1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

luận văn thạc sĩ Kết cấu vận luật của thể song thất lục bát trong tiến trình phát triển thể loại ngâm khúc

143 767 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 462,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ---ĐỖ THỊ HƯỜNG KẾT CẤU VẬN LUẬT CỦA THỂ SONG THẤT LỤC BÁT TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN THỂ LOẠI NGÂM KHÚC Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã Số:

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2009

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-ĐỖ THỊ HƯỜNG

KẾT CẤU VẬN LUẬT CỦA THỂ SONG THẤT LỤC BÁT TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN THỂ LOẠI NGÂM KHÚC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã Số:60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn:TS.Phạm Thị Phương Thái

THÁI NGUYÊN, NĂM 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn

Trang 4

số bài viết, công trình khoa học tìm hiểu những vấn đề về đặc trưng, nguồngốc và quá trình hoàn thiện thể STLB Hầu hết ý kiến của các nhà nghiêncứu đi trước đều đã được biện giải khá thuyết phục Tuy nhiên, vẫn còn cónhiều điểm cần nhìn nhận lại và bàn thêm Chẳng hạn, đành rằng, ngọnnguồn của thể STLB là văn học dân gian Nhưng đó không phải là nguồngốc duy nhất của thể thơ này Có thể thoát thai từ câu hát dân gian nhưngchắc chắn phải nhờ sự “thi công” của nhiều thế hệ thi sĩ tài hoa, tinh tế thìSTLB mới trở thành một thể thơ cách luật, mới có thể tỏa sáng với nhữngtác phẩm Ngâm khúc ở thế kỷ XVIII – XIX Và như vậy, sẽ thấy rõ hơncông lao của nhiều thế hệ thi sĩ trong việc tìm tòi và sáng tạo một lối thơriêng cho dân tộc.

Nghiên cứu STLB về kết cấu vận luật và tiến trình phát triển từ nhữngdấu hiệu đầu tiên cho đến bước hoàn tất với các khúc ngâm ở thể kỷ XVIII –XIX, không những có dịp bàn thêm về đặc trưng thể thơ STLB mà còn có thểnhìn nhận quá trình vận động, phát triển của thể thơ STLB từ hình thức đếnnội dung như lẽ tất yếu, nhằm thỏa mãn nhu cầu phản ánh của thời đại

Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Kết cấu vận luật của thể song thất lục bát trong tiến trình phát triển thể loại Ngâm khúc”.

4

-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đáp ứng được nhu cầu tình cảm của con người trong bối cảnh lịch sửnên ngay từ khi mới ra đời, STLB đã chiếm được lòng yêu mến của côngchúng thưởng thức văn học Với tư cách là một thể thơ dân tộc, hơn nữa lại làthể loại có thành tựu rực rỡ trong văn học Việt Nam thời trung đại, STLB đãthu hút được sự quan tâm đánh giá của các nhà nghiên cứu Từ những thậpniên đầu thế kỷ XX đến nay, thể thơ này thực sự trở thành nội dung nghiêncứu, tìm hiểu của các nhà văn học sử học và lý luận thơ ca

2.1 Về nguồn gốc của thể STLB

Do hầu hết các thể thơ, thể văn trong văn học trung đại Việt Nam đều

có nguồn gốc từ Trung Quốc nên xung quanh vấn đề nguồn gốc của thể STLB

đã có rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau Có quan điểm cho rằng thể thơSTLB là thể thơ thuần túy của Việt Nam, quan điểm khác lại khẳng định thểSTLB là một hiện tượng lắp ghép giữa cặp thất ngôn của Trung Hoa và cặplục bát của Việt Nam Gần đây, hầu hết giới chuyên môn đều thừa nhận STLB

là thể thơ của dân tộc ta Tác giả Bùi Kỷ đã khẳng định đó là “lối văn riêng của ta mà Tàu không có” [44, 82] Nhà nghiên cứu Phương Lựu cũng tán

Trang 6

đồng quan điểm này Ông đã khẳng định: “Thể thơ STLB được hình thành trên cơ sở thể lục bát và thể thơ bảy chữ vốn có sẵn trong thơ ca dân gian Việt Nam” [31, 452].

Trong bài viết “Đi tìm ngọn nguồn của cặp thất ngôn trong thể song

thất lục bát”, tác giả Phan Diễm Phương đã tiến hành so sánh cấu trúc âm

luật của cặp thất ngôn Trung Hoa và cặp thất ngôn Việt Nam để từ đó rút ra

kết luận: “Điệu STLB là điệu hoàn toàn Việt Nam” [42, 38] Sau đó, tác giả

đưa ra cách lí giải và chứng minh thể thơ STLB có ngọn nguồn từ văn họcdân gian Điều này chứng tỏ quan điểm cho rằng thể STLB thuần túy ViệtNam là hoàn toàn chính xác

Không dừng lại ở đó, Phan Diễm Phương tiếp tục làm rõ nguồn gốccủa thể thơ này qua bài “Thử tìm hiểu những điều kiện hình thành hai thể

thơ lục bát và Song thất lục bát” Từ những căn cứ đầy sức thuyết phục, tác giả thêm một lần nữa khẳng định chắn chắn rằng “dân tộc Việt có đủ mọi điều kiện để tạo nên thể thơ đó” [43, 33].

Về thời điểm xuất hiện những dòng STLB thành văn, tác giả PhanDiễm Phương, tác giả Ngô Văn Đức đều khẳng định những dòng STLB đầu

tiên được bắt đầu từ tác phẩm “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của

Lê Đức Mao Tác giả Phan Ngọc lại cho rằng “Bồ Đề thắng cảnh thi” tương

truyền của Lê Thánh Tông mới là tác phẩm khởi thảo của thể STLB Chính vìvậy, thời điểm xuất hiện thể STLB cũng là vấn đề cần phải xem xét

2.2 Về đặc trưng kết cấu vận luật của thể STLB

Tiếp theo những công trình nghiên cứu về nguồn gốc của thể STLB,các nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu đặc trưng của thể loại này Một trongnhững đặc trưng đó là kết cấu vận luật

Tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu ngoài việc

chỉ ra những đặc điểm hình thức của thể thơ, tác giả còn trình bày một số vấn

Trang 7

đề cơ bản về vần luật bằng trắc trong cặp câu thất của thể STLB: “trừ chữ thứ nhất không kể, muốn đặt tiếng gì cũng được, còn sáu chữ sau chia làm ba đoạn mỗi đoạn hai chữ Trong câu 7 thì có đoạn đầu trắc trắc; đến câu 7 dưới thì luật trái lại: đoạn đầu bằng bằng” [16, 206] Những vấn đề mà ông

đã đề cập tới sẽ là sự gợi mở cho các tác giả ở giai đoạn sau khi nghiên cứu vềđặc trưng kết cấu vần luật của thể STLB

Viết về thể STLB, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả

cũng đã chỉ ra một số đặc điểm về hình thức, cách gieo vần, nhịp điệu của thểSTLB Nhưng những nhận định này vẫn mang tính chất khái quát và hết sức

sơ lược

Trong cuốn Lí luận văn học, tác giả Phương Lựu chủ yếu tập trung vào tìm hiểu về mặt hình thức của thể thơ STLB: “Song thất lục bát là thể thơ cứ hai dòng bảy chữ (song thất) lại một dòng sáu chữ và một dòng tám chữ

“(lục bát)” [31, 452] Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến đặc trưng kết

cấu vận luật của thể này Ông đã chỉ ra cách hiệp vần và phối thanh của

thể STLB: “Chữ cuối của dòng bảy thứ nhất hiệp vần với chữ thứ năm của dòng bảy thứ hai Hai chữ hiệp vần đều thuộc thanh trắc Chữ thứ bảy của dòng thứ hai hiệp vần với chữ thứ sáu của dòng sáu tiếp theo và đều thuộc thanh bằng….Như vậy, mỗi khổ thơ có một vần chân trắc và ba vần chân bằng…” [31, 452] Tuy nhiên, những đặc trưng khác về nhịp điệu, về phép

