PET/CT sử dụng 18F-Sodium fluoride 18F-NaF PET/CT cho phép chụp cắt lớp toàn thân với độ phân giải cao hơn, phân tích kết hợp hình ảnh về cấu trúc trên chụp cắt lớp vi tính Computed Tomo
Trang 1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ DƯỢC
FLUORIDE TRÊN ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2017
Trang 2
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ DƯỢC CHẤT
ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : Dược lý – Dược lâm sàng
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thùy Dương
Thời gian thực hiện: Tháng 05/2017 – Tháng 9/2017
HÀ NỘI - 2017
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ từ gia đình, thầy cô và đồng nghiệp Chính vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đến:
TS Nguyễn Thùy Dương, Giảng viên Bộ môn Dược lực, Đại học Dược Hà Nội,
người thầy đã tận tình dẫn dắt chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện luận văn
PGS.TS Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân – Bệnh viện TWQĐ 108,
người lãnh đạo đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình làm việc, học tập và làm khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và
tập thể các thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội, những người đã tận tâm
dạy dỗ, trang bị cho tôi các kiến thức và kỹ năng trong học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và các bạn đồng nghiệp, những người đã luôn ở bên, quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 4
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I TỔNG QUAN 3
1.1 DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ TRONG CHỤP XẠ HÌNH XƯƠNG 3
1.1.1 Khái quát về giải phẫu, sinh lý và thành phần hoá học của xương 3
1.1.2 Dược chất phóng xạ trong y học hạt nhân 5
1.1.3 Các dược chất phóng xạ sử dụng chụp xạ hình xương 7
1.2 DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ F-18 SODIUM FLUORIDE SỬ DỤNG CHỤP XẠ HÌNH XƯƠNG BẰNG MÁY CẮT LỚP POSITRON (PET) 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu phát triển của 18F-NaF 8
1.2.2 Tổng hợp dược chất phóng xạ 18F-NaF 9
1.2.3 Đặc tính hoá học, vật lý và dược lý của 18F-NaF 10
1.2.4 Các ứng dụng của 18F-NaF 12
1.2.5 Nghiên cứu phân bố 18F-NaF trên động vật thực nghiệm 17
1.3 THIẾT BỊ GHI HÌNH PET VÀ MÁY ĐO HOẠT ĐỘ PHÓNG XẠ 18
1.3.1 Nguyên lý ghi hình của hệ thống PET và PET/CT 18
1.3.2 Nguyên lý máy đo gamma phông thấp sử dụng detector HPGe 20
Chương II NGUYÊN VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.1 Dược chất phóng xạ 18F-NaF: 23
2.1.2 Chuẩn bị dược chất nghiên cứu: 23
2.2 Phương tiện nghiên cứu 23
2.2.1 Động vật thí nghiệm 23
2.2.2 Hoá chất: 24
2.2.3 Thiết bị nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu phân bố hoạt tính phóng xạ 18F-NaF ở xương và một số cơ quan trên chuột thực nghiệm 25
Trang 5
2.4.2 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố phóng xạ trên xạ hình 18F-NaF
PET/CT trên thỏ thực nghiệm 28
2.5 Phương pháp xử lý số liệu: 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18F-NaF ở xương và một số cơ quan trên chuột thực nghiệm 32
3.1.1 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở xương theo thời gian 33
3.1.2 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở mô cơ theo thời gian 34
3.1.3 Tỷ lệ phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở xương và mô cơ theo thời gian 35
3.1.4 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở máu theo thời gian 36
3.1.5 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở gan theo thời gian 37
3.1.6 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF ở thận theo thời gian 38
3.2 Đặc điểm phân bố 18F-NaF trên hình ảnh PET/CT thỏ thực nghiệm 39
3.2.1 Phân bố 18 F-NaF ở hệ thống xương trên xạ hình PET của thỏ thực nghiệm 39
3.2.2 So sánh bán định lượng hoạt độ phóng xạ 18 F-NaF trên hình ảnh PET/CT ở thỏ thực nghiệm theo thời gian 41
Chương 4 BÀN LUẬN 47
4.1 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18F-NaF ở xương và một số cơ quan trên chuột thực nghiệm 47
4.2 Đặc điểm phân bố 18F-NaF trên hình ảnh PET/CT ở thỏ thực nghiệm 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
1 Phân bố hoạt độ phóng xạ 18F-NaF ở xương và một số cơ quan trên chuột thực nghiệm 53
2 Đặc điểm phân bố 18 F-NaF trên hình ảnh PET/CT ở thỏ thực nghiệm 53
3 Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ chế tập trung các dược chất phóng xạ trong cơ thể 6 Bảng 1.2 Đặc tính vật lý của hạt nhân phóng xạ phát positron trong y học hạt nhân 7 Bảng 1.3 Phân rã và mức năng lượng của F-18 11 Bảng 1.4 So sánh đặc tính dược phóng xạ của 18F-NaF và 99mTc-MDP 14 Bảng 1.5 Một số nghiên cứu so sánh giá trị của xạ hình xương bằng dược chất phóng xạ 18F-NaF và 99mTc-MDP 17
