I : Là tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp G : Là ngân khoản chi tiêu của chính phủ X – M : Là phần xuất khẩu ròng trong năm GDP sản xuất = GDP tiêu dùng – Te Trong đó : Te là
Trang 1Nguyễn Quốc Sơn
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN GDP CỦA TỈNH
TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2Nguyễn Quốc Sơn
ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN GDP CỦA TỈNH
TIỀN GIANG
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 3CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Lý thuyết cơ bản về Tăng trưởng kinh tế : 3
1.1.1 Các khái niệm : 3
1.1.2 Lý thuyết Tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn : 5
1.1.3 Tăng trưởng kinh tế theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta 11
1.2 Chi Ngân sách nhà nước : 15
1.2.1 Khái niệm Chi ngân sách nhà nước : 15
1.2.2 Đặc điểm, vai trò và mối liên hệ giữa Chi ngân sách nhà nước và phát triển kinh tế : 15
1.2.3 Nội dung về nhiệm vụ chi của Ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách hiện hành 19
1.3 Kinh nghiệm chi ngân sách nhà nước của Trung Quốc : 22
Kết luận Chương 1 : 27
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN GDP CỦA TỈNH TIỀN GIANG 2.1 Vị trí địa lý kinh tế - chính trị và các đặc điểm về tài nguyên tự nhiên, dân số, phân bố dân cư và nguồn lao động của tỉnh Tiền Giang : 29
2.1.1 Vị trí địa lý kinh tế - chính trị : 29
2.1.2 Các đặc điểm về tài nguyên tự nhiên : 31
2.1.3 Đặc điểm dân số, phân bố dân cư và nguồn lao động: 34
2.2 Thực trạng chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tiền Giang từ năm 1996 đến năm 2007 : 35
Trang 4Kết luận Chương 2 : 61 CHƯƠNG 3 : DỰ BÁO MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN GDP CỦA TỈNH
3.1 Kế hoạch tăng trưởng GDP và một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội, môi trường theo QHTT phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tiền Giang đến năm
2020 : 62
3.1.1 Kế hoạch tăng trưởng GDP và một số chỉ tiêu kinh tế đến năm
2020 : 62 3.1.2 Kế hoạch một số chỉ tiêu xã hội đến năm 2020 : 63 3.1.3 Kế hoạch một số chỉ tiêu về mối trường đến năm 2020 : 64
3.2 Dự báo mức độ tác động của Chi NSNN đến GDP của tỉnh Tiền Giang
từ năm 2008 đến năm 2020 theo QHTT phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tiền Giang đến 2020 : 65
3.2.1 Dự báo mức độ tác động của Chi Đầu tư phát triển đến GDP theo giá so sánh : 65
Trang 5giá so sánh : 68 3.2.4 Dự báo mức độ tác động của Chi Thường xuyên đến GDP theo giá hiện hành : 69
Kết luận Chương 3 : 72 KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC BIỂU
Trang 6ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ICOR Tỷ số gia tăng giữa tư bản và đầu ra FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA Viện trợ phát triển chính thức
Trang 7Trong bối cảnh kinh tế hiện nay (khi mà nền kinh tế Mỹ còn chưa biết
có vượt qua cơn khủng hoảng tài chính hay không), càng khẳng định thêm vai trò của việc điều hành kinh tế vĩ mô Một trong những nội dung điều hành kinh tế vĩ mô mà đề tài muốn tiếp cận đó là công tác điều hành thu chi ngân sách Tiền Giang xác định trong giai đoạn tới sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách phát triển đối với các tỉnh trong Vùng,
cùng góp phần thực hiện thành công công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước vào năm 2020
Với giới hạn ngân sách của tỉnh Tiền Giang, các quyết định Chi ngân sách như : cách thức chi, khối lượng chi, đối tượng chi…để đạt mục tiêu đề ra
là hết sức quan trọng Đó cũng chính là lý do người viết chọn đề tài “Đánh
giá và dự báo tác động của Chi Ngân sách nhà nước đến GDP của tỉnh Tiền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản về tăng trưởng kinh tế, thực tiễn vận dụng và kết quả đạt được của tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn vừa qua, luận văn tập trung đo lường đánh giá và dự báo mức độ tác động của Chi ngân sách đến tăng trưởng GDP của tỉnh Tiền Giang Luận văn không đề ra những
Trang 8giải pháp chung chung định tính, mà chỉ đưa ra những nhận định, ý kiến đóng góp sau khi đánh giá và dự báo, làm thông tin quản trị trong việc điều hành Chi Ngân sách, góp phần hoàn thành mục tiêu theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tiền Giang đến 2020
3 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong địa bàn tỉnh Tiền Giang
Về thời gian, phân tích đánh giá số liệu trong khoảng thời gian
1995-2007 và số liệu theo quy hoạch tổng thể của tỉnh Tiền Giang đến 2020
- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là xử lý số liệu của các sở, ban, ngành Để định lượng, luận văn sử dụng mô hình hồi quy, với công cụ hỗ trợ
là phần mềm EVIEW 4.0 Kết quả mô hình là nguồn thông tin bổ ích cho cấp quản lý trong việc hoàn thiện điều hành kinh tế vĩ mô của tỉnh Tiền Giang
4 Bố cục của luận văn :
Ngoài phần mục lục, bảng các chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, phụ lục bảng biểu và tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm 3 chương :
- Chương 1: Tổng quan về tăng trưởng kinh tế và chi ngân sách nhà nước
- Chương 2: Thực trạng chi ngân sách nhà nước và tác động của chi ngân sách nhà nước đến GDP của Tỉnh Tiền Giang
- Chương 3: Dự báo mức độ tác động của chi ngân sách nhà nước đến GDP của tỉnh Tiền Giang
Với khả năng có hạn trong kỹ năng nghiên cứu, thời gian và tài chính nên luận văn sẽ khó tránh khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được
sự góp ý, phê bình của Quý thầy cô và những người quan tâm
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Lý thuyết cơ bản về Tăng trưởng kinh tế :