đối… của thể thơ thì chưa được các tác giả đề cập tới

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại đã chú ý hơn tới vấn đề đặc trưng kết cấu vận luật

của thể STLB Đóng góp của hai tác giả là đã khẳng định thể thơ này là sự tổhợp của lục bát và thất ngôn Tuy nhiên, họ cũng mới chỉ đề cập đến đặctrưng vần luật của thể STLB một cách chung chung, chưa có sự lí giải cụ thể

Khác với những công trình nghiên cứu đi trước, Lục bát và song thất

Trang 8

lục bát (Lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại) của Phan Diễm Phương đã chỉ

ra cụ thể một số đặc trưng của thể thơ STLB về: gieo vần, ngắt nhịp, phốithanh điệu… Đồng thời, tác giả cũng đưa ra cách lí giải về ngọn nguồn của

thể thơ lục bát và thể STLB “Đó là hai thể thơ dân tộc, được hình thành trên những điều kiện cụ thể là tiếng Việt và văn hóa Việt, trong mối liên hệ rất mật thiết với văn vần dân gian của dân tộc Việt” [44, 123] Đây là một công trình

có giá trị lớn trong việc làm sáng tỏ đặc trưng kết cấu vần luật của thể STLB.Tiếp thu thành quả của công trình này chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu vàchỉ ra sự vận động về mặt hình thức và mặt nội dung của thể STLB trong tiếntrình phát triển của thể loại Ngâm khúc

Tác giả Ngô Văn Đức trong cuốn Ngâm khúc, quá trình hình thành phát triển và đặc trưng thể loại cũng có nói đến thể thơ STLB trong tương

quan so sánh với thể lục bát và Đường luật Từ đó, tác giả bước đầu chỉ ragiá trị của thể STLB trong việc diễn tả nội tâm con người và khẳng định thểthơ này là hình thức tối ưu của thể loại Ngâm khúc Nhưng những vấn đềnày vẫn còn rất chung chung, mới chỉ dừng lại ở mức độ đặt vấn đề Đây làmột trong những tiền đề gợi mở để chúng tôi thực hiện đề tài này

Trong những năm gần đây, giới chuyên môn đã quan tâm nhiều hơn tớiđặc trưng kết cấu vận luật của thể STLB Nhờ có sự quan tâm này, mà một sốvấn đề cơ bản của thể thơ này đã được giải quyết ở những mức độ khác nhau

Từ đó giúp ta có thể nhận diện thể thơ STLB một cách dễ dàng

2.3 Lịch sử nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của thể STLB trong Ngâm khúc

Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá những giá trị nội dung và nghệthuật của các tác phẩm Ngâm khúc có một lịch sử khá lâu dài, nhưng việcnghiên cứu quá trình vận động và phát triển của thể STLB thì lại là vấn đềkhá mới mẻ

Trang 9

Ở giai đoạn đầu (giữa thế kỷ XX), hầu như các tác giả mới chỉ tậptrung tới việc giới thiệu, khảo đính và giải thích điển cố mà chưa chú ýđúng mức tới quá trình vận động của thể STLB trong các tác phẩm Ngâm

khúc Có thể kể đến các công trình như : Chinh phụ ngâm khảo thích và giới thiệu (Nhà xuất bản văn hóa HN 1964) của Lại Ngọc Cang; Cung oán ngâm khúc khảo thích chú giải (Hà Nội 1931) của Đinh Xuân Hội; Cung oán ngâm khúc dẫn giải (Tân Việt Sài Gòn 1953) của Tôn Thất Lương; Cung oán ngâm khúc dẫn giải (Quốc học thư xã, HN 1953) của Lê Văn Hòe; Cung oán ngâm khúc hiệu đính chú giải (Bộ giáo dục HN 1957) của Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Vũ Đình Liên; Cung oán ngâm khúc khảo thích giới thiệu (Nxb văn hóa HN 1959) của Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu; Tự tình khúc và Trần tình văn – chú thích và giới thiệu (Nxb văn

hóa HN 1958) của Đái Xuân Minh, Nguyễn Tường Phượng Trong cáccông trình trên, các tác giả tuy đã đưa ra những nhận xét đánh giá ngắn gọnnhưng chỉ nhằm thâu tóm được cái tài, cái thần của tác phẩm về phươngdiện nội dung chứ không hướng vào làm rõ quá trình vận động phát triển củathể STLB trong thể loại Ngâm khúc

Giai đoạn sau (từ thập kỷ 70), các nhà nghiên cứu đã soi chiếu tácphẩm từ những góc độ khác nhau nhưng chỉ dừng lại ở việc phân tích văn bảnhoặc khai thác giá trị của hình tượng nghệ thuật Các công trình này thường

có quy mô nhỏ lẻ chưa thật chuyên sâu nhưng ở đó đã có những ý kiến mới

mẻ Đó là quan niệm Ngâm khúc như là một thể loại với những đặc điểm

riêng: Thử đặt lại vị trí của Cao Bá Nhạ (Đặng Thị Hảo), Từ bản Nôm mới phát hiện góp phần xác định thêm tác giả và thời điểm ra đời của Ai tư vãn (Nguyễn Cẩm Thúy), Thể loại ngâm và “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều (N.I.Niculin), Tiếng khóc nhân loại trong tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều

(Vũ Khiêu), các bài viết của các tác giả Phạm Luận, Đặng Thanh Lê, Nguyễn

Lộc… trong các giáo trình văn học Việt Nam về Chinh phụ ngâm khúc và

Trang 10

Cung oán ngâm khúc… Những khúc ngâm chọn lọc của Lương Văn Đang,

Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Lộc Các tác phẩm ở giai đoạn này, tuy đã cóbước tiến hơn giai đoạn trước, nhưng vấn đề về sự vận động của thể STLBvẫn chưa được đề cập đến

Cuối thế kỷ XX, trên các tạp chí văn học, đã có một số bài viết về sựvận động và phát triển của thể STLB trong tác phẩm Ngâm khúc

Trong bài nghiên cứu “Cung oán ngâm khúc trên bước đường phát

triển của thể song thất lục bát” của Đặng Thanh Lê đã chỉ ra sự phát triển của STLB “khác với các thể kỷ trước, các tác phẩm song thất lục bát của thế kỷ thứ XVIII đưa thể thơ này vào chức năng phản ánh nội dung tâm trạng có tính chất bi kịch…” [26, 47] Nhưng nhận định này mới chỉ được rút ra từ

việc khảo sát một tác phẩm cụ thể nên nó chưa khách quan và đủ sức thuyếtphục

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong bài viết “Tìm hiểu quá trình vận

động phát triển của thể loại song thất lục bát” trên Tạp chí Văn học số 5 –

2000 đã chỉ ra được ba giai đoạn phát triển của thể thơ này dựa trên hai căn

cứ điều kiện lịch sử và quá trình vận động nội tại của thể thơ STLB Khi tiếnhành nghiên cứu sự vận động của thể thơ ở giai đoạn thứ nhất (Giai đoạn thứnhất từ trước nửa đầu thế kỷ XVIII), tác giả cũng có đề cập tới sự vận độngcủa thể STLB qua một số tác phẩm Ngâm khúc Nhưng tác giả mới chỉ ra sựvận động về mặt hình thức còn sự vận động về mặt nội dung thì chưa đượcnhắc đến

Có thể thấy, từ nửa cuối thế kỷ XX giới chuyên môn đã dành cho thểSTLB một sự quan tâm đặc biệt Vấn đề nguồn gốc ra đời của thể thơ STLBhầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng đây là thể thơ của dân tộc Việt cóngọn nguồn từ văn học dân gian Song, theo chúng tôi thì thể thơ này có thểcòn có ngọn nguồn từ trong văn học viết Trong lịch sử nghiên cứu về kết cấu

Trang 11

vận luật của thể thơ STLB ta thấy đã có một số công trình đề cập đến, nhưngnghiên cứu về kết cấu vận luật của thể STLB trong tiến trình phát triển của thểloại Ngâm khúc thì cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến Vớimong muốn làm sáng rõ bước chuyển biến của thể STLB từ ngâm vịnh đến

diễn tả tâm tình của con người Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết cấu vận luật của thể STLB trong tiến trình phát triển của thể loại Ngâm khúc.”