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các thành phần của mô xương 3
Hình 1.2 Hình ảnh xạ hình xương 18F-NaF PET 15
Hình 1.3 So sánh xạ hình xương 99mTc-MDP và 18F-NaF PET 16
Hình 1.4 Cơ chế ghi hình PET 19
Hình 1.5 Mô hình và qui trình chuẩn ghi hình PET/CT 20
Hình 1.6 Hệ phổ kế gamma phông thấp HPGe 22
Hình 2.1 Hình ảnh chuột và thỏ thực nghiệm 24
Hình 2.2 Hình ảnh quá trình tiêm (A) và mổ chuột thực nghiệm 26
Hình 2.3 Hình ảnh lấy mẫu và đo hoạt độ phóng xạ tại mô, tổ chức 27
Hình 2.4 Hình ảnh ghi hình 18F-NaF PET/CT trên thỏ 29
Hình 2.5 Hình ảnh minh hoạ cách đo mức độ hấp thu 18F-NaF trên hình ảnh PET/CT của động vật thực nghiệm 31
Hình 3.1 Hoạt độ phóng xạ và sự thay đổi theo thời gian ở các mô, cơ quan động vật thực nghiệm 32
Hình 3.2 Sự biến đối về mức độ bắt giữ 18F-NaF ( ở xương theo thời gian 33
Hình 3.3 Sự thay đổi hoạt độ phóng xạ theo thời gian ở cơ 34
Hình 3.4 Sự thay đổi tỷ lệ hoạt độ phóng xạ của xương/cơ theo thời gian 35
Hình 3.5 Sự biến đổi hoạt độ phóng xạ 18F-NaF trong máu theo thời gian 36
Hình 3.6 Đặc điểm bắt giữ 18F-NaF ở gan theo thời gian 37
Hình 3.7 Đặc điểm bài tiết 18 F-NaF ở thận theo thời gian 38
Hình 3.8 Hình ảnh phân bố phóng xạ 18F-NaF ở hệ thống xương trên xạ hình PET ở thỏ thực nghiệm 39
Hình 3.9 Mức độ hấp thu 18F-NaF ở xương và cơ quan, tổ chức trên hình ảnh PET/CT (tại thời điểm 45 phút sau tiêm DCPX) 40
Hình 3.10 So sánh mức độ bắt giữ 18F-NaF ở các xương chi và xương trục 41
Hình 3.11 Đặc điểm hấp thu 18F-NaF ở các xương trục 42
Hình 3.12 So sánh hoạt độ 18F-NaF ở các xương chi trên và chi dưới theo thời gian 43
Trang 8Hình 3.13 Mức độ bắt giữ 18F-NaF ở xương và phông cơ thể theo thời gian trên hình ảnh PET/CT 44 Hình 3.14 So sánh tỷ lệ hoạt độ phóng xạ 18F-NaF ở xương và phông cơ thể theo thời gian trên hình ảnh PET/CT 45 Hình 3.15 Đặc điểm phân bố 18F-NaF ở xương, các mô, cơ quan và phông
cơ thể 46
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Tc-99m HMDP hoặc HDP: Tc-99m hydroxymethylene diphosphonate
TLC (Thin Layer Chromatography): Sắc ký bản mỏng
HPLC (High Performance Liquid Chromatography): Sắc ký lỏng hiệu năng cao MCA (Multi Channel Analyzer): Máy phân tích đa kênh
MRI (Magnetic Resonance Imaging): Cộng hưởng từ
PET (Positron Emission Tomography): chụp cắt lớp positron
SPECT (Single Photon Emission Computed Tomography): chụp cắt lớp đơn photon
Trang 10độ đặc hiệu không cao, độ phân giải không gian của xạ hình xương Tc99m-MDP không cho phép đánh giá các tổn thương nhỏ có đường kính dưới 1 cm, độ nhạy của phương pháp thấp đối với tổn thương dạng huỷ xương PET/CT sử dụng 18F-Sodium fluoride (18F-NaF PET/CT) cho phép chụp cắt lớp toàn thân với độ phân giải cao hơn, phân tích kết hợp hình ảnh về cấu trúc trên chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography) với các biến đổi chuyển hoá của tổ chức xương trên hình ảnh PET (Positron Emission Tomography) và định vị chính xác hơn, đánh giá sớm các tổn thương Chính vì vậy, hiện nay 18F-NaF PET/CT hứa hẹn trở nên một phương pháp chụp hình y học hạt nhân có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán sớm các tổn thương ở hệ thống xương, đặc biệt là phát hiện các bệnh lý xương
- khớp và u xương ác tính nguyên phát, di căn xương [14], [16]
Dược chất phóng xạ (DCPX) 18F-NaF (hay 18F-Sodium fluoride) đã được nghiên cứu lần đầu tiên bởi Blau và cộng sự để chụp hình xương toàn thân Nhờ những đặc tính ưu việt như hấp thu nhanh và có độ tập trung cao ở xương nên chỉ chưa đến một giờ sau khi tiêm 18F-NaF đã cho phép thu nhận hình ảnh toàn bộ hệ thống xương với chất lượng cao [17], [23] Ngay từ năm 1972, 18F-NaF đã được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa kỳ (FDA) cho phép sử dụng [16],[29] Trong vài năm gần đây, các hệ thống cyclotron được lắp đặt và đi vào sử dụng ở Việt nam cho phép sản xuất và điều chế phát triển các DCPX gắn F-18, trong đó có 18F-NaF
Do đồng vị F-18 có thời gian bán huỷ ngắn (110 phút) nên chúng ta không thể nhập khẩu 18F-NaF cũng là DCPX nên được nghiên cứu, sản xuất vì giá thành không cao, không tốn kém nhiều nguyên liệu, có thể thay thế được Tc99m-MDP để chẩn
Trang 112
đoán các bệnh lý xương - khớp bằng chụp 18F-NaF PET/CT Đến nay, chưa có cơ sở nào sản xuất được DCPX 18F-NaF ở Việt Nam Trung tâm Cyclotron và Khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là cơ sở sản xuất, điều chế DCPX và ứng dụng lâm sàng ở nước ta Năm 2016, trung tâm đã thiết kế module tổng hợp và bước đầu thử nghiệm điều chế thành công 18F-NaF lần đầu tiên ở Việt Nam Tuy nhiên, để đưa DCPX 18F-NaF chuyên biệt cho chụp xạ hình xương bằng PET/CT trong lâm sàng, bên cạnh việc phân tích, kiểm nghiệm các đặc tính lý hoá
