1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam đến năm 2015

82 218 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại NHTM Theo luật tổ chức tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 12/12/1

Trang 1

LÊ THỊ NGỌC DUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2008

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM) 4

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 4

1.1.3 Phân loại NHTM 5

1.1.4 Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại 6

1.1.4.1 Hoạt động huy động vốn 6

1.1.4.2 Hoạt động tín dụng 6

1.1.4.3 Hoạt động dịch vụ 7

1.1.4.4 Các hoạt động khác 8

1.2 Khái quát về năng lực quản trị NHTM 8

1.2.1 Quản trị là gì? 8

1.2.2 Các yếu tố đánh giá năng lực quản trị NHTM 10

1.2.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch, chiến lược trong kinh doanh 10

1.2.2.2 Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro 11

1.2.2.3 Áp dụng công nghệ vào quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh an toàn và tuân thủ pháp luật 14

1.2.2.4 Năng lực thiết lập cơ cấu tổ chức và chính sách nhân sự 16

1.2.2.5 Kết quả đánh giá, xếp loại và độ tín nhiệm trên thị trường 17

1.3 Hội nhập tài chính quốc tế 18

1.3.1 Bản chất của hội nhập tài chính quốc tế 18

1.3.2 Xu hướng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng 19

1.3.3 Một số cam kết chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA BIDV 23

2.1 Tổng quan về BIDV 23

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về BIDV 23

2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV những năm gần đây 24

2.1.2.1 Về tổng tài sản 24

2.1.2.2 Về vốn chủ sở hữu .25

2.1.2.3 Về hoạt động huy động vốn 25

2.1.2.4 Về hoạt động tín dụng 26

2.1.2.5 Về hoạt động dịch vụ 28

2.2 Đánh giá thực trạng năng lực quản trị của BIDV 29

2.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch, chiến lược và ra quyết định 29

2.2.2 Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro 34

2.2.3 Áp dụng công nghệ vào quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh an toàn và tuân thủ pháp luật 35

2.2.4 Thiết lập cơ cấu tổ chức và chính sách nhân sự 36

2.2.5 Kết quả đánh giá, xếp loại và độ tín nhiệm trên thị trường 40

2.3 Các vấn đề cần giải quyết để nâng cao năng lực quản trị của BIDV trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 42

2.3.1 Tính tất yếu khách quan phải nâng cao năng lực quản trị 42

2.3.2 Các vấn đề cần giải quyết để nâng cao năng lực quản trị của BIDV 43

2.3.2.1 Hệ thống mạng lưới phòng giao dịch 43

Trang 3

2.3.2.6 Kiểm tra, giám sát 49

2.3.2.7 Xây dựng thương hiệu, niềm tin trong khách hàng 49

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA BIDV 54

3.1 Định hướng phát triển của BIDV trong tiến trình cổ phần hóa và hội nhập tài chính quốc tế 54

3.2 Các nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản trị của BIDV 55

3.2.1 Nhóm giải pháp về mô hình tổ chức, phân công công việc 56

3.2.2 Nhóm giải pháp về chính sách nhân sự 63

3.2.3 Nhóm giải pháp về đào tạo 65

3.2.3.1 Đối với nhân viên thừa hành 65

3.2.3.2 Đối với những người quản trị 67

3.2.4 Nhóm giải pháp về xây dựng kế hoạch, chiến lược và ra quyết định 68

3.2.5 Nhóm giải pháp về quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh 70

3.2.6 Các nhóm giải pháp khác 71

3.2.6.1 Giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh an toàn 71

3.2.6.2 Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát 72

3.2.6.3 Giải pháp xây dựng hình ảnh, nâng cao uy tín, thương hiệu BIDV 73

3.3 Kiến nghị 75

3.3.1 Kiến nghị đối với nhà nước về lĩnh vực ngân hàng 75

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 76

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

KẾT LUẬN 78

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế toàn cầu ngày càng mạnh mẽ Nền kinh tế Việt Nam đã có những biến chuyển lớn sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc

tế, rất nhiều ngành kinh tế đã, đang và sẽ buộc phải mở cửa cho phần còn lại của thế giới Các doanh nghiệp Việt Nam không còn được Nhà nước bảo hộ bằng những biện pháp bao cấp nữa, thay vào đó, các doanh nghiệp phải đối diện với những khó khăn

để tồn tại và phát triển

Ngành ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài bức tranh toàn cảnh đó Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang nỗ lực hết sức để tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế Trong thời gian qua, chúng ta có thể thấy

sự sụp đổ của hệ thống hợp tác xã tín dụng và một số Ngân hàng thương mại cổ phần Các Ngân hàng thương mại quốc doanh tuy nhận được “rào chắn” nhưng để phát triển vẫn phải nỗ lực hạn chế rủi ro, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh

Có nhiều yếu tố tạo nên sự thành công của một Ngân hàng thương mại, trong

đó ba yếu tố chính là công nghệ, sản phẩm và quản lý Trong giai đoạn hiện nay, yếu

tố công nghệ và sản phẩm hầu như là giống nhau giữa các ngân hàng và đòi hỏi sự khác biệt ở yếu tố quản lý Là một Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã gặt hái không ít thành công trong thời gian qua Tuy nhiên để tiếp tục là một ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề trong đó có việc phải nâng cao năng lực quản trị - yếu tố quan trọng để tạo nên sự thành công của Ngân hàng

Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn nội dung: “Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đến năm 2015”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực quản trị của BIDV trong thời gian qua để đưa ra các vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao năng lực quản trị của BIDV trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của BIDV bao gồm các nhóm giải pháp chính về tổ chức, con người, chính sách và một số giải pháp khác cũng như một số kiến nghị để hoàn thiện các nhóm giải pháp này

Trang 5

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung vào tình hình hoạt động và năng lực quản trị của BIDV liên quan đến các yếu tố đánh giá năng lực quản trị Ngân hàng thương mại

Các giải pháp đề xuất mang tính định hướng và định tính được xây dựng trên

cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, năng lực quản trị Ngân hàng thương mại, từ kinh nghiệm và từ thực trạng của chính BIDV Các giải pháp của đề tài được xây

dựng phù hợp cho khoảng thời gian 2008- 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được sử dụng kết hợp gồm có: quan sát thực tế, phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp

Ngoài ra luận văn còn sử dụng các tài liệu, công trình nghiên cứu về các nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu

5 Điểm mới của đề tài nghiên cứu

Là một trong số các Ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, đã có một số đề tài viết về BIDV như:

- Nguyễn Hinh (2007), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng qua nhân viên tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TPHCM, luận văn Thạc Sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguyễn Hoàng Trúc (2007), Phát triển dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TPHCM, luận văn Thạc Sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2007), Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đến 2015, luận văn Thạc Sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguyễn Tiến Tùng (2007), Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, luận văn Thạc Sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, hầu hết các đề tài trên đây phân tích về năng lực cạnh tranh hoặc đi sâu vào từng mảng nghiệp vụ của BIDV Chưa có đề tài nào phân tích năng lực quản trị của BIDV – yếu tố quan trọng tạo nên thành công của một Ngân hàng thương mại

Trang 6

Đề tài của tôi đi vào phân tích và đưa ra giải pháp đối với năng lực quản trị, đi sâu vào vấn đề tổ chức, con người, chính sách

6 Nội dung nghiên cứu

Đề tài được chia làm 3 chương với những nội dung chính như sau:

ƒ Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản trị của ngân hàng thương mại

ƒ Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và năng lực quản trị của BIDV

ƒ Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của BIDV

Trang 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại (NHTM)

Theo luật tổ chức tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997 và luật các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004) thì

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”

Luật này còn định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được

thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.”

Còn về khái niệm hoạt động ngân hàng thì được định nghĩa trong luật Ngân

hàng Nhà Nước: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ

ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp

tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.”

Có thể nói Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này

mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại và được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân góp phần phát triển kinh tế xã hội

Xét về bản chất thì ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt trên thị trường NHTM là doanh nghiệp vì cũng có vốn riêng, mua vào bán ra, chi phí, lợi nhuận NHTM là doanh nghiệp đặc biệt vì kinh doanh hàng hóa đặc biệt là tiền tệ, vàng bạc, chứng khoán, làm dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật

™ Chức năng trung gian tài chính

Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của ngân hàng trong đó chức năng trung gian tín dụng giữ vai trò then chốt Thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò trung gian huy động và tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội (tiền tiết kiệm của dân cư, vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức,…) để biến nó thành

Trang 8

nguồn tài chính, cung ứng tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế

™ Chức năng trung gian thanh toán

Với chức năng này, NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các giao dịch thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng khi họ có nhu cầu không dùng tiền mặt Trong khi làm trung gian thanh toán với công cụ lưu thông đặc biệt (séc, giấy chuyển tiền, thẻ thanh toán,…) ngân hàng góp phần tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông

™ Chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng

Ngoài hai chức năng trên, với những điều kiện thuận lợi về kho quỹ, về quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp, NHTM còn cung cấp thêm các dịch vụ như: tư vấn tài chính, dịch vụ bảo hiểm, các công cụ tài chính phái sinh,… Tùy theo mức độ phát triển và đối tượng khách hàng mà các ngân hàng có thể đa dạng hóa các dịch vụ cung ứng của mình

Có thể phân loại NHTM dựa vào hình thức sở hữu hay dựa vào chiến lược kinh doanh Tại Việt Nam, dựa vào hình thức sở hữu có thể phân thành các loại:

- Ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN): là NHTM do Nhà

nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của Nhà nước Quản trị NHTM Nhà nước là Hội đồng quản trị do Thống đốc NHNN bổ nhiệm và điều hành hoạt động của NHTM là Tổng Giám đốc

- Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP): là NHTM được thành

lập dưới hình thức công ty cổ phần trong đó các đơn vị cùng góp vốn Tại Việt Nam, loại hình ngân hàng này có quy mô nhỏ hơn NHTMNN nhưng số lượng ngày càng nhiều và tỏ ra năng động cũng như nhanh chóng đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu thị trường và mục tiêu hội nhập NHTMCP được chia thành NHTMCP đô thị và NHTMCP nông thôn

- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của

một bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Ngân hàng liên doanh là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam, hoạt động theo giấy phép thành lập và theo các quy định liên quan của pháp luật

Trang 9

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng

nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa

vụ và cam kết của chi nhánh Chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền và nghĩa vụ

do pháp luật Việt Nam quy định, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam Loại hình này xuất hiện ngày càng nhiều kể

từ khi Việt Nam đổi mới và hội nhập

- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam: đây là loại hình

NHTM mới xuất hiện ở VN theo lộ trình mở cửa WTO, là đơn vị độc lập hoạt động theo pháp luật Việt Nam Hiện tại, có 3 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp

phép là: HSBC Việt Nam, Standard Chatter Việt Nam và ANZ Việt Nam

− Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng (còn được gọi là tiền gửi giao dịch, tiền gửi thanh toán);

− Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức;

− Tiền gửi tiết kiệm của dân cư;

− Nguồn vốn huy động qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi …

1.1.4.2 Hoạt động tín dụng

Hoạt động cho vay: thường được gọi là cấp tín dụng; là nghiệp vụ sử dụng

vốn quan trọng nhất, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại, là một nghiệp vụ quản lý tài sản Có của ngân hàng Mục đích hoạt động này là cung cấp nguồn hỗ trợ tài chính cho các thành phần trong nền kinh tế Nhờ hoạt động này mà các khách hàng của ngân hàng có thể thoả mãn nhu cầu vốn của mình, chuyển các ý tưởng kinh doanh thành hiện thực, mở rộng quy mô kinh doanh cùng với sự gia tăng tài sản cho xã hội Thông qua hoạt động cho vay - cấp tín dụng - ngân hàng thương mại có thể thu được lợi nhuận từ

Trang 10

phần chênh lệch giữa lãi suất, phí cho vay với lãi suất huy động cộng các chi phí khác

Tuy nhiên, hoạt động cấp tín dụng cũng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi

ro nhất cho ngân hàng khi mà ngân hàng phải giao quyền sử dụng hàng hoá đặc biệt của mình (là tiền) cho khách hàng sử dụng Mặc dù trong hoạt động cấp tín dụng các ngân hàng thương mại đều có các quy định về thẩm định và đánh giá khách hàng nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra do các đánh giá sai lầm của ngân hàng về khách hàng hoặc do các biến động của nền kinh tế hoặc do cán bộ ngân hàng có tiêu cực trong hoạt động cấp tín dụng…

Hoạt động bảo lãnh: là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng được

thực hiện thông qua các cam kết của ngân hàng bằng văn bản về việc sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi các khách hàng này không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết với các đối tác Bảo lãnh được cấp có thể là: bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh thanh toán; bảo lãnh tiền ứng trước; bảo lãnh bảo hành; bảo lãnh nhận hàng;…

Hoạt động chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá: Nghiệp vụ này

mang lại tiện ích cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm, hoặc người đang nắm giữ trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu và các loại chứng chỉ tiền gửi khác,…bằng cách ngân hàng cho vay chiết khấu các giấy tờ có giá để đáp ứng ngay nhu cầu vốn cho khách hàng

1.1.4.3 Hoạt động dịch vụ

Kinh doanh dịch vụ ngân hàng tạo ra một phần thu nhập khá lớn Trong điều kiện hội nhập quốc tế, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tổ chức tín dụng, danh mục các sản phẩm của các NHTM Việt Nam ngày càng đa dạng:

9 Các dịch vụ thanh toán thu, chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán)

9 Nhận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ, chứng thư quan trọng

9 Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng

9 Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành các chứng khoán

9 Dịch vụ ngân quỹ : bao gồm các dịch vụ liên quan đến kiểm đếm, phân loại, bảo quản thu phát tiền mặt

Trang 11

9 Một số các dịch vụ khác theo sự ủy thác của khách hàng

Ngoài ra còn có các sản phẩm dịch vụ khác: quản lý tiền mặt, dịch vụ cho thuê tài chính, tài trợ dự án đầu tư, tài trợ thương mại, cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro (mua bán ngoại tệ có kỳ hạn, quyền chọn, giao sau ), dịch vụ ngân hàng điện

tử (e-banking), ngân hàng tự động,…

1.1.4.4 Các hoạt động khác

Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh nguồn vốn: hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động mua bán các loại ngoại tệ nhằm phục vụ cho mục tiêu thu lợi nhuận từ sự chênh lệch, biến động giá cả của các loại ngoại tệ; hoạt động này cũng nhằm mục tiêu phục vụ cho nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ của khách hàng để thanh toán nước ngoài hoặc chuyển đổi ngoại tệ thu được thành nội tệ để mua nguyên nhiên vật liệu trong nước

Hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất của các nguồn vốn là các hoạt động liên quan đến mua và bán hoặc làm đầu mối tìm kiếm và giao lại cho các định chế tài chính khác các nguồn vốn để hưởng chênh lệch lãi suất có lợi Hoạt động này ngày càng được các ngân hàng quan tâm vì nó mang lại lợi nhuận rất lớn nếu ngân hàng có biện pháp, nguyên tắc an toàn chuẩn mực trong việc quản lý loại hoạt động kinh doanh này

1.2 Khái quát về năng lực quản trị NHTM

1.2.1 Quản trị là gì?

Về nội dung, thuật ngữ “Quản trị” là một danh từ khó định nghĩa Mỗi một tác giả khi đề cập đến quản trị đều có một định nghĩa của riêng mình Từ “quản trị” – được dịch từ Tiếng Anh “management”, do đó có nơi, có lúc có người gọi là quản lý,

có người gọi là quản trị

Koontz và O’Donnell trong giáo trình “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”

định nghĩa: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là

công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”

Trong giáo trình Quản trị học căn bản của James H.Donnelly, JR., James

L.Gibson và John M.Ivancevich lại cho rằng: “Quản trị là một quá trình do một hay

Trang 12

nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được”

Nói một cách tổng quát, “quản trị là hoạt động cần thiết phải được thực hiện

khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt những mục tiêu chung”

Rõ ràng khi cá nhân tự mình hoạt động thì không cần thiết phải làm những công việc quản trị Trái lại, công việc quản trị lại rất cần thiết khi có các tổ chức Bởi

vì nếu không có kế hoạch, không có tổ chức, không có sự kích thích động viên nhau, cũng như không có một sự kiểm tra chu đáo công việc của mỗi người, thì mỗi người, mỗi bộ phận trong cùng một tổ chức sẽ không biết phải làm gì, và mục tiêu chung sẽ không bao giờ đạt được

NHTM cũng là một tổ chức như bất kỳ đơn vị kinh doanh nào khác nên quản trị NHTM về cơ bản được xem là việc thiết lập các chương trình hoạt động kinh doanh để đạt các mục đích, mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng,

là việc xác định và điều hòa các nguồn lực để thực hiện chương trình, mục tiêu kinh doanh, là việc tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhân viên của ngân hàng để đạt được các chương trình, mục tiêu đã đề ra

™ Năng lực quản trị là gì?

Có nhiều yếu tố chi phối đến vấn đề quản trị thành công trong một tổ chức Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Robert Kreitner cho rằng để quản trị thành công có ba yếu tố cực kỳ quan trọng đó là: Năng lực quản trị (Ability), Động cơ quản trị (Motivation to manage) và Cơ hội đối với quản trị (Opportunity to manage)

Năng lực quản trị đồng nghĩa với khả năng thực tế để đạt được mục đích của tổ chức trên cả hai phương diện: có kết quả và hiệu quả Nói đến năng lực quản trị là nói đến khả năng của một cá nhân hay một nhóm người cụ thể Theo các công trình nghiên cứu của Hội đồng các trường đại học về kinh doanh của Mỹ những điểm mấu chốt nhất của năng lực quản trị đó là:

− Khả năng lãnh đạo

− Kỹ năng trình bày và giao tiếp bằng lời nói

− Giao tiếp bằng văn bản

− Hoạch định và tổ chức

− Thu thập thông tin và phân tích vấn đề

− Ra quyết định

Trang 13

− Ủy quyền và kiểm tra

− Tự bản thân khách quan (nhận thức được mặt mạnh và mặt yếu của mình)

− Có khuynh hướng lãnh đạo

1.2.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch, chiến lược trong kinh doanh

Khi xem xét năng lực quản trị của NHTM, vấn đề đầu tiên được nhiều người quan tâm chính là khả năng đưa ra các chiến lược, kế hoạch trong kinh doanh, góp phần đem lại thành công cho NH

Nền tảng của hoạch định, xây dựng kế hoạch chính là mục tiêu Mục tiêu là những mong đợi mà nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức của mình,

là phương tiện để đạt tới sứ mệnh (Mission) Mục tiêu trả lời cho câu hỏi đơn vị tồn tại

để làm gì; Còn sứ mệnh trả lời cho câu hỏi vì sao phải có đơn vị ?