Tất cả những công trình nghiên cứu trên đều là những cơ sở quan trọng,những kiến thức quý báu giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đềtài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để làm rõ tiến trình lịch sử và kết cấu vận luật của thể thơ STLB,chúng tôi tiến hành khảo sát một số khúc Ngâm chọn lọc và những tác phẩm:

Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Thánh Tông; Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông; Vịnh Hoa yên tự phú của Huyền Quang; Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải; Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao; Bồ Đề thắng cảnh thi (khuyết danh), Thiên Nam minh giám (khuyết danh) Qua đó chỉ ra những tiền lệ cho sự ra

đời của thể thơ STLB

Để hiểu rõ giá trị của thể STLB trong việc diễn tả tâm trạng của nhânvật trữ tình và thấy được sự hoàn thiện về diện mạo của thể thơ ở cuối thế kỷXVIII, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân tích một số khổ thơ trong các

khúc Ngâm tiêu biểu như: Bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm – tương truyền của Đoàn Thị Điểm (giữa thế kỉ XVIII); Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều (cuối thế kỉ XVIII); Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân (cuối thế kỉ XVIII); Văn chiêu hồn của Nguyễn Du (cuối thế kỉ XVIII); Tự tình khúc của

Cao Bá Nhạ (cuối thế kỉ XVIII) Đây là những tác phẩm tiêu biểu có thể đápứng yêu cầu

Trang 12

lý giải những vấn đề của luận văn ở những góc độ cụ thể khác nhau.

Trong số tác phẩm này chúng tôi đặc biệt chú ý đến Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm Đây là hai tác phẩm có vai trò lớn trong việc hoàn chỉnh thể

loại STLB ở văn học trung đại Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát tiến trình vận động phát triển của thể STLB trongNgâm khúc, luận văn bước đầu đi đến kết luận về tiền lệ ra đời của thểSTLB; bàn thêm về kết cấu vận luật độc đáo của thể STLB; sự chuyển biến

về hình thức và nội dung nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt

Trên cơ sở đó luận văn sẽ góp thêm lời khẳng định công lao đóng gópcủa các thế hệ thi sĩ trong quá trình hoàn thiện STLB – một trong những thểthơ dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát và thống kê: để có được những số liệu, chúng tôi đãtiến hành khảo sát những sáng tác của các tác giả theo trình tự thời gian, trong

đó có yếu tố vần luật tương đồng với vần luật của STLB Từ đó bước đầu

có ý kiến về tiền lệ ra đời của thể song thất lục bát

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: chúng tôi tiến hành so sánh tác phẩm củacác tác giả, đối chiếu giữa các tác phẩm để chỉ ra những bước tiến hay lụi tàncủa nó

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích đặc trưng của thể STLB và từviệc phân tích dẫn chứng để thấy được sự chuyển biến trong việc ngâm vịnhđến “ngâm buồn” diễn tả nội tâm của con người

- Phương pháp lịch sử: sự xuất hiện của song thất lục bát gắn liền với mộthoàn cảnh xã hội văn hóa cụ thể Việc vận dụng phương pháp lịch sử đểnghiên cứu giúp chúng tôi xác định một cách đúng đắn vị trí, vai trò và những

Trang 13

đóng góp của thể thơ STLB trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

6 Những đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:

+ Bước đầu chỉ ra những tiền lệ của việc hình thành thể thơ STLB+ Làm rõ bước chuyển biến của thể STLB từ ngâm vịnh đến diễn tả tâm tình của con người

+ Góp phần khẳng định công lao của nhiều thế hệ thi sĩ trong việc xây đắp và hoàn thiện một thể thơ dân tộc

+ Góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc trưng dân tộc của thể STLB

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn baogồm 3 phần:

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

7 Cấu trúc luận văn

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương 1 Kết cấu vận luật của thể song thất lục bát

Chương 2 Những cơ sở hình thành thể song thất lục bát

Chương 3 Sự chuyển biến từ ngâm vịnh đến diễn tả nội

tâm

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

KẾT CẤU VẬN LUẬT CỦA THỂ SONG THẤT LỤC BÁT

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm loại thể và thể loại

1.1.1.1 Loại thể

Trong cuốn phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể) nhà xuất bản Giáo dục đã đưa ra cách hiểu về loại thể văn học: “loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học có liên quan khăng khít đến nội dung” [6, 3].

Về quan niệm cụ thể với từng thuật ngữ chúng ta rất khó thống nhất vàcũng rất khó có một ranh giới rạch ròi tuyệt đối Khi nói loại ta cũng hay nói

“loại thể”, khi nói thể ta lại hay nói “thể loại” Việc gọi tùy tiện như vậy sẽlàm rối khái niệm

Các nhà nghiên cứu đã chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể (hoặc thể loại, thể tài) Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Nhưng cũng có trường hợp thể có thể thuộc về nhiều loại ví như thơ ta có: thơ tự sự, thơ trữ

tình, kịch thơ Vì vậy, chúng ta không nên đi tìm ranh giới tuyệt đối giữa cácloại thể Theo tác giả Trần Thanh Đạm sự phân chia loại thể văn học gồm có

hai mức độ: loại và thể “Theo chúng tôi nên dùng thuật ngữ loại thể bao gồm loại (loại hình) và thể (hay chỉ thể tài)” [17, 9].

Dựa vào các phương thức sáng tác mà người ta phân chia thành các

loại thể văn học khác nhau Theo tác giả Trần Thanh Đạm: “tiêu chuẩn và căn cứ hợp lí nhất để phân chia loại thể văn học chính là phương thức kết cấu tác phẩm văn học, trước hết là kết cấu hình tượng hoặc hệ thống hình tượng của tác phẩm” [17, 7] Như vậy có nghĩa là muốn phân chia loại thể

chúng ta cần

Trang 15

chú ý tới sự cấu tạo bên trong và hình tượng văn học chứ không phải chỉ dựa vào một số biểu hiện về hình thức bên ngoài.

Khi đi vào vấn đề loại thể, thế giới tầng bậc của nó và thiên về cấu trúchình thức thể hiện, ta có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch và từng loại có từng thểnhỏ Cụ thể:

Loại tự sự: Là loại tác phẩm dùng lời kể tái hiện lại những việc làm,

biến cố nhằm dựng lại một dòng đời như đang diễn ra một cách khách quan,qua đó bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định Tác phẩm đó bao giờcũng phải có một sự kiện (một câu chuyện) làm nòng cốt, trong đó có những

sự việc đang diễn ra có sự tham gia của con người với những hoạt động ngônngữ, tính cách… của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh, xã hội và trong mốiquan hệ lẫn nhau Loại tác phẩm tự sự bao gồm: thần thoại, sử thi, truyện cổtích, truyện cười, ngụ ngôn, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn,

kí sự, bút kí…

Loại trữ tình: Là loại tác phẩm văn học thông qua sự bộc lộ tình cảm

của tác giả mà phản ánh hiện thực, đó là sự bộc lộ trực tiếp những tư tưởngcảm xúc của tâm hồn con người đối với thế giới Loại tác phẩm trữ tình baogồm: thơ trữ tình, thơ trào phúng, ca dao trữ tình, các khúc ngâm, tùy bút,trường ca hiện đại Phú, văn tế, thơ ca trù cũng có thể xem là dạng đặc biệtcủa tác phẩm trữ tình

Loại kịch: Là loại nghệ thuật sân khấu, mang tính chất tổng hợp của

nhiều loại hình nghệ thuật như: văn học, âm nhạc, hội họa…Kịch là phươngthức đặc biệt để tái hiện hiện thực cuộc sống và biểu hiện tư tưởng nhà văn,tức là phản ánh và biểu hiện bằng ngôn ngữ và hành động trực tiếp của nhânvật trong các tình huống của cuộc sống Loại tác phẩm kịch bao gồm: bi kịch,hài kịch, kịch, kịch thơ, các kịch bản chèo, tuồng cải lương

Trang 16

Như vậy, muốn nắm được những đặc điểm chung của thể loại cụ thểtrước tiên ta phải xác định được thể loại ấy nó nằm trong loại nào để từ đó cóhướng tiếp cận phù hợp.