và phóng xạ của 18F-NaF sau khi được tổng hợp, DCPX này cần được đánh giá phân bố thử nghiệm trên động vật và chụp hình 18F-NaF PET/CT Chính vì vậy,
chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu phân bố dược chất phóng xạ 18 F-NaF trên động vật thực nghiệm" với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
- Đánh giá phân bố hoạt độ phóng xạ 18F-NaF trên hệ thống xương và một số cơ quan ở chuột thực nghiệm
- Phân tích đặc điểm phân bố phóng xạ 18F-NaF dựa vào hình ảnh PET/CT ở thỏ thực nghiệm
Trang 123
Chương I TỔNG QUAN
1.1 DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ TRONG CHỤP XẠ HÌNH XƯƠNG
1.1.1 Khái quát về giải phẫu, sinh lý và thành phần hoá học của xương
Giải phẫu và sinh lý của xương
Xương gồm các chất cơ bản là protein và nhiều ion vô cơ, đặc biệt là phosphat canci Xương là một mô sống có các tế bào xương và được cung cấp nhiều mạch máu Có hai loại xương cơ bản là xương xốp và xương đặc Xương xốp (spongy bone) ở phần trung tâm của xương, gồm một mạng lưới các thỏi cứng, khoảng giữa chúng được lấp đầy chất dịch Phía ngoài của xương có các xương đặc (compact bone), những phần cứng của chúng xuất hiện như một khối liên tục và có những xoang rất nhỏ Xương đặc được hợp thành từ những đơn vị cấu trúc gọi là hệ Havers (Haversian system) chạy dọc suốt chiều dài của xương [2]
Mỗi đơn vị có hình trụ và được hợp thành từ các lớp chất nền có chứa canxi sắp xếp đồng tâm quanh một ống Havers (Haversian canal) ở trung tâm Các mạch máu và các dây thần kinh đi qua những ống này Các tế bào xương nằm trong các xoang nhỏ trong chất nền gian bào và được nối bởi một hệ thống các ống cực nhỏ (canaliculi) xuyên ngang qua các lớp chất nền Sự trao đổi chất giữa các tế bào
Hình 1.1 Các thành phần của mô xương [2]
Trang 134
xương và các mạch máu trong ống Havers diễn ra trong những ống cực nhỏ này Nếu cắt ngang qua vùng ống xương sẽ thấy được một vòng của hệ thống Haversian, mỗi vòng có một lỗ, một ống trung tâm Nếu cắt qua một vùng xương xốp sẽ thấy nhiều phần phức tạp hơn vì chúng được sắp xếp theo nhiều hướng khác nhau [1]
Sự khác nhau về hình dạng và kích thước của xương là do mỗi loại xương phải thực hiện những chức năng khác nhau nhưng về cấu trúc thì chúng đều tương
tự Xương phải đủ mạnh để có thể nâng đỡ được cơ thể nhưng cũng cần phải đủ nhẹ
để có thể dễ dàng chuyển động đi lại được
Hệ thống xương được phân loại dựa vào hình dạng và vị trí Dựa theo vị trí,
hệ thống xương có thể được phân loại theo hai phần chính là các xương trục và xương tứ chi Hệ thống xương trục bao gồm hai phần, phần một là các xương hộp
sọ, xương móng, xương nhỏ của tai và phần hai gồm xương thân như xương cột sống, xương sườn và xương ức Dựa vào hình dạng, xương được phân ra thành xương dài, xương ngắn, xương dẹt và xương hỗn hợp Tuy nhiên, phân loại được sử dụng phổ biến nhất vẫn là phân loại theo vị trí [1]
Ngoài việc nâng đỡ cơ thể, xương còn là nơi sản xuất ra hồng cầu cho máu Chính xác hơn tuỷ xương là chất giống như thạch ở bên trong ống xương sinh ra hồng cầu [1]
Thành phần hoá học của xương
Thành phần hoá học của xương gồm 2 phần là chất vô cơ làm cho xương cứng rắn và chất hữu cơ làm cho xương dẻo dai Thành phần vô cơ trong xương là các muối khoáng vô cơ, chủ yếu là hydroxyapatite (HA) có công thức [Ca10 (PO4)6(OH)2] Đây là dạng tinh thể của tricalci phosphate, calci carbonate và một số lượng
ít của magie hydroxyl, fluoride và sulphate để tạo ra cho xương đặc trưng riêng, là
mô duy nhất trong số tất cả mô có độ cứng đặc biệt và chịu được lực nén Các muối khoáng trong xương có rất nhiều loại, chiếm tới 65% trọng lượng xương và 2/3 chất nền (matrix) của xương Nhìn chung, thành phần của xương tươi ở người trưởng thành gồm chất hữu cơ chiếm 28%, là một chất keo dính gọi là chất cốt
Trang 141.1.2 Dược chất phóng xạ trong y học hạt nhân
Khái niệm về dược chất phóng xạ
Thuật ngữ hạt nhân phóng xạ (radionuclide) dùng để chỉ những nguyên tử mang tính phóng xạ Khi một hạt nhân phóng xạ được kết hợp với một phân tử hóa học có các đặc tính nhất định thì được gọi là hóa chất phóng xạ (radiochemical) [12] Thuật ngữ dược chất phóng xạ (DCPX) hay thuốc phóng xạ (radiopharmaceutical) dùng để chỉ các hợp chất phóng xạ khi đưa vào cơ thể cho phép thể hiện các đặc điểm sinh lý, hoá sinh hoặc sinh lý bệnh mà không hề gây nên các biến đổi chức năng của tổ chức, cơ quan đó Chúng cũng được coi như là các chất đánh dấu phóng xạ (radiotracer) vì với liều lượng nhỏ, không gây biến đổi dược học và được “đánh dấu” vào quá trình sinh lý và bệnh lý trong cơ thể Hầu hết các DCPX là sự kết hợp của một phân tử có hoạt tính phóng xạ cho phép phát hiện
