1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

118 271 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên QuangQuản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập

học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang”

được thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 8/2017 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lí

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017

Người thực hiện

Tống Khắc Hoà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với sự kính trọng và tình cảm chân thành, tác giả trân trọng cảm ơn: Phòng đào tạo, Khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang, các đồng chí cán bộ quản lý của 06 trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Dương và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tư liệu giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Những người thân trong gia đình và các đồng chí, đồng nghiệp thường xuyên động viên tác giả học tập, nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này chắc chắn vẫn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017

Người thực hiện Tống Khắc Hoà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TÚY XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT 7

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2 Một số khái niệm cơ bản 13

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 13

1.2.2 Ma túy, tệ nạn ma túy, phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường 19

1.2.3 Trường Trung học Phổ thông 21

1.2.4 Học sinh Trung học phổ thông 21

Trang 6

1.2.5 Quản lý hoạt động phòng chống ma túy xâm nhập học đường ở các

trường Trung học phổ thông 22 1.3 Một số vấn đề cơ bản về phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học

đường cho học sinh ở các trường THPT 22 1.3.1 Trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặc

điểm của học sinh Trung học phổ thông 22 1.3.2 Mục tiêu của hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học

đường ở các trường Trung học phổ thông 25 1.3.3 Nội dung hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học

đường ở các trường Trung học phổ thông 26 1.3.4 Các phương pháp hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập

học đường ở các trường Trung học phổ thông 26 1.3.5 Các hình thức tổ chức hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm

nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 27 1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm

nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 29 1.4.1 Lập kế hoạch hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học

đường ở các trường Trung học phổ thông 29 1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy

xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 30 1.4.3 Chỉ đạo triển khai kế hoạch hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy

xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 31 1.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy

xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 32 1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn

ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 33 Kết luận chương 1 37

Trang 7

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TUÝ XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH

TUYÊN QUANG 38

2.1 Khái quát về các trường THPT huyện Sơn Dương 38

2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 39

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 39

2.2.2 Đối tượng khảo sát 40

2.2.3 Nội dung khảo sát 40

2.2.4 Cách thức tiến hành khảo sát 40

2.3 Thực trạng hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 40

2.3.1 Thực trạng về nội dung giáo dục hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 40

2.3.2 Thực trạng về phương pháp hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 43

2.3.3 Thực trạng về hình thức tổ chức giáo dục phòng chống TNMT xâm nhập học đường 47

2.3.4 Kết quả công tác hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 51

2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường ở các trường THPT 52

2.4.1 Thực trạng Lập kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường ở các trường THPT 52

2.4.2 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông 55

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo triển khai kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 58

Trang 8

2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phòng chống

TNMT xâm nhập học đường ở các trường THPT 60

2.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường ở các trường THPT 61

Kết luận chương 2 66

Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN MA TÚY XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG 67

3.1 Các nguyên tắc để xây dựng biện pháp 67

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành pháp luật của Nhà nước 67

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 67

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 68

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 68

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 68

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo sự đa dạng hoá phương pháp và hình thức quản lý hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 69

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 70

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh về tác hại của ma túy, tầm quan trọng của việc PCTNMT 70

3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng năng lực PCTNMT xâm nhập học đường cho đội ngũ giáo viên và giáo viên chủ nhiệm 72

3.2.3 Tăng cường tổ chức các hoạt động PCTNMT xâm nhập học đường cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm 73

3.2.4 Đẩy mạnh phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc giáo dục PCTNMT 77

Trang 9

3.2.5 Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, thi đua, khen thưởng đối với

hoạt động PCTNMT xâm nhập học đường 82

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83

3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 85

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 85

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 85

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 85

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 85

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Khuyến nghị 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

BGD&ĐT : Bộ giáo dục và đào tạo

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá của cán bộ quản lý, Đoàn thanh niên, giáo viên các

trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang về mức độ thực hiện nội dung hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 41Bảng 2.2 Đánh giá của học sinh các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh

Tuyên Quang về mức độ thực hiện nội dung hoạt động phòng chống TNMT xâm nhập học đường 41Bảng 2.3 Đánh giá của GV về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp giáo

dục phòng chống TNMT xâm nhập học đường cho học sinh 44Bảng 2.4 Đánh giá của HS về thực trạng mức độ sử dụng phương pháp

phòng chống TNMT xâm nhập học đường của GV 46Bảng 2.5 Tự đánh giá của GV về các hình thức giáo dục phòng chống

TNMT xâm nhập học đường 47Bảng 2.6 Đánh giá của HS về các hình thức giáo dục phòng chống TNMT

xâm nhập học đường của GV 49Bảng 2.7 Chất lượng giáo dục đạo đức 51Bảng 2.8 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm

nhập học đường ở các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 53Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm

nhập học đường của GVCN lớp 54Bảng 2.10 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống TNMT

ở các trường THPT 56Bảng 2.11 Thực trạng chỉ đạo triển khai kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT 59Bảng 2.12 Tính cách của những người dễ mắc TNMT theo nhận thức của

học sinh 61Bảng 2.13 Cách thức ứng xử của bố, mẹ khi học sinh có biểu hiện hoặc

thường xuyên tiếp xúc với