1.1.1.2 Thể loại

Nói tới thể loại văn học là đề cập tới “Dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm,

về đặc điểm các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [17, 299].

Bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng luôn được xem xét và xác địnhxem nó thuộc thể loại nào, bởi lẽ không có tác phẩm nào lại tồn tại ngoài hìnhthức quen thuộc của thể loại Mỗi thể loại thể hiện một kiểu quan hệ đối vớicuộc sống và đối với người đọc, tức là một kiểu quan hệ giao tiếp Giáo sưTrần Đình Sử cũng đã có lần nhận xét đó là kiểu quan hệ giao tiếp kép: Vừagiao tiếp với người đọc lại vừa giao tiếp với đời Qua giao tiếp với cuộc sốngtrong tác phẩm, tác giả và người đọc hiểu nhau

Từ thời Arixtot đến nay, người ta vẫn thống nhất phân loại tác phẩmvăn học thành ba loại hình (phương thức phản ánh) là: tự sự, trữ tình, kịch.Đây là ba phương thức cơ bản nhất của phản ánh hiện thực cuộc sống và biểuhiện nội tâm của tác giả Mỗi phương thức phản ánh lại bao gồm nhiều loại

mà “trong lòng mỗi loại và trên biên giới của các loại sẽ nảy sinh rất nhiều thể khác nhau của sự sáng tác văn học” [7, 9] Ví dụ: ở phương thức trữ tình

có thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình Mỗi loại lại chia ra làm nhiều thể và thểloại là cấp độ nhỏ hơn nằm trong loại Cùng một loại nhưng ta có các thể loạikhác nhau Chẳng hạn, trong loại tự sự có tự sự dân gian và tự sự cổ trung đại

và hiện đại Trong tự sự dân gian lại chia thành: thần thoại, truyền thuyết, cổ

Trang 17

tích, ngụ ngôn, truyện cười.

Thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học

Mỗi loại hình văn học đều có cách thức riêng để xây dựng hình tượngphản ánh hiện thực đời sống và tâm tư tình cảm Nhưng nếu cùng một thểloại thì những tác phẩm đó ngoài những điểm khác biệt sẽ có sự tươngđồng Ví như truyện ngắn của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng… cóthể có nội dung truyện khác nhau nhưng ý thức phản ánh khách quan chânthực cuộc sống của con người bằng những chất liệu phong phú của cuộcsống xã hội, cách kể chân thực những sự kiện của các tác giả…thì tương

đối giống nhau Nhà nghiên cứu văn học Nga Bakhtin đã nói: “Mỗi thể loại (nhất là những thể loại lớn) thể hiện một thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, một cách cảm thụ nhìn nhận, giải minh về thế giới và con người Thể loại là vị trí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật với tích lũy, đúc kết những kinh nghiệm nhận thức thẩm mĩ thế giới” [1, 125].

Tác phẩm văn học là sự thống nhất và quy định lẫn nhau của các yếu tốchủ đề, đề tài, tư tưởng nhân vật, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức lờivăn và kết cấu Sự thống nhất này bao giờ cũng phải được thực hiện theonhững quy luật nhất định Trong quá trình sáng tác, tác giả dùng các phươngthức chiếm lĩnh đời sống khác nhau để thể hiện quan điểm thẩm mĩ của mìnhđối với hiện thực và mang những khả năng khác nhau để tái hiện đời sống Từ

đó tác giả có những cách thức xây dựng hình tượng nghệ thuật phù hợp vớithể loại văn học mà mình đã chọn

Sự xuất hiện các thể loại văn học trong lịch sử là cả một quá trình Vìvậy, thể loại văn học là một phạm trù mang tính lịch sử mà nó chỉ xuất hiện ởnhững giai đoạn phát triển nhất định của văn học, sau đó thường xuyên biếnđổi và thay thế nhau Khi nghiên cứu thể loại bao giờ chúng ta cũng phải đặt

Trang 18

nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể, có như vậy ta mới lí giải được sự thay đổi của thể loại không phải là ngẫu nhiên mà nó có cơ sở.

1.1.2 Khái niệm thể thơ

Qua khảo sát của chúng tôi, hiện nay các nhà nghiên cứu chưa có mộtđịnh nghĩa thật đầy đủ về khái niệm thể thơ Nhưng từ những khái niệm riêng

lẻ về các thể thơ cụ thể, chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách hiểu của mình về

khái niệm thể thơ như sau: Thể thơ là cách thức làm thơ Hay nói cách khác, cách thức tổ chức ngôn từ khác nhau sẽ tạo nên những bài thơ khác nhau xét

về hình thức biểu đạt.

Thông thường cách đặt tên các thể thơ luôn gắn với đặc điểm cơ bản

của thể thơ đó Hay đó chính là cách gọi tên cách thức để tạo ra bài thơ xét về

mặt hình thức Ví dụ: Thể thơ lục bát: Là thể thơ có cấu trúc trên 6, dưới 8 (lục bát), bắt đầu bằng câu 6, tiếp là câu 8, cứ thế diễn đạt cho đến hết ý; thể song thất lục bát: Là thể thơ cách luật có hai câu trên đều 7 tiếng (song thất), hai câu dưới là câu lục và câu bát (lục bát), mỗi khổ thơ 4 câu và cứ thế trình

tự diễn đạt cho đến hết ý

Thể thơ được nhận diện qua các tiêu chí cơ bản sau:

+ Số chữ trong một câu thơ+ Số câu trong một khổ thơ+ Số câu thơ trong một bài thơ+ Cách gieo vần

+ Cách phối thanh B- T+ Cách ngắt nhịp

+ Cách tạo phép đốiVD: Thể STLB: Là thể thơ cách luật của Việt Nam có những đặc điểm sau:

- Hai câu trên đều 7 tiếng, hai câu dưới là câu lục và câu bát Mỗi khổ thơ 4câu và cứ thế diễn đạt cho hết ý

Trang 19

- Nhịp điệu: Hai câu thất có nhịp 3/4 hoặc 3/2/2 Câu sáu có nhịp 3/3 hoặc2/2/2 Câu tám có nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2

- Cách gieo vần: Tiếng thứ 7 câu thất trên và tiếng thứ 5 câu thất dưới hiệpvần lưng với nhau Tiếng thứ 7 câu thất dưới có vần chân với tiếng thứ 6 câulục Câu 8 chữ gieo vần như thơ lục bát

- Thơ STLB có thể dùng lối bình đối ở hai câu 7 tiếng, tiểu đối trong câu 6 vàtrong câu 8 Song cách đối nhau không phải là bắt buộc như trong thơĐường luật

