/1961 trong quyết định 17/TTg của Chính phủ về việc hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, văn bản đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về DS-KHHGĐ đã ghi rõ: “Vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và sự hài hòa của gia đình để cho việc giáo dục và chăm sóc sức khỏe con cái được tốt
hơn, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một
cách thích hợp”
Trang 9nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Tổng
cục dạy nghề phối hợp với các tổ
chức có liên quan xây dựng
chương trình chính khóa và ngoại
khóa nhằm bồi dưỡng cho học
sinh những kiến thức về khoa học
giới tính, về hôn nhân gia đình và
nuôi dạy con cái”.
Trang 10 Sau khi nhà nước thống nhất, năm 1976 ngay trong nghị quyết Đaị hội toàn quốc lần thứ IVcủa Đảng đã ghi rõ:
“Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch,
ra sức phòng và chữa bệnh phụ khoa và các bệnh nghề
nghiệp của phụ nữ” Sau khi có nghị quyết Trung ương IV
về chính sách DS-KHHGĐ và chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, sự lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường kinh phí và đổi mới cơ chế quản lý, củng cố hệ thống tổ chức, đẩy
mạnh cung cấp dịch vụ truyền thông và KHHGĐ, sự tham gia của các nghành, đoàn thể, công tác DS - KHHGĐ đã
có chuyển biến rõ rệt, đạt được những kết quả rất đáng
khích lệ Kết quả đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao điều kiện sức khỏe trong đó có SKSS cho các cặp vợ
chồng và tuổi vị thành niên.
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
Ở VIỆT NAM
Trang 11 Phải chờ tới năm 1998, được sự tài trợ của quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA), cùng với sự giúp đỡ của kĩ thuật của UNESCO khu vực, Bộ giáo dục và đào tạo đã giao cho Viện khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện
đề án VIE/98/P09 với sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao, chương trình thử nghiệm tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lí giáo dục và sinh học Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta học sinh được học một cách có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với người khác giới.
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
Ở VIỆT NAM
Trang 12 Ở nước ta trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 các dự
án GDDS đã bắt đầu được thử nghiệm Giai đoạn từ
1994 đến 1998 bước đầu đã thể chế hóa GDDS trong nhà trường Lần đầu tiên GDDS được đưa vào chương trình tích hợp GDDS với 5 chủ đề cơ bản: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới, dinh dưỡng Các nội dung SKSS đã được chính thức lồng ghép vào nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là GDSKSS cho VTN.
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
Ở VIỆT NAM
Trang 13Tháng 10 năm 1996 hội thảo vì SKSSVTN đã nhấn mạnh đầu tư giải quyết vấn đề SKSSVTN là một yêu cầu quan trọng trong
vấn đề phát triển đất nước Tuy nhiên, trong giai đoạn này nội dung GDDS quá thiên về dân số phát triển, chưa chú trọng tới SKSS như một mục tiêu ưu tiên quốc gia
Với sự ra đời của chương trình mới về giáo dục phổ thông cho giai đoạn sau 2000, các dự án GDDS giai đoạn mới được xây dựng Mục tiêu GDDS trong giai đoạn này ở các trường phổ
thông gồm: Xây dựng chương trình tích hợp GDDS mới phù hợp với trương trình giao dục phổ thông trên tinh thần nhấn mạnh tới SKSSVTN; xây dựng các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và các tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên… song chúng ta vẫn chưa xây dựng được chương trình GDDS và SKSS cho PTTH mặc dù các mục tiêu cho cấp học này đã được xác định.
VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSS VTN
Ở VIỆT NAM
Trang 14Vấn đề GDSKSS VTN được nhiều nước trên thế giới quan tâm,
nó được thể hiện rõ ở những vấn đề cơ bản sau:
Thứ 1: Giáo dục tình dục cho học sinh trong và ngoài nhà trường Thứ 2: Cung cấp dịch vụ KHHGĐ theo nhu cầu sử dụng.