từ bên ngoài với phân tử có hoạt tính sinh học hoặc thuốc có chức năng như một chất mang được tập trung và phân bố trong cơ thể [12],[14]
Các DCPX phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý và được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt để đưa vào cơ thể người bệnh Tại Hoa kỳ, các DCPX đều phải được chấp thuận của Cục quản lý Thực Phẩm và Dược phẩm (FDA) trước khi đưa vào sử dụng trong lâm sàng [14], [28]
Trang 15nồng độ)
Ghi hình tổn thương hàng rào máu não, độ lọc cầu thận
Rò rỉ từ các khoang, lòng mạch máu Xuất huyết dạ dày - ruột, phát hiện rò
đường niệu hoặc đường mật
thận, xạ hình tuyến giáp, xạ hình tuyến cận giáp
thương), xạ hình bạch cầu Gắn và tập trung tại các thụ cảm thể Xạ hình tuỷ thượng thận, xạ hình thụ
thể somatostatin
Cơ chế kết hợp
Tưới máu và vận chuyển tích cực Đánh giá tưới máu cơ tim
Vận chuyển tích cực và chuyển hoá Độ tập trung và xạ hình tuyến giáp Vận chuyển tích cực và bài tiết Xạ hình đường mật, xạ hình tuyến
nước bọt
Sản xuất hạt nhân phóng xạ
Những hạt nhân phóng xạ trong tự nhiên có thời gian bán rã dài, các nguyên
tố nặng, độc hại bao gồm uranium, actinium, thorium, radium và radon … đều
Trang 167
không được sử dụng trong chẩn đoán y học hạt nhân Các hạt nhân phóng xạ được
sử dụng trong y học hạt nhân được sản xuất từ máy gia tốc vòng cyclotron, lò phản ứng hạt nhân và máy phát xạ (generator) [14] Sự bắn phá các hạt nhân nguyên tử
có khối lượng trung bình bằng các neutron năng lượng thấp trong lò phản ứng hạt nhân (kích hoạt neutron) tạo nên các nhân phóng xạ giàu neutron phân rã beta trừ
Ví dụ như Mo-99 được tạo ra bởi phản ứng phân hạch Quá trình bắn phá proton các bia hạt nhân trong cyclotron tạo nên nhân phóng xạ giàu proton phân rã positron
hoặc bắt giữ electron
Bảng 1.2 Đặc tính vật lý của hạt nhân phóng xạ phát positron trong y học hạt
nhân [12]
Hạt nhân
phóng xạ
Thời gian bán rã vật lý (phút)
Cường độ năng lượng positron (MeV)
Phạm vi di chuyển trong mô mềm (mm)
Phương pháp sản xuất
Từ lâu, người ta đã phát hiện ra nhiều đồng vị và dược chất phóng xạ tập trung ở hệ thống xương Radium-226 là đồng vị phóng xạ đầu tiên ra đời từ những
Trang 17Trong thực hành y học hạt nhân, các DCPX được nghiên cứu và sử dụng chủ yếu là Tc-99m gắn với diphosphonate là Tc-99m methylene diphosphonate (Tc-99m MDP) sử dụng trong chụp xạ hình xương thông thường bằng gamma camera SPECT và 18F-NaF là một DCPX sử dụng chụp hình cắt lớp positron (PET) và PET/CT, mới được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới gần đây [5],[16]
1.2 DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ F-18 SODIUM FLUORIDE SỬ DỤNG CHỤP
XẠ HÌNH XƯƠNG BẰNG MÁY CẮT LỚP POSITRON (PET)
1.2.1 Tình hình nghiên cứu phát triển của 18 F-NaF
Dược chất phóng xạ 18F-NaF (hay còn gọi là 18F-sodium fluoride) đã được nghiên cứu từ thập niên 1960 bởi Blau và cộng sự để chụp hình xương toàn thân [17] Nhờ những đặc tính ưu việt như hấp thu nhanh và tập trung cao ở xương nên chỉ chưa đến một giờ sau khi tiêm 18F-NaF, chúng ta đã có thể ghi nhận được hình ảnh xạ hình xương có chất lượng cao Ngay từ năm 1972, 18
F-NaF đã được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa kỳ (FDA) cho phép sử dụng Tuy nhiên, tại thời điểm đó, công nghệ PET và PET/CT chưa ra đời nên người ta chỉ có thể ứng dụng chụp xạ hình 18F-NaF trên các máy gamma camera SPECT truyền thống 18F-NaF phát ra các photon bức xạ 511 KeV có năng lượng cao không thích hợp với chụp hình điện toán sử dụng các đầu đo chứa tinh thể nhấp nháy NaI (Tl) của các hệ thống gamma camera SPECT Bên cạnh sự hạn chế của kỹ thuật chụp hình bằng máy gamma camera SPECT ở thời điểm đó, thời gian bán rã của 18F-NaF ngắn (110 phút) khiến cho 18F-NaF không được ưa chuộng vì có rất ít trung tâm cyclotron Trong giai đoạn này, sự phát triển các máy phát 99Mo/99mTc đã thúc đẩy sử dụng các
Trang 18độ phân giải không cao, tỷ lệ bắt giữ DCPX giữa xương và mô mềm còn thấp, thời gian thải trừ của DCPX khỏi mô mềm chậm khiến độ tương phản không cao, định
vị tổn thương khó khăn và độ đặc hiệu chẩn đoán của xạ hình xương còn hạn chế… Trong những năm gần đây, thế giới đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung cấp 99mTc do nhiều lò hạt nhân sắp hết hạn vận hành và nguồn molypden (nguyên liệu sản xuất generator 99Mo/99mTc) ngày càng khan hiếm Trong khi đó, nhu cầu bệnh nhân chụp xạ hình xương trong chẩn đoán các bệnh lý xương khớp và di căn xương ngày càng tăng khiến cho việc sản xuất các DCPX sử dụng chụp xạ hình xương 18F-NaF càng trở nên một vấn đề cấp thiết Đặc biệt, sự phát triển và phổ biến của công nghệ PET và PET/CT, cyclotron trong khoảng 10 năm gần đây khiến cho việc ứng dụng các DCPX phát positron như 18F-NaF ngày càng trở nên khả thi hơn [16], [18], [20]