Thiết lập sứ mệnh NH chính là giai đoạn đầu tiên mà các nhà quản trị cần phải thực hiện khi xây dựng một kế hoạch phát triển Căn cứ trên sứ mệnh tổng quát, ban quản trị NH lại tiếp tục đề ra những mục tiêu được xác định như là những thành quả

mà ngân hàng cần đạt được khi theo đuổi sứ mệnh của mình trong thời kỳ hoạt động tương đối dài (trên một năm) Những mục tiêu dài hạn là rất cần thiết cho sự thành công của ngân hàng Yêu cầu quan trọng trong việc xác định mục tiêu là đảm bảo các mục tiêu phải xác đáng Tính xác đáng của mục tiêu thể hiện: tính cụ thể, tính nhất quán, tính đo lường, tính khả thi, tính linh hoạt Đồng thời cần sắp xếp chúng theo thứ

tự ưu tiên nào đó, chứ không phải đưa ra một danh mục không có thứ tự các mục đích

Sau khi thiết lập sứ mệnh và đưa ra mục tiêu, các nhà quản trị NH sẽ tiếp tục phân tích thị trường NH Một thị trường được định nghĩa như là một sự giao nhau giữa các tầng lớp khách hàng và một nhóm dịch vụ hoặc sản phẩm của NH Trong thực tế, gần như không một NH nào là không nỗ lực để cung cấp tất cả nhu cầu của khách hàng tiềm năng Tuy nhiên một nhà quản trị giỏi cần có định hướng thị trường thông qua việc phân loại khách hàng, đánh giá vị trí hiện tại của NH, đo lường đối thủ cạnh tranh,… để có thể phát triển kế hoạch phân chia thị trường đạt hiệu quả cao

Theo sau việc đặt các mục tiêu, đương nhiên là việc thiết lập các chính sách của Ngân hàng Các chính sách là những lời tuyên bố chung của các quan niệm được hoạch định để kích thích suy nghĩ và hành động nhằm thực hiện quyết định Các chính sách tác động đến các thành viên có quan hệ với việc hoạch định Các chính

Trang 14

sách đóng vai trò là một lực lượng liên kết thúc đẩy sự nổ lực của đơn vị Vì mỗi phòng ban và mỗi nhân viên đều biết rõ chính sách, sẽ có sự phối hợp tốt hơn trong mọi cố gắng Các chính sách đúng đắn thường đưa đến các quyết định phù hợp về quản trị Điều này quan trọng không chỉ ở trong mà còn ở ngoài tổ chức nữa Chính sách phải linh động và được xem xét lại theo thời gian nhằm hoàn thiện thêm Các điều kiện kinh tế cũng như nhiều yếu tố khác có thể làm cho chính sách thay đổi là điều bình thường Mặc dù có nhiều vấn đề trong quản trị Ngân hàng đòi hỏi việc định

ra chính sách, nhưng chính sách không được trở thành một trở ngại đối với việc quản trị

Một khi các mục tiêu và chính sách của một Ngân hàng đã được hình thành, bước kế tiếp là phải đạt đến một chiến lược nhằm đạt được các mục đích và mục tiêu này Trong khi các mục tiêu cho ta một sự chọn lựa khách quan về chất lượng, phương hướng và bước tiến của tổ chức kinh doanh, thì chiến lược sẽ là kế hoạch, qua

đó một Ngân hàng có thể nhận ra được các mục tiêu đã được hoạch định một cách rõ ràng Nếu mục tiêu của Ngân hàng là gia tăng thị phần, thì chiến lược sẽ có nhiệm vụ làm sao điều này có thể thực hiện được Chiến lược ám chỉ một chương trình hành động bao gồm việc sử dụng hữu hiệu các tiềm lực để đạt được các mục tiêu nhất định

Khi chuyển từ các mục tiêu sang chiến lược, yếu tố cần được xem xét là tiềm lực của Ngân hàng và môi trường tương lai Tiềm lực của Ngân hàng như quy mô tài sản, cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính và đội ngũ nhân sự có danh tiếng Tất cả những điều đó sẽ ảnh hưởng đến hình thức chiến lược mà Ngân hàng sẽ áp dụng Ngoài ra các Ngân hàng hoạt động trong môi trường kinh tế, do vậy mọi biến động, thay đổi chính sách đều ảnh hường đến Ngân hàng, và việc dự báo không chỉ giới hạn ở các vấn đề kinh tế mà còn bao gồm các điều kiện về chính trị và văn hóa nữa Do vậy, xây dựng chiến lược phải dự báo hết mọi khả năng có thể xảy ra

1.2.2.2 Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh và quản lý rủi ro

Quản trị bao gồm các yếu tố hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Các ngân hàng có đội ngũ nhân sự nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này dễ có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng khác Một vài yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng như: quản trị, tình hình kinh tế, quy mô, điều kiện cạnh tranh,… Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào năng lực quản trị luôn

là yếu tố có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trang 15

Trong môi trường hoạt động nhiều thử thách, các NH phải gánh chịu rủi ro đáng kể để kiếm được lợi nhuận Đo lường và quản trị rủi ro là khía cạnh quan trọng nhất của quản trị tài chính ngân hàng Như trên đã trình bày, kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh mang tính đặc thù và những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù Một ngân hàng hiện đại sẽ đối mặt với những loại rủi ro sau:

™ Rủi ro lãi suất

Như chúng ta đã biết hoạt động chính của một ngân hàng là huy động vốn (tài sản nợ) và hoạt động tín dụng (tài sản có) Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản

có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất Các trường hợp rủi ro xảy ra khi:

Và ngược lại đối với trường hợp kỳ hạn tài sản nợ > kỳ hạn tài sản có Ngân

hàng sẽ gặp phải rủi ro khi lãi suất cho vay giảm thấp hơn lãi suất huy động

Ngoài ra, khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản vì giá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Và khi lãi suất tăng hay giảm thì mức chiết khấu giá trị tài sản sẽ thay đổi làm tăng hay giảm giá trị tài sản nợ và có Rủi ro tất yếu xảy ra khi kỳ hạn tài sản nợ và tài sản có khác nhau

™ Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ

cả gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn Trong trường hợp người đi vay phá sản thì việc thu hồi nợ là không chắc chắn và ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng

Trang 16

Rủi ro tín dụng cao hơn nếu NH có các khoản cho vay chất lượng trung bình nhiều hơn Thu nhập có xu hướng thấp hơn nhưng hoạt động tín dụng sẽ an toàn hơn bằng cách giảm đi phần tài sản thuộc các khoản cho vay chất lượng trung bình

™ Rủi ro thanh khoản

Thông thường, trong cơ cấu tài sản có của một ngân hàng thì tiền mặt chỉ được duy trì một lượng rất ít vì tiền mặt tại quỹ không đem lại thu nhập do lãi suất thấp Lượng tiền mặt chỉ ở mức tối ưu đủ đáp ứng nhu cầu thường xuyên của người gủi tiền Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi những người gủi tiền đồng loạt có nhu cầu rút tiền Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gủi Khi tất cả những người gủi tiền đồng loạt yêu cầu ngân hàng chi trả toàn bộ số tiền gủi của họ thì từ rủi ro thanh khoản ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro phá sản

™ Rủi ro môi trường

Các ngân hàng thương mại phải hoạt động vượt qua những tác động từ môi trường bên ngoài một cách tốt nhất và trong sự kiểm soát rất hạn chế để đạt được kết quả mong muốn với rủi ro có thể chấp nhận được Trong môi trường hoạt động những rủi ro ngân hàng cần quan tâm như:

Thứ nhất là rủi ro luật pháp chỉ rằng một sự thay đổi trong pháp luật ảnh hưởng đến họat động và kết quả của ngân hàng thương mại, làm cho kết quả bị giảm sút, hoặc bị hạn chế trong lãnh vực họat động

Thứ hai là rủi ro kinh tế, rủi ro này gắn với yếu tố kinh tế của từng vùng hay từng quốc gia nó có thể ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng, khi nền kinh tế thịnh vượng thì chắc chắn họat động của ngân hàng cũng sẽ phát triển mạnh

và ngược lại nếu nền kinh tế bị suy thoái, thì họat động của ngân hàng cần phải thu hẹp lại để tránh sự phá sản

Kế đến là rủi ro cạnh tranh, sự cạnh tranh ngày càng gia tăng bởi vì hầu hết các dịch vụ và sản phẩm của ngân hàng có thể được cung cấp ngày càng nhiều hơn bởi các doanh nghiệp tài chính và phi tài chính, và cuối cùng là rủi ro định chế: đây là những chế đô, qui tắc đã được qui định, mà ngân hàng phải hoạt động và sống với những qui tắc đó, những chế độ và qui tắc này có thể đặt ngân hàng vào thế bất lợi trong cạnh tranh

Trang 17

Ngoài ra còn một số rủi ro khác như: rủi ro ngoại hối, rủi ro con người, rủi ro công nghệ,…

™ Sự đánh đổi thích hợp giữa lợi nhuận và rủi ro

Sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro đã được thảo luận không phải những rủi

ro nào phải chấp nhận để có được lợi nhuận một cách thích đáng, mà là bao nhiêu rủi

ro và bao nhiêu lợi nhuận Vấn đề cơ bản ở đây là quản trị ngân hàng nên cố gắng tối

đa hóa giá trị vốn đầu tư của chủ đầu tư ngân hàng Tối đa hóa giá trị này bao gồm cả hai, lợi nhuận và rủi ro và sự cân bằng giữa hai

mà còn định bởi thời gian của lợi nhuận và viễn cảnh lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên, các yếu tố này lại bị ảnh hưởng bởi rủi ro hoạt động và rủi ro tài chính Lợi nhuận có thể tăng nhanh bằng cách chấp nhận rủi ro hoạt động và tài chính nhiều hơn

1.2.2.3 Áp dụng công nghệ vào quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh an toàn và tuân thủ pháp luật

Hoạt động của hệ thống ngân hàng rất nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro: Rủi ro

về quy trình nghiệp vụ - rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro quản trị; rủi ro về hệ thống, về con người; rủi ro liên quan đến khách hàng, đến đối tác của khách hàng Vì thế, việc đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng nói chung và đặc biệt là bảo mật và an toàn thông tin ngân hàng luôn là một trọng tâm đối với ngân hàng Một ngân hàng được quản trị tốt sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến vào quy trình nghiệp vụ, xây dựng các thủ tục, quy định chặt chẽ, tuân thủ các quy định pháp lý về ngân hàng

Chính vì tích hợp ngày càng sâu rộng CNTT – Truyền thông trong hoạt động ngân hàng, nhiều nghiệp vụ ngân hàng đã được tin học hoá, tự động hoá Nhiều giao dịch ngân hàng (chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán và rút tiền tự động ATM, Mobile banking, Internet banking ) được xử lý trực tuyến trên môi trường mạng máy tính và Internet Vì vậy, xét ở góc độ kỹ thuật, bản chất các hoạt động nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng liên quan mật thiết đến việc xử lý, truyền tải, lưu trữ và quản lý thông tin Cho nên, thông tin dữ liệu của hoạt động ngân hàng trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng của cả hệ thống ngân hàng, nguồn tài nguyên này cần được bảo vệ một cách nghiêm ngặt