Tuy nhiên, tầm quan trọng của các tiêu chí có thể khác nhau ở những

dạng bài thơ khác nhau Chẳng hạn, khi nhận diện thể thơ lục bát và song thất lục bát thì tiêu chí về số lượng chữ trong một câu thơ, số câu thơ trong một

khổ là quan trọng nhất Sau đó mới đến các tiêu chí về cách gieo vần và ngắtnhịp Ví như, thể STLB có quy định chặt chẽ về số câu thơ trong một khổ (4câu) nhưng thể lục bát lại không có quy định chặt chẽ như vậy Hay trong thểSTLB ngoài câu lục và câu bát còn có hai câu thất mở đầu mỗi đoạn

1.1.3 Khái niệm thể loại Ngâm khúc

Các thể tài Ngâm, Khúc, Ca, Hành, Thán, Vãn…có nguồn gốc từ Trung

Hoa được du nhập vào nước ta từ bao giờ đến nay vẫn chưa có tài liệu để xácđịnh một cách chính xác Chúng ta chỉ biết rằng qua quá trình giao lưu vănhóa thì các thể tài trong văn học Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam

Khoảng thế kỉ XV nước ta có tác phẩm Cung oán ngâm của Thái Thuận làm

theo thể thất ngôn bát cú bằng chữ Hán Đến khoảng đầu thế kỉ XVIII bên

cạnh những tác phẩm Khúc làm theo nguyên mẫu chuẩn mực của Trung Hoa

thì nước ta đã có những tác phẩm trường thiên với dung lượng hàng trăm câu

thơ như: Tứ thời khúc vịnh (340 câu thơ), Thiên Nam minh giám (940 câu thơ) Nếu như những ngày đầu ta thấy Khúc kết hợp với Vịnh thì từ giữa thế

kỉ XVIII Khúc đã kết hợp với Ngâm làm thành thể loại Ngâm khúc Với tác

Trang 20

phẩm Cung oán ngâm khúc Đặng Trần Côn – bản dịch nôm tương truyền

của Đoàn Thị Điểm (viết bằng chữ nôm và thể song thất lục bát) đã đưa thể

loại Ngâm khúc ở nước ta lên đỉnh cao.

Tuy có chịu sự ảnh hưởng của những thể tài từ Trung Quốc nhưng

Ngâm khúc của ta vẫn mang những sắc thái riêng của dân tộc Nếu như trong

văn học Trung Hoa tâm trạng của nhân vật trữ tình chỉ là những khoảnh khắc

cô đơn thoáng qua thì tâm trạng của nhân vật trữ tình trong các tác phẩm

Ngâm khúc là tâm trạng buồn sầu, đau đớn được miêu tả trên một diện rộng với nhiều cung bậc khác nhau Ngâm khúc thường xoay quanh những con

người bất hạnh mà thường là những người phụ nữ

Tác phẩm Ngâm khúc thường được dùng để điễn tả tâm trạng u buồn nỗi giận hờn ai oán của con người trước những cảnh ngộ của cuộc đời “Để tải trở một nội dung lớn như vậy cần phải có những áng thơ trường thiên để cho nó đến được và thấm sâu vào tâm hồn công chúng độc giả người Việt Nam, cần phải viết bằng ngôn ngữ dân tộc để phản ánh tâm trạng chung của nhân vật trữ tình là buồn rầu, đau đớn…” [9, 15] Đồng thời những tác phẩm Ngâm khúc cũng rất chú trọng tới việc khai thác âm thanh và nhịp điệu của

ngôn ngữ Chính vì vậy sau một thời gian dài gia công sáng tác các tác giảdân gian đã lựa chọn thể thơ song thất lục bát – thể thơ dân tộc đế sáng tác tác

phẩm Ngâm khúc Bởi lẽ chỉ có thể thơ song thất lục bát mới đáp ứng được những yêu cầu của thể loại Ngâm khúc đề ra Và cũng chính thể STLB đã giúp Ngâm khúc có sức xuyên thấm mạnh mẽ vào lòng người đọc.

Do xuất phát từ các góc độ khác nhau mà các nhà nghiên cứu đã đưa rakhá nhiều định nghĩa về Ngâm khúc Các cách định nghĩa ít nhiều có sự khác

nhau nhưng đều nêu lên được tiêu chí cơ bản của thể loại Ngâm khúc.

Trang 21

Dương Quảng Hàm định nghĩa về thể loại này như sau: “Ngâm là một bài văn tả những tình cảm ở trong lòng, thứ nhất là những tình buồn, sầu đau, thương Các Ngâm khúc trong văn ta vẫn làm theo thể song thất lục bát” [15,

139]

Nhóm biên soạn Những khúc ngâm chọn lọc cho rằng: “Ngâm khúc là những tác phẩm hoàn toàn trữ tình – có thể gọi là những trường thiên trữ tình được viết bằng thể song thất lục bát” [12, 14].

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cho rằng: “Ngâm khúc: thể thơ trữ tình dài hơi thường được làm theo thể song thất lục bát để ngâm nga than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót triền miên day dứt Vì vậy thể Ngâm khúc thường được gọi là thán hay vãn” [16, 137].

Tác giả Ngô Văn Đức trong đề tài cấp bộ Nghiên cứu đặc trưng thi pháp của thể loại thơ trữ tình Ngâm khúc khẳng định: “Ngâm khúc là ca khúc trữ tình dài hơi phản ánh tâm trạng bi kịch của con người đã có ý thức về cá nhân trong một giai đoạn lịch sử nhất định được viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ nôm) và thể thơ song thất lục bát” [9, 17] Có thể thấy đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ và khá chặt chẽ về thể loại Ngâm khúc.

Nhìn chung ta có thể hiểu Ngâm khúc là những ca khúc trữ tình trườngthiên phản ánh những bi kịch không thể giải quyết được trong đời sống nộitâm của con người, trong một giai đoạn lịch sử nhất định được viết bằng thểSTLB và chủ yếu bằng ngôn ngữ dân tộc

Qua khảo sát một số khúc ngâm ta thấy phạm vi cuộc sống mà Ngâm khúc lựa chọn để phản ánh là thế giới tâm trạng của những số phận nhỏ bé

trong xã hội Bao trùm lên toàn bộ khúc ngâm là âm hưởng buồn bã về sự

Trang 22

mất mát tuyệt vọng đến chán chường Các nhân vật trữ tình tuy mỗi ngườimột

Trang 23

hoàn cảnh người thì nghèo, người thì cảnh oan khiên tù đày, người thì ở quê ra…nhưng tất cả đều đang trong cảnh ngộ hết sức thương tâm.

1.1.4 Khái niệm vần luật

1.1.4.1 Khái niệm vần

“Vần là một phương tiện tổ chức văn bản thơ ca dựa trên cơ sở lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết giữa các dòng thơ” [ 44, 38].

Chúng ta có thể nhận diện vần qua các ví dụ sau:

Xưa kia ta đi liễu đương xanh tốt, Chim hoàng oanh mới hót ba câu.

Mà nay cúc nở vàng thâu Liễu kia nghĩ cũng âu sầu vì ve.

(Thu dạ lữ hoài ngâm - Đinh Nhật Thận)

Khi tác giả mới rời xa quê hương thì cây liễu đang “xanh tốt”, conchim hoàng anh mới chỉ “hót ba câu” nhưng khi tác giả trở về thì cúc đã nở

“vàng thâu” cây liễu cũng đã “âu sầu” Dường như thời gian tác giả xa quêhương mọi thứ đã thay đổi và thời gian là khá lâu Nhờ có vần mà câu thơtrở nên gắn kết liền mạch và nỗi sầu li biệt của tác giả trở nên da diết hơn

Có thể khẳng định vần có vị trí rất quan trọng trong thơ

Để câu thơ trở nên gắn kết và hài hòa hơn trong bài thơ thì vần có vị trírất quan trọng Vần có thể được phân biệt từ những góc độ khác nhau:

+ Về chất lượng của tiếng có vần, người ta phân biệt vần chính (vầnhoàn toàn trùng hợp với nhau) và vần thông (vần không hoàn toàn trùng hợpnhau) Ví dụ:

.Vần chính: Là sự hoà phối âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng

được gieo vần, trong đó phần vần (âm chính và âm cuối) hoàn toàn trùngkhớp:

Trang 24

Để truyền bia miệng kiếp nào mòn, Cao thấp cùng xem sự mất còn.