Cụ thể:
Bồ Đào Nha: Cho phép thành lập các trung tâm tư vấn dành cho tuổi VTN ở các trung tâm tư vấn và bệnh viện nhằm: Cung cấp thông tin chung về họat động tình dục; Chuẩn bị cho VTN
có hành vi đúng trong cuộc sống tình dục; Cung cấp thông tin
về giải phẫu sinh lý và sinh lý học sinh sản; Cung cấp các
phương tiện tránh thai; Tất cả thanh niên đều được tư vấn và hướng dẫn KHHGĐ tại các trung tâm miễn phí
XU HƯỚNG GDSKSSVTN MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GiỚI
Trang 15Libêria: “Đạo luật thông qua chính sách về dân số của quốc gia nhằm phát triển kinh tế - xã hội” (1998) đã khẳng định: GDDS được đưa vào giảng dạy chính thức trong và ngoài trường học; Giáo dục KHHGĐ cho tất
cả thanh niên nông thôn năm 1995 và khắp cả nước
vào năm 2000; Đưa ra các biện pháp làm giảm tỷ lệ có thai sớm ở VTN như cập nhật thông tin, GTGT cho
Trang 16Hoa Kỳ: “Đạo luật về đời sống gia
đình của thanh, thiếu niên” (1998)
cho phép Liên bang chuyển tiền
cho các tổ chức quần chúng hay tư
nhân để làm dịch vụ hay nghiên
cứu về mối quan hệ giữa tình dục
của thanh niên trước hôn nhân và
mang thai, sinh con ở tuổi VTN
Trang 17Sau khi nhận thức được tầm quan trọng của việc GDSKSS, ngày 28/11/2000 Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định số 236/2000/QĐ - TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010 nhằm chuyển từ định hướng KHHGĐ sang định hướng toàn diện hơn – SKSS.
CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ SKSS VÀ
SKSS VTN Ở VIỆT NAM
Trang 18Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là:
- Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức cũng như sự
ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của chăm sóc SKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết trong lãnh đạo các cấp, người đứng đầu trong các tổ chức đoàn thể.
- Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh Bảo đảm quyền
sinh con và các BPTT có chất lượng của phụ nữ và
các cặp vợ chồng Giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo hút thai.
CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ SKSS VÀ
SKSS VTN Ở VIỆT NAM
Trang 19- Nâng cao tình trạng sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách.
- Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc bệnh và điều
trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các BLTQĐTD, kể cả HIV/AIDS và tình trạng vô sinh.
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản tốt hơn cho người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ cao tuổi và điều trị sớm các trường hợp ung thứ vú và các bệnh ung thư khác của đường
sinh sản nam và nữ.
CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ SKSS VÀ
SKSS VTN Ở VIỆT NAM
Trang 20- Cải tiến tình hình SKSS, sức khỏe tình dục của VTN
thông qua việc giáo dục, tư vấn cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi.
- Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về tính
dục và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách
nhiệm sinh sản, xây dựng tình dục an toàn có trách
nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống.
CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ SKSS VÀ
SKSS VTN Ở VIỆT NAM
Trang 211 Mục đích, mục tiêu của việc GDSKSS
- Cung cấp thông tin và giáo dục về sức khỏe sinh sản để
giúp VTN tự khám phá những tính cách, các tiêu chuẩn
và những chọn lựa của riêng mình, đồng thời cũng nâng cao kiến thức và hiểu biết của các em về các vấn
đề SKSS.
- Cung cấp kiến thức và sự hiểu biết về các vấn đề dân
số, SKSS cho VTN, đồng thời hình thành và phát triển thái độ và hành vi giúp các em có được những quyết định có trách nhiệm liên quan đến lĩnh vực này cho cuộc sống hiện tại cũng như trong tương lai.