Trang 18

Vì thế, trong hoạt động ngân hàng thông tin không chỉ là là tiền bạc mà còn hơn thế nữa Vì trong trường hợp rủi ro bị kẻ gian đột nhập ăn cắp tiền trong quỹ, két, chúng ta có thể lượng hoá ngay được mức độ thiệt hại, tổn thất Nhưng với các rủi ro liên quan đến an toàn thông tin, đến các cơ sở dữ liệu hoạt động ngân hàng bị xâm hại, thiệt hại sẽ rất khó đánh giá, khó thống kê được đầy đủ, kịp thời : Và hệ quả là: nếu nhẹ thì gây rối loạn, ngừng trệ các hoạt động nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng; nguy hại hơn có thể gây tổn hại đến lòng tin của công chúng đối với hệ thống tiền tệ - tài chính quốc gia, gây xáo trộn các hoạt động kinh tế và an sinh xã hội

Chỉ có làm tốt được việc bảo mật an toàn thông tin ngân hàng, chúng ta mới phát huy được thế mạnh của hạ tầng công nghệ ngân hàng hiện đại và khai thác có hiệu quả được các tính năng công nghệ mới ứng dụng trong các quy trình nghiệp vụ

và sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Lợi ích mang lại từ hiện đại hoá hoạt động thanh toán không chỉ làm giảm đáng kể thời gian thanh toán mà còn là cơ sở cho các ngân hàng thực hiện dịch vụ ngân hàng điện tử và hạn chế thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế

Các NH phải lập hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ để thường xuyên kiểm tra việc chấp hành pháp luật, các quy định nội bộ của NH trên tất cả các lĩnh vực, tại

sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện và các công ty trực thuộc; NH phải kiểm toán hoạt động nghiệp vụ từng thời kỳ, từng lĩnh vực để đánh giá chính xác kết quả kinh doanh và thực trạng tài chính của mình

Trên cơ sở phân loại nợ, NH phải trích lập dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro trong hoạt động theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Dự phòng rủi ro được hạch toán vào chi phí hoạt động của NH

NH phải tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền theo yêu cầu; bảo đảm trả đầy đủ đúng hạn cả gốc và lãi cho mọi khoản tiền gửi; bảo đảm bí mật số dư tiền gửi của khách hàng; từ chối việc điều tra, phong toả, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng (trừ trường hợp pháp luật quy định khác); thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi

Trong quá trình hoạt động các NH phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ khả năng chi trả đối với từng loại đồng tiền, vàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Trang 19

1.2.2.4 Năng lực thiết lập cơ cấu tổ chức và chính sách nhân sự

Cũng như các tổ chức kinh doanh khác, sự phân chia thành phòng ban trong ngân hàng xuất phát từ việc một người không thể tiến hành tất cả các công việc liên quan với một nhóm hoạt động Nó là kết quả tự nhiên của nhu cầu tập trung kiến thức chuyên môn, phát triển từ sự gia tăng khối lượng và từ tính phức tạp của các hoạt động ngân hàng và các dịch vụ đa dạng đem lại cho khách hàng Sự phân chia phòng ban khiến ta có thể cung cấp các dịch vụ nâng cao và mở rộng cho khách hàng, phát triển năng lực đối với nhân viên và giảm các chi phí hoạt động

Mức độ phân chia phòng ban thay đổi cùng với quy mô và công việc của ngân hàng Việc không có một phòng ban này hay phòng ban khác không có nghĩa là một chức năng cụ thể nào đó không được thực hiện tại ngân hàng

Sự tổ chức ngân hàng cho các mục đích quản trị cũng thay đổi vì sự khác biệt

về quy mô đặc thù, và khả năng của các lãnh đạo và nhân viên, tầm quan trọng của các chức năng khác nhau được thực hiện và các dịch vụ được đưa ra và cuối cùng là khối lượng công việc của ngân hàng Số lượng nhân viên cũng khác biệt giữa ngân hàng này và ngân hàng khác từ con số khoảng vài chục tới hàng ngàn người Thông thường, các ngân hàng áp dụng cả chức năng quản lý theo tuyến và chức năng tham mưu trong hoạt động Các chức năng trực tiếp liên hệ đến việc hoàn thành các mục tiêu của ngân hàng là chức năng quản lý theo tuyến Các chức năng tham mưu bao gồm việc giúp đỡ và cố vấn

Đối với các ngân hàng có tham gia vào nghiệp vụ chi nhánh, việc hình thành tổ chức khu vục là cần thiết vì một số ngân hàng có thể có từ 100 chi nhánh hoặc nhiều hơn Trong nghiệp vụ ngân hàng chi nhánh chúng ta thấy có sự phân chia thành các khu vực địa lý với các giám đốc khu vực chịu trách nhiệm ở mỗi vùng

Trong phạm vi của bài viết chỉ đề cập đến tổ chức trong các ngân hàng lớn Khi các chức năng ngân hàng gia tăng, việc quản lý cao nhất đã được tổ chức thành nhóm với một vài chức năng được đặt dưới quyền một bộ phận quản lý Có một sự giải thích đơn giản cho sự phát triển này, đó là với sự gia tăng của các chức năng ngân hàng xuất phát từ nguyên lý “tầm kiểm soát” tất cả các chức năng đó Kết quả là các chức năng có bản chất giống nhau được gộp lại thành nhóm Ví dụ chức năng cho vay và chức năng đầu tư có thể bổ sung cho nhau bởi vì khối lượng khoản mục đầu tư

Trang 20

và cho vay thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn kinh tế Kết quả sẽ hợp lý khi một

bộ phận quản lý chung hai chức năng này

Các ngân hàng có chi nhánh mặc dù các chức năng hoạt động về cơ bản là giống nhau nhưng lại khác nhau về mặt tổ chức Các ngân hàng chi nhánh được tổ chức quản lý theo tuyến và bản chất là cần đến sự hiện diện của bộ phận quản lý hành chính, thực hiện nhiệm vụ của mình trong một số chi nhánh Một số chức năng của chi nhánh có thể được thực hiện tại hội sở chính Phần lớn chức năng về tổ chức nhân

sự cũng được tập trung tại hội sở - nơi có nhiều chương trình huấn luyện được hoạch định và giám sát

Cổ đông, khách hàng và nhân viên ngân hàng đều mong muốn một Hội đồng quản trị và Ban Tổng Giám đốc có khả năng quản lý, có chính sách nhân sự phù hợp đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và sinh lời

Quản lý tốt là một chức năng và yêu cầu của Hội đồng quản trị Thông thường khó tìm thấy các thành viên giỏi nghiệp vụ trong Hội đồng quản trị của các NHTM cổ phần nhưng họ có thể có óc phán đoán về kinh doanh, có khả năng quyết định chính sách của Ngân hàng Các hoạt động ngân hàng rất phức tạp và đòi hỏi đội ngũ nhân

sự được huấn luyện có kiến thức về nghiệp vụ, giao dịch tốt, giỏi về công nghệ,… nên việc tuyển chọn nhân sự và bố trí công việc phù hợp cần phải thận trọng

1.2.2.5 Kết quả đánh giá, xếp loại và độ tín nhiệm trên thị trường

Một yếu tố khá quan trọng khi đánh giá năng lực quản trị NHTM chính là kết quả đánh giá, xếp loại và độ tín nhiệm trên thị trường Yếu tố này được thể hiện qua

sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng; qua kết quả khảo sát; qua đánh giá của các tổ chức trên thế giới;…

Hiện nay, tại Việt Nam các NHTMCP được xếp loại theo Quy định xếp loại NHTMCP (Ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)

™ Các chỉ tiêu đánh giá xếp loại bao gồm:

Vốn tự có: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu -3 điểm

Chất lượng tài sản: Mức điểm tối đa 35 điểm, tối thiểu 0 điểm

Năng lực quản trị: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu 0 điểm

Kết quả hoạt động kinh doanh: Mức điểm tối đa 20 điểm, tối thiểu 0 điểm Khả năng thanh khoản: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu 0 điểm

Trang 21

Trong đó Năng lực quản trị được quy định cụ thể tại điều 7 như sau: Mức điểm tối đa 15 điểm, tối thiểu 0 điểm Ngân hàng thương mại cổ phần đạt điểm tối đa

15 điểm phải đảm bảo các điều kiện sau:

a) Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát đủ số lượng theo quy định

b) Ban hành đầy đủ, chuẩn hóa và thực hiện đúng các quy chế nội bộ

c) Hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ tương xứng với quy mô ngân hàng và hoạt động hiệu quả, đảm bảo các rủi ro quan trọng luôn được nhận dạng, đo lường, kiểm tra, kiểm soát một cách liên tục

d) Các thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành có năng lực, đoàn kết, có ý thức chấp hành pháp luật, có trách nhiệm, thực hiện đúng nhiệm

vụ, quyền hạn trong việc quản trị, kiểm soát, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần

đ) Đảm bảo các quy định của Ngân hàng Nhà nước về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu

1.3 Hội nhập tài chính quốc tế

1.3.1 Bản chất của hội nhập tài chính quốc tế

Bản chất của quá trình hội nhập quốc tế về dịch vụ tài chính có thể được hiểu

là quá trình mà các nước, các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu

tố bên ngoài vào trong lĩnh vực tài chính, bao gồm: vốn (đầu tư trực tiếp và gián tiếp), công nghệ, tín dụng và lao động có trình độ chuyên môn cao Hội nhập quốc tế là quá trình diễn ra song song và đồng thời

Hội nhập quốc tế về tài chính là một quá trình điều chỉnh về các hoạt động kinh doanh, pháp luật, các chính sách tài chính và quy định về tài chính, các quá trình hướng tới cân đối và thống nhất các yếu tố bên ngoài và bên trong Thực chất của quá trình này là các nước thống nhất với nhau các đối xử về mặt tài chính (thuế, bảo hiểm, ngân hàng, v.v) vì lợi ích hoạt động kinh tế của nhau Khi mức độ hội nhập ngày càng cao và càng rộng thì sẽ xuất hiện nhiều thông lệ hoặc qui định chung hơn để tạo sự thống nhất và hài hoà các chính sách tài chính giữa các nước với nhau

Như vậy, hội nhập quốc tế về tài chính và tiền tệ là quá trình từng bước gắn kết ngành tài chính quốc gia với thị trường tài chính thế giới Quá trình này được sự hỗ