1.1.1 Các khái niệm :
Khái niệm tăng trưởng kinh tế :
Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế học, phản ánh sự gia tăng
về mặt lượng của một nền kinh tế Nó được đo bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay thu nhập bình quân đầu người trên năm (GNP/người/năm, GDP/người/năm) Tốc
độ tăng trưởng kinh tế là mức (%) được tăng thêm của sản lượng GNP, GDP,
GNP/người hay GDP/người của năm này so với năm trước hay giai đoạn này
so với giai đoạn trước Với nghĩa như vậy, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu theo đuổi của mọi quốc gia, mọi nền kinh tế trước yêu cầu tồn tại và phát triển
- Về phương diện tiêu dùng thì GDP biểu hiện bằng toàn bộ hàng hóa, dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hàng năm
- Về phương diện thu nhập GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức nhà nước thu được từ giá trị gia tăng
Trang 10GDP (tiêu dùng) : C + I + G + X – M
Trong đó :
C : Là các khoản tiêu dùng của các hộ gia đình
I : Là tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
G : Là ngân khoản chi tiêu của chính phủ
X – M : Là phần xuất khẩu ròng trong năm GDP (sản xuất) = GDP (tiêu dùng) – Te
Trong đó : Te là thuế gián thu GDP (thu nhập) = Cp + Ip + T
Trong đó :
Cp : Các khoản các hộ gia đình được quyền tiêu dùng
Sp : Tiết kiệm của các doanh nghiệp dùng để đầu tư (Sp = Ip)
T : Chi tiêu của Nhà nước từ nguồn thuế
Khái niệm phát triển kinh tế :
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với
khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là
sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như đã
nêu ở trên thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng đó, còn
có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng CNH, HĐH và kèm theo đó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội
Khái niệm Phát triển bền vững :
Trang 11Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, phát triển bền vững được
định nghĩa là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định
"phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và
hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (mục
tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống
1.1.2 Lý thuyết Tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn :
1.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng truyền thống :
Đại diện tiêu biểu của Lý thuyết tăng trưởng truyền thống đó là : Adam
Smith, David Ricardo và Karl Marx
Lý thuyết tăng trưởng của Adam Smith (1723-1790)
Theo Adam Smith : lao động là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước chứ không phải đất đai và tiền bạc Ông cho rằng : “mọi cá nhân không có ý
Trang 12định thúc đẩy lợi ích công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích của riêng mình, và ở đây cũng như trong nhiều trường hợp khác, người đó được một bàn tay vô
hình dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình” Thu nhập xã hội là tổng thu nhập của : lợi nhuận của nhà tư bản, địa tô của địa chủ và tiền công của người công nhân
Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo (1772-1823)
“Các nguyên tắc của kinh tế chính trị học và thuế khóa” ra đời năm 1817
là điểm mốc đánh dấu sự ra đời của trường phái kinh tế cổ điển
Theo Ông : Nông nghiệp là ngành quan trọng nhất, do đó các yếu tố cơ bản của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn Đất đai là giới hạn của tăng trưởng: Tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực và chi phí này phụ thuộc vào
đất đai
Cũng giống như Adam Smith, David Ricardo cho rằng : Thu nhập của xã hội là tổng thu nhập của các tầng lớp dân cư : tiền công + lợi nhuận + địa tô Với ông nhà tư bản giữ vai trò quan trọng vì là người điều phối sản xuất
và thực hiện tích lũy Vai trò của chính sách kinh tế đối với tăng trưởng không
có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hoạt động của nền kinh tế, làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế vì thuế làm giảm tích lũy Chi tiêu của nhà nước là chi tiêu không sinh lợi, những người quản lý nhà nước đã làm giảm bớt tiềm lực phát triển kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (1818-1883)
So với 2 lý thuyết trên, Marx đã phát triển thêm các yếu tố tăng trưởng kinh tế bao gồm : đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khác với giá trị sử dụng của các loại hàng hóa khác là có thể tạo ra giá trị thặng dư Để tạo ra giá trị thặng
Trang 13dư: giờ lao động, tiền lương và tăng năng suất bằng cách cải tiến kỹ thuật Cải tiến kỹ thuật cần vốn nên nhà tư bản mới tích lũy giá trị thặng dư
Ông phân chia giai cấp trong xã hội tư bản gồm : địa chủ, nhà tư bản và công nhân Thu nhập tương ứng là địa tô, lợi nhuận và tiền công, nhưng khác với David Ricardo, Karl Marx cho rằng sự phân phối này là không hợp lý và mang tính chất bóc lột
Karl Marx đứng trên lĩnh vực sản xuất để chia hoạt động xã hội thành 2 lĩnh vực: sản xuất vật chất và phi sản xuất Chỉ có sản xuất vật chất mới tạo ra sản phẩm xã hội :
- Về mặt giá trị: lao động cụ thể được chuyển vào và giữ nguyên giá trị (C) , lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (V+m)
- Về mặt hiện vật (dựa vào công dụng của sản phẩm): tư liệu sản xuất và
tư liệu tiêu dùng
- TSPXH (C+V+m) và TNQD (V+m)
Ông cho rằng nền sản xuất của một quốc gia có tính chu kỳ, và tình trạng khủng hoảng thừa do thiếu cầu sẽ dễ dàng xảy ra mà nguyên nhân sâu xa là tính chất bóc lột (tiền lương thấp nên làm giới hạn tiêu dùng) và tích lũy cao nhằm cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động của nhà tư bản Để khắc phục khủng hoảng này thì vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng, đặc biệt là chính sách kích cầu