GIÁO DỤC SKSS VTN
Trang 22- Giải quyết những vấn đề
SKSS và tình dục của VTN,
bao gồm: mang thai ngoài ý
muốn, nạo phá thai không
an toàn và các BLTQĐTD
kể cả HIV/AIDS thông qua
việc nâng cao trách nhiệm
về lối sống tình dục và sinh
sản lành mạnh cùng với việc
cung cấp các dịch vụ, tư vấn
thích hợp cho lứa tuổi này
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Trang 232 Nội dung của việc GDSKSS VTN cho học sinh
Hiện nay giáo dục SKSS chưa phải là một môn học độc lập nên việc lồng ghép, tích hợp vào các môn học khác nhau là rất phù hợp trong giai đoạn hiện nay Tại các trường THPT, việc tích hợp các nội dung giáo dục SKSS chủ yếu qua một số môn học chiếm ưu thế như: Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lý, Văn học
Ở môn sinh, SKSS được lồng ghép nhiều nhất, cung cấp được nhiều thông tin, dễ dạy và có nhiều giáo cụ trực quan tốt Nội dung các chủ đề giáo dục thường tập trung trang bị kiến thức cho HS về những biến đổi thể chất của tuổi dậy thì, các cơ quan sinh dục, sinh sản, các biện pháp tránh thai, phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Trang 242 Nội dung của việc GDSKSS VTN cho học sinh
Môn Giáo dục công dân tập trung giáo dục các chủ đề: Tình yêu, hôn nhân, gia đình, luật hôn nhân - gia đình, chính sách dân số, quyền sinh sản, bình đẳng giới, những đặc trưng của VTN, quyền của VTN, phát triển con người
Môn Ngữ văn hướng HS vào việc thảo luận, nói và viết về các chủ đề quan hệ gia đình và xã hội, bình đẳng giới
Môn Địa lý tập trung giảng dạy các nội dung dân số
và phát triển, địa lý dân số và rất phù hợp để cung cấp kiến thức về các vấn đề vĩ mô phát triển dân số.
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Trang 252 Nội dung của việc GDSKSS VTN cho học sinh
Tuy nhiên các nội dung giáo dục SKSS cũng cần được tích hợp vào một số môn khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu các kiến thức về SKSS cho HS Cách tiến hành lồng ghép có thể thực hiện theo 3 cách:
- Lồng ghép toàn bộ nội dung giáo dục SKSS VTN với toàn
bộ nội dung bài học
- Lồng ghép một phần nội dung của bài học với nội dung
giáo dục SKSS VTN
- Lồng ghép nội dung giáo dục SKSS VTN vào phần kết
luận được rút ra từ ý nghĩa của bài học
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Trang 26GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện phương thức giáo dục lồng ghép này không cao do thời lượng các môn học chính khóa đã quá tải, giáo viên thiếu kiến thức và có thái độ e ngại khi nói về các vấn
đề SKSS.
Thực tế, giáo dục SKSS VTN lại chứa đựng rất nhiều chủ đề nhạy cảm, tế nhị, học sinh khó có thể trình bày, trao đổi một cách cụ thể trong môi trường lớp học, trước mặt thầy cô và bạn bè khác giới
Trang 27GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Đối với chủ đề này, cần phải có một môi trường phù hợp để các em có thể tin tưởng bày tỏ, trao đổi một cách thoải mái tất cả những hiểu biết,
quan điểm, khúc mắc của mình
Để đáp ứng nhu cầu đó, các nội dung giáo dục SKSS VTN đã được nghiên cứu, truyền tải tới học sinh dưới các hình thức mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng thông qua các hoạt động ngoại khóa
Trang 282 Nội dung GDSKSS VTN
Để các em có nhận thức đúng, chủ động tháo gỡ những khó khăn thường gặp về SKSS trong lứa tuổi VTN, khi tiến hành giáo dục cần phải nắm vững những nội dung cụ thể và cần nhấn mạnh, chuyển tải các thông điệp, định hướng thái độ, hành vi cho các em Nội dung giáo dục SKSS bao gồm:
- Những thay đổi về thể chất và tâm lý, tình cảm ở tuổi VTN
Trang 293 Nguyên tắc của việc GDSKSS cho học sinh
Vấn đề GDSKSS cho VTN là vấn đề quan trọng, cần thiết, tuy nhiên cũng là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị Vì vậy, ngoài việc phải đảm bảo những nguyên tắc chung như: tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn… như các môn học khác, cần phải chú ý đến những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: Đảm bảo sự tin cậy trong GDSKSS
- Nguyên tắc 2: Đảm bảo tôn trọng sự thật và trong trắng trong GDSKSS
- Nguyên tắc 3: Đảm bảo chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của VTN.
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT
Trang 30- Nguyên tắc 4: Đảm bảo phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý của
VTN, của lớp học, yêu cầu giáo
dục đặc trưng thích hợp với đối
tượng, phải phù hợp với phong
tục tập quán của từng vùng, từng
địa phương.
- Nguyên tắc 5: Đảm bảo việc
phát huy vai trò và tính tự giáo
dục của VTN dười sự hướng dẫn
của tổ chức thanh niên và sự chỉ
đạo của người lớn.
GIÁO DỤC SKSS VTN CHO HỌC SINH
THPT