Trang 22

trợ bởi sự hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường ngày càng cao; cũng như bởi việc thực hiện và điều chỉnh các tiêu chuẩn quốc tế và định chế của từng quốc gia

1.3.2 Xu hướng quốc tế hóa trong hoạt động ngân hàng

Thời gian qua, chúng ta chứng kiến sự chuyển dịch từ xu hướng ngân hàng quốc tế sang ngân hàng toàn cầu hóa Hoạt động ngân hàng quốc tế là hoạt động ngân hàng xuyên biên giới với việc huy động vốn trong nước để cho vay ở nước ngoài Ngày nay, các ngân hàng toàn cầu thâm nhập vào thị trường nước ngoài thông qua việc thiết lập các chi nhánh và ngân hàng “con” để thu hút vốn và cung cấp các khoản vay ngay tại nước đó Các ngân hàng này cung cấp các dịch vụ như cho vay tiêu dùng, nhận thế chấp, cho vay doanh nghiệp, quản lý tài sản và tham gia thị trường vốn

Sự tăng trưởng nhanh của các NHTM và quá trình tự động hoá trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi các ngân hàng phải duy trì ở quy mô lớn nhằm giảm thiểu chi phí Xu hướng mở rộng mạng lưới hoạt động thể hiện ở việc thiết lập mới ngày càng nhiều các chi nhánh, sở giao dịch, điểm giao dịch của các ngân hàng Các ngân hàng lớn đang tìm cách mua lại cổ phần của các ngân hàng nhỏ hơn để biến các ngân hàng nhỏ này thành một phần của mạng lưới của họ

Tại Việt Nam, trong bối cảnh cải cách kinh tế và chính sách hội nhập quốc tế, thời gian qua, ngành ngân hàng đã có nhiều thay đổi tích cực Một hệ thống ngân hàng độc quyền đã được thay thế bởi một hệ thống hai cấp với nhiều loại hình tổ chức tín dụng được phép hoạt động Với sự thay đổi trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia (từ công cụ đến cơ chế điều hành), ngân hàng Việt Nam đã có điều kiện phát triển theo xu hướng quốc tế hoá Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã thừa nhận những thay đổi trong ngành ngân hàng Việt Nam và

đã có những bước đi thích hợp Việc hai ngân hàng nước ngoài mua lại cổ phần của hai NHTMCP lớn của VN trong những tháng đầu năm 2005 (Ngân hàng ANZ mua cổ phần của ngân hàng Sacombank và ngân hàng Standard Chartered Bank mua cổ phần của ngân hàng ACB) được ghi nhận như một sự khẳng định xu hướng phát triển của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Toàn cầu hoá các dịch vụ ngân hàng đã và đang phát triển nhanh chóng, và đây

là đe doạ thực sự đối với các ngân hàng Việt Nam Thừa nhận tầm quan trọng của xu thế quốc tế hoá trong ngành ngân hàng, các ngân hàng Việt Nam đã nhận ra rằng họ

Trang 23

phải đủ mạnh để đứng vững trong quá trình hội nhập Điều này sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam có được những giải pháp thiết thực nhằm tạo được vị trí cao hơn so với các ngân hàng khu vực và quốc tế

1.3.3 Một số cam kết chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO

ƒ Các tổ chức tín dụng nước ngoài được thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức như văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài; công ty tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài Kể từ ngày 01/04/2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam

ƒ Các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được phép cung ứng hầu hết các loại hình dịch vụ ngân hàng theo mô tả trong Phụ lục về dịch vụ tài chính ngân hàng kèm theo Hiệp định GATS như cho vay, nhận tiền gửi, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các công cụ thị trường tiền tệ, các công cụ phái sinh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ thanh toán, tư vấn và thông tin tài chính;

ƒ Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi VNĐ không giới hạn từ các pháp nhân Việc huy động huy động tiền gửi VNĐ từ các thể nhân Việt Nam sẽ được nới lỏng trong vòng 5 năm theo lộ trình sau:

- Ngày 1 tháng 1 năm 2007 : 650% vốn pháp định được cấp

- Ngày 1 tháng 1 năm 2008 : 800% vốn pháp định được cấp

- Ngày 1 tháng 1 năm 2009 : 900% vốn pháp định được cấp

- Ngày 1 tháng 1 năm 2010 : 1000% vốn pháp định được cấp

- Ngày 1 tháng 1 năm 2011 : Đối xử quốc gia đủ

ƒ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, nhưng được giành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đầy

đủ trong việc thiết lập và vận hành hoạt động các máy rút tiền tự động;

ƒ Các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng trên

cơ sở đối xử quốc gia kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO;

ƒ Một ngân hàng thương mại nước ngoài có thể đồng thời mở một ngân hàng con và các chi nhánh hoạt động tại Việt Nam; Các điều kiện cấp phép đối với ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ dựa trên các qui định an toàn và giải quyết các vấn đề

Trang 24

như tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán và quản trị doanh nghiệp Ngoài ra, các tiêu chí đối với chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên

cơ chế quản lý đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm yêu cầu về vốn tối thiểu, theo thông lệ quốc tế đã được chấp nhận chung;

ƒ Các ngân hàng nước ngoài có thể tham gia góp vốn liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ góp vốn không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh; Tổng mức góp vốn mua cổ phần của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại từng ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó, trừ khi pháp luật Việt Nam có qui định khác hoặc được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;

ƒ Để thu hút được các ngân hàng lớn, có uy tín vào hoạt động tại thị trường Việt Nam, trong cam kết cũng đã đưa ra yêu cầu về tổng tài sản có đối với tổ chức tín dụng nước ngoài muốn thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam (cam kết này cũng đã được thể chế hoá trong Nghị định số 22 ban hành ngày 28/02/2006), cụ thể

để mở một chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm xin mở chi nhánh; mức yêu cầu tổng tài sản có đối với việc thành lập ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng con 100% vốn nước ngoài của ngân hàng nước ngoài là trên 10 tỷ đô la Mỹ; đối với việc xin phép mở công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài hoặc công ty cho thuê tài chính liên doanh, các tổ chức tín dụng nước ngoài phải có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la vào cuối năm trước thời điểm xin phép

- Nghiên cứu bản chất, xu hướng hội nhập tài chính quốc tế cũng như một

số cam kết trong lĩnh vực ngân hàng khi Việt Nam gia nhập WTO

Trang 25

Nhìn chung, từ Chương 1, đứng ở góc độ lý thuyết đã cho chúng ta hiểu được quá trình vận động của Ngân hàng và sự cần thiết phải quản trị Ngân hàng Những vần đề được nêu ra trong chương 1 là cơ sở để phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và năng lực quản trị của BIDV trong chương 2 và là nền tảng để chúng ta đưa

ra các giải pháp trong chương 3

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ

NĂNG LỰC QUẢN TRỊ CỦA BIDV 2.1 Tổng quan về BIDV

Tên đầy đủ: NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Tên tiếng Anh: Bank for Investment and Development of Vietnam

Tên gọi tắt: BIDV

Địa chỉ: Tháp A, toà nhà Vincom, 191 Bà Triệu, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Điện thoại: 042200422, 042200484

Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Quyết định số 259-CP của Hội đồng Chính phủ Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất

cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước

Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 401-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trong thời kỳ này nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước; Huy động các nguồn vốn trung dài hạn để cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển

Từ 1/1/1995 là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước

Trang 27

Thời kỳ 1996 - nay: Được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất nước”; chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự “cất cánh” của BIDV

Hiện nay, BIDV là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước (tập đoàn) mang tính hệ thống thống nhất bao gồm hơn 112 chi nhánh và các Công ty trong toàn quốc Trọng tâm hoạt động của BIDV là phục vụ đầu tư phát triển, các dự án thực hiện các chương trình phát triển kinh tế then chốt của đất nước Thực hiện đầy đủ các mặt nghiệp vụ của ngân hàng phục vụ các thành phần kinh tế, có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các Doanh nghiệp, Tổng công ty BIDV không ngừng mở rộng quan hệ đại lý với hơn 400 ngân hàng và quan hệ thanh toán với 50 ngân hàng trên thế giới

BIDV là một ngân hàng chủ lực thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và phục vụ đầu tư- phát triển Quá trình 43 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển luôn gắn liền với từng giai đoạn lịch sử của đất nước

Nhận thức đầy đủ những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức trong giai đoạn mới, BIDV đã khắc phục khó khăn, tranh thủ thời cơ và đạt được những thành tựu quan trọng như: xử lý nợ xấu, tăng trưởng an toàn, hiệu quả, tăng vốn điều lệ, tạo lập tiền đề để hội nhập và phát triển theo hướng xây dựng tập đoàn tài chính đa năng

và hội nhập quốc tế Trong giai đoạn 2001-2008, BIDV tiếp tục duy trì tăng trưởng về quy mô, chất lượng, nâng cao năng lực tài chính và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, cụ thể:

Trang 28

Giai đoạn 2003- 2008, nguồn vốn huy động của BIDV tăng rất nhanh xuất phát

từ chủ trương mở rộng và phát triển mạng lưới huy động vốn thông qua việc triển khai nhiều hình thức huy động vốn đa dạng như: chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm có quà tặng và những biện pháp khuyến mãi hấp dẫn khác …đồng thời với việc điều chỉnh lãi suất một cách linh hoạt, phù hợp với thực tế biến động kinh tế- xã hội Vốn huy động bình quân tăng 26%/năm trong giai đoạn này, tương đương với tốc độ tăng trưởng vốn huy động bình quân của ngành ngân hàng Tính đến 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động đạt 177.960 tỷ VNĐ, tăng gần 3 lần so với năm 2003

Biểu đồ 2.1: Vốn huy động của BIDV qua các năm

Trang 29

qua của BIDV đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống

Ngay từ khi triển khai dự án hiện đại hoá, BIDV đã tiến hành rà soát, đánh giá lại sản phẩm huy động vốn của mình, từ đó cơ cấu lại toàn bộ các sản phẩm tiền gửi với việc phân tách rõ đối tượng khách hàng, đa dạng hoá kỳ hạn (từ 1 tuần đến 72 tháng), phương thức trả lãi (trả trước, trả sau, trả định kỳ từ 1, 3, 6 đến 12 tháng) Ngoài ra đã xây dựng các sản phẩm đặc thù, kết hợp bán chéo với các sản phẩm khác