Trang 19- Các bước tổng hợp 18 F-NaF
[18F] sau khi được tạo ra từ trong lò hạt nhân hay từ máy gia tốc được vận chuyển sang module tổng hợp hoá tự động theo sơ đồ tổng hợp sau:
H2O, NaCl 0,9 %
[18F] Cột CM Cột QMA Lọc vô khuẩn Sản phẩm 18F-NaF
Đầu tiên, nước giàu oxy-18 bị bắn phá bằng proton tạo ra [18F] và được vận chuyển qua một cột trao đổi cation CM để bắt giữ các tạp chất có trong quá trình bắn bia do vật liệu làm bia cũng bị bắn phá và tạo ra một số đồng vị phóng xạ không mong muốn Sau đó, dung dịch chứa [18F] đi qua một cột trao đổi anion QMA, [18F] sẽ bị bắt giữ trên cột QMA Tiếp theo, rửa cột QMA bằng nước sạch nhằm loại bỏ các tạp chất tan trong nước trong khi [18F] vẫn được giữ trên cột QMA Tiếp đến, dung dịch NaCl đẳng trương 0,9 % (hoặc có thể dùng dung dich
Na2CO3) sẽ đi qua cột QMA để tạo thành 18F-NaF Sản phẩm tạo thành được đi qua một màng lọc khuẩn trước khi cho vào lọ sản phẩm cuối cùng Bước cuối là chia liều để kiểm nghiệm và chia liều đơn cho từng bệnh nhân hay liều tổng cho các cơ sở PET ở xa trung tâm cyclotron Tất cả các bước trên đều được thực hiện
tự động và điều khiển từ xa nhằm đảm bảo an toàn bức xạ cho những người làm việc trong môi trường bức xạ cũng như đạt hiệu suất cao trong tổng hợp hóa phóng xạ [12], [18]
1.2.3 Đặc tính hoá học, vật lý và dược lý của 18 F-NaF
- Đặc tính hoá học của 18 F-NaF:
18
F-NaF là một chất phóng xạ phát positron (chứa đồng vị phóng xạ F-18) dùng để chụp xạ hình PET được sử dụng cho mục đích chẩn đoán và được tiêm tĩnh
Trang 2011
mạch F-18 là thành phần có hoạt tính của dược chất phóng xạ này Với công thức phân tử là Na [18F] ứng với trọng lượng phân tử là 40.99, dược chất phóng xạ có cấu trúc hóa học là Na+18F- [21],[28]
- Đặc tính vật lí của 18 F-NaF:
F-18 phân rã positron (β +) và có thời gian bán hủy là 109,7 phút 97% sự phân rã cho một positron với năng lượng tối đa là 633 keV và 3% phân rã gây ra bắt giữ điện tử và phát xạ tia X đặc trưng cho oxy Các photon có vai trò quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh là photon 511 keV, kết quả từ sự tương tác của positron phát ra với một điện tử Nguyên tử Fluorine F-18 phân rã tạo 18O bền vững [4], [25]
Bảng 1.3 Phân rã và mức năng lượng của F-18 [4]
Bức xạ / phát xạ % trên phân rã Năng lượng trung bình
- Đặc điểm dược lý của 18 F-NaF:
Fluoride F-18 ion thường tích tụ trong xương một cách khá đồng đều Tuy nhiên, sự tích tụ ở xương trục (ví dụ như xương cột sống và xương chậu) lớn hơn ở các xương khác và sự lắng đọng tại xương bao quanh khớp và các khớp xương lớn hơn ở các trục xương dài Lượng F-18 tăng sẽ tập trung trong xương xảy ra ở những vùng xương đang tăng trưởng mạnh, nhiễm trùng, ác tính (nguyên phát hay di căn) sau chấn thương hoặc viêm xương
Sau khi tiêm tĩnh mạch, F-18 nhanh chóng được thải trừ khỏi huyết tương theo hàm mũ Giai đoạn đầu tiên có thời gian bán hủy 0,4 giờ và pha thứ hai có thời gian bán hủy 2,6 giờ Về cơ bản, toàn bộ F-18 được chuyển đến xương theo đường máu và được bắt giữ lại trong xương Một giờ sau khi tiêm F-18, chỉ có khoảng 10% liều tiêm còn lại ở trong máu F-18 khuếch tán qua các mao mạch quanh xương vào dịch khoang ngoại bào ngoài xương và xảy ra sự hấp thu hóa học ở bề
Trang 2118F-NaF PET/CT còn có nhiều ứng dụng lâm sàng khác trong một số bệnh lý sau [29]:
- Phát hiện di căn xương:
+ Đánh giá giai đoạn trong ung thư + Đánh giá mức độ di căn
+ Đánh giá đáp ứng điều trị
- Đau lưng và đau xương không rõ nguyên nhân
- Nghi ngờ tổn thương xương do đè nén
- Gãy xương sườn kín đáo, đánh giá toàn diện độ rộng của tổn thương xương
- Viêm tủy xương
- Gãy xương kín đáo
- Viêm khớp, thoái hóa khớp
Trang 22- Đánh giá khả năng sống của mảnh ghép xương
- Đánh giá biến chứng sau thay khớp nhân tạo
- Loạn dưỡng thần kinh giao cảm phản xạ
- Đánh giá di căn xương trước khi sử dụng thuốc phóng xạ trong điều trị giảm đau
F-NaF được phát triển trở lại trong giai đoạn gần đây
là do kỹ thuật PET và PET/CT được phổ biến nhanh chóng trong vài thập niên qua Công nghệ PET và PET/CT sử dụng 18F-NaF đã cho phép ghi hình chức năng hệ thống xương với độ phân giải cao hơn, sự kết hợp hình ảnh CT và PET trên cùng một hệ thống làm tăng độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác cao hơn trong chẩn đoán, phát hiện sớm các bệnh lý xương khớp, trong đó có u xương nguyên phát và
di căn xương Mặt khác, số lượng máy gia tốc cyclotron sản xuất các đồng vị cho PET cũng không ngừng tăng lên, tạo thuận lợi về nguồn cung cấp các DCPX cho PET, hạ giá thành sản phẩm [12], [26],[29]