Thương cá thác vì câu uốn lưỡi,

Ngâm trai nào chết bát mồ hòn

(Quốc âm thi tập, bài 182 - Nguyễn Trãi)

.Vần thông: Được tạo nên bởi sự hoà hợp phối âm thanh giữa các tiếng

được gieo vần nhưng trong đó bộ phận vần không lặp lại hoàn toàn mà có sựkhác biệt chút ít:

Hoặc

:

Người thì mắc sơn tinh thuỷ

quái, Người thì sa nanh sói ngà

voi.

(Văn chiêu hồn - Nguyễn Du)

Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon.

(Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều) + Về vị trí của tiếng có vần trong câu thơ, người ta phân biệt vần chân (tiếng có vần đứng cuối câu thơ, còn gọi là cước vận) và vần lưng (tiếng có

vần đứng ở giữa câu thơ là yêu vận)

Vần chân được gieo vần ở cuối dòng thơ, có tác dụng đánh dấu sự kết

thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết với các dòng thơ tiếp theo, “vần chânrất đa dạng: khi liên kết, khi gián cách, khi ôm nhau, khi hỗn hợp các loạitrên” [ 16, 363].Ví dụ:

Ai yêu như tôi yêu nàng

Họp nhau lại, họp thành làng cho

xinh Chung nhau dựng một trường đình Thờ riêng một vị thần linh là Nàng

Trang 25

(Lòng yêu đương – Nguyễn Bính)

Trang 26

Vần lưng là vần đƣợc gieo ở lƣng chừng dòng thơ.

Thu sang trên những cánh bàng, Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi.

Hôm qua đã rụng một rồi,

Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn.

(Cây bàng cuối thu – Nguyễn Bính)

+ Về mức độ trầm bổng, cao thấp của âm tiết mang vần, ta có vần bằng

và vần trắc

.Vần bằng là vần nằm ở âm tiết gieo vần mang thanh bằng (thanh

không, thanh huyền)

Ví dụ:

nặng)

Cơn gió đìu hiu lướt mặt hồ, Thổi rơi xuống nước chiếc hoa khô

Giật mình, làn nước cau mày giận,

Tan cả vừng trăng tỏa lững lờ.

(Đìu hiu – Đỗ Huy Nhiệm)

.Vần trắc là vần ở âm tiết gieo vần mang thanh trắc (thanh sắc, hỏi, ngã,

(Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều )

Thanh điệu trong tiếng Việt rất phong phú điều đó làm cho tính nhạc

Trang 27

trong thơ được tăng lên Thông thường khi sử dụng thanh bằng thường đemlại cảm giác buồn, lâng lâng, chơi vơi và ấn tượng về một không gian dàntrải Thanh trắc thường diễn tả nhịp điệu chắc khỏe nhưng cũng gợi lên cái gì

đó trắc trở Bởi vậy, thanh điệu có vai trò rất quan trọng trong các âm tiết gieovần

1.1.4.2 Khái niệm luật

Luật là “Toàn bộ những quy tắc tổ chức ngôn từ trong sáng tạo thơ, như phân dòng, số tiếng, ngắt nhịp, gieo vần bằng trắc,…” [17, 189] Có nghĩa là

khi sáng tác các tác phẩm theo thể loại chúng ta cần phải tuân thủ những quytắc của thể loại đó

Ví dụ: Khi làm thơ lục bát ta phải tuân thủ về những luật lệ của thể thơlục bát như luật: về “tiếng”, về cách hiệp vần, về nhịp và về thanh điệu

+ Về tiếng: Câu trên có 6 “tiếng” (câu lục), câu dưới có 8 “tiếng” (câu bát), và cứ thế tiếp tục

Ví dụ:

Xưa sao phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

+ Về hiệp vần: các tiếng trong từng đôi câu thơ hiệp vần như sau: tiếngcuối câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát (vần lưng ở câu bát); tiếng cuối câubát vần với tiếng cuối câu lục (vần chân ở câu lục)

Trang 28

Tài sắc của chị em Thúy Kiều đƣợc đại thi hào Nguyễn Du giới thiệu một cách tự nhiên mà cũng rất sinh động Vần chân và vần lƣng kết hợp tạo

Trang 29

nên sự hài hòa gắn kết chặt chẽ giữa các câu thơ.

+ Về ngắt nhịp: Nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở cũng

có khi linh hoạt theo nhịp lẻ ví như: Làn thu thuỷ /nét xuân sơn

+ Về thanh điệu có thể chia thành ba loại “tiếng”:

Thanh bằng ở các tiếng 2, 6, 8.

Thanh trắc ở tiếng thứ 4.

Các tiếng lẻ 1, 3, 5 thì tự do hay còn gọi là “nhất, tam, ngũ bất luận”

Nếu ở câu lục có tiểu đối (đối bên trong câu) thì có thể đối thanh:

Ví dụ:

Người quốc sắc/ kẻ thiên tài, Tình trong như đã/ mặt ngoài còn e.

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Theo đúng luật thì tiếng thứ hai của câu lục phải mang thanh bằng,nhưng ở đây dùng thanh trắc vì có tiểu đối (về nghĩa) trong câu lục

1.2 Những yếu tố cơ bản của thể thơ STLB

Thể lục bát, STLB và hát nói là những thể thơ do người Việt sáng tạo

ra Đó là những thể thơ hết sức độc đáo của văn học trung đại nói riêng và văn

học Việt Nam nói chung “STLB là thể thơ cứ hai dòng bảy chữ (song thất) lại có dòng sáu chữ (lục bát) Nếu mở đầu bằng hai dòng sáu chữ và tám chữ rồi mới tiếp hai dòng bảy chữ, người ta gọi là lục bát gián thất STLB được hình thành trên cơ sở thể lục bát và thể thơ bảy chữ vốn có sẵn trong thơ ca dân gian Việt Nam” [31, 452].

Trong suốt một thời gian dài xung quanh vấn đề nguồn gốc của thể thơSTLB, người ta đã đưa có nhiều ý kiến khác nhau thậm chí đối lập nhau Dochưa tìm được tiếng nói chung về hai câu thất trong ngôn của khổ STLB, nên

có người cho rằng thể STLB là thể thơ thuần túy của dân tộc, nhưng cũng có

ý kiến cho rằng đây là thể thơ có sự kết hợp giữa thất ngôn của Trung Hoa và

Trang 30

thể lục bát của Việt Nam Tại sao thể STLB lại được các thi sĩ thời trung đạilựa chọn để viết tác phẩm trữ tình trường thiên? Để lí giải điều này chúng tôitiến hành tìm hiểu về ba yếu tố là vần, nhịp và luật phối thanh của thể STLBđặt trong sự tương quan so sánh với các thể thơ khác đặc biệt thơ Đường luậtcủa Trung Hoa từ đó làm sáng tỏ thêm nguồn gốc dân tộc của thể thơ.