Kết quả, đến nay ngoài gần 3.000 mã sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn thông thường áp dụng cho các loại hình khách hàng là tổ chức kinh tế, tài chính, tín dụng, dân cư (trong và ngoài nước), BIDV còn triển khai thực hiện các sản phẩm tiền gửi đặc thù như phát hành giấy tờ có giá (Trái phiếu tăng vốn, trái phiếu dài hạn, CCTG dài hạn, CCTG ngắn hạn, kỳ phiếu), tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm kết hợp với bảo hiểm (BIC-Bảo An), tiết kiệm Ổ trứng vàng, tiết kiệm rút dần, tiền gửi phân tầng theo số dư

2.1.2.4 Về hoạt động tín dụng

Việc điều hành hoạt động kinh doanh tín dụng năm 2008 đã đạt được những mục tiêu đề ra, góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành kế hoạch kinh doanh của toàn hệ thống

Tổng dư nợ của BIDV đến 31/12/2008 là 149.419 tỷ VNĐ, tăng 26,5% so với năm 2007 Các chỉ tiêu về chất lượng, cơ cấu tín dụng đều đạt kết quả tốt hơn so với các năm trước Tỷ trọng cho vay trung-dài hạn từ mức 43,5% năm 2006 giảm xuống còn 39,8% năm 2007 và là 37% năm 2008 Tỷ trọng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ mức 47,2% năm 2007 tăng lên mức 70% năm 2008, tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo từ cao hơn 70% so với tổng dư nợ

Trong bối cảnh nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc độ phát triển cao và cạnh tranh giữa các ngân hàng gay gắt, BIDV đã hoàn thành toàn diện, đồng bộ và vượt trội kế hoạch kinh doanh năm 2008

Trang 30

Biểu đồ 2.2: Dư nợ của BIDV qua các năm.

Với định hướng phát triển thành một ngân hàng bán lẻ, trong năm qua danh mục các sản phẩm tín dụng bán lẻ của BIDV đã liên tục được bổ sung Tuy nhiên tỷ trọng tín dụng bán lẻ vẫn ở mức thấp, năm 2008, chỉ chiếm 10,85% với số dư 16.220

tỷ VNĐ

Về quan hệ khách hàng của BIDV đang tiến triển theo xu hướng hợp tác toàn diện từ quan hệ tín dụng kết hợp với hoạt động đầu tư, góp vốn, quan hệ cổ đông chiến lược… Đây là một xu hướng quan hệ mới sẽ phát triển trong những năm tới, tạo

sự gắn kết chặt chẽ giữa Ngân hàng và khách hàng

Từ quý IV trong năm 2007, BIDV đã triển khai thành công chương trình tín dụng tài trợ xuất khẩu và nhập khẩu nhằm thu hút khách hàng và gia tăng thị phần tín dụng của BIDV trong lĩnh vực này Kết quả thực hiện từ tháng 09/2007 đến hết năm

2007 doanh số cho vay tài trợ XNK đạt 11.300 tỷ VNĐ, dư nợ cho vay xuất nhập khẩu đạt 5.000 tỷ VNĐ Năm 2008, dư nợ cho vay xuất nhập khẩu đạt 14.941 tỷ đồng

Bên cạnh việc tích cực triển khai công tác tín dụng, các biện pháp quản lý chất lượng tín dụng cũng được BIDV quan tâm BIDV đã thực hiện nhiều biện pháp để thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, kiểm soát nợ xấu đảm bảo việc phân loại nợ một cách chính xác theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế và đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến công tác quản lý tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm…

Với sự hướng dẫn cụ thể, kịp thời trong công tác phân loại nợ cũng như sự chỉ đạo sát sao của Hội sở chính trong công tác kiểm soát chất lượng tín dụng, nợ xấu của

Nguồn: Báo cáo thường niên 2003 – 2008 của BIDV

Trang 31

BIDV luôn được kiểm soát chặt chẽ và giảm từ 9,6% thời điểm 31/12/2006 xuống còn 3,98% thời điểm 31/12/2007 và chỉ còn 2,04 % tại thời điểm 31/12/2008 Diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu ngày càng giảm thấp và ổn định vào cuối năm cho thấy chất lượng tín dụng được nâng lên, khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng chủ động chính xác và an toàn hơn Trong năm 2008, toàn hệ thống đã tập trung quyết liệt triển khai các biện pháp tận thu hồi nợ, do vậy đã mang lại kết quả tích cực trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng và thu hồi nợ hạch toán ngoại bảng

2.1.2.5 Về hoạt động dịch vụ

Nhận thức về vai trò của hoạt động dịch vụ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của các đơn vị từ Hội sở chính đến các chi nhánh đã có những chuyển biến tích cực, là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả của hoạt động dịch vụ trong thời gian qua Các kết quả đó là:

Thứ nhất, hoạt động dịch vụ của toàn hệ thống có những bước tăng trưởng

đáng kể, năm 2008 đạt 1.507 tỷ đồng tăng trưởng 86,5% so với 2007, tỉ trọng thu dịch

vụ ròng trong tổng thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng tăng từ 19,8% năm 2007 lên 24% năm 2008

Thứ hai, là giai đoạn định hướng hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng được

hình thành và từng bước triển khai thay thế cho định hướng sản phẩm Các chi nhánh

đã bắt đầu hướng đến khách hàng, quan tâm đến công tác bán hàng, chăm sóc khách hàng

Thứ ba, đã nỗ lực triển khai nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trên nền

tảng công nghệ hiện đại, quản lý dữ liệu tập trung, góp phần đa dạng hoá danh mục sản phẩm dịch vụ của BIDV, tăng nguồn thu phí dịch vụ 3 năm qua, 26 sản phẩm dịch vụ, tiện ích mới đã được triển khai trong hệ thống, đặc biệt là một trong hai ngân

hàng đầu tiên của Việt Nam triển khai thành công dịch vụ hàng hoá tương lai trên 02

mặt hàng cà phê, cao su

Thứ tư, là giai đoạn nghiên cứu tìm kiếm và thử nghiệm các mô hình hợp tác

kinh doanh Trong thời gian qua, BIDV đã triển khai thành công các sản phẩm dịch

vụ ngân hàng liên kết với các tổ chức tài chính khác như Western Union (với Western Union), Bancassurance (với AIAV) Đẩy mạnh triển khai hợp tác với các doanh nghiệp lớn như Viettel, G7 Mart, EVN, mở ra cơ hội mới trong việc hợp tác kinh doanh dịch vụ

Trang 32

Thứ năm, bên cạnh hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, các hoạt

động marketing sản phẩm dịch vụ của BIDV được triển khai bài bản, mạnh mẽ hơn thông qua các chương trình Marketing được tổ chức thống nhất từ hội sở chính đến các chi nhánh nhằm cung cấp đầy đủ thông tin hơn về sản phẩm cho khách hàng, thông qua hoạt động nghiên cứu thông tin thị trường, sản phẩm; Chuẩn hoá bộ tờ rơi sản phẩm, hình ảnh website; Tổ chức các sự kiện; Đào tạo, nâng cao kỹ năng giao tiếp, tiếp xúc khách hàng, bán sản phẩm của cán bộ các chi nhánh

Về cơ cấu thu dịch vụ trong giai đoạn 2007-2008 tương đối giống nhau, thu phí từ các hoạt động dịch vụ truyền thống và thu ròng từ Kinh doanh ngoại tệ chiếm

tỷ trọng rất lớn, trong khi thu phí từ các dịch vụ bán lẻ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ và chưa có nhiều thay đổi, cụ thể:

Biểu 2.3: Cơ cấu thu dịch vụ 2007 - 2008 của BIDV

Nguồn: Ban dịch vụ BIDV

2.2 Đánh giá thực trạng năng lực quản trị của BIDV

2.2.1 Năng lực xây dựng kế hoạch, chiến lược và ra quyết định

Như đã đề cập trong chương một, khi xem xét năng lực quản trị của NHTM, vấn

đề đầu tiên được nhiều người quan tâm chính là khả năng đưa ra các chiến lược, kế hoạch trong kinh doanh, góp phần đem lại thành công cho NH Trong bất kỳ tổ chức nào, ra quyết định luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của ban quản trị Đối với BIDV, các quyết định được đưa ra luôn đảm bảo yêu cầu sáng tạo, kịp thời và đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh Trong thời gian qua, BIDV đã xây dựng các chiến lược quan trọng cho quá trình phát triển và hội nhập tài chính quốc tế

Trang 33

™ Phát triển mạng lưới

Thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới giai đoạn 2006 –2010, BIDV đã củng

cố mạng lưới hoạt động thực sự hiệu quả với 103 chi nhánh và sở giao dịch, 228 phòng giao dịch, 162 điểm giao dịch/quỹ tiết kiệm, đã góp phần tạo nên vị thế, hình ảnh, thương hiệu của BIDV rộng khắp 64 tỉnh/thành phố Hệ thống đạt được 1,1 triệu thẻ với gần 1000 máy ATM đặt tại các trung tâm thương mại, tài chính ngân hàng, đảm bảo phân phối đầy đủ, kịp thời và hiệu quả các sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng trên toàn quốc Mạng lưới điểm chấp nhận thẻ (POS) phát triển được 425 điểm tại 24 tỉnh/ thành phố BIDV đã tham gia vào hệ thống Banknet, thực hiện việc rút tiền từ ATM thông qua nhiều ngân hàng khác Mục tiêu của BIDV là hoàn thiện mạng lưới hoạt động năng động, phù hợp với mô hình tập đoàn tài chính ngân hàng Việt Nam cùng với tiến trình cổ phần hóa BIDV