Trang 23Độ phân giải không gian PET có độ phân giải
Thời gian thải trừ khỏi
tuần hoàn máu
Nhanh, cải thiện tỷ lệ xương và phông phóng
xạ cơ thể
Thấp hơn
Thời gian từ khi tiêm đến
khi ghi hình (giờ)
F-NaF PET/CT giúp định vị chính xác tổn thương, làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán Thời gian thải trừ khỏi tuần hoàn máu và thời gian từ khi tiêm đến khi chụp hình nhanh hơn khi dùng 18F-NaF, làm rút ngắn thời gian ghi hình xạ hình xương và tiết kiệm thời gian bệnh nhân phải chờ đợi [5], [24], [29]
Trang 2415
Hình 1.2 Hình ảnh xạ hình xương 18 F-NaF PET
Hai DCPX là Tc99m-MDP và 18F-NaF hiện nay đều đã được sử dụng trong chụp xạ hình xương bằng gamma camera và PET/CT [3] Vai trò của Tc99m-MDP
đã được chứng minh qua thời gian vì tính sẵn có của máy phát xạ (generator) tạo Tc99m, chất mang MDP và gamma camera SPECT [5] Hình ảnh xạ hình xương toàn thân thông thường sử dụng Tc99m-MDP đã được sử dụng phát hiện di căn xương sớm hơn so với X quang, chính vì vậy, xạ hình xương là kỹ thuật phổ biến nhất trong thực hành y học hạt nhân ở nhiều nước trên thế giới Xạ hình xương thông thường có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp và đòi hỏi phải đối chiếu với
vị trí giải phẫu (trên CT) để tăng độ đặc hiệu chẩn đoán [5] Đối chiếu với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như X quang, cộng hưởng từ (MRI) là cần thiết trong nhiều trường hợp nhằm cải thiện độ đặc hiệu CT và MRI có thể phát hiện tổn thương di căn nhưng chụp CT và MRI toàn thân là không thực tế nên xạ hình xương toàn thân hiện nay vẫn là phương pháp thích hợp nhất trong đánh giá di căn xương
Trang 2516
Hình 1.3 So sánh xạ hình xương 99m Tc-MDP và 18 F-NaF PET [27]
Hình ảnh 18 F-NaF PET (c) với độ tương phản và phân giải cao hơn 99m Tc-MDP (a
và b) cho phép phát hiện thêm nhiều tổn thương di căn xương trên bệnh nhân nam,
77 tuổi, ung thư tiền liệt tuyến
18F-NaF được sử dụng chụp hình PET/CT có thể sản xuất bằng hệ thống cyclotron nên không gặp phải khó khăn khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn Tc99m được cung cấp bởi các bình phát xạ nhập khẩu So với xạ hình xương với Tc99m-MDP thông thường, 18F-NaF PET/CT có độ tương phản, độ phân giải cao hơn, dễ dàng khu trú vị trí tổn thương trên CT, thời gian bệnh nhân chờ đợi từ khi tiêm DCPX tới thời điểm ghi hình và thời gian chụp hình được rút ngắn Đặc biệt,
sử dụng hình ảnh PET cho phép định lượng được mức độ bắt giữa DCPX 18F-NaF giúp phân biệt tổn thương lành tính và ác tính, đánh giá đáp ứng với điều trị [5], [24],[26]
Trang 26Độ đặc hiệu (%) Even-
Sapir E và
cộng sự
[23]
Seminars in nuclear medicine
Di căn xương ở bệnh nhân tiền liệt tuyến
99m
Tc-MDP Planar+SPECT
Di căn xương ở bệnh ung thư phổi
99m
Tc-MDP Planar+SPECT
18
F-NaF
1.2.5 Nghiên cứu phân bố 18 F-NaF trên động vật thực nghiệm
Kể từ khi Blau và các cộng sự giới thiệu và phát triển 18F-NaF từ năm 1962, nhiều nghiên cứu trên thực nghiệm đã so sánh thấy sự hấp thu của 18F-NaF vào xương cao hơn khoảng 2 lần so với Tc99m – MDP là loại dược chất phóng xạ kinh điển sử dụng để chụp xạ hình xương trên máy gamma camera SPECT [7], [17] 18F-NaF có các đặc tính dược động học phù hợp với chụp hình PET và PET/CT do đặc điểm bắt giữ nhanh và tỷ lệ bắt giữ cao vào tổ chức xương ngay sau khi ra khỏi huyết tương DCPX được đào thải nhanh chóng qua thận Kết quả là tỷ lệ bắt giữ ở xương so với phông cơ thể đạt mức cao trong thời gian ngắn [12],[24] Nhiều
Trang 2718
nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh các đặc tính hoá - dược - phóng xạ, chuyển hoá và ứng dụng trên thực nghiệm và lâm sàng DCPX 18F-NaF [22] Nghiên cứu của Grant và cộng sự (2008) cho thấy sau khi tiêm tĩnh mạch, 18F được khếch tán qua các mao mạch xương vào dịch gian bào của các tế bào xương Từ dịch gian bào, các ion 18F-fluoride trao đổi với các nhóm hydroxyapatite ở bề mặt của tinh thể xương tạo nên fluoroapatite tại vị trí tái tạo và tăng chuyển hoá xương Vì vậy, sự hấp thu 18F-fluorid phản ánh lưu lượng dòng máu và hoạt động tạo xương [24] Nghiên cứu của Silveira M.B và cộng sự (2010) tiến hành tiêm 18F-NaF tại các thời điểm 2,5; 5; 10; 20; 30 và 60 phút cho chuột thực nghiệm [30] Kết quả cho thấy sự phân bố 18F-NaF tập trung cao nhất ở xương với hoạt độ phóng xạ cao nhất quan sát được là 5,0 ± 0,5 DI/g tại thời điểm 20 - 30 sau tiêm tĩnh mạch cho chuột thực nghiệm
Nghiên cứu của Valdes-Martinez A và cộng sự (2012) tiến hành ghi hình PET/CT sử dụng 18F-NaF trên chó thực nghiệm [13] Nghiên cứu cho thấy sự khác