Tóm lại : trong nhóm lý thuyết này về mặt cơ bản đều thống nhất với nhau về các yếu tố của tăng trưởng kinh tế, yếu tố được đề cao nhiều hơn các yếu tố còn lại là đất đai và lao động Tuy nhiên lại có hai quan điểm trái chiều nhau về sự can thiệp của chính phủ đến tăng trưởng kinh tế Dù ủng hộ hay không ủng hộ thì trong giai đoạn này, vai trò của nhà nước cũng đã được xem xét và nghiên cứu
1.1.2.2 Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển
Trang 14Mô hình J Maynard Keynes (1883-1946)
Với lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936) thì nền kinh tế
có 2 đường tổng cung : một phản ánh mức sản lượng tiềm năng và một phản ánh mức thực tế Cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm năng mà thông thường ở mức thấp hơn
Ông chỉ ra xu hướng thu nhập tăng thì tiêu dùng biên giảm (tiêu dùng trung bình giảm) và tiết kiệm biên tăng (tiết kiệm trung bình tăng) Đây là nguyên nhân cơ bản của trì trệ kinh tế Cho nên đầu tư đóng vai trò quyết định quy mô việc làm, nhưng khối lượng đầu tư phụ thuộc vào lãi suất cho vay và hiệu suất biên của vốn
Muốn thoát khủng hoảng và thất nghiệp thì nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, bằng cách tăng cầu tiêu dùng Sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước
và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước cần tăng khối lượng tiền tệ để giảm lãi suất, phát triển hệ thống thuế để bổ sung ngân sách, xem đầu tư công cộng của chính phủ là lực đẩy
Mô hình Harrod - Domar
Hàm sản xuất đơn giản nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng trong phân tích về phát triển kinh tế của Roy Harrod (Anh) và Evsay Domar (Mỹ) cùng
đưa ra để giải thích cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về tư
bản ở các nước đang phát triển
Mô hình này cơ bản cho là đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù
là một công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế, sẽ phụ thuộc vào tổng số tư bản đầu tư cho đơn vị đó
Mô hình đó là :
g = s/k Trong đó :
Trang 15g : tỷ lệ tăng trưởng đầu ra
s : tỷ lệ tiết kiệm k: tỷ số gia tăng giữa tư bản và đầu ra – ICOR
Mô hình này cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với ICOR Trở ngại của các nước đang phát triển là khả năng huy động vốn do thu nhập thấp nên tỷ lệ tiết kiệm (s) thấp, và vấn đề tiếp theo sau đó là hiệu quả đầu tư Vì vậy mô hình này cũng yêu cầu chính phủ cần phải can thiệp để thúc đẩy tiết kiệm cho đầu tư và đầu tư sao cho có hiệu quả
Mô hình Robert Solow
Hàm sản xuất đơn giản Harrod – Domar không làm rõ một số điểm khác nhau cơ bản trong sự tăng trưởng giữa các quốc gia Người ta muốn hiểu rõ hơn tại sao tỷ số tư bản - đầu ra lại khác nhau nhiều như vậy Và Robert Solow đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng bằng một dạng khác của hàm sản xuất, cho phép người phân tích tách riêng các nguyên nhân khác nhau của sự tăng trưởng chứ không gộp tất cả các nguyên nhân này vào trong tỷ số tư bản - đầu ra
Hàm sản xuất có dạng :
Y = f(K, L, T, A) Trong đó :
Y : đầu ra hay sản phẩm quốc dân
K : dự trữ tư bản
L : số lượng lao động
T : dự trữ về đất trồng trọt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
A : sự tăng lên về năng suất hay hiệu quả sử dụng đầu vào
Trang 16Để có thể tính toán được phần đóng góp của từng yếu tố đầu vào, hàm
sản xuất đã được biến đổi có dạng :
gn = a + Wk gk + Wl gl + Wt gt
Trong đó :
g : tỷ lệ tăng trưởng của các biến số
W : phần thu nhập trong đầu vào
n : sản phẩm quốc dân
k : dự trữ tư bản
l : số lượng lao động
t : đất trồng trọt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
a : biến số do sự dịch chuyển trong hàm sản xuất là kết quả của việc sử dụng có hiệu quả cao các đầu vào
Ưu điểm của lý thuyết này là nó nhận ra được chính xác các nguồn dẫn đến tăng trưởng kinh tế dài hạn Việc tăng vốn sản xuất chỉ ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn mà không ảnh hưởng trong dài hạn Người
ta còn gọi đây là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững
Có thể thấy rằng các mô hình tăng trưởng trong giai đoạn này đều đề cao tác động của yếu tố vốn, giải được bài toán tăng trưởng dài hạn bằng các biến ngoại sinh, và tất nhiên vai trò của Chính phủ là vô cùng quan trọng cho tăng trưởng bền vững
1.1.2.3 Lý thuyết tăng trưởng hiện đại
Trang 17Paul Samuelson (1948) đại biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp, theo ông sự cân bằng của nền kinh tế nằm dưới sản lượng tiềm năng (keynes) và các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là tập hợp :
- Quan điểm của Tân cổ điển về tỷ lệ lao động và vốn
- Quan điểm của Harrod-Domar về vai trò của vốn
- Quan điểm Keynes về vai trò của tổng cầu
Theo Ông vai trò của chính phủ trong tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng Nhà nước cần xác định tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và lạm phát chấp nhận
được Bên cạnh đó thì thị trường là yếu tố cơ bản điều tiết hoạt động kinh tế,
tác động qua lại giữa tổng cung và tổng cầu tạo ra sản lượng, việc làm, thất nghiệp, mức giá-lạm phát…
Tóm lại, các lý thuyết tăng trưởng kinh tế kể trên chủ yếu tập trung làm
rõ các biến số làm nên sự gia tăng về sản lượng trong nền kinh tế, đồng thời cho biết tác động của Chính phủ là bao nhiêu trong sản lượng gia tăng đó Và tất nhiên các quan điểm, lý thuyết này là từ góc nhìn của những nhà kinh tế, còn góc nhìn của Chính phủ, của nhà nước mà cụ thể là Đảng và nhà nước ta
về tăng trưởng kinh tế là như thế nào ?
