Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên quan” Câu hỏi nghiên cứu: Mối liên quan giữa việc xử trí trẻ sốt của cha mẹ với đặc điểm nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƢỠNG
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2017
Trang 2XỬ TRÍ CỦA CHA MẸ KHI TRẺ BỊ SỐT
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60.72.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS BS Nguyễn Duy Phong
PGS ĐD Alison S Merrill
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2017 (kẻ lại khung)
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 9
Mục tiêu: 10
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt 11
1.1.1 Định nghĩa thân nhiệt: 11
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ thể: 11
1.1.3 Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt: 11
1.2 Sốt ………
1.2.1 Định nghĩa 12
1.2.2 Cơ chế gây sốt: 12
1.2.3 Phân độ thân nhiệt: Error! Bookmark not defined 1.2.4 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt: 14
1.2.5 Nguyên nhân gây sốt: 14
1.2.6 Ý nghĩa của sốt 15
1.3 Điều trị: 16
1.3.1 Phương pháp dùng thuốc: 16
1.3.2 Phương pháp không dùng thuốc: 18
1.3.3 Phương pháp dân gian: 19
1.3.4 Các dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế 20
1.4 Giáo dục sức khỏe: 21
1.5 Các nghiên cứu trước đây: 23
1.5.1 Một số nghiên cứu nước ngoài: 23
1.5.2 Một số nghiên cứu trong nước: 24
1.6 Áp dụng thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu: 26
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Thiết kế nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm nghiên cứu 28
2.3 Thời gian nghiên cứu 28
2.4 Dân số nghiên cứu 28
2.5 Cỡ mẫu 28
2.6 Kỹ thuật chọn mẫu 28
2.7 Tiêu chí chọn mẫu: 28
Trang 42.7.1 Tiêu chí chọn vào 28
2.7.2 Tiêu chí loại ra 28
2.7.3 Đặc điểm và bối cảnh nghiên cứu: 29
2.8 Thu thập số liệu: 29
2.8.1 Công cụ thu thập số liệu: 29
2.8.3 Các bước thu thập số liệu: 23 2.8.4 Xử lý và phân tích số liệu: 31
2.8.5 Kiểm soát sai lệch: 31
2.9 Định nghĩa biến số và phân loại biến số: 31
2.9.1 Biến số độc lập: 31
2.9.2 Biến phụ thuộc: 31
2.9.3 Biến số nền 31
2.9.4 Biến số kiến thức về sốt 32
2.9.5 Biến số về nhận thức của cha/mẹ: 33
2.9.6 Biến số về xử trí sốt của cha/mẹ: 33
2.9.7 Nguồn thông tin cha/mẹ nhận được: 34
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 36
3.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học, kiến thức, nhận thức, xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt và nguồn thông tin cha/mẹ nhận được 36
3.2 Xác định các mối tương quan ………
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN………
4.1 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học………
4.2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ………
4.3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát………
4.4 Xác định nguồn thông tin cha/mẹ chăm sóc trẻ sốt nhận được………
4.5 Xử trí sốt của cha/mẹ và các mối tương quan………
4.6 Nhận xét về đề tài………
4.6.1 Điểm mạnh………
4.6.2 Điểm yếu………
4.7 Ứng dụng của nghiên cứu………
KẾT LUẬN………
KIẾN NGHỊ………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Trang 5PHỤ LỤC 1……… PHỤ LỤC 2………
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NICE National Institute for Health
and Care Excellence
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1.: Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff………
Sơ đồ 1.2.: Mô hình nâng cao sức khỏe HPM………
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ thống đèn giao thông xác định nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ của NICE
Bảng 2.1: Một số câu hỏi bản gốc và đã chỉnh sữa
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học (n =100)
Bảng 3.2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ (n=100)
Bảng 3.3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát (n=100)
Bảng 3.4 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp sử dụng thuốc(n =100) Bảng 3.5 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp không sử dụng thuốc (n =100)
Bảng 3.6 Nguồn cung cấp thông tin về kiến thức sử dụng thuốc hạ sốt và kháng sinh của cha/mẹ (n=100)
Bảng 3.7 Mối tương quan giữa xử trí sốt của cha, mẹ với đặc điểm dân tộc (n =100) Bảng 3.8 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với số con (n =100)
Bảng 3.9 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt với tuổi (n =100)
Bảng 3.10 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với nhiệt độ bình thường (n =100)
Bảng 3.11 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm giảm nhiệt độ (n =100)
Bảng 3.12 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm giảm đau (n =100)
Bảng 3.13 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt bằng thuốc với thuốc hạ sốt làm hại gan, thận (n =100)
Bảng 3.14 Mối tương quan giữa xử trí trẻ sốt không dùng thuốc với thuốc hạ sốt làm hại gan, thận (n = 100)
Bảng 3.15 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với
kiến thức về nhiệt độ sốt (n = 100)
Bảng 3.16 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt bằng thuốc của cha/ mẹ với nhận thức lau mát làm trẻ quấy khóc (n =100)
Trang 9Bảng 3.17 Mối tương quan giữa việc xử trí sốt không dùng thuốc của cha/ mẹ với nhận thức THS giúp trẻ dễ ngủ.(n = 100)
Bảng 3.18 Mối tương quan giữa xử trí không dùng thuốc của cha/ mẹ với nhận thức lau mát làm trẻ quấy khóc (n = 100)
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt được định nghĩa là nhiệt độ trực tràng trên 380C, nhiệt độ miệng trên 37,80C và nhiệt độ nách trên 37,50C Sốt là một triệu chứng thường gặp trong thời thơ ấu, thường liên quan đến một bệnh nhưng nhanh chóng tự giới hạn Sốt làm cho trẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc, chán ăn và sốt là một trong những lý do phổ biến nhất cha mẹ đưa con em mình đến cơ sở y tế[67] Cha mẹ lo ngại về cơn sốt 57%,
họ cho rằng sốt cao là một chỉ số về mức độ nghiêm trọng của bệnh Tuy nhiên, ở nhiệt độ 400C hoặc thấp hơn là một dấu hiệu phản ứng thích nghi của cơ thể do quá trình lây nhiễm hơn là mức độ nghiêm trọng của bệnh[42],[55],[65] Khi có sốt, hệ
đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động hệ miễn dịch, thực bào, tổng hợp kháng thể, ngoài ra sốt làm giảm lượng sắt trong huyết thanh, giảm hấp thu sắt từ ruột khiến vi khuẩn không sinh sản được [12] Do vậy, sốt không phải luôn luôn cần được điều trị Sốt nên được giảm ở những trẻ em như bị bệnh tim từ trước, hô hấp, thần kinh và sốt có thể hỗ trợ trong việc chẩn đoán chính xác bệnh[42],[55],[65]
Nghiên cứu của tác giả Phạm Hải Yến năm 2013 trong số các trẻ có sốt khi nhập viện thì tỷ lệ trẻ sốt cao nhất ở lứa tuổi từ 6 tháng đến 5 tuổi chiếm 80,4%; tỷ
lệ trẻ sốt nhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng là 2,5%[11] Qua những nghiên cứu được công bố năm 2012, 2014 và 2015 cho ta thấy kiến thức của cha mẹ có nhiều sự thay đổi, họ có sự hiểu biết và xử trí sốt tốt hơn các cha mẹ trong quá khứ như thường xuyên đo nhiệt độ cho trẻ, sử dụng các biệt pháp hạ sốt không dùng thuốc như cho trẻ uống nhiều nước, lau mát bằng nước ấm[41],[47],[56],[60],[78] Tuy nhiên cha mẹ vẫn thiếu kiến thức về nhiệt độ uống thuốc hạ sốt và lau mát Tất
cả cha mẹ đều sử dụng thuốc hạ sốt và lau mát khi nhiệt độ dao động từ 37 đến 38,5oC[15], [41] [60]; 38,1% cha mẹ cho rằng sốt khi nhiệt độ 37oC[47] Nhận thức của cha mẹ về sốt có thể làm trẻ bị co giật, hôn mê, tổn thương não và thậm chí là tử vong còn chiếm tỷ lệ khá cao 74% , nên cha mẹ luôn muốn được điều trị sốt cho trẻ (90,3%) [47] Các bà mẹ xử trí sai là mặc thêm quần áo cho con chiếm 41,5% và 32% chườm đá, chanh, rượu, cạo gió, cắt lễ[7], cha mẹ tin rằng việc kết hợp hai loại thuốc hạ sốt là có lợi hơn và sử dụng kháng sinh để hạ nhiệt cho trẻ[60] Việc xử trí sốt của cha/mẹ bị ảnh hưởng bởi đặc điểm nhân khẩu-xã hội học như trình độ học
Trang 11vấn, những cha mẹ hoàn thành bậc cao đẳng, đại học cho rằng sốt không phải lúc nào cũng nguy hiểm nên họ ít điều trị sốt hơn những cha mẹ khác[47] và bà mẹ có kiến thức đúng thì xử trí đúng cao hơn so với bà mẹ có kiến thức không đúng[11] Cha mẹ là những người chăm sóc, chịu trách nhiệm về sức khỏe trẻ Nếu cha
mẹ thiếu kiến thức cũng như xử trí sốt ở trẻ thì sẽ có những sai lầm khi chăm sóc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng trẻ Qua nhiều thập kỷ đã có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này, tuy nhiên kết quả thay đổi theo thời gian, địa điểm nghiên cứu cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tại tỉnh Bình Phước nói chung, Bệnh viện Bình Long nói riêng chưa có nghiên cứu nào về chủ đề này Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “ Xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên quan”
Câu hỏi nghiên cứu: Mối liên quan giữa việc xử trí trẻ sốt của cha mẹ với đặc điểm
nhân khẩu - xã hội học, nhận thức và kiến thức như thế nào?