Riêng hơn 20 Chi nhánh mới thành lập năm 2006, 2007 đã phát huy được hiệu quả và lợi thế kinh doanh Các chi nhánh mới đang dần hướng tới hoạt động theo mô hình bán lẻ, tập trung mở rộng cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng ngoài quốc doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, đóng góp đáng kể vào kết quả chung của toàn ngành Năm 2008, hầu hết các chi nhánh hoạt động kinh doanh ổn định và hoàn thành xuất sắc kế hoạch kinh doanh

Mục tiêu phát triển mạng lưới toàn hệ thống là cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng bán buôn và bán lẻ toàn diện, trọn gói, tập trung mạng lưới tại các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế của đất nước; đảm bảo tăng trưởng quy mô hoạt động gắn với nâng cao hiệu quả, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh Năm 2008, hệ thống tiếp tục tập trung nguồn lực để phát triển mạng lưới chi nhánh tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương Kế hoạch phát triển mạng lưới đến năm 2010, toàn hệ thống

sẽ có 141 chi nhánh, 386 phòng giao dịch, trên 2000 máy ATM và 35.000 POS, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng trên mới miền đất nước

Bên cạnh việc phát triển mạng lưới nội địa, BIDV đang thâm nhập thị trường quốc tế Với quan điểm không ngừng tìm kiếm và mở rộng các thị trường mới, BIDV

đã thiết lập quan hệ hợp tác với đối tác tại Mỹ, Châu Âu, Kazakstan, Nhật Bản, Trung Quốc và đặc biệt là Hồng Kông, Nga và các nước trung Âu

Tại thị trường Hồng Kông, với lợi thế môi trường đầu tư hấp dẫn, quy tắc trong ngành ngân hàng và tài chính thông thoáng, quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ, là trung

Trang 34

tâm tài chính của thế giới, là cửa ngõ của Trung Quốc đại lục, là nơi quy tụ các chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới cũng như các tập đoàn quốc gia lớn, Hồng Kông trở thành điểm đến hứa hẹn cho các nhà đầu tư tài chính trên toàn thế giới Công ty BIDV International tại Hồng Kông đang trong giai đoạn chuẩn bị thành lập sẽ đóng vai trò cầu nối về đầu tư giữa thị trường Hồng Kông và Việt Nam, với mục tiêu là huy động vốn trên thị trường quốc tế về đầu tư tại Việt Nam, tạo ra một công cụ hỗ trợ quá trình hội nhập và phát triển của thị trường vốn Việt Nam và thị trường vốn quốc tế

Tại thị trường Nga, BIDV và ngân hàng Ngoại thương Nga (VTB) đã đạt được thống nhất về kế hoạch tăng vốn điều lệ Ngân hàng liên doanh Việt Nga (VRB) lên 62.5 triệu USD vào tháng 01/2008 nhằm đáp ứng yêu cầu về tăng năng lực tài chính của Ngân hàng Nhằm thực hiện vai trò cầu nối thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai nước, hỗ trợ cộng đồng người Việt tại Nga, hỗ trợ các doanh nghiệp Nga tìm kiếm các

cơ hội đầu tư tại Việt Nam BIDV đánh giá Nga là một thị trường nhiều triển vọng và

sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư và hỗ trợ đầu tư vào thị trường này

BIDV đang thực hiện các bước khảo sát đề án thành lập ngân hàng hoặc công ty đầu tư tài chính tại Séc, nơi cộng đồng người Việt có số lượng khá lớn và tiềm lực tài chính vững chắc, nhằm mục đích hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tại Séc và Đông Âu, tăng cường vai trò của mình trong việc thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và khu vực Đông Âu

Phát triển mạng lưới phi ngân hàng thông qua hoạt động liên doanh, đầu tư góp vốn là một trong những trọng tâm của BIDV Năm 2007, BIDV đã hoàn tất các thủ tục thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Tài chính BIDV (BFI), Công ty Cổ phần cho thuê máy bay Việt Nam (VALC), Công ty Cổ phần phát triển đường cao tốc BIDV (BEDC); tiếp tục củng cố hoạt động Công ty liên doanh Quản lý đầu tư BIDV- Vietnam Partners (BVIM), Công ty Thuê mua tài chính (BLCI và II), Công ty chứng khoán (BSC), xúc tiến dự án thành lập Bệnh viện Masep, Đặc biệt trong năm 2007, BIDV đã tận dụng

cơ sở vật chất của các chi nhánh đã phát triển mạng lưới Công ty Bảo hiểm BIC, đã đưa

số chi nhánh của BIC lên 12 chi nhánh cùng với 27 phòng kinh doanh khu vực và gần

800 đại lý bảo hiểm Việc tích cực phát triển hoạt động của BIDVtrên các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, chứng khoán là minh chứng rõ nhất cho những nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ nhân viên BIDV trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, góp phần mở rộng hoạt động của toàn hệ thống phù hợp với

Trang 35

việc chuyển đổi sang mô hình Tập đoàn Tài chính Ngân hàng, nhanh chóng thích nghi

và nắm bắt những thời cơ mới, vận hội mới của tiến trình hội nhập

™ Kế hoạch cổ phần hóa

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 03/TB-VPCP ngày 04/01/2007 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp thường trực Chính phủ đối với chương trình cổ phần hoá các Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng ĐT&PT VN đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hóa BIDV gồm các thành viên chủ chốt của BIDV và mời đại diện của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng Công ty đầu tư và quản lý vốn nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tham dự Đồng thời BIDV đã bố trí nhân sự có năng lực tham gia Dự án Cổ phần hóa với nhiệm vụ chính là triển khai thực hiện và giúp việc cho Ban chỉ đạo

Cùng với việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, BIDV đã xem xét phê duyệt Kế hoạch chi tiết cổ phần hoá BIDV Với nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện các công tác chuẩn bị sẵn sàng cho cổ phần hóa và hoàn thiện cơ bản đề án hình thành tập đoàn Tài chính Ngân hàng Việt nam sau hơn một năm triển khai một cách chủ động và tích cực, với sự trợ giúp của các cơ quan Bộ và Chính phủ, đến nay Ngân hàng ĐT&PT VN đã đạt được những bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho cổ phần hóa và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng

BIDV xác định rõ việc thuê Tư vấn Tài chính hỗ trợ cổ phần hoá BIDV chính là một bước chuẩn bị mang tính then chốt, quyết định sự thành công của quá trình cổ phần hoá, do vậy BIDV đã thực hiện quá trình đấu thầu lựa chọn tư vấn một cách công khai, minh bạch theo đúng quy định của Luật Đấu thầu và các thông lệ quốc tế Kết quả, Morgan Stanley – một trong những định chế tài chính hàng đầu thế giới – đã được lựa chọn làm đơn vị tư vấn tài chính thực hiện cổ phần hóa BIDV cũng đã thực hiện ký hợp đồng thuê công ty luật đẳng cấp quốc tế White&Case và công ty YKVN Việt Nam

tư vấn các vấn đề pháp lý đồng thời tiếp tục ký hợp đồng với công ty kiểm toán Ernst&Young thực hiện kiểm toán các báo cáo tài chính năm 2007

Ngay sau lễ ký kết Hợp đồng Tư vấn tài chính ngày 16/7/2007, BIDV và Morgan Stanley đã họp khởi động Dự án và thống nhất với Tư vấn về chương trình, kế hoạch, cách thức phối hợp thực hiện, triển khai từng cấu phần công việc trên cơ sở bám sát các điều khoản, điều kiện trong Hợp đồng tư vấn tài chính Sau 6 tháng phối hợp

Trang 36

thực hiện, đến nay các cấu phần của Dự án cổ phần hóa BIDV đã được triển khai tương đối thuận lợi và theo đúng tiến độ cam kết Kết quả tóm tắt như sau:

- Hoàn thành việc đánh giá khảo sát thực trạng BIDV bao gồm đánh giá khảo sát về hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính, tổ chức và pháp lý

- Hoàn thành cơ bản việc xác định giá trị doanh nghiệp BIDV theo các phương pháp định giá theo thông lệ quốc tế; hiện đang triển khai định giá theo phương pháp tài sản bảo đảm yêu cầu theo quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần;

- Đang tích cực rà soát để thống nhất nội dung Bản công bố thông tin (IM) và danh sách các nhà đầu tư chiến lược tiềm năng;

- Đã tiếp nhận báo cáo của Tư vấn về Phương án cổ phần hóa và đang triển khai rà soát, hoàn thiện;

- Xây dựng kế hoạch, chương trình phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng trong nước (IPO trong nước) và đang triển khai các công việc chuẩn bị cần thiết, bảo đảm IPO vào thời điểm thích hợp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Đồng thời với quá trình chuẩn bị cổ phần hóa, BIDV đã chủ động thực hiện các hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình cổ phần hóa, bao gồm: Lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao chất lượng hoạt động hướng tới chuẩn mực quốc tế Nỗ lực giải quyết phần lớn nợ xấu còn tồn đọng từ các năm trước bằng các biện pháp kết hợp và làm sạch bảng cân đối đồng thời thực hiện trích lập tối đa dự phòng rủi ro qua đó đã giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 4% theo cả tiêu chuẩn kế toán Việt nam (IAS) và tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Ngoài ra, với việc được cấp bổ sung 3.400 tỷ VNĐ vốn điều lệ trong năm 2007, chỉ số An toàn vốn của BIDV đã đạt mức > 6,7% theo tiêu chuẩn quốc tế

™ Triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng theo chuẩn quốc tế

Ngày 20/10/2006, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV được ban hành trên cơ sở loại bỏ những nhược điểm của Điều 6 Quyết định 493 (chỉ phân loại nợ vào các nhóm theo phương pháp định lượng đó là theo kỳ hạn trả nợ đã được gia hạn nợ, hoặc cơ cấu lại nợ) Ngày 14/11/2006, Thống đốc NHNN đã chấp thuận cho BIDV thực hiện chính sách trích dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 7 Quyết định 493 từ quý 4/2006