1.1.3 Tăng trưởng kinh tế theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta:
Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước
đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể, dễ hiểu và nó trở thành mục
tiêu phấn đấu của một chính phủ vì nó là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính phủ Nhưng tăng trưởng kinh tế không phản
ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội,
chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị
có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy
Trang 18hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí
Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự
phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam mà còn vì sự phát triển bền vững chung của toàn cầu Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000" (Quyết định số 187-CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH" Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam và
trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học" Gần đây, Đại hội X (2006) của Đảng cũng đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20 năm đổi mới vừa qua và đó cũng là tư tưỏng chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 5 năm 2006-2010 và kể cả nhiều năm tiếp theo Trong đó, bài học đầu tiên đã được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh là “Bài học về phát triển nhanh và bền vững” Phát triển bền vững rõ ràng đã và đang trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và định hướng chính sách phát triển
Trang 19của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, những năm vừa qua đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu Nhờ đó, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước
Ở nước ta, trước những năm đổi mới, trong cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu, bao cấp và một nền kinh tế phi thị trường, chế độ phân phối bình quân, nền kinh tế, không những không tăng trưởng mà trì trệ, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội vào giữa thập niên 80, buộc chúng ta phải tiến hành đổi mới Đổi mới là một yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn Tinh thần đổi mới của Đảng thể hiện trước hết ở
đổi mới tư duy kinh tế, hình thành và hoàn thiện qua các Đại hội VI, VII, VIII
và IX Những thành tựu mà chúng ta đã đạt được gần hai thập niên qua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã khẳng định rằng, để thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đòi hỏi phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội
Tăng trưởng kinh tế cùng với chế độ chính trị ưu việt là điều kiện, yếu tố quan trọng để có công bằng xã hội, ngày càng tạo ra công bằng xã hội Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội biểu hiện một cách đa dạng, chứ tuyệt nhiên không phải tăng trưởng đi trước, công bằng theo sau Xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã nêu rõ tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội: Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: ''phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ
Trang 20công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”
Từ cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ mà Đảng
ta đã nêu lên, rõ ràng chúng ta đã có một quan niệm khác với các nước xã hội chủ nghĩa trước đây là đặt ra các mục tiêu xã hội quá cao so với trình độ phát triển kinh tế hiện tại, nên các mục tiêu xã hội trở thành ảo tưởng Chúng ta cũng không quan niệm như một số nước phương Tây chạy theo sự tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà hy sinh các mục tiêu xã hội, gây nên những xung đột xã hội, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo Chúng ta quan niệm, việc thực hiện các vấn đề xã hội, các mục tiêu xã hội tuy không thể thoát ly tăng trưởng kinh tế, không thể vượt ra ngoài phạm vi cho phép, nhưng không thể nhận thức một cách giản đơn là : Cứ tăng trưởng kinh tế thì các vấn đề khác của xã hội sẽ giải quyết được, cũng không chờ đến khi có cho sự tăng trưởng cao của kinh tế mới bắt đầu thực hiện sự công bằng xã hội, mà mỗi bước tiến của chính sách xã hội (qua những mục tiêu đạt được) đều phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mỗi bước phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế đều thúc đẩy tiến bộ xã hội, công bằng xã hội Vì vậy, sự tăng trưởng kinh tế phải hướng tới mục đích phục vụ các mục tiêu xã hội và các mục tiêu
xã hội phải hướng tới con người
Qua khái lược lý thuyết tăng trưởng kinh tế chính thống cũng như quan
điểm của nhà nước ta từ việc vận dụng những lý thuyết trên chúng ta có thể
kết luận rằng : để tăng trưởng kinh tế cần có 4 nhân tố : nhân lực, tài nguyên
thiên nhiên, vốn và công nghệ, nhưng để phát triển kinh tế bền vững thì cần
có thêm nhân tố điều tiết vĩ mô của chính phủ Và một công cụ quan trọng
trong điều tiết vĩ mô của chính phủ là Thu chi ngân sách, trong phạm vi của
đề tài, xin được giới hạn đề cập về Chi ngân sách nhà nước
Trang 211.2 Chi Ngân sách nhà nước :
1.2.1 Khái niệm Chi ngân sách nhà nước :
Đứng về phương diện pháp lý, chi ngân sách nhà nước là những khoản
chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳng hạn như : bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp…
Về mặt bản chất, chi ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh Quốc phòng
Chi ngân sách nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách nhà nước, ngược lại sử dụng vốn ngân sách nhà nước để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh
tế, chính trị, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ Điều này chứng tỏ các khoản chi của ngân sách nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia
1.2.2 Đặc điểm, vai trò và mối liên hệ giữa Chi ngân sách nhà nước
Trang 22rộng thì các khoản chi càng lớn, phức tạp đa dạng và chi ngân sách nhà nước càng gắn chặt vào tiến trình kinh tế
Chi ngân sách nhà nước có qui mô lớn, phạm vi rộng, chủng loại chi đa dạng Bên cạnh đó sự khác biệt chủ sở hữu ngân sách, người trực tiếp sử dụng tiền chi và đối tượng phục vụ trực tiếp của chi ngân sách nhà nước càng làm cho quá trình này phức tạp hơn (cụ thể là mối quan hệ phức tạp giữa cơ quan quản lý vốn, cơ quan cấp vốn và cơ quan sử dụng vốn, nảy sinh hiện tượng
“cha chung không ai khóc”) Vì vậy đòi hỏi phải có một chế độ quản lý chặt chẽ nhằm hạn chế và ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực như lãng phí, tham ô, biển thủ tiền của ngân sách nhà nước
Đa phần các khoản chi ngân sách nhà nước đều mang tính chất không
hoàn trả Do đó, việc đánh giá chi ngân sách nhà nước cần được tiến hành trên góc độ vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế - xã hội
Về vai trò :
Chi ngân sách nhà nước là nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo và duy trì
sự hoạt động bình thường của hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương
đến địa phương Để có một nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định và vững
chắc cần phải có bộ máy chính quyền có năng lực, trong sạch và có nguồn vật chất đủ mạnh để chính quyền các cấp có thể thực thi được các nhiệm vụ của mình
Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, việc đầu tư này của chính phủ tạo ra sự khởi động ban đầu, kích thích quá trình vận động vốn để hướng tới sự tăng trưởng
Ở các nước đang phát triển, vai trò của nhà nước trong việc cấp vốn đầu
tư ban đầu để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế, hình thành các ngành công nghiệp then chốt là hết sức to lớn để mở đường và định hướng phát triển cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội
Trang 23Chi thường xuyên có tác động trực tiếp đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những yếu tố có tính quyết định đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước Thông qua chi thường xuyên Nhà nước điều chỉnh các cán cân trên thị trường vận động theo định hướng, mục tiêu của Nhà nước Hay nói cách khác, chi thường xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước
Với ý niệm phát triển về kinh tế đã nêu trên thì chi ngân sách nhà nước
có những ảnh hưởng gì đến quá trình phát triển của một quốc gia ?