Mục tiêu:
Tổng quát: Xác định cách thức xử trí của cha mẹ khi trẻ bị sốt và các yếu tố liên
quan
Cụ thể:
1 Xác định đặc điểm nhân khẩu - xã hội học của cha/mẹ trẻ
2 Xác định tỷ lệ kiến thức, nhận thức và xử trí sốt của cha/mẹ trẻ
3 Xác định mối tương quan giữa việc xử trí trẻ sốt với các yếu tố: nhân khẩu &
xã hội học, kiến thức, nhận thức của cha/mẹ
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt:
1.1.1 Định nghĩa thân nhiệt:
Người là loại động vật hằng nhiệt, sự điều hoà nhiệt độ trung tâm của cơ thể trong một khoảng hẹp xung quanh 370C khi tiếp xúc với một khoảng biến đổi nhiệt
độ rộng của môi trường[6]
Thân nhiệt chia làm hai vùng, một là vùng nhiệt độ trung tâm nằm trong giới hạn 36 – 37,40C và có ba cách đo (trực tràng, dưới lưỡi và hõm nách)[6], hai là vùng nhiệt độ ngoại vi nằm trong giới hạn 290C - 350C (da vùng đầu, ngực, bụng, vùng cánh tay và cẳng chân, vùng bàn tay, bàn chân)[6]
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ cơ thể:
Thân nhiệt cơ thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi, nhịp ngày đêm, giới, vận động cơ, nhiệt độ môi trường, cảm xúc, ăn chay, sự suy yếu của hệ thần kinh[6],[48],[67]
Trẻ em thường có thân nhiệt cao hơn người lớn do tăng các hoạt động vật lý lẫn chuyển hóa, sự hoạt động của cơ bắp dẫn đến sự gia tăng sự chuyển hóa[6], thân nhiệt khác nhau vào các thời điểm trong ngày, giảm tối thiểu vào buổi đêm khi đang ngủ và tăng nhẹ vào sáng sớm, đạt tối đa vào buổi chiều [6] Sự xúc động sẽ kích thích thần kinh giao cảm giải phóng epinephrine and norepinephrine làm tăng chuyển hóa và tăng sản xuất nhiệt[67] Khi ăn chay việc cung cấp thức ăn không đủ dẫn đến giảm sản xuất nhiệt, người tâm thần, trầm cảm, bất tỉnh, sử dụng ma túy thì tất cả hoạt động của cơ thể giảm do vậy dẫn đến giảm nhiệt độ[6],[48]
Nhiệt độ cơ thể còn bị ảnh hưởng bởi giới tính, nam có thân nhiệt cao hơn nữ
do khối lượng cơ nhiều hơn, nhưng khi nữ đến tuổi dậy thì do ảnh hưởng của lượng hormone nên khi rụng trứng hoặc mang thai trong ba, bốn tháng đầu thì nhiệt độ tăng[48],[67] Nhiệt độ con người còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường bên ngoài nhưng không nhiều do con người biết cách thay đổi như mặc thêm hoặc cởi bớt quần áo, sưởi ấm
1.1.3 Sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt:
1.1.3.1 Sự sinh nhiệt:
Trang 13Nhiệt là sản phẩm phụ của chuyển hoá và vận động cơ [1],[5] Sự sinh nhiệt chịu ảnh hưởng của hormone tuyến giáp thyroxin, hệ giao cảm và nhiệt độ[5] Nhiệt
độ sản xuất ra hàng ngày rất lớn nếu không có sự thải nhiệt thì trong 24 giờ nhiệt độ
cơ thể có thể tăng lên 400C[5]
1.1.3.2 Sự thải nhiệt:
Hầu hết lượng nhiệt sinh ra trong cơ thể được tạo thành từ các cơ quan ở sâu như gan, não, tim và cơ (khi có vận cơ)[1], nhiệt được vận chuyển đến da là nơi có thể thải nhiệt vào môi trường xung quanh Quá trình thải nhiệt là một quá trình vật lý.[1][75]
1.2 Sốt
1.2.1 Định nghĩa
Ở người, thân nhiệt luôn luôn hằng định ở 370C mặc dù nhiệt độ môi trường bên ngoài có nhiều biến động [18] Trong ngày thân nhiệt thay đổi, thấp nhất lúc sáng sớm và cao nhất lúc về chiều, biên độ biến đổi thân nhiệt trong ngày trung bình
là 0,60C Cao hơn biên độ này là sốt[18]
Hoặc sốt khi thân nhiệt cơ thể vượt quá giới hạn bình thường, nhiệt độ ở nách 37,50C[18]
1.2.2 Cơ chế gây sốt:
Sốt có thể do nhiều yếu tố gây ra gồm chất gây sốt ngoại sinh (pyrogens) Chất gây sốt ngoại sinh gây sốt thông qua một chất trung gian gọi là chất gây sốt nội sinh, đó là interleukin 1 (IL - 1) và interleukin -6 (IL-6)[5]
Trang 14Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ chế phát sinh cơn sốt của Rosendoff [5]
Điểm điều nhiệt
Tăng sản nhiệt Giảm thải nhiệt
Sốt
Kháng
nguyên
Vi khuẩn, virus, chất hoạt hóa nội
sinh Đại thực bào
Trung tâm điều nhiệt Chất gây sốt nội sinh
Acid arachidonic
PGE2
cAMP
Trang 151.2.3 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt:
1.2.3.1 Các rối loạn chuyển hóa trong sốt[12]
Rối loạn chuyển hóa năng lượng: Khi nhiệt độ gia tăng thì chuyển hóa năng lượng, sự tiêu thụ oxy gia tăng (khi nhiệt độ tăng 10C, chuyển hóa tăng 3,3%, tiêu thụ oxy tăng 13%)
Rối loạn chuyển hóa glucid: Khi sốt có tăng chuyển hóa glucid, giảm dự trữ glycogen, tăng đường huyết, tăng lactic acid
Rối loạn chuyển hóa lipid: Khi sốt kéo dài, dự trữ glycogen giảm, tăng sử dụng lipid, tăng thể ketone trong máu
Rối loạn chuyển hóa protid: Gia tăng thoái hóa protein từ cơ, giảm tổng hợp protein, cân bằng nitơ âm Chuyển hóa protid có thể tăng đến 30%
Tăng nhu cầu các vitamin, nhất là các vitamin thuộc nhóm B và C
Đang trong giai đoạn phát sốt thì có sự tăng các nội tiết tố như : Aldosterone
và ADH làm giảm sự bài tiết nước tiểu Khi sốt lui có sự tăng bài tiết nước tiểu, vã
mồ hôi để tăng sự thải nhiệt
1.2.4.2 Các rối loạn chức phận trong sốt [12]:
Rối loạn thần kinh: Khi sốt có thể có những rối loạn ở hệ thần kinh với các biểu hiện như nhức đầu, chóng mặt, nhức mỏi toàn thân, mê sảng, ở trẻ con có thể
có co giật Các biểu hiện tùy thuộc vào tác nhân gây sốt và tính phản ứng cơ thể
Rối loạn tuần hoàn: Nhịp tim tăng, thường thân nhiệt tăng 10C thì tim tăng
10 nhịp Khi bắt đầu sốt huyết áp tăng do co mạch ngoại vi, khi sốt giảm huyết áp giảm do giãn mạch
Rối loạn hô hấp: Khi sốt có sự tăng thông khí do nhu cầu oxy tăng
Rối loạn tiêu hóa: Thông thường có các biểu hiện như đắng miệng, chán ăn, khô niêm mạc môi miệng, giảm tiết dịch và nhu động của ống tiêu hóa gây ăn chậm tiêu, táo bón
Ngoài ra ở hệ nội tiết người ta thấy có sự tăng tiết ACTH, Cortisol Đối với chức năng gan, có sự tăng chuyển hóa đến 30-40%
1.2.4 Nguyên nhân gây sốt:
Trang 16Vi trùng: Các vi trùng gây bệnh phần lớn đều gây sốt, có thể là do kháng nguyên hay độc tố hoặc là các sản phẩm của vi khuẩn ly giải, cũng có thể là một số
chất gây sốt tiết ra từ các tổ chức bị tổn thương, hoại tử[12]
Ký sinh trùng: Thường ít khi gây sốt như nhiễm giun đường ruột, amip ruột, nấm Bệnh ký sinh trùng gây sốt đặc hiệu là bệnh sốt rét với sốt từng cơn, hàng ngày hoặc cách nhật[12]
Virus: Bệnh do virus ít khi gây sốt kéo dài, trên lâm sàng thường gặp là các virus đường hô trên như hợp bào hô hấp, cúm Các virus khác gây bệnh đặc hiệu hơn có sốt cao cấp tính như: Sốt xuất huyết Dengue, Sởi, Sởi Đức, Quai bị, Thủy đậu, viêm gan A, B, C ,[12]
Nguyên nhân không do nhiễm khuẩn: Bệnh huyết thanh, bệnh tự miễn, bệnh ung thư, bệnh do rối loạn chuyến hóa[12]
1.2.6 Ý nghĩa của sốt
1.2.6.1: Lợi ích:
Sốt là một hiện tượng có lợi cho cơ thể Hiện tượng sốt đã có từ hàng triệu năm[12] Khi có sốt, hệ đề kháng của cơ thể tăng do tăng hoạt động của hệ miễn dịch, tăng thực bào, tăng tổng hợp kháng thể [12]
Sốt làm giảm lượng sắt trong huyết thanh do có sự tăng thu sắt bởi hệ thống
tế bào đơn nhân thực bào, giảm hấp thu sắt từ ruột khiến vi khuẩn không sinh sản được [12]
1.2.6.2 Bất lợi của sốt:
Bên cạnh những lợi ích mà sốt mang lại thì sốt cũng gây ra một số vấn đề: mất nước, chán ăn, đau đầu, co giật [12] và ở trẻ nhỏ cha/mẹ sợ ảnh hưởng của sốt nhất là co giật[40],[44],[68] Ở trẻ dưới 5 tuổi, co giật xảy ra khi tiền sử gia đình, bản thân bị co giật và thường lành tính[52] Sốt trên 410 C có nguy cơ co giật và tổn thương não[28]
1.2.7 Vị trí lấy nhiệt độ:
Để xác định mức độ sốt cần đo nhiệt độ chính xác bằng nhiệt kế Nhiệt kế có nhiều loại, chủ yếu là loại nhiệt kế thủy ngân, lấy nhiệt độ có thể ở nách, miệng và hậu môn[18] Đối với những bé dưới 3 tháng tuổi thì cặp nhiệt độ ở hậu môn là
Trang 17phương pháp được sử dụng và cho kết quả chính xác nhất, tuy nhiên gây cảm giác khó chịu[10] Đối với cặp nhiệt độ ở nách thường đơn giản, an toàn, thuận tiện nhất
vì ít phải đưa vào bên trong cơ thể và không gây kích thích cho trẻ nên đây là cách
mà các bà mẹ thường dùng Tuy nhiên, so với đo ở hậu môn thì đo ở nách kém chính xác hơn, vì nhiệt độ cơ thể chịu ảnh hưởng nhiều vào yếu tố môi trường bên ngoài[10],[18],[33] Đo nhiệt độ ở miệng chỉ nên dùng cho bé trên 5 tuổi[33]
Ngoài ra còn có thể lấy nhiệt độ qua nhiệt kế băng dán ở trán trẻ hoặc nhiệt độ cảm ứng nhiệt qua điện tử ở tai trẻ, cách lấy nhiệt độ này nhanh ít gây khó chịu cho trẻ song cần có dụng cụ đo, mà dụng cụ thì chưa phổ biến hiện nay[18] Đo nhiệt độ ở tai không được chỉ định cho bé dưới 3 tháng tuổi do thời điểm này, ống tai của bé còn hẹp[10]
1.3 Điều trị:
Việc điều trị sốt còn nhiều bàn cãi Sốt có thể giữ vai trò chống nhiễm khuẩn mặc dù sốt có thể làm trẻ khó chịu Sốt cao không phải luôn luôn là yếu tố quyết định xem trẻ có cần được chữa trị hay không Thay vào đó là xem hành vi và vẻ ngoài của trẻ Sốt thường đi kèm các triệu chứng khác, những triệu chứng này cần được xem xét[24]
vì hiệu quả và an toàn cho trẻ, liều dùng 10-15 mg/kg uống hay tọa dược mỗi 4-6 giờ hoặc tối đa 60mg/kg/24 giờ [18],[28] Acetaminophen có tác dụng giảm đau,
Trang 18giảm sốt nhưng không có tác dụng kháng viêm, không sử dụng nhiều hơn khuyến cáo, sử dụng quá liều có thể gây hại cho gan[45] Ibuprofen là thuốc kháng viêm không Steroid có tác dụng hạ sốt, giảm đau và kháng viêm được sử dụng ở người lớn, trẻ em ít nhất trên 6 tháng tuổi, không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi mà không hỏi ý kiến Bác sĩ và không sử dụng trong các trường hợp loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, sốt xuất huyết, liều dùng 5-10 mg/kg/lần uống mỗi 6- 8 giờ [28],[24] Các thuốc này giúp trẻ dễ chịu hơn và giảm thân nhiệt trẻ khoảng 1 – 1,5º C, liều lượng của Acetaminophen hay Ibuprofen nên được tính theo cân nặng của trẻ, không nên theo tuổi[24], nên lấy lại nhiệt độ trước khi uống liều tiếp theo[18], không khuyến cáo thường quy kết hợp hoặc dùng xen kẽ Acetaminophen và Ibuprofen vì hầu hết đáp ứng với một loại thuốc[24],[28] kết hợp đồng thời hoặc xen kẽ so với chỉ dùng đơn
lẻ một loại thuốc đang còn trong giai đoạn đánh giá lại về hiệu quả và tính an toàn[24],[28] Trong trường hợp sốt cao không đáp ứng với Acetaminophen đơn thuần có thể phối hợp thêm Ibuprofen sau 1 đến 2 giờ nếu không có chống chỉ định Ibuprofen[28] Aspirin hiện nay ít được sử dụng do biến chứng xuất huyết tiêu hóa, liên hệ đến hội chứng Reye’s[28], dùng lượng lớn thuốc giảm đau không kê toa như aspirin, acetaminophen và ibuprofen có thể gây tổn hại không chỉ cho gan mà còn làm hại cho thận[17], vì chúng có thể làm giảm lượng máu cung cấp cho thận bằng cách làm hẹp mạch máu, gây cản trở dòng chảy của nước tiểu, trực tiếp gây thương tích cho thận hoặc gây phản ứng dị ứng làm tổn thương đến thận[17] Thuốc hạ sốt
có thể sử dụng sớm hơn khi thân nhiệt trên 380C trong các trường hợp bệnh lý tim mạch, viêm phổi để giảm nhu cầu oxy do tăng nhịp tim khi sốt, giảm nguy cơ suy tim hoặc trẻ có tiền sử co giật do sốt[28] Các thuốc hạ sốt không có hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự tái phát của co giật do sốt cao, mặc dù thuốc hạ sốt có thể cải thiện sự dễ chịu cho trẻ[25]
Nếu trẻ sốt li bì, trẻ nôn ói nhiều, trẻ không thể uống được, nhất là những trẻ đang ngủ say mà cha/mẹ không muốn đánh thức trẻ, cha mẹ sẽ cho trẻ dùng viên đạn nhét hậu môn để hạ sốt[31] Thuốc nhét hậu môn hoặc dùng qua đường uống có tác dụng hạ sốt tương đương nhau[70].Dùng thuốc nhét hậu môn nên ngắn hạn, sau