biệt lớn nhất về mức độ bắt giữ phóng xạ ở xương so với mô mềm ở vào khoảng phút thứ 50 sau tiêm DCPX 18F-NaF và gợi ý cho việc chụp hình PET nên tiến hành trong khoảng thời gian này Nghiên cứu cũng nhận thấy việc bắt giữ 18F-NaF tăng nhẹ ở các xương đang phát triển và vôi hoá so với các phần khác của xương [13]
Từ các kết quả của nghiên cứu thực nghiệm, một số nghiên cứu trên mô hình bệnh lý xương - khớp ở người cũng được tiến hành 18F-fluoride được sử dụng để chụp hình PET có giá trị cao phát hiện các tổn thương lành tính và ác tính, phân tích các đặc tính tổn thương trong các bệnh lý về chuyển hoá xương Nghiên cứu của Bridges và cộng sự (2007) [18] sử dụng 18F-NaF để ghi hình PET trong theo dõi đáp
ứng điều trị trong nhiều bệnh lý như loãng xương, bệnh Paget’s gãy xương do đè nén, tổn thương ở tuỷ xương và nhiều bệnh lý xương khác nhau
1.3 THIẾT BỊ GHI HÌNH PET VÀ MÁY ĐO HOẠT ĐỘ PHÓNG XẠ
1.3.1 Nguyên lý ghi hình của hệ thống PET và PET/CT
Hệ thống ghi hình PET đơn giản được minh họa trong hình 1.4 và 1.5 Một cặp photon sinh ra từ sự hủy positron di chuyển theo 2 chiều trái ngược nhau được phát hiện bởi 2 detector đặt trong vòng detector Vòng detector này được lắp đặt rất
Trang 2819
nhiều cặp detector để ghi nhận đồng thời nhiều cặp photon được tạo ra từ bất kỳ vị trí nào trên đối tượng cần chụp hình Một cặp photon như vậy gọi là một cặp trùng phùng (coincidence) Mỗi cặp được ghi nhận và một mẫu dữ liệu thô được mã hóa, truyền về máy tính và được xử lý bởi những thuật toán chuyên dụng và cuối cùng cho ra kết quả là những hình ảnh của cơ quan cần khảo sát [27], [29]
Hình 1.4 Cơ chế ghi hình PET [19]
Mô hình PET/CT đã ra đời từ năm 1992 và được thử nghiệm sử dụng trong lâm sàng lần đầu tiên từ 1998 đến 2001 tại Pittsburgh, Hoa kỳ Để khắc phục những hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định vị trí tổn thương của PET, các hệ thống PET/CT thương mại đã được sản xuất từ năm 2001 và cho đến nay toàn thế giới đã
có trên 3000 PET/CT đang hoạt động PET/CT cung cấp không những thông tin về sinh lý - chuyển hóa mà cả hình ảnh giải phẫu trên cùng một hệ thống Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy hình ảnh PET/CT có giá trị chẩn đoán chính xác hơn các thông tin từ chụp PET hay CT đơn độc hoặc so sánh hình ảnh PET và CT riêng rẽ [22], [23]
Trang 2920
Hình 1.5 Mô hình và qui trình chuẩn ghi hình PET/CT [18]
Thu nhận hình ảnh định hướng (scout scan) toàn thân bệnh nhân và các vùng quan tâm (1) Bệnh nhân được chụp CT (2) và tiếp theo là ghi hình PET (3) Sử dụng hệ
số suy giảm có được từ phần chụp CT để hiệu chỉnh tán xạ và hiệu ứng suy giảm (4) Trộn hình tạo nên hình ảnh kết hợp PET và CT (5)
1.3.2 Nguyên lý máy đo gamma phông thấp sử dụng detector HPGe
Tia gamma phát ra từ mẫu cần ghi đo được detector ghi nhận và được biến đổi
thành tín hiệu điện có biên độ tỷ lệ với năng lượng tia gamma Tín hiệu này được khuếch đại ở khối tiền khuếch đại và khuếch đại Mỗi giá trị biên độ của tín hiệu điện được ghi nhận bởi bộ phân tích đa kênh (MCA) và mỗi giá trị đó tương ứng với một kênh Phổ gamma ghi nhận được tại MCA sẽ là một phân bố số đếm theo kênh Sử dụng phần mềm phân tích phổ gamma đối chiếu năng lượng của các tia gamma trong phổ thu được của mẫu đo với năng lượng các tia gamma có trong thư viện điện tử để nhận diện các nhân phóng xạ phát gamma có trong mẫu Phân tích định lượng hoạt độ riêng của các nhân phóng xạ có trong mẫu được thực hiện dựa trên tốc độ đếm của mẫu đo, hiệu suất ghi theo năng lượng thu được từ phép chuẩn
hiệu suất và tỷ số phân nhánh của nhân phóng xạ tương ứng [31]
- Thiết bị của máy đo gamma bao gồm:
Trang 3021
+ Đầu bán dẫn siêu tinh khiết HPGe có độ phân dải năng lượng và hiệu suất ghi tương đối tại đỉnh phổ có năng lượng 1332 keV tương ứng là 1,8 keV và 60%
+ Buồng chì phông thấp hình trụ có đường kính trong và ngoài tương ứng 28
cm và 50,4 cm được chế tạo gồm một lớp thép ở ngoài cùng có bề dày 1cm, một lớp chì có bề dày 10 cm và một lớp lót bằng đồng trong cùng có bề dày 0,2 cm
+ Các thiết bị điện tử được gắn trên khung NIM gồm:
* Nguồn cung cấp cao thế cho đầu dò có khả năng tạo ra cao thế 5000V với cường độ dòng 100A Điều chỉnh cao thế được thực hiện qua máy tính
* Bộ khuếch đại phổ tương thích với tiền khuyếch đại có hệ số khuếch đại điều chỉnh được từ 3 đến 1000 lần bước điều chỉnh 1/4000 Hằng số thời gian tạo dạng xung có thể lựa chọn 1 hoặc 6 µs
* Bộ phân tích đa kênh MCA có 8192 kênh có thể chứa 2 tỷ số đếm mỗi kênh
+ Máy tính với phần mềm phân tích phổ Genie-2000 được cài đặt bên trong máy cho phép thu thập và xử lý số liệu một cách tự động Phần mềm phân tích phổ Genie-2000 được dùng để đo và phân tích tự động phổ năng lượng bức xạ gamma