Trang 37

Qua hơn 2 năm triển khai, các tiêu chí phân loại nợ đã tiệm cận chuẩn mực

theo thông lệ quốc tế; chính sách khách hàng được xây dựng và áp dụng đồng bộ với

chính sách phân loại nợ hoàn toàn dựa trên thực trạng của khách hàng, chất lượng tín

dụng bước đầu đã được kiểm soát chặt chẽ, cụ thể tới từng khách hàng, từng ngành

nghề, từng loại hình tổng công ty kể cả theo nợ cơ cấu; xây dựng kế hoạch phân loại

nợ, đề ra kế hoạch giảm nợ xấu đến từng khách hàng, chủ động hơn trong việc kiểm

soát chất lượng tín dụng, sớm phát hiện rủi ro tiềm ẩn nợ xấu có thể phát sinh, dự

kiến và lập được kế hoạch số dự phòng rủi ro phải trích vào cuối năm tài chính để

ngân hàng chủ động trong kế hoạch tài chính ngay từ đầu năm

Đặc biệt hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV đã phản ánh chính xác

chất lượng tín dụng theo thông lệ quốc tế để từ đó đưa ra được các biện pháp, giải pháp

xử lý nợ xấu và kiểm soát nợ xấu phát sinh Theo đó, hệ thống đã sử dụng phương pháp

chấm điểm các nhóm chỉ tiêu tài chính, phi tài chính của từng khách hàng, kết hợp với

phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê để xếp hạng khách hàng, đã xây

dựng ba hệ thống chấm điểm khác nhau cho ba loại khách hàng chính: tổ chức kinh tế,

tổ chức tín dụng (còn gọi là các định chế tài chính) và khách hàng là cá nhân

Tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế của BIDV do kiểm toán quốc tế thực

hiện đã giảm từ 31% năm 2005 xuống còn 2,04% vào năm 2008

Ngoài ra, ban lãnh đạo BIDV luôn có các quyết định kịp thời trong từng điều

kiện cụ thể như ban hành lãi suất, chính sách tỷ giá ngoại tệ,… vừa đảm bảo hoạt

động kinh doanh an toàn và hiệu quả đồng thời góp phần thực hiện chỉ tiêu kinh tế

của Chính phủ

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu lợi nhuận BIDV từ năm 2003- 2008

Trang 38

Dù chịu sự cạnh tranh gay gắt trong năm qua, khả năng sinh lời của ngân hàng vẫn tăng trưởng khá tốt Lợi nhuận ròng của ngân hàng năm 2008 là 3.425 tỷ VNĐ

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROaA) của ngân hàng có xu hướng tăng đều qua các năm, năm 2008 tỷ lệ này là 0,95% - đạt mức cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với thông lệ quốc tế

Thu nhập từ các hoạt động phi lãi suất của ngân hàng (trước chi phí hoạt động

và dự phòng) năm 2008 như thu phí dịch vụ ngân hàng, thu từ các giao dịch ngoại tệ tăng dần qua các năm từ 599 tỷ năm 2003 đến 1.121 tỷ VNĐ năm 2007 và là 1.507 tỷ đồng năm 2008, cho thấy ngân hàng đang cố gắng đa dạng nguồn thu nhập Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi/Tổng tài sản vẫn chưa được cải thiện Thu nhập từ lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu hoạt động, trên 60%, một tỷ lệ vẫn còn khá cao

so với tiêu chuẩn hoạt động ngân hàng hiện đại ngày nay

an toàn và tuân thủ pháp luật

BIDV đang sở hữu hệ thống công nghệ thông tin hiện đại trên mạng diện rộng, cho phép thực hiện tất cả các giao dịch trực tuyến trong toàn hệ thống Nhờ đó việc truy cập thông tin, thanh toán giữa các chi nhánh với khách hàng được xử lý online, nhanh chóng BIDV đã và đang triển khai và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại như Home Banking, Mobile banking, Internet banking, E-banking

Tất cả nghiệp vụ, dịch vụ đều dùng chung một hệ thống thông tin khách hàng duy nhất, đảm bảo cho việc xác nhận khách hàng được chính xác và thuận tiện, đây là yêu cầu rất quan trọng đối với giao dịch phân tán và tư động như các dịch vụ ngân hàng điện tử

Hệ thống công nghệ thông tin của BIDV bao gồm hệ thống chính thức và hệ thống dự phòng, dữ liệu thường được cập nhật song song, đảm bảo khi hệ thống chính

bị sự cố, hệ thống dự phòng vẫn đảm bảo được giao dịch bình thường Bên cạnh đó

hệ thống truyền thông dự phòng cũng đã đưa vào sử dụng vào cuối năm 2006

Hệ thống công nghệ thông tin của BIDV cũng đảm bảo được tính mở rộng để phục cho nhu cầu ngày càng phát triển

BIDV đã chủ động thực hiện minh bạch và công khai các hoạt động kinh doanh, là ngân hàng đi tiên phong trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế Từ

1996, BIDV liên tục thực hiện kiểm toán quốc tế độc lập và công bố kết quả báo cáo

Trang 39

Với sự tư vấn của Earns & Young, BIDV đã triển khai thực hiện xếp hạng tín dụng nội bộ theo điều 7 Quyết định 493 phù hợp với chuẩn mực quốc tế và được NHNN

công nhận

Kể từ ngày 1/10/2008, BIDV chính thức chuyển sang mô hình tổ chức mới theo dự án TA 2 Đây là chương trình liên kết kỹ thuật nhằm hỗ trợ tái cơ cấu BIDV

do quỹ ASEM tài trợ dưới sự quản lý của Ngân hàng thế giới là một trong các chương trình nằm trong chương trình cải cách tổng thể ngành ngân hàng Việt Nam, được thực hiện bởi các chuyên gia tư vấn nước ngoài đến từ những tập đoàn ngân hàng tài chính có uy tín và thành công trên thế giới

Dự án hỗ trợ kỹ thuật TA 2 khởi động vào tháng 10/2005 và kết thúc vào tháng 6/2006, dự án TA2 tập trung vào các hoạt động chủ chốt như quản lý chuyển đổi quản trị điều hành và cơ cấu tổ chức, nguồn vốn, quản lý rủi ro, quản lý tài sản nợ tài sản

có, kiểm toán nội bộ, marketing, chiến lược kinh doanh, chiến lược công nghệ thông tin và chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ, các lĩnh vực được ING tư vấn, trợ giúp

về mặt kỹ thuật, phân tích một cách sâu sắc và toàn diện

Mục tiêu của quá trình tái cơ cấu là chuyển đổi BIDV từ một ngân hàng truyền thống thành một hệ thống ngân hàng hợp nhất theo hướng ngân hàng đa năng, hiện đại, theo đó Trụ sở chính sẽ kiểm soát các sản phẩm tài chính cho từng nhóm khách hàng mục tiêu thông qua các kênh phân phối, ở đây các chi nhánh được coi như một kênh phân phối và bán hàng cho Trụ sở chính Việc chuyển đổi sẽ cho phép BIDV chuyển dần từ một hệ thống mang tính phân tán sang mô hình hệ thống theo hướng tập trung hoá, nghĩa là củng cố thành lập một Trụ sở chính vững mạnh, trực tiếp kinh doanh một số hoạt động chiến lược: kinh doanh tiền tệ, kinh doanh trên thị trường vốn, tín dụng, tài trợ thương mại…

Mô hình tổ chức và mô thức quản trị mới được tập trung vào các vấn đề sau:

- Tập trung vào khách hàng và sản phẩm (chiều dọc) thay vì vào Chi nhánh (chiều ngang) như trước khi tái cơ cấu để sao cho mỗi nhóm khách hàng, sản phẩm được quản lý một cách chủ động bởi một đơn vị và đơn vị này chịu trách nhiệm về khả năng sinh lời, sự phát triển của vòng đời sản phẩm và mối quan hệ với khách hàng, cũng như kiểm soát được mức độ rủi ro trong ngưỡng giới hạn rủi ro chấp nhận của Ngân hàng đối với khách hàng, sản phẩm đó

Trang 40

- Mô hình tổ chức đáp ứng được yêu cầu quản trị rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng theo nguyên tắc các sản phẩm, quy trình tác nghiệp được tách bạch qua ba chức năng: kinh doanh (front office), quản lý rủi ro (middle office) và tác nghiệp (back office) Chức năng quản lý rủi ro được thiết kế nằm trong các quy trình nghiệp

vụ, quản lý rủi ro sẽ là nơi phê duyệt trước khi nghiệp vụ kinh doanh thực sự tiến hành chứ không phải đứng ngoài quy trình thực hiện chức năng giám sát sau khi nghiệp vụ đã thực sự phát sinh

- Mô hình tổ chức đảm bảo sự phân tách giữa “Front Office” và “Back/Support Office”: Nguyên tắc là không có nhân viên nào vừa đàm phán với khách hàng lại vừa

có trách nhiệm chi trả Đây là sự bảo vệ rất cơ bản và mang tính nền tảng đối với ngân hàng, sẽ luôn luôn có ít nhất hai người báo cáo cho ít nhất hai khối khác nhau tham gia để một khoản thanh toán có thể được thực hiện

- Sơ đồ tổ chức được thiết lập một cách đơn giản, rõ ràng, trách nhiệm và hiệu quả để mọi cấp quản trị điều hành đều có thể thấy rõ ai báo cáo cho ai, ai chịu trách nhiệm về cái gì và sẽ không có quá nhiều báo cáo trùng lắp cũng như không có nhiều người báo cáo cho một người

- Mô hình tổ chức mới cũng cho phép BIDV tách bạch rõ ràng hơn hoạt động ngân hàng thương mại thuần tuý với hoạt động đầu tư, tham gia thành lập và quản lý các công ty con, các đơn vị liên doanh, liên kết

- Hướng dần tới mục tiêu mỗi người là một trung tâm lợi nhuận: Thực hiện phân cấp, uỷ quyền mạnh mẽ hơn, đưa trách nhiệm xuống các cấp quản trị thấp hơn trong ngân hàng để mỗi nhân viên dần làm việc như một trung tâm lợi nhuận, tiến tới

có thể ước tính được chi phí - thu nhập của từng nhân viên, từng bộ phận, từ đó tạo ra

sự khác biệt về lợi nhuận và giá trị gia tăng, cũng như các cơ chế động lực, khuyến khích đối với nhân viên làm việc hiệu quả

Ngày đăng: 12/01/2018, 13:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w