Trang 19đó chuyển sang dạng uống vì nhét hậu môn có thể gây ngứa, kích thích trực tràng[31]
Sử dụng kháng sinh trong trường hợp có bằng chứng nhiễm khuẩn hoặc lâm sàng có dấu hiệu gợi ý hội chứng nhiễm trùng [20],[23],[27],[28] Sử dụng kháng sinh theo toa bác sĩ có thể giúp trẻ mau lành bệnh hơn và giúp phòng ngừa vi khuẩn trở nên kháng thuốc[20],[23] nhiều bậc cha mẹ khi thấy con sốt , ho, chảy mũi li ền hỏi bạn bè ho ặc tự ra hiê ̣u thuốc mua kháng sin h cho con uống mà không biết việc làm này vô cùng nguy hiểm, không dùng kháng sinh theo toa thuốc cũ hay toa của trẻ khác[20],[23],[27] Do vậy, để chữa bệnh cho trẻ an toàn, tránh các tác dụng phụ, giảm chi phí điều trị… cha mẹ nên đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế, bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn về chăm sóc, theo dõi phát hiện dấu hiệu bệnh nặng, tình trạng nhiễm khuẩn và sử dụng thuốc hợp lý[27]
1.3.2 Phương pháp không dùng thuốc:
Uống nhiều nước, nằm chỗ thoáng, mặc quần áo mỏng, tiếp tục ăn uống bình thường và nghỉ ngơi[28],[24]
Lau mát khi trẻ sốt 39 0C- 400C[28] hoặc khi sốt cao kèm co giật hoặc sau khi uống thuốc hạ sốt 30 phút trẻ vẫn còn sốt cao[26] Mục đích của lau mát là làm giảm nhiệt độ cơ thể, giảm kích thích và làm êm dịu thần kinh[22], lau bằng nước
ấm thấp hơn thân nhiệt bệnh nhân 20
C[22],[26],[28] không lau bằng cồn[26] [28] Lau ở những vùng da có mạch máu nông, lớn như nách, bẹn Bốn khăn đắp 2 bên nách, 2 bên bẹn, 1 khăn lau khắp người như tay, chân, lưng, không đắp khăn lên trán và ngực[22] Lau trong 15 – 30 phút hoặc khi nhiệt độ trẻ ≤ 38,50C thì ngưng vì lau hơn 30 phút sẽ làm cho trẻ không thoải mái, quấy khóc, kích thích, rùng mình[22],[28],[51] Trong 15 -30 phút đầu việc lau mát kết hợp với thuốc hạ sốt thì
có tác dụng hạ nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng thuốc[51],[72] nhưng sau 30 -120 phút thì nhóm chỉ dùng thuốc kiểm soát nhiệt độ tốt hơn nhóm lau mát kết hợp với dùng thuốc[51],[72] Lấy nhiệt độ trẻ ngay sau ngưng lau mát, sau đó 30 phút, và mỗi 2 giờ kế, lặp lại lau mát mỗi 2 giờ nếu cần[22]
Lau mát bằng nước ấm cho trẻ được coi là một phương pháp hạ sốt làm tăng thải nhiệt của cơ thể Nhưng lau mát không tác động lên điểm điều nhiệt, tác dụng
Trang 20không kéo dài[5], gây khó chịu cho trẻ, tăng kích thích, làm trẻ quấy khóc, gây tốn thời gian cho nhân viên y tế, người chăm sóc Lau mát cho trẻ bằng nước ấm hiện nay ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 thì bác sĩ chỉ định lau mát cho những trẻ sốt cao kèm đang co giật hoặc sau khi uống thuốc hạ nhiệt 30 phút trẻ vẫn còn sốt ≥ 400C [26]
Miếng dán hạ sốt không phải thuốc, không có tác dụng chữa trị bệnh Đa số
các miếng dán hoạt động theo cách dùng chênh lệch nhiệt độ để giúp vùng được dán giảm được nhiệt độ Cơ chế hạ nhiệt của miếng dán hạ nhiệt được quảng cáo là thụ nhiệt và phân tán ra ngoài nhưng thực tế chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh tác dụng của phương pháp này[9],[30] vì thế hầu hết các miếng dán chỉ đem đến cảm giác mát lạnh, thành phần chủ yếu là hydrogel Cách thức này được xác định là không mang lại hiệu quả tối ưu vì chỉ có thể giảm nhiệt độ ở những vùng được dán Ngoài ra, sản phẩm chỉ dán ngoài da nên không có tác dụng trị bệnh từ bên trong[30] Miếng dán có nguy cơ dị ứng da, ảnh hưởng hệ hô hấp với các trẻ sốt
do viêm phổi, do miếng dán khiến hệ hô hấp của trẻ càng tổn thương do phải hoạt động nhiều hơn[30] Việc dùng miếng dán hạ sốt có thể khiến bệnh nặng và nguy hiểm đến tính mạng vì cảm giác hạ nhiệt của thân thể trẻ nhỏ dễ khiến phụ huynh lầm tưởng con đang khỏi bệnh[9],[30]
1.3.2 Phương pháp dân gian:
Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời trong việc dùng cây cỏ để phòng và trị bệnh, nhờ những kinh nghiệm thực tiễn của cư dân bản địa và sự tiếp thu tinh hoa phòng và chữa bệnh của nền y học cổ truyền phương Đông Nhưng quan trọng nhất chính là sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn tới sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh Theo sách “Cây thuốc Việt Nam và những bài thuốc thường dùng” tập 1 của tác giả Nguyễn Viết Thân và sách
“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của tác giả Võ Văn Chi, nhà xuất bản Y học Hà Nội
2012 thì
Trang 21Quả chanh được dùng làm thuốc giải nhiệt, giúp ăn ngon miệng, lợi tiêu
hóa, long đờm, trị ho, nôn ra mật Đơn thuốc từ chanh: Trị sốt rét dai dẳng, cảm cúm, hen phế quản, ho gà, rắn cắn[85]
Húng chanh: Lá và ngọn non thường được dùng trị cảm cúm, ho hen, ho ra
máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi, chữa viêm họng, khàn tiếng Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc hoặc giã lấy nước uống Ở Malaixia dùng lá giã xoa lên người khi bị sốt [85][86]
Diếp cá: Bài thuốc chữa viêm phế quản mãn, sốt nhẹ về chiều, ho hen, khó
ngủ: 12g diếp cá, 20g Thiên môn, 15g Kim ngân hoa, 20g Sa sâm, Mạch môn 20g (2) Chữa sởi-trẻ em sốt không rõ nguyên nhân: 15g diếp cá, 25g Cỏ nọc sởi, 15g Kim ngân hoa, Kinh giới 15g, sắc uống mỗi ngày một thang [86]
Rau ngót: Công dụng chữa sót nhau, tưa lưỡi trẻ em, ban sởi, viêm phổi, bí
tiểu tiện, lợi tiểu, thông huyết[86]
Các cha/mẹ sử dụng các phương pháp dân gian từ quả chanh tươi cắt lát mỏng chà sống lưng, lòng bàn tay, chân hoặc rau nhọ nồi, diếp cá, húng chanh giã lấy nước uống và bã đắp lên trán Các phương pháp này chưa có nghiên cứu nào nói
về tính an toàn và hiệu quả của nó, như vậy việc sử dụng các phương pháp dân gian
là không dựa vào y học chứng cứ
1.3.4 Các dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế
Trong đa số trường hợp, sốt có thể được theo dõi và điều trị tại nhà Tuy nhiên, điều quan trọng là cha mẹ cần biết khi nào nên đưa trẻ đi khám [24]
Trẻ có các dấu hiệu bất thường như: Không chơi, li bì, khó đánh thức, co giật, thở nhanh, thở khó, thở bất thường, tiêu chảy, phân có nhày máu, trẻ sốt kèm phát
ban da hoặc có bệnh nền: tim mạch, ung thư, lupus, hồng cầu liềm, [8],[24]
Trẻ < 3 tháng tuổi: sốt ≥ 38ºC, ngay cả khi bề ngoài của trẻ vẫn có vẻ tốt[24]
Trẻ > 3 tháng tuổi: sốt ≥ 38ºC hơn 3 ngày hay khi vẻ ngoài của trẻ không tốt (bứt rứt, không chịu bú, …)[24]
Trẻ 3 – 36 tháng: sốt ≥ 39ºC[24]
Trẻ lớn: sốt ≥ 40ºC[24]
Trang 221.4 Giáo dục sức khỏe:
Sốt là phản ứng có lợi cho sức khỏe, ngày nay với sự phát triển của y học thì chăm sóc trẻ sốt có sự thay đổi bằng cách áp dụng trên chứng cứ Theo NICE (National Institute for Health and Care Excellence) xuất bản năm 2013 thì chăm sóc trẻ sốt không chỉ đơn thuần dừng lại ở đánh giá nhiệt độ của trẻ mà cần đánh giá toàn diện về màu sắc da, vận động, hô hấp, tuần hoàn, thiếu nước và những vấn đề khác Đây là bảng phân loại nguy cơ mắc bệnh nặng dựa trên màu sắc đèn giao thông của NICE 2013, bản dịch Tiếng Việt có sự tham khảo từ bản dịch của tác giả Trần Thụy Khánh Linh[16],[65]
Bảng 1.1 : Hệ thống đèn giao thông xác định nguy cơ mắc bệnh nặng ở trẻ của NICE 2013
Đỏ - Nguy cơ cao Vàng – Nguy cơ vừa Xanh – Nguy cơ thấp Màu
sắc
Nhạt/đốm/tái/màu xanh Da xanh xao (do
cha/mẹ người chăm sóc tường thuật lại)
Màu sắc da, môi, lưỡi binh thường
Tỉnh chỉ khi kích thích kéo dài, hoặc
Hoạt động giảm, hoặc
Không cười
Phản ứng bình thường với các tín hiệu xã hội
Giao tiếp/cười
Vẫn tỉnh táo/đánh thức nhanh chóng
Khóc to bình thường/không khóc
Thở nhanh
o RR > 50 nhịp/phút, trẻ từ
6 – 12 tháng
o RR > 40
Trang 23nhịp/phút, trẻ >
12 tháng, hoặc
Oxy bão hòa < 95%
(không hổ trợ oxy), hoặc
Ran nổ Thiếu
Màu da và mắt bình thường
Trẻ có một trong dấu hiệu cột “đỏ” thì nguy cơ mắc bệnh nặng rất cao Trẻ
có nguy cơ vừa nếu xuất hiện sốt và bất kỳ dấu hiệu nào trong cột “vàng” Trẻ thuộc nguy cơ thấp khi dấu hiệu nằm trong cột “xanh”
Theo nghiên cứu “Sốt ở trẻ và xử trí sốt dựa trên chứng cứu khoa học” của tác giả Trần Thụy Khánh Linh và cộng sự công bố năm 2011 chăm sóc trẻ sốt là không gây nguy hại cho trẻ và có ba phương pháp được khuyến cáo là mặc thoáng (không cởi hết quần áo, không mặc nhiều lớp, không đội nón đối với trẻ sơ sinh), cung cấp đủ dịch và tạo sự thoải mái cho trẻ (giảm bứt rứt, làm dịu, không đánh thức trẻ dậy ban đêm để uống thuốc hạ sốt)[16]
Trang 241.5 Các nghiên cứu trước đây:
1.5.1 Một số nghiên cứu nước ngoài:
Theo tác giả Bertille và cộng sự (2013)[41]: 61% cha mẹ xác định ngưỡng sốt là 380C, 66% cha mẹ sử dụng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ thấp hơn 38.50C, 99% cha mẹ sử dụng phương pháp không dùng thuốc (uống nhiều nước, mặc quần áo thoáng, giảm nhiệt độ phòng) Theo tác giả Balafama A, Alex-Hart và cộng sự (2011)[76]: Triệu chứng kèm với sốt là chán ăn 71,5%; 76,2% sờ trán để đo nhiệt
độ cho trẻ; xử trí phổ biến nhất là cho trẻ uống thuốc hạ sốt paracetamol 70,9%; lau mát 50,3%, mặc quần áo thoáng mát là 14,6%, biến chứng của sốt cha mẹ cho là co giật 67,7% Vấn đề tồn tại: cha mẹ xác định nhiệt độ cho con bằng các sờ trán còn khá cao, cha mẹ ít quan tâm đến phương pháp không dùng thuốc hơn dùng thuốc, ở nghiên cứu này không thấy tác giả đề cập đến việc uống nước của trẻ
Theo tác giả Abubaker và cộng sự (2014)[37]: 38,4% cha mẹ xác định chính xác ngưỡng nhiệt độ sốt, các bà mẹ xác định ngưỡng nhiệt độ sốt cao hơn người cha (40,6%; 33%); 68,8% các bà mẹ biết ngưỡng nhiệt độ sử dụng thuốc hạ sốt hơn người cha 47,2%; những người cha ưa thích sử dụng thuốc hạ sốt hơn những người
mẹ (22,8%; 12,7%), trong khi đó những người mẹ thường sử dụng biện pháp lau mát hơn người cha Có mối liên quan về đặc điểm giới tính (cha, mẹ) với kiến thức cũng như xử trí sốt ở trẻ Kiến thức về sốt và xử trí sốt của người cha không tốt bằng người mẹ, khi giáo dục sức khỏe cũng cần quan tâm người cha nhiều, không chỉ nghiêng về người mẹ
Theo tác giả Enarson MC và cộng sự (2012)[47]: Có 42.7% cha mẹ có trình
độ đại học, 25.8% trình độ cao đẳng, trung học là 23.8% và tiểu học là 7.7%; 74% cha mẹ cảm thấy rằng sốt là nguy hiểm và 90.3% luôn muốn được điều trị sốt Hầu hết cha mẹ kiểm tra nhiệt độ cho trẻ 4 giờ một lần, 31% là 2 đến < 4 giờ một lần và 6.4% không kiểm tra nhiệt độ cho trẻ Những cha mẹ có trình độ học vấn cao (đại học, cao đẳng) thì họ không thích điều trị sốt so với nhóm cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn (trung học, tiểu học); 55.7% cha mẹ đánh thức trẻ dạy vào ban đêm để uống thuốc hạ sốt Nhóm cha mẹ trẻ tuổi thì hay gọi điện cho bác sĩ và điều dưỡng hơn những nhóm cha mẹ lớn tuổi Nhóm Chủng tộc có sự khác biệt về việc gọi điện
Trang 25cho nhân viên y tế khi trẻ sốt, ví dụ người da trắng và người da đen thì ít gọi điện cho nhân viên y tế hơn những người có màu da khác (Đông Á, Nam Á, Tây Ban Nha)[56] Từ kết quả cho ta thấy có mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu xã hội học như tuổi , trình độ học vấn, chủng tộ với xử trí sốt của cha mẹ trẻ Những cha
mẹ lớn tuổi, cha mẹ có con đã lớn ít có khả năng tìm kiếm sự chăm sóc y tế cho trẻ Ngoài ra những bậc phụ huynh hoàn thành bậc cao đẳng, đại học cho rằng sốt không phải lúc nào cũng nguy hiểm nên họ ít điều trị sốt hơn những phụ huynh khác
Theo tác giả Laura J và cộng sự (2015)[56]: hầu hết cha mẹ xác định nhiệt độ bình thường từ 36 đến 38oC, ngưỡng sốt là từ 37 đến 39.5oC; 4.7% cha mẹ cho rằng sốt là tốt và nó không nguy hiểm; 61.9% cha mẹ cho biết những lợi ích của sốt như sốt là một dấu hiệu cho thấy hệ thống miễn dịch đang làm việc Tuy nhiên nỗi sợ hãi về sốt không luôn luôn dựa trên bằng chứng đó: sốt gây tổn thương não khi sốt
40 , 41oC; đa số cha mẹ sử dụng nhiệt kế trực tràng để xác định sốt cho trẻ (61.9%);
đa số cha mẹ sử dụng phương pháp không dùng thuốc để hạ sốt (đảm bảo trẻ uống
đủ nước) và tạo sự thoải mái cho trẻ; các cha mẹ không thích sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ, chỉ dùng thuốc khi cần thiết, họ tin rằng việc sử dụng thuốc có thể dẫn đến một cái gì đó tồi tệ hơn[56] Qua nghiên cứu này ta thấy có mối liên quan giữa kiến thức và xử trí sốt, cha mẹ có kiến thức đúng về sốt thì có hành vi xử trí đúng
1.5.2 Một số nghiên cứu trong nước:
Theo tác giả Phạm Hải Yến (2013) [11] trong số các trẻ có sốt khi nhập viện thì tỷ lệ trẻ sốt gặp cao nhất ở lứa tuổi 6 tháng đến 3 tuổi, chiếm 60,9%; tỷ lệ trẻ sốt nhập viện thấp nhất ở lứa tuổi < 6 tháng; 90,2% bả mẹ cặp nhiệt độ thường xuyên; 94,1% cho trẻ dùng thuốc hạ sốt; 41,9% bà mẹ lau mát bằng nước ấm cho trẻ; 5,9%
bà mẹ lau mát bằng nước lạnh ; 2,9% các bà mẹ xoa cồn; 17,6% bà mẹ không biết phải làm gì khi con bị sốt; 52,9% bà mẹ không biết tính liều lượng thuốc Vấn đề tồn tại trong nghiên cứu này: 94,1% bả mẹ cho trẻ dùng thuốc hạ sốt tác giả cho là hành vi đúng nhưng chưa thấy tác giả đưa ra là bà mẹ sử dụng thuốc có theo đúng nhiệt độ sốt theo khuyến các của NICE [65] khi nhiệt độ đo ở nách ≥ 39oC hay không? 90,2% bà mẹ cặp nhiệt độ thường xuyên tác giả cho là hành vi đúng nhưng
Trang 26tác giả chưa đưa ra được khoãng cách giữa hai lần cặp nhiệt của bà mẹ cho trẻ là bao nhiêu phút
Theo tác giả Đoàn Thị Vân (2010)[7]: Nhóm tuổi bà mẹ > 30 tuổi có kiến thức đúng gấp 3,96 lần bà mẹ có nhóm tuổi <30; Những bà mẹ làm công nhân viên
có kiến thức, hành vi xử trí khi trẻ bị sốt tốt hơn những bà mẹ khác; Những bà mẹ
có thu nhập cao có kiến thức tốt hơn bà mẹ có thu nhập thấp và trung bình; bà mẹ
có kiến thức chung đúng có hành vi chung đúng gấp 2,59 lần so với bà mẹ có kiến thức chung không đúng; 41,5% bà mẹ có hành vi sai là mặc thêm quần áo cho con; 26,4% vẫn chườm đá, chanh, rượu ; 6,6% cạo gió, cắt lễ Ta thấy có mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu xã hội học với kiến thức của bà mẹ Và cũng có mối liên quan thuận giữa kiến thức đúng với hành vi đúng
Theo tác giả Trần Thụy Khánh Linh và cộng sự (2012, 2014) [15],[60] Cha
mẹ chưa nhận ra tác dụng có lợi của sốt mà quan tâm nhiều đến tác hại, tác hại nhiều nhất là co giật (62.5%), mệt (37.5%), ngoài ra có những tác hại khác chán ăn, ngủ lịm đi, đa số cha mẹ cho rằng nhiệt độ sốt là 38oC (43.8%), 38.1% cha mẹ cha rằng sốt khi nhiệt độ 37oC Cách xác định nhiệt độ khi trẻ sốt bằng nhiều cách như
sờ trán hoặc người trẻ (25%), cặp nhiệt ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân (50%), cũng như các thời điểm xác định nhiệt độ khác nhau như sờ cảm thấy trẻ nóng (75%), sau khi lau mát (34%), hoặc vào mỗi buổi sáng trong giai đoạn trẻ đang bị sốt(6.3%), hoặc mỗi giờ (3.1%) Về việc xử trí thì tất cả cha mẹ đều sử dụng thuốc
hạ sốt và lau mát khi nhiệt độ dao động từ 37 đến 38.5oC có 28.1% sử dụng paracetamol khi nhiệt độ 38oC, 9.4% khi nhiệt độ 37.5oC; 50% lau mát bằng nước
ấm khi nhiệt độ từ 37 -38oC Một số biện pháp xử trí khác như mặc quần áo thoáng mát 15.6%, cho trẻ uống nhiều dịch 9.4%, xoa cồn 3.1%, sử dụng miếng dán ở trán 15.6% Ngoài ra việc sử dụng kháng sinh 68.8% theo toa thuốc bác sĩ, 15.6% ra ngoài nhà thuốc tây mua và 3.1% dùng toa thuốc cũ để đi mua thuốc Ta thấy có mối liên quan giữa kiến thức và xử trí sốt của cha mẹ trẻ, về kiến thức đa số cha mẹ nghĩ sốt là có hại, hoặc xác định ngưỡng nhiệt độ sốt chưa đúng nên họ xử trí thuốc hoặc không sử dụng thuốc để hạ sốt cho trẻ, cha mẹ trẻ đã có những xử trí sai như
Trang 27xoa cồn, sử dụng lại toa thuốc cũ, sử dụng thuốc hạ sốt khi ngưỡng nhiệt độ chưa được khuyến cáo dùng
1.6 Áp dụng lý thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu:
Mô hình nâng cao sức khỏe (HPM) bởi tác giả Nola J Pender đề xuất năm
1982, đã được thiết kế để trở thành một “bản sao bổ sung cho mô hình bảo vệ sức khỏe” Định nghĩa sức khỏe “một trạng thái năng động tích cực không chỉ đơn thuần là không có bệnh” HPM mô tả tính chất đa chiều của những người chúng tương tác trong môi trường của họ để theo đuổi sức khỏe HPM tập trung vào ba lĩnh vực: đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân, nhận thức hành vi cụ thể và ảnh hưởng của nhận thức lên hành vi, kết quả hành vi HPM ghi chú rằng mỗi người có đặc điểm cá nhân và kinh nghiệm ảnh hưởng đến hành động Kiến thức cụ thể về hành
vi và ảnh hưởng có ý nghĩa động lực quan trọng, hành vi thúc đẩy sức khỏe là kết quả hành vi mong muốn và là điểm cuối cùng trong HPM[35]
Sơ đồ 1.2: Mô hình nâng cao sức khỏe
Từ mô hình nâng cao sức khỏe, điểm đến cuối cùng là cha mẹ có kiến thức và xử trí sốt đúng cho trẻ Những yếu tố tác động lên hành vi này như những hành vi liên quan trước đó, chúng ta phải tìm hiểu xem cha mẹ có những thói quen nào trong quá khứ đó là thói quen tốt hay xấu cho trẻ ví dụ cha mẹ có thói quen xấu dẫn đến
Cha mẹ có kiến thức và hành vi
Nhận thức niềm tin của bản thân
Trang 28hành động sai và nguy hiểm như cạo gió, cắt lễ khi trẻ sốt[7],[11] hoặc những yếu
tố về nhân khẩu học, xã hội học: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, kinh tế, số con, những yếu tố này tác động đến nhận thức cũng như hành
vi của cha mẹ trẻ Ví dụ những bà mẹ >30 tuổi có hành vi xử trí sốt tốt hơn bà mẹ <
30 tuổi [7], người cha có kiến thức và hành vi xử trí sốt không tốt bằng người mẹ[37]
Nhận thức được những lợi ích của hành động, hạ sốt cho trẻ bằng phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc cha mẹ cảm thấy yên tâm vì cha mẹ cho rằng sốt là có hại, sốt cao dẫn đến co giật, do vậy chúng ta phải làm cho cha mẹ có nhận thức đúng về sốt để họ có hành động đúng Nhận thức những rào cản của hành động, sự không hài lòng về việc phải từ bỏ những hành vi có hại cho sức khỏe để chấp nhận một lối sống khỏe mạnh hơn cũng có thể tạo thành một rào cản Những rào cản này thường gợi lên những động lực tránh né đối với những hành vi đã được định trước Nhận thức niềm tin bản thân, cha mẹ có kiến thức, nhận thức đúng về sốt nhưng bản thân họ có muốn hành động đúng hay không, tức họ ý thức được điều
đó đúng nhưng họ vẫn hành động sai
Học thuyết Pender con người thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố, các yếu tố này tác động đến hành vi của cha mẹ Khi các trở ngại được loại bỏ, cá nhân sẽ có sức khỏe và chất lượng cuộc sống sẽ tốt hơn
Trang 29CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, có phân tích
2.2 Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám nhi Bệnh viện đa khoa Thị xã Bình Long
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2016 đến tháng 7/2017
2.4 Dân số nghiên cứu
Cha/mẹ có trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi bị bệnh (sốt hoặc không sốt), đến khám tại phòng khám nhi Bệnh viện đa khoa Thị xã Bình Long
2.5 Cỡ mẫu:
Z21-α/2 × p × (1 – p)
n =
d2 n: Cỡ mẫu
α: Xác suất sai lầm loại I, chọn trị số α là 0,05 => Z = 1,96
Cha/mẹ đã có ít nhất một lần chăm sóc trẻ sốt tại nhà
Cha mẹ từ 18 tuổi trở lên, có thể nói và hiểu tiếng Việt
2.7.2 Tiêu chí loại ra:
Trẻ bị bệnh nặng (có sốt hoặc không sốt) trong tình trạng nguy kịch cần xử trí cấp cứu, nhập viện
Trẻ có bệnh lý tim mạch, viêm phổi
Trẻ có tiền sử sốt cao co giật
Trang 302.7.3 Đặc điểm và bối cảnh nghiên cứu:
Khoa khám bệnh của Bệnh viện đa khoa thị xã Bình Long trung bình khám
550 600 bệnh/ngày, có 2 phòng khám nhi và mỗi phòng khám nhi khám khoảng
60 bệnh/ngày, có khoảng 70% trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi đến khám trong ngày, các mặt bệnh chủ yếu là viêm đường hô hấp, tiêu hóa hay nhiễm siêu vi
2.8 Thu thập số liệu:
2.8.1 Công cụ thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi khảo sát được cập nhập từ bộ câu hỏi trước đây được sử dụng bởi tác giả Lipa Athamneh [31], tác giả Trần Thụy Khánh Linh [30] và có sự chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp
Bảng 2 1: Một số câu hỏi bản gốc và đã chỉnh sữa
Trẻ nhỏ nhất là bao nhiêu tuổi:……… Anh/chị bao nhiêu tuổi?
6 Đại học-sau đại học
Số con trong gia đinh: ………… Hiện tại anh/chị có bao nhiêu con?
1 ≤ 2 2 > 2
Trang 31Anh/chị kiểm tra nhiệt độ khi trẻ bị sốt mỗi:
7 Tôi không sử dụng thuốc hạ sốt
Với ngưỡng nhiệt độ là bao nhiêu thì anh/chị sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ?
4 Tôi không biết
Các phương pháp vất lý anh/chị thường
Trang 32Bước 1: Tiếp cận cha/mẹ trẻ tại phòng khám nhi
Bước 2: Giải thích cho cha/mẹ về nghiên cứu và mời tham gia vào nghiên cứu đối với cha/mẹ đủ tiêu chí chọn mẫu
Bước 3: Phát phiếu chấp nhận tham gia nghiên cứu và cha/mẹ ký tên vào Bước 4: Nhóm nghiên cứu trực tiếp hỏi cha/mẹ và đánh vào bộ câu hỏi trong thời gian khoảng 30 phút cho một người
2.8.3 Xử lý và phân tích số liệu:
Nhập số liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
Thống kê mô tả: tần số, tỷ lệ phần trăm
Thống kê phân tích: Sử dụng phép kiểm chi bình phương, phép kiểm Fisher
2.8.5 Kiểm soát sai lệch:
Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, phù hợp
Tiến hành khảo sát thử 30 đối tượng và nhập liệu, xử lý, phân tích số liệu để kiểm tra tính phù hợp và hiệu chỉnh lại bộ câu hỏi
2.9 Định nghĩa biến số và phân loại biến số:
Trang 331 Cha 2 Mẹ
A2 Tuổi của cha mẹ là biến nhị giá
1 ≤ 30 2 > 30 A3 Dân tộc: là biến danh định có 3 giá trị
1 Kinh 2 STieng 3 Khác
A4 Nghề nghiệp: là biến danh định 5 giá trị
1 Công nhân viên 2 Làm rẫy 3 Buôn bán
B1 Kiến thức của của cha/mẹ về nhiệt độ bình trường của trẻ là biến nhị giá
gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “370C”
B2 Kiến thức của của cha/mẹ về nhiệt độ sốt của trẻ là biến nhị giá gồm 2
giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “380C”
B3 Kiến thức của của cha/mẹ về nhiệt độ khi sử dụng thuốc hạ sốt cho trẻ là
biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “ ≥
390C”
B4 Kiến thức của cha/mẹ về ngưỡng nhiệt độ tìm đến bác sĩ là biến nhị giá
gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “≥ 390C”
B5 Kiến thức về thời điểm lau mát cho trẻ là là biến nhị giá gồm 2 giá trị
đúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “Nhiệt độ trẻ ≥ 390C”
B6 Kiến thức về số lần đo nhiệt độ trong một ngày của cha mẹ khi sốt là
biến số gồm hai giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “≥ 4”
B7 Kiến thức của cha/mẹ về nơi lấy nhiệt độ an toàn và dễ dàng nhất cho trẻ
dưới 6 tuổi là biến nhị giá đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả lời “nách”
Trang 34B8 Kiến thức của cha/mẹ về tác dụng của thuốc hạ sốt là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Kiến thức đúng khi trả:
1 “Có” giữ nhiệt độ của trẻ hạ trong vòng vài giờ
2 “Có” giảm đau do sốt/bệnh gây ra
3 “Có” gây hại cho gan, thận của trẻ
2.9.5 Biến số về nhận thức của cha/mẹ:
C1 Nhận thức vể lợi ích của sốt là biến nhị giá “có, không”
C2 Nhận thức về lợi ích của thuốc hạ sốt ngăn co giật, giảm lo lắng của
cha/mẹ về co giật do sốt cao, giảm khó chịu cho trẻ và giúp trẻ dễ ngủ là biến nhị giá “có, không”
C3 Nhận thức về lợi ích của lau mát ngăn co giật, giảm lo lắng của cha/mẹ
về co giật do sốt cao, giảm khó chịu cho trẻ là biến nhị giá “có, không”
C4 Nhận thức về ảnh hưởng tiêu cực của sốt là biến danh định, gồm 5 giá trị: mất nước, co giật, tổn thương não, hôn mê và tử vong
C5 Nhận thức về bất lợi của lau mát làm trẻ rùng mình và quấy khóc là biến nhị giá “có, không”
2.9.6 Biến số về xử trí sốt của cha/mẹ:
vì nôn, trẻ từ chối uống và chưa từng sử dụng qua đường hậu môn
D5 Liều lượng cha mẹ sử dụng thuốc hạ sốt là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và không đúng Xử trí đúng khi khi chọn “cân nặng”
Trang 35D6 Anh/chị nghĩ gì khi trẻ sốt càng cao thì cho bé uống liều hạ sốt càng lớn
là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và không đúng Xử trí đúng khi khi chọn “nguy hiểm”
D7 Cho trẻ sử dụng kháng sinh khi sốt là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng và không đúng Xử trí đúng khi khi chọn “theo toa bác sĩ”
2.9.6.2 Phương pháp không dùng thuốc
D8 Xử trí khi trẻ sốt tại nhà bằng phương pháp không dùng thuốc là biến nhị
giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi trả lời:
1 “Có’ lau mát bằng nước ấm
2 “Có” cho trẻ mặc quần áo mỏng
3 “Có” cho trẻ uống nhiều nước
4 “Có” phòng thoáng mát, giảm nhiệt độ phòng
D9 Số lượng khăn để lau mát cho trẻ là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “5”
D10 Thời gian lau mát cha mẹ đã từng thực hiện là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “15 30 phút”
D11 Nhiệt độ nước mà cha/mẹ dùng để lau mát cho trẻ là biến nhị giá gồm 2 giá trị đúng hay không đúng Xử trí đúng khi chọn “nước ấm”
D12 Các phương pháp khác như cắt lễ & cạo gió, xoa cồn, chanh, chườm
đá, băng dán, phương pháp dân gian, không sử dụng phương pháp nào vừa kể mà cha/mẹ sử dụng để hạ sốt cho trẻ là biến nhị giá “Có, không”
2.9.7 Nguồn thông tin cha/mẹ nhận được:
E1 Nguồn thông tin về thuốc hạ sốt cha/mẹ nhận được là biến nhị giá “có, không”
E2 Nguồn thông tin về thuốc kháng sinh cha/mẹ nhận được là biến nhị giá
“có, không”
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu:
Cha mẹ trẻ sau khi đã được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến nghiên cứu: Giới thiệu khái quát về nghiên cứu, mục đích, thời gian tham gia của đối tượng nghiên cứu, những lợi ích có được từ nghiên cứu cho đối tượng hoặc cho
Trang 36cộng đồng Cha/mẹ đồng ý tham gia sẽ ký vào bản đồng thuận Ngôn ngữ trong bản chấp thuận là ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu để cha mẹ chọn sự thỏa thuận tham gia nghiên cứu Trong suốt quá trình nghiên cứu đối tượng có quyền quyết định rút lui khỏi nghiên cứu ở bất kỳ thời điểm nào và không bị mất quyền lợi (quyền được khám, chữa bệnh, chăm sóc, làm các cận lâm sàng thường quy,…) Mọi thông tin của cha mẹ trẻ và trẻ sẽ được giữ bí mật tuyệt đối Nghiên cứu được sự chấp thuận của Hội đồng Y đức của trường đại học Y Dược TP.HCM và hội đồng Nghiên cứu khoa học Bệnh viện Bình Long
Trong trường hợp phát hiện cha/mẹ chưa biết cách xử trí hoặc xử trí chưa đúng khi trẻ bị sốt, nhóm nghiên cứu tiến hành hướng dẫn xử trí cho cha/mẹ
Trang 37CHƯƠNG III: KẾT QUẢ
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 100 cha/mẹ tham gia Sau khi thu thập và phân tích số liệu chúng tôi đưa ra kết quả sau:
3.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học, kiến thức, nhận thức, xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt và nguồn thông tin cha/mẹ nhận được
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học (n =100)
Nhận xét: Trong nghiên cứu này người mẹ tham gia chăm sóc chính (85%), độ tuổi
≤ 30, > 30 gần bằng tương đương nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần hai phần
ba dân tộc khác Hơn một phần ba cha/mẹ làm nghề công nhân và phần lớn và gần bốn phần năm có 1 hoặc 2 con Trình độ học vấn của cha/mẹ đa dạng từ không học cho tới đại học và cấp 2 chiếm gần hai phần ba các trình độ khác
Trang 38Bảng 3.2 Kiến thức về sốt của cha/mẹ (n=100)
Nhận xét: Hơn một nửa cha/mẹ chưa xác định chính xác nhiệt độ bình thường của
trẻ (56%) và sử dụng thuốc hạ sốt khi nhiệt độ < 390C là 57%, 87% cha/mẹ xác định nhiệt độ lau mát < 390C hoặc sờ thấy âm ấm, gần hai phần ba không biết hoặc xác định nhiệt độ đi khám bệnh < 390C (61%) và đa số cha/mẹ cho rằng thuốc hạ sốt không ảnh hưởng tới gan, thận khi uống (77%)
Trang 39Hơn hai phần ba xác định chính xác nhiệt độ sốt (70%) và vị trí cặp nhiệt an toàn, thuận tiện cho trẻ là ở nách (73%) và một phần ba kiểm tra nhiệt độ thường xuyên cho trẻ ≥ 4 lần/ngày
Bảng 3.3 Nhận thức những lợi ích và bất lợi về sốt, thuốc, lau mát (n=100)
Nhận xét: Về lợi ích: 93% cha/mẹ tin rằng sốt có hại, gần hai phần ba cho rằng
thuốc hạ sốt sẽ ngăn co giật, hơn một nửa giúp trẻ dễ ngủ và 77% giúp trẻ thoải mái Hơn hai phần ba cho rằng lau mát sẽ giúp trẻ dễ chịu, ngừa co giật và giảm sự lo lắng của cha/mẹ về co giật ở trẻ
Về bất lợi: Cha/mẹ sợ co giật nhất khi trẻ sốt (77%), Tỷ lệ cha mẹ cho rằng ảnh hưởng của lau mát làm trẻ rùng mình chiếm hơn một phần ba và tỉ lệ lau mát làm trẻ quấy khóc cũng tương đương
Trang 40Bảng 3.4 Xử trí của cha/mẹ khi trẻ bị sốt bằng phương pháp sử dụng thuốc
Sốt càng cao uống liều hạ sốt càng nhiều
Hiệu quả hơn
Nhận xét: Khi trẻ sốt thuốc hạ sốt hàng đầu được các ông bố, bà mẹ sử dụng là
acetaminophen (88%), không có cha/mẹ nào chọn Ibuprofen hay Aspirin Hơn hai phần ba cho rằng không thể dùng kết hợp trên hai loại thuốc hạ sốt lại với nhau và
đa phần là sử dụng thuốc qua đường uống (98%), 58% đã từng sử dụng thuốc qua đường hậu môn, trong đó hơn một nửa dùng tại bệnh viện (34%) Gần một nửa