để xác định định tính và định lượng các đồng vị phóng xạ trong mẫu đo Chương trình do hãng CANBERRA (Mỹ) cung cấp đồng bộ với hệ phổ kế gamma
+ Bình chứa Ni-tơ lỏng
+ Bộ nguồn chuẩn: Bộ nguồn chuẩn gamma dạng điểm của Amersham, Anh bao gồm các nguồn chuẩn khác nhau
Trang 3122
Hình 1.6 Hệ phổ kế gamma phông thấp HPGe
(Tại Labo của Viện kỹ thuật hạt nhân - Viện năng lƣợng Nguyên tử Việt Nam)
Trang 322.1.2 Chuẩn bị dược chất nghiên cứu:
Dung dịch thuốc tiêm 18F-NaF sau khi sản xuất sẽ được kiểm tra theo tiêu
chuẩn Dược điển Anh với các chỉ tiêu kiểm nghiệm như sau [12], [28] (phụ lục 1):
+ Cảm quan : dung dịch trong suốt, không màu
+ pH của 18F-NaF trong khoảng từ 4,5 - 8,5
+ Định tính: phổ gamma xuất hiện đỉnh năng lượng 511 keV (có thể xuất hiện thêm đỉnh 1022 keV tùy thuộc vào loại đầu đo)
+ Độ tinh khiết hóa phóng xạ và nhận diện 18F-NaF được thực hiện trên sắc ký bản mỏng (TLC) hoặc sắc ký lỏng cao áp (HPLC): kết quả đạt trên 95%
+ Độ tinh khiết hạt nhân phóng xạ: được xác định bằng hệ phân tích phổ gamma
đa kênh đạt trên 99,9%
+ Thời gian bán rã phải từ 105 đến 115 phút (có thể tiêm trước khi hoàn thành test thử)
+ Nội độc tố: không vượt quá 175 V IU/ml
Trang 332.2.3 Thiết bị nghiên cứu
- Cân phân tích Robecvan, Đức có độ chính xác đến 0,0001g, đặt tại Viện kỹ thuật hạt nhân
- Máy đo hoạt độ phóng xạ (dose calibrator) của hãng IBA đặt tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện TWQĐ 108
- Máy đo đếm phổ phóng xạ (automatic gamma spectrometer) của Hãng Canbera tại Viện kỹ thuật hạt nhân
Trang 34- Các dụng cụ khác: Bơm tiêm, kim tiêm, pipet, găng tay, bông, cồn, khay
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài được thiết kế với 2 nội dung như sau:
- Đánh giá phân bố hoạt độ phóng xạ 18F-NaF trên hệ thống xương và một số cơ quan ở chuột thực nghiệm
- Phân tích đặc điểm phân bố phóng xạ 18F-NaF dựa vào hình ảnh PET/CT ở thỏ thực nghiệm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu phân bố hoạt tính phóng xạ 18F-NaF ở xương
và một số cơ quan trên chuột thực nghiệm
Cách tiến hành
Thí nghiệm được tiến hành trên chuột thực nghiệm bằng cách tiêm vào tĩnh mạch đuôi chuột dược chất phóng xạ 18F-NaF và tiến hành mổ chuột tại các thời điểm 2,5 phút; 5 phút; 10 phút; 20 phút; 30 phút; 45 phút; 60 phút sau khi tiêm để lấy mẫu là các nội tạng của chuột và tiến hành đo hoạt độ phóng xạ các mẫu trên máy đo đếm phổ phóng xạ [30]
- Chuột nhắt trắng được chia thành 7 nhóm, mỗi nhóm gồm 6 động vật được gắn tên và đánh dấu để tránh nhầm lẫn
Nhóm 1: Tiến hành mổ tại thời điểm 2,5 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 2: Tiến hành mổ tại thời điểm 5 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 3: Tiến hành mổ tại thời điểm 10 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 4: Tiến hành mổ tại thời điểm 20 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 5: Tiến hành mổ tại thời điểm 30 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 6: Tiến hành mổ tại thời điểm 45 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
Nhóm 7: Tiến hành mổ tại thời điểm 60 phút sau khi tiêm DCPX 18F-NaF
- Chuẩn bị liều tiêm cho mỗi động vật là 0,2 mCi 18F -NaF/0,2 ml [30]
Trang 35Hình 2.2 Hình ảnh quá trình tiêm (A) và mổ chuột thực nghiệm (B)
- Cân khối lượng từng ống đựng mẫu
- Lấy mẫu và tách riêng các mô, cơ quan nội tạng của chuột gồm máu, tim, gan, thận, lách, cơ, phổi, ruột - dạ dày, xương và bàng quang Rửa bằng dung dịch NaCl 0,9% rồi cho vào các ống đựng mẫu
- Cân các ống có mẫu rồi ghi lại khối lượng cân được, sau đó tiến hành đo hoạt
độ phóng xạ của từng ống mẫu trên máy đo phổ phóng xạ gamma
- Hoạt độ phóng xạ của từng mẫu được máy tính với phần mềm phân tích phổ Genie-2000 cho phép thu thập và xử lý số liệu một cách tự động
- Hoạt độ của mỗi ống mẫu tại thời điểm đo sẽ được quy về thời điểm mổ bằng công thức tính bãn rã
Trang 3627
NaCl 0,9% rồi cho vào các ống đựng mẫu, cân lại ống có mẫu và đo hoạt độ phóng xạ trên máy đo phổ phóng xạ gamma
Các thông số tính toán
Các thông số đƣợc tính toán bao gồm:
- Hoạt độ phóng xạ trong mô hoặc cơ quan trên gam (%ID/g): đƣợc tính bằng cách lấy phần trăm hoạt độ phóng xạ của từng mô (%ID) chia cho trọng lƣợng cân đƣợc của mô đó (1) [30] [34]
+ Phần trăm hoạt độ phóng xạ trong mô hoặc cơ quan (%ID) đƣợc tính bằng công thức (2) nhƣ sau:
A B C
Hình 2.3 Hình ảnh lấy mẫu và đo hoạt độ phóng xạ tại mô, tổ chức
Mẫu các mô, cơ quan của chuột sau khi mổ và các bước tiến hành cân và đo hoạt độ các mô (A: mẫu các mô và cơ quan của chuột sau khi mổ; B: cân
khối lượng mẫu cơ quan; C: đo hoạt độ phóng xạ của từng mẫu mô, cơ quan trên máy đo phổ gamma