Mối liên hệ giữa Chi NSNN và phát triển kinh tế :
Trên thực tế, chi ngân sách nhà nước đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế, cụ thể là :
+ Chi ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến sản xuất :
Các nhà kinh tế tài chính cổ điển thường cho rằng, phần lớn chi tiêu ngân sách nhà nước không thể nào làm gia tăng sản xuất được Bởi lẽ, nó chủ yếu được dùng vào mục đích tiêu dùng thường xuyên, đáng lẽ ở tư nhân nó có thể dùng để tiết kiệm hoặc đầu tư phát triển Song thực ra, chi tiêu ngân sách nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng trong vấn đề mở mang sức sản xuất Tình trạng hữu ích của tài nguyên thiên nhiên hiện có đã phụ thuộc vào chính sách bảo tồn trong quá khứ và hiện tại của chính phủ Việc phát triển các lĩnh vực điện lực, thủy lợi, kiểm soát thủy văn, mở rộng và phát triển các đường giao thông … và ngay cả chi tiêu nhằm mục tiêu an ninh trật tự công cộng … cũng không phải không có tính chất sản xuất, vì nếu nhà nước không chi phí
về các dịch vụ trên thì sẽ không có môi trường và điều kiện cũng như không
có an ninh trật tự để tư nhân có thể yên tâm lo những sản xuất công việc của mình
Trang 24Bên cạnh những chi tiêu nêu trên, có những chi tiêu nhằm mục tiêu sản xuất rõ rệt như : trợ giúp các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng quy
mô sản xuất, thu hút nhân công…
+ Chi ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực : Sức khỏe của nhân công phụ thuộc vào công việc nghiên cứu các tiện nghi, thiết bị dùng để phòng bệnh và chữa bệnh, vào việc nghiên cứu về chất lượng thực phẩm và bảo vệ người tiêu thụ, vào việc cung cấp các tiện nghi về giải trí… Tất cả những công việc này Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng
và không công việc nào mà trong đó vai trò của Chính phủ lại có thể thu hẹp Quan trọng nhất trong việc phát triển nguồn nhân lực là công tác giáo dục – đào tạo mà vai trò của Chính phủ từ xưa đến nay và mãi mãi về sau luôn luôn đóng vai trò trọng yếu mà tư nhân không thể thay thế được Nhiệm
vụ giáo dục – đào tạo là phát triển khả năng quyết định một cách hợp lý, khả năng phát biểu, thông tri thấu hiểu các ý kiến cũng như sử dụng các kiến thức
đã tích lũy được vào mục tiêu tiến bộ, đó là yếu tố chiến lược đặc biệt về tiến
bộ, nó không những đặt nền móng cho tiến bộ kỹ thuật của con người có sáng kiến mà còn trang bị cho cả công chúng để họ có thể chấp nhận và tự điều chỉnh mình theo các kỹ thuật mới xuất hiện
+ Chi ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến việc nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật :
Việc nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật là một nhiệm vụ trọng yếu trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Nó phụ thuộc vào sự nâng đỡ của Chính phủ Bởi vì, chi phí nghiên cứu là loại chí phí mang nhiều tính chất rủi ro, loại chi phí này không hứa hẹn là trong mỗi công việc nghiên cứu, các kết quả mang lại sẽ hữu ích và rất nhiều kết quả hữu ích chỉ có thể thực hiện
được sau một thời gian tương đối dài, thông thường là những người khác được hưởng lợi nhiều hơn là những người đã bỏ tiền ra nghiên cứu nó
Trang 25Từ quá trình phân tích trên đã khẳng định Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển khả năng sản xuất, cung cấp thích ứng nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học kỹ thuật Tuy nhiên vai trò của Chính phủ không phải chỉ có thế, bởi lẽ phát triển kinh tế còn bao hàm một xã hội chính trị ổn
định, công bằng và văn minh, một dân số thông minh và đầy triển vọng … tất
cả những vấn đề này đều có liên hệ mật thiết đến chi tiêu ngân sách nhà nước
và phụ thuộc vào mức độ chi tiêu ngân sách nhà nước trong quá khứ, hiện tại
và cả tương lai
1.2.3 Nội dung về nhiệm vụ chi của Ngân sách địa phương theo
Luật Ngân sách hiện hành
Theo Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước thì nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương gồm:
Chi đầu tư phát triển :
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không
có khả năng thu hồi vốn do địa phương quản lý;
- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
Chi thường xuyên :
Trang 26- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do các cơ quan địa phương quản lý:
+ Giáo dục phổ thông, bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác;
+ Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác;
+ Các sự nghiệp khác do địa phương quản lý;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phương quản lý:
+ Sự nghiệp giao thông: duy tu, bảo dưỡng và sửa chữa cầu đường và các công trình giao thông khác; lập biển báo và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông trên các tuyến đường;
+ Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, diêm nghiệp và lâm nghiệp: duy tu, bảo dưỡng các tuyến đê, các công trình thủy lợi, các trạm trại nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; công tác khuyến lâm, khuyến nông,
Trang 27khuyến ngư; chi khoanh nuôi, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thủy sản;
+ Sự nghiệp thị chính: duy tu, bảo dưỡng hệ thống đèn chiếu sáng, vỉa
hè, hệ thống cấp thoát nước, giao thông nội thị, công viên và các sự nghiệp thị chính khác;
+ Đo đạc, lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính và các hoạt động sự nghiệp địa chính khác;
+ Điều tra cơ bản;
+ Các hoạt động sự nghiệp về môi trường;
+ Các sự nghiệp kinh tế khác;
- Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách địa phương bảo đảm theo quy định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiện;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phương;
- Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ;
- Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý;
- Phần chi thường xuyên trong các chương trình mục tiêu quốc gia do các cơ quan địa phương thực hiện;
Trang 28- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật;
Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước;
Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh;
Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới;
Chi chuyển nguồn từ ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa phương năm sau;
Từ những nội dung chi ngân sách kể trên, chúng ta có thể hình dung
được mối liên hệ giữa các khoản chi ngân sách và các nhân tố tăng trưởng
kinh tế, cụ thể là :
+ Chi đầu tư phát triển tác động lên nhân tố vốn (tư bản thuần túy) + Chi thường xuyên tác động lên nhân tố : lao động, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ và vốn (vốn xã hội)
1.3 Kinh nghiệm chi ngân sách nhà nước của Trung Quốc :
Kinh nghiệm vận hành chính sách chi NSNN của Trung Quốc tập trung vào ba khía cạnh sau:
Thực thi chính sách chi tiêu NSNN thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thâm hụt NSNN, tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thuận lợi cho kinh tế tăng tốc lâu dài
Khác với các nước chuyển đổi và các nước đang phát triển; giới lãnh đạo Trung Quốc ý thức rất rõ tác hại to lớn của môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn
đối với đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội; đặc biệt là nguy cơ phá vỡ hoàn
toàn chiến lược tăng GDP lên 4 lần sau hai mươi năm của Ông Đặng Tiểu
Trang 29Bình Chính vì vậy suốt 24 năm qua, Trung Quốc đã kiên trì thực hiện chính sách chi NSNN hết sức thận trọng và có trách nhiệm Mặc dù trong thực tiễn không phải không xuất hiện những giai đoạn hết sức khó khăn, NSNN căng thẳng, thu NSNN và NSTW giảm, song từ 1978 đến nay, Trung Quốc dứt khoát không phát hành tiền cho chi tiêu và bù đắp thiếu hụt NSNN Có thể nói
đây là quyết tâm mạnh mẽ và sắt đá hiếm thấy trên thế giới, cũng chính nhờ
hai gọng kìm mạnh mẽ là chính sách động viên và chính sách chi NSNN đúng
đắn mà kinh tế nước này đã được thúc đẩy tăng tốc với nhịp độ cao chưa từng
thấy Độ ổn định và cân bằng NSNN của Trung Quốc chỉ dao động trên dưới 0,9% GDP, vào loại vững chắc nhất thế giới Trong lịch sử trên hai mươi năm, Trung Quốc chỉ có một thời kỳ ngắn kinh tế vĩ mô bất ổn, lạm phát cao,
đó là giai đoạn 1993-1994, song nguyên nhân chủ yếu của nó chính là sự lỏng
lẻo trong quản lý tín dụng chứ không phải bởi lý do NSNN
Điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu chi NSNN, bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
Mặc dù chi NSNN từ 31% GDP năm 1978 giảm xuống 12% GDP trong thập kỷ 90, nhưng nó đã căn bản giải quyết các nhu cầu chi của kinh tế và xã hội Trong hai mươi năm qua, cơ cấu chi đã có những bước chuyển dịch cơ bản:
- Tỷ lệ đầu tư vào các dự án sản xuất giảm dần cho thấy Nhà nước đã chủ động rút dần khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh thuần túy vốn có trong kinh tế kế hoạch để tập trung cho chức năng hoạch định chính sách, điều chỉnh và định hướng ở tầm vĩ mô Chi cho xây dựng kinh tế giảm từ 60% năm
1978 xuống còn 26,6% tổng chi NSNN năm 1995, còn chi cho đầu tư cơ bản giảm từ 40,3% năm 1978 xuống còn 11,6% năm 1995
Trang 30- Chi tiêu cho y tế, giáo dục và phúc lợi tăng từ 11,6% lên 23,2% NSNN năm 1995
- Chi cho quản lý trong công nghiệp, thương mại cũng như toàn bộ bộ máy hành chính tăng từ 6% lên 14,3%
- Chi trả nợ năm 1995 chiếm 13%, riêng cho quốc phòng giảm từ 14,96% năm 1978 xuống 9,33% NSNN năm 1995
Quan hệ và tỷ trọng giữa NSTW và NSĐF cũng có những thay đổi cơ bản
NSNN Trung Quốc được xây dựng theo chủ trương cần phải tập trung, nhưng không quá mức Trong điều chỉnh, tỷ trọng của NSTW liên tục giảm
và duy trì ở mức thấp Xu hướng này, một mặt tạo điều kiện cho NSĐF được tăng cường và chủ động; nhưng mặt khác nó cũng sinh ra tình trạng bất lợi là NSTW thiếu nguồn lực tài chính và công cụ chính sách, nên đối với chính phủ việc đạt mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và cân bằng giữa các khu vực ngày càng trở nên khó khăn hơn Nếu năm 1979 tỷ trọng giữa trung ương và
địa phương là 50,8% và 49,2% thì đến năm 1993 tỷ lệ này là 22% và 78%;
năm 1994 Trung Quốc thông qua luật NSNN, mà một trong các mục tiêu là nâng tỷ trọng của NSTW lên 50%, trên thực tế mục tiêu này đã cơ bản đạt
được, tỷ trọng NSTW đã nằm ở mức 49-52% trong các năm 1995-1998,
nhưng phần sử dụng của NSTW sau khi đã chuyển giao chỉ chiếm 20-22,7% tổng chi NSNN Đây là tỷ trọng rất thấp so với Anh là 71%, Mỹ là 42%, Achentina là 57%, Inđônêxia là 82%
Theo đánh giá của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, cải cách NSNN thập kỷ 90 đã đạt được nhiều thành tựu đáng kinh ngạc trong việc mở rộng
đối tượng thu thuế, tăng chi tiêu xã hội, chuẩn hóa quan hệ ngân sách giữa
Trang 31trung ương và địa phương, thiết lập hệ thống lương hưu ổn định, bên cạnh vẫn còn nhiều vấn đề tiếp tục phải cải cách, điều chỉnh, mà tựu trung lại là:
- Do NSTW eo hẹp nên Chính phủ không thể lập ra được các chương trình tầm cỡ nhằm hỗ trợ các vùng khó khăn, nghèo nàn, kém phát triển, dẫn
đến tình trạng Trung Quốc trở thành một trong ba nước bị mất cân đối lớn
nhất trên thế giới Hệ thống chuyển giao tài chính giữa trung ương và địa phương của Trung Quốc ít có vai trò cân đối lại chênh lệch, các khoản trợ cấp
có phần cứng nhắc
- Phần đáng kể chi tiêu của Chính phủ ước tính tới 12% GDP không
được tính vào Ngân sách chính thức mà nằm dưới dạng quỹ ngân sách bổ
sung và quỹ ngoài ngân sách; dẫn đến tình trạng nhiều địa phương tìm cách chuyển các khoản thu trong ngân sách sang quỹ ngoài ngân sách để tránh phải phân chia với Trung ương
Những năm cuối thập kỷ 90, để chuyển dịch tăng trưởng kinh tế sang phía tây, đối phó với tình trạng thiểu phát và duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, chính sách tài chính nhà nước của Trung Quốc đã có một số điều chỉnh sau
đây:
- Từ 1998 thực thi chính sách tài khóa tích cực, với định hướng mở rộng quy mô đầu tư của Nhà nước thông qua phát hành trái phiếu chính phủ Theo
đánh giá của các nhà kinh tế Trung Quốc, hiệu ứng của chính sách này đã làm
tăng GDP lên 1,5% trong năm 1999, 2% trong năm 2000
- Tăng cường đầu tư với qui mô rất lớn vào cơ sở hạ tầng
- Chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng giảm bớt gánh nặng như
đã nêu ở trên
Trang 32Chính sách tài chính tích cực với hai giọng kìm là tăng chi ngân sách và giảm thuế đã chặn được nguy cơ tụt dốc của nền kinh tế, song không phải không có vấn đề:
- Mức độ nợ của TCNN tăng nhanh Thập kỷ 80 trở lại đây, nợ TCNN
đã tăng lên nhanh, từ 20% năm 1995, lên 29,7% năm 1998 và 30,6% năm
1999; đối với NSTW thì tỷ trọng nợ gia tăng còn cao hơn: năm 1994 là trên 50%, năm 1998 đạt 71,1% Tỷ lệ trả nợ từ NSNN cũng tăng mạnh, tỷ lệ trả nợ của NSNN và NSTW năm 1995 tương ứng là 14,1% và 27,1% thì tới năm
1998 hai chỉ số này đã là 23,8% và 48,1%
- Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá mức vào đầu tư của Nhà nước,
đầu tư của xã hội tuy được khôi phục nhưng với tốc độ chậm và yếu ớt đe dọa
cơ sở tăng trưởng bền vững trong tương lai Nếu thời kỳ 1993-1997 đầu tư mới tăng của xã hội chi phụ thuộc khoảng 40-45% đầu tư nhà nước thì năm
1999 chỉ số này đã là 90%
Thực tiễn vận hành chính sách TCNN hai mươi năm qua của Trung Quốc quả là phong phú và gần gũi với chúng ta, nhưng cũng cần phải nghiên cứu thật chu đáo khi tham khảo kinh nghiệm của bạn Thành công trong cải cách mở cửa của Trung Quốc là to lớn, song họ cũng phải trả giá không nhỏ,
mà một trong số đó là sự phân hóa ngày càng nghiêm trọng (hai cực Đông – Tây, giữa giàu – nghèo, thành thị – nông thôn) Sự phân hóa này chẳng những không mất đi cùng với phát triển kinh tế, mà dường như ngày càng sâu sắc, gay gắt hơn Đây là điều chúng ta nên suy ngẫm khi sử dụng TCNN với tư cách là một trong các công cụ chủ yếu định hướng phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới
Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :
Trang 33- Nhà nước phải đóng vai trò chủ yếu và quan trọng nhất đối với việc thực hiện chiến lược đầu tư của nền kinh tế
- Phải tập trung nguồn vốn, sử dụng thống nhất và kiên quyết chấm dứt tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, không hiệu quả
- Cần phải có chiến lược đầu tư, cơ cấu đầu tư hợp lý gắn với các nguồn vốn huy động thích hợp
- Quản lý hiệu quả việc cấp phát vốn và sử dụng vốn NSNN, ngăn chặn kịp thời các hiện tượng tiêu cực, tình trạng lãng phí, tham nhũng
Kết luận Chương 1 :
Toàn bộ Chương 1 trình bày những lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài, làm cơ sở phát triển những nội dung tiếp theo của luận văn Cụ thể chương này đã làm rõ được những nội dung cơ bản sau:
- Các nhân tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế : nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ
- Chính sách phát triển của Nhà nước ta là kết hợp đồng thời tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội Vì thế :
- Nội dung Chi NSNN của Trung Ương hay địa phương đều phải vừa phục vụ tăng trưởng kinh tế vừa đảm bảo phát triển bền vững
- Và chi ngân sách nhà nước không độc lập với các nhân tố tăng trưởng kinh tế, vì :
+ Chi đầu tư phát triển tác động lên nhân tố vốn (chủ yếu là tư bản thuần túy)
Trang 34+ Chi thường xuyên tác động lên nhân tố : lao động, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ và vốn (chủ yếu là vốn xã hội)
Với nền tảng lý luận nêu trên, Tiền Giang cũng không phải là ngoại lệ cho dù có những đặc thù kinh tế riêng biệt Tình hình thực tế của tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn vừa qua cũng như kế hoạch phát triển cho giai đoạn tiếp theo đã cũng chứng minh điều đó
Và công tác điều hành Chi ngân sách nhà nước của tỉnh Tiền Giang cũng trên tinh thần thực hiện nhiệm vụ chung đã nêu là tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Tất cả đều được thể hiện trong chương tiếp theo của luận văn
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN GDP CỦA TỈNH TIỀN GIANG 2.1 Vị trí địa lý kinh tế - chính trị và các đặc điểm về tài nguyên tự nhiên, dân số, phân bố dân cư và nguồn lao động của tỉnh Tiền Giang :
2.1.1 Vị trí địa lý kinh tế - chính trị :
Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vừa nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN); nằm trải dài trên bờ Bắc Sông Tiền với chiều dài trên 120 km; có tọa độ địa lý 105o49'07''
đến 106o48'06'' kinh độ Đông và 10o12'20'' đến 10o35'26'' vĩ độ Bắc Phía
Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến
Tre, Vĩnh Long, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An và TP.Hồ Chí Minh Diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2 , chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng KTTĐPN, 0,7% diện tích cả nước
Tiền Giang gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện) với 169 đơn vị hành chính cấp xã (7 thị trấn, 16 phường, 146 xã) Trong đó, thành phố Mỹ Tho - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Tiền Giang, đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hoá, giáo dục, đào tạo, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90km về hướng Bắc
Tiền Giang có vị trí địa lý kinh tế - chính trị khá thuận lợi nằm liền kề với thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, có 4 tuyến quốc lộ chính (1, 30, 50 và 60) chạy ngang qua với tổng chiều dài trên 150 km nối thành
Trang 36phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ với các tỉnh ĐBSCL, tạo cho Tiền Giang
vị thế của một cửa ngõ của các tỉnh miền Tây về thành phố Hồ Chí Minh và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Ngoài hệ thống đường bộ, Tiền Giang còn có 32 km bờ biển và hệ thống các sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây, sông Soài Rạp, kênh Chợ Gạo nối liền các tỉnh ĐBSCL với thành phố Hồ Chí Minh và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh ven sông Tiền và Kampuchea Sau khi Tiền Giang gia nhập vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh, vị trí và chức năng của tỉnh Tiền Giang được xác định như sau:
1 Tiền Giang là dư địa lớn để phân bổ lại phát triển công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, công nghiệp vệ tinh của thành phố Hồ Chí Minh Trên địa bàn Tiền Giang ngoài việc thu hút các cơ sở dệt may, chế biến nông sản thực phẩm từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, dự kiến phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp bổ trợ, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp phục vụ nông nghiệp - nông thôn như cơ khí, sinh học, phân bón, vật liệu xây dựng
và các ngành công nghiệp khác
2 Tiền Giang nằm trong vùng sản xuất lương thực, thực phẩm, rau hoa quả lớn của vùng ĐBSCL và vùng KTTĐPN Dự kiến phát triển tại Tiền Giang các trung tâm giống cây trồng, xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, đi đầu và lôi kéo cả vùng đồng bằng sông Cửu Long cùng phát triển
3 Vai trò trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam không chỉ dừng lại chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu mà vươn tới cả thành phố Mỹ Tho để đảm nhận chức năng dịch vụ thương mại và trung tâm du lịch của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 374 Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang bố trí các cơ sở y tế chất lượng cao, các
cơ sở đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học, đào tạo nghề để phục vụ cho các tỉnh lân cận, giảm tập trung vào thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
5 Tiền Giang tham gia các chương trình hợp tác về lao động với các tỉnh, thánh phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Nhìn chung, với các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế và giao thông thủy
bộ, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam
2.1.2 Các đặc điểm về tài nguyên tự nhiên:
2.1.2.1 Tài nguyên đất đai:
Theo các chương trình điều tra thổ nhưỡng, Tiền Giang có các nhóm đất chính như sau:
- Nhóm đất phù sa: Chiếm 54,9% diện tích tự nhiên với khoảng 129.928
ha, đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp, thích hợp cho trồng cây
ăn trái
- Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% diện tích tự nhiên với 34.553 ha, về bản
chất, đất này thuận lợi như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời
kỳ hoặc thường xuyên Việc trồng trọt thường chỉ giới hạn trong mùa mưa có
đủ nước ngọt Loại đất này khi có điều kiện rửa mặn sẽ trở nên rất thích hợp
cho sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng Riêng
đất ven biển là thích nghi cho rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản
Trang 38- Nhóm đất phèn: Chiếm 19,4% diện tích tự nhiên với 45.913 ha Hiện
nay, ngoài tràm và bàng là 2 cây cố hữu đã tiến hành trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể
- Nhóm đất cát giồng: Chỉ chiếm 3% diện tích tự nhiên với 7.337 ha Do
đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nên chủ yếu sử dụng
làm thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu
Nhìn chung, đất đai của tỉnh Tiền Giang phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 55%), thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh Tiền Giang; còn lại 19,4% là nhóm đất phèn và 14,6% là nhóm đất phù sa nhiễm mặn trong thời gian qua được tập trung khai hoang, mở rộng diện tích, cải tạo và tăng vụ thông qua các chương trình khai thác phát triển vùng
Đồng Tháp Mười, chương trình ngọt hóa Gò Công, đã từng bước mở rộng
vùng trồng lúa năng suất cao, vườn cây ăn trái sang các huyện phía Đông và vùng chuyên canh cây công nghiệp thuộc huyện Tân Phước
2.1.2.2 Tài nguyên nước mặt :
Tiền Giang có hai sông lớn chảy qua là sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây và
hệ thống kênh ngang, dọc tương đối phong phú, rất thuận lợi cho việc đi lại bằng phương tiện đường thủy và sử dụng nguồn nước mặt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- Sông Tiền chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 120 km, cao trình đáy sông từ -6 đến -16m, bình quân -9m; sông có chiều rộng 600 -1.800
m, là nguồn chủ yếu cung cấp nước ngọt cho toàn tỉnh Tiền Giang
- Sông Vàm Cỏ là sông chảy qua lãnh thổ tỉnh Tiền Giang dài khoảng 25
km, rộng 185m, lưu lượng dòng chảy chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua và
Trang 39một phần nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra, là tuyến xâm nhập mặn chính trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Địa bàn chịu ảnh hưởng lũ lụt nhẹ theo con triều, chất lượng nước tốt,
nhiều khả năng tưới tiêu, cho phép phát triển nông nghiệp đa dạng nhất
Nhìn chung, Tiền Giang có trữ lượng nước mặt rất dồi dào, nhưng trên thực tế nguồn nước đủ tiêu chuẩn đưa sử dụng cho sinh hoạt và trồng trọt chỉ duy nhất được cung cấp từ sông Tiền Về lâu dài khi sản suất phát triển cao hơn cũng như quá trình công nghiệp hóa tăng lên, cần phải có kế hoạch đầu tư phát triển, cân đối lượng nước ngọt phục vụ cho sản suất và sinh hoạt, du lịch đặc biệt là nước sạch
2.1.2.3 Tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản:
Tiền Giang là tỉnh ở cuối nguồn sông Cửu Long, có khoảng 32 km bờ biển, có hệ thống sông rạch đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long và khoảng 120 km sông Tiền đổ ra biển qua 2 cửa Tiểu và cửa Đại, có nguồn lợi thủy sản phong phú Ngoài ra, Tiền Giang còn có nghề cá dân gian và hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển khá mạnh và có vị trí địa lý thuận lợi trong việc trung chuyển hàng hóa với TP Hồ Chí Minh Với những đặc điểm như trên Tiền Giang có đủ điều kiện để phát triển thủy sản trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn của tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng, có điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó vùng ven biển Gò Công có khoảng 7.500 ha nuôi thủy sản nước mặn, lợ với các loài có giá trị kinh tế như nghêu,
sò huyết, tôm sú Vùng nước ngọt ở các huyện phía tây thuận lợi cho việc nuôi tôm càng xanh, nuôi cá ao, nuôi cá trên ruộng lúa và nuôi cá bè dọc sông Tiền, nếu khai thác triệt để có khả năng đưa diện tích nuôi thủy sản nước
Trang 40ngọt lên khoảng 10.000 ha với các mô hình như nuôi ao, mương vườn, nuôi trên ruộng lúa
Tiền Giang dù chỉ có 32 km bờ biển nhưng nghề khai thác biển phát triển khá mạnh, cùng với đội ngũ ngư dân có kinh nghiệm và tay nghề giỏi là
điều kiện tốt để vươn ra khai thác xa bờ Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá
phát triển khá mạnh với sự hoạt động ổn định của Cảng cá Mỹ Tho và việc
đầu tư nâng cấp cảng cá Vàm Láng cùng với các cơ sở đóng mới, sửa chữa
tàu thuyền sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững nghề khai thác thủy sản
Khả năng nguồn nguyên liệu cho chế biến từ nuôi trồng, khai thác thủy sản của Tiền Giang là khá lớn và đa dạng, trong đó nguyên liệu chính và chủ lực vẫn là tôm, cá, mực, nghêu cho chế biến đông lạnh xuất khẩu và chế biến phục vụ cho tiêu dùng trong nước Các loại cá tạp nhỏ từ khai thác là nguồn nguyên liệu chủ lực chế biến nước mắm, chế biến bột cá đáp ứng nhu cầu dùng sản xuất thức ăn thủy sản
2.1.3 Đặc điểm dân số, phân bố dân cư và nguồn lao động:
- Về dân số: Tiền Giang là một tỉnh đông dân, năm 2007 dân số trung
bình toàn tỉnh là 1,734 triệu người, mật độ dân số 699 người/km2 Trong 07 năm 2001-2007 dân số tăng khoảng 116.000 người, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 16.500 người, tốc độ tăng bình quân gần 1%/năm (Phụ lục Biểu 01)
- Về cơ cấu dân số đô thị - nông thôn: trong giai đoạn 2001-2007, dân số
đô thị tăng bình quân 2,56%/năm, nông thôn tăng 0,74%/năm, tạo nên sự
chuyển dịch cơ cấu dân số thành thị - nông thôn từ 12,85% - 87,15% (2001) lên 14,94% - 85,06% (2007), tuy nhiên tỷ lệ này thay đổi không nhiều, cho thấy tốc độ đô thị hoá còn chậm