1.2.1 Cách gieo vần trong thể thơ STLB

Nếu như trong thể thơ lục bát chỉ có 2 cú thức là câu sáu và câu tám thì

ở thể STLB có tới 3 kiểu câu với lối kiến trúc thành từng khổ, mỗi khổ bốncâu, hai câu bảy, một câu sáu và một câu tám Vì STLB có ba cú thức là câubảy, câu sáu và câu tám nên số lượng vần trong STLB nhiều hơn so với lụcbát Với lối gieo vần rất riêng, thể STLB tỏ ra hữu hiệu trong việc bộc lộ,diễn tả tình cảm nội tâm của con người Trong hai câu thất mở đầu: chữ cuốicủa câu thất trên hiệp vần với chữ thứ năm câu thất dưới vì chúng đều là vầntrắc (câu thất trắc) Ở các câu tiếp theo: chữ cuối câu thất dưới vần với chữcuối câu lục vì chúng mang vần bằng (câu thất bằng) Chữ cuối câu lục vầnvới chữ thứ sáu câu bát do chúng cùng mang vần bằng Chữ cuối câu bát hiệpvần với chữ thứ năm của câu thất vì chúng đều là âm tiết gieo vần bằng Nhưvậy, mỗi khổ bốn câu có từ năm tới sáu vần, gồm cả: vần lưng (yêu vận) vàvần chân (cước vận); cả vần bằng và vần trắc Tuy nhiên, chúng ta cũng thấyhai câu lục và câu bát trong thể STLB không có gì khác so với hai câu lụcbát trong thể lục bát Nó vẫn tuân thủ theo luật lệ về cách gieo vần của thể lụcbát

Ví dụ:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấ y ,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn

dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

(Chinh phụ ngâm – Bản dịch Đoàn Thị Điểm )

Trang 31

Trong ví dụ trên ta thấy có tới năm chỗ gieo vần: Hai vần trắc “thấy”,

“mấy” và ba vần bằng “dâu”, “màu”, “sầu” Trong khổ thơ trên ta thấy chữcuối câu thất trên vần với chữ thứ năm câu thất dưới

Ví dụ:

câu bát Dạ thường quanh quất mắt thường ngóng trông

câu thất trên Trông mái đông lá buồm xuôi ngư ợc ,

câu thất dưới Thấy mênh mông những nư ớc cùng mây.

câu lục Đông rồi thì lại trông tây,

câu bát Thấy non ngân ngất thấy cây rườm rà.

(Ai tư vãn – Lê Ngọc Hân )

Ở ví dụ này ta thấy từ “trông” ở câu bát hiệp vần với từ “đông” ở câuthất trên (đây là trường hợp xuất hiện nhiều ở giai đoạn đầu nhưng ít gặptrong giai đoạn sau) vì thường thì vần kết thúc của câu bát (vần chân) sẽ hiệpvần lưng với tiếng thứ năm của câu thất trên và là thanh bằng Sau đó lại tiếptục hiệp vần bình thường ở những câu tiếp theo Có thể nói đây là trường hợpbiệt lệ bởi lẽ thông thường thì tiếp vần lưng ở chữ thứ năm nhưng cũng cóthể tiếp vần lưng ở từ thứ ba mà vẫn giữ vần bằng (từ thứ ba vốn là thanhtrắc)

Theo TS Phan Diễm Phương, ta có thể hình dung cách gieo vần củaSTLB như sau:

Trong bài “Bàn thêm về đặc trưng kết cấu vận luật thể thơ Song thất

lục bát”, (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4, 2009) Phạm Thị Phương Thái đã

Trang 32

mô hình hóa sơ đồ cấu trúc khổ STLB nhƣ sau:

vần lưng bằng

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,

Vu Sơn, Vu giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,

Tái thượng phong vân tiếp địa âm.

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Trang 33

hai dòng thì vần đƣợc tiếp tục bằng cách tiếng thứ tám dòng bát hiệp vần vớitiếng thứ sáu dòng lục (vần chân) tiếp theo và tiếng thứ sáu này lại hiệp vầnvới tiếng thứ sáu của dòng bát tiếp theo đó Trong đó các tiếng tham gia hiệpvần mang

Trang 34

thanh bằng.

dụ: Lơ thơ tơ liễu buông mành,

Con oanh học nói trên cành mỉa mai.

Mấy lần cửa đóng then cài, Đầy thềm hoa rụng, biết ngư ời ở đâu.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Rõ ràng, vần và cách gieo vần trong STLB là rất phong phú Câu thơvừa có vần bằng lại vừa có vần trắc đan xen lẫn nhau tạo nên sự chuyển biếnnhịp nhàng, diễn tả được mọi cung bậc tình cảm của con người Điều nàykhiến cho thể STLB có những ưu thế riêng mà thể lục bát không thể có được

1.2.2 Cách ngắt nhịp trong thể thơ STLB

Tác giả Phan Ngọc đã từng nói “nhịp điệu là xương sống của thơ Thơ

có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc, nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu” [35, 213] Nhận định này đã cho thấy vai

trò quan trọng của nhịp điệu trong thơ Nếu như câu thơ thất ngôn của TrungHoa có lối ngắt nhịp phổ biến là chẵn trước lẻ sau (4/3 hoặc 2/2/3) thì câuthất của STLB có lối ngắt nhịp ngược lại 3/4 hoặc 3/2/2 hoặc 1/2/2/2 bởi lẽ

ta có thể ngắt ba chữ đầu của câu thơ thành 1/2, bốn chữ sau thành 2/2.Nhưng phổ biến thì ta thấy hai câu thất được ngắt thành nhịp 3/4 Có nghĩa

là cách ngắt nhịp lẻ trước chẵn sau

Ví dụ với nhịp 3/4 ta có:

Thủa trời đất / nổi cơn gió bụi, Khách má hồng / lắm nỗi truân chuyên.

(Chinh phụ ngâm – Bản dịch Đoàn Thị

Điểm) Nếu chia nhỏ ra ta có thể ngắt nhịp như sau:

Nhịp 3/2/2:

Trang 35

Nhịp 1/2/2/2:

Giờ sao bỗng / thờ ơ / lặng

lẽ, Tình cô đơn / ai kẻ / xét đâu!

(Ai tư vãn – Lê Ngọc Hân )

Ngòi / Đức Thủy / khơi dòng / kinh

sử, Phả / Cao Đường/ treo chữ / tấn thân.

(Tự tình khúc – Cao Bá Nhạ )

Với câu lục bát, lối ngắt nhịp cũng khá sinh động Người ta có thể cócách ngắt nhịp phổ biến là nhịp đôi Ngoài ra, các tác giả cũng biến thái nhịpđôi này thành những cách ngắt nhịp khác Chẳng hạn trong các ví dụ sau:Nhịp 4/2: Đa mang chi nữa / đèo bòng,

Nhịp 4/2/2: Vui gì thế sự / mà mong / nhân tình.

(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều )

Nhịp 2/4: Ruột rà / không kẻ chí thân,

Nhịp 3/3/2: Dẫu làm nên / để dành phần/ cho ai.

(Văn chiêu hồn – Nguyễn Du) Nhịp 3/5: Đỉnh trầm hương / khóa một cành mẫu đơn.

Nhịp 3/3: Trên gác phượng / dưới lầu oanh

Nhịp 4/4: Gối du tiên vẫn / rành rành song song

(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều )

Đặt trong sự so sánh với thể lục bát và thể hát nói, ta thấy nhịp điệu củathể STLB phong phú hơn so với thể lục bát vì nhịp điệu cơ bản trong thể lụcbát là nhịp đôi Nhịp này thể hiện thành 2/2/2 trong câu lục và 2/2/2/2 trongcâu bát và đôi khi cũng được chia làm hai vế cân đối là 3/3 hay 4/4 Nhưngnếu cả bài thơ cứ lặp đi lặp lại nhịp điệu như vậy sẽ khó tránh khỏi sự đơn

Trang 36

điệu, nhàm chán Ngoài những nhịp điệu giống nhƣ trong thể lục bát, ta cònthấy trong thể STLB xuất hiện nhịp 3/4 hay 3/2/2 hay 1/2/2/2.

Trang 37

Như vậy, thể STLB khá đa dạng về nhịp điệu Điều này phù hợp với việcdiễn tả các cung bậc tình cảm trong tâm trạng con người Nhưng nếu đem sosánh với thể hát nói thì ta thấy nhịp điệu của STLB lại không phong phúbằng Bởi lẽ, trong thể hát nói số câu thơ không cố định, có thể thiếu khổ, dôikhổ Số chữ trong câu có thể ngắn dài có những câu lên tới 16, 17 chữ nêncách ngắt nhịp rất linh hoạt Chính cách ngắt nhịp này đã tạo cho thể hát nói

có những ưu thế riêng để phù hợp với lối diễn xướng

1.2.3 Luật phối thanh của thể thơ STLB

Qua tìm hiểu về vần và nhịp điệu trong STLB ta có thể rút ra kết luậnlối hiệp vần và cách ngắt nhịp của STLB khác với thơ Đường luật nên dẫnđến hệ quả là cách phối thanh của STLB cũng không giống với thơ Đườngluật Bởi lẽ các chữ thứ hai, thư tư, thứ sáu trong câu thất được quy định chặtchẽ về thanh điệu còn chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm lại tự do về thanh điệu

Ví dụ:

Khuê trung(b) thiếu phụ(t) bất tri(b) sầu, Xuân nhật(t) ngưng trang(b) thướng thúy(t) lâu Hốt kiến(t) mạch đầu(b) dương liễu(t) sắc, Hối giao(b) phu tế(t) mịch phong(b) hầu.

(Khuê oán - Vương Xương Linh) Triêu từ(b) Bạch Đế(t) thái vân(b) gian,

Thiên lí(t) Giang Lăng (b) nhất nhật(t) hoàn Lưỡng ngạn(t) viên thanh(b) đề bất(t) trú, Khinh châu(b) dĩ quá(t) vạn trùng(b) san.

(Tảo phát Bạch Đế thành – Lí Bạch)

Như vậy ta thấy thanh điệu của thơ Đường luật sẽ có mô hình như sau:

Trang 38

Khi xét những dòng STLB ở thời kì phồn thịnh (khoảng thế kỉ XVIII),

ta thấy thanh điệu trong hai câu thất ngôn của khổ STLB ngược lại với thơĐường luật Các chữ ở vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ tư và thứ sáu của các câu

là những chữ tự do về thanh điệu Còn các chữ thứ ba, thứ năm và thứ bảythì được quy định chặt chẽ về thanh điệu Trong đó, các chữ thứ năm và thứbảy của hai câu thất đối nhau từng đôi một theo đúng luật bằng - trắc, riêngchữ thứ ba không bảo đảm tính chất ấy Bởi lẽ có trường hợp chữ thứ ba củacâu thất trên là thanh bằng chứ không phải là thanh trắc (vần có thể gieo ở

vị trí này) Hai câu lục bát thì ngược với hai câu thất các chữ thứ nhất, thứ

ba, thứ năm và thứ bảy tự do về thanh điệu còn các chữ thứ hai, thứ tư vàthứ sáu được quy định chặt chẽ về thanh điệu

Ví dụ:

Từ nắng hạ (t) mưa thu (b) trái tiết,(t) Xót mình rồng (b) mệt mỏi (t) chẳng yên.(b) Xiết bao(b) kinh sợ(t) lo phiền,(b)

Miếu thần(b) đã đảo(t) thuốc tiên(b) lại cầu.(b)

(Ai tư vãn – Lê Ngọc Hân)

Ai ngờ bỗng (t) một năm (b) một nhạt(t) Nguồn cơn kia (b) ai tát (t) mà vơi(b)?

Suy đi (b) đâu biết (t) cơ trời (b)?

Trang 39

Bỗng không(b) mà hóa (t) ra người(b) vị vong!(b)

(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)

Có thể khái quát về cách phối thanh của thể thơ STLB theo mô hình sau:

Bằng (vần)

Có khichữ thứ 2

Nhìn vào mô hình phối thanh điệu của thơ Đường luật và thơ STLB,

rõ ràng nhận thấy luật phối thanh trong thơ STLB tự do, uyển chuyển hơnthơ Đường luật

*Tiểu kết

Qua tìm hiểu về vần, nhịp và cách phối thanh điệu của thể thơ STLBchúng ta có thể khẳng định rằng thể thơ STLB của ta khác xa so với thể thơthất ngôn Đường luật của Trung Hoa Nhìn bề ngoài, hai câu thất ngôn củathể thơ STLB và hai câu thất của thể thơ thấ t ngô n Trung Hoa có hìnhthức giống nhau về số lượng chữ trong câu nhưng lại khác nhau về mọiphương diện Trước tiên là về cách ngắt nhịp, nếu như câu thất ngôn của thểthất ngôn Đường luật được ngắt nhịp là 4/3 (chẵn trước lẻ sau) thì hai câuthất của song thất lục bát l ại ngắt nhịp 3/4 (lẻ trước chẵn sau) Nhịp điệucủa câu thơ xuất

Trang 40

hiện trên cơ sở lặp lại và luân phiên âm luật theo cấu tạo đơn vị của ngôn ngữ.Xét về vần thì câu thất ngôn của Trung Hoa chỉ có một loại vần chân (cướcvận) và tất cả là vần bằng còn vần trắc nếu có chỉ là ngoại lệ Trong khi đó haicâu thất của ta có tới hai loại vần là vần chân (cước vận) và vần lưng (yêuvận), đồng thời có cả vần bằng và vần trắc Về luật phối thanh cũng vậy, câuthất ngôn Đường luật phối thanh theo quy luật: nhị, tứ, lục, phân minh (chữthứ hai, thứ tư và thứ sáu được quy định chặt chẽ về thanh điệu) còn câu thấtcủa ta thì ngược lại chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu tự do còn chữ thứ ba, thứnăm và thứ bảy được quy định chặt chẽ về thanh điệu.

Có thể trong quá trình giao thoa văn hóa giữa hai nước, dân tộc ta đãhọc tập thể thơ thất ngôn Đường luật của Trung Hoa nhưng chúng ta đã cảibiến về cách thức sử dụng vần luật để làm nên thể thơ riêng của dân tộc.Chính sự khác biệt về tí nh nhạ c điệ u trong hai câu thất của ta đã làm nên

sự giàu có và độ c đá o cho câu thơ Cũng nhờ có tính nhạc mà thể STLBcó lợ i thế ưu trộ i hơn

hẳ n thể song thấ t củ a Trung Hoa trong việ c biểu đạt tiếng nói của tình cảm,tâm tư con người Bấ t kỳ hì nh thứ c nà o cũ ng nhằ m biể u đạ t mộ t nộ idung nà o đó , thậ m chí cò n phả i biể u đạ t sâu sắ c nộ i dung nế u muố ntồ n tạ i và phá t triể n lâu bề n STLB cũ ng vậ y , khi thể thơ mới ra đời nóđòi hỏi phải có nội dung mới phù hợp với nó Vì vậy STLB cũng đã nhanhchóng tìm ra nội dung mới: “Nội dung của song thất lục bát là một ca khúc

nội tâm” [35, 210] Cũng chính tác giả Phan Ngọc đã từng nói: “Cần phải có hình thức đó thì tình cảm mới có thể mang hình thức một đợt sóng đi lên với hai câu thất, dừng lai ở một câu lục ngắn gọn, để tỏa ra trong câu bát dài nhất, rồi lại vươn lên trong một khổ mới và cứ thế, đợt sóng tình cảm lên xuống ăn khớp với hình thức của ngôn ngữ” [35, 210] Phải chăng thế mà nhóm tác giả cuốn Những khúc ngâm chọn lọc (tập1) đã khẳng định: “Trong

Ngày đăng: 13/01/2018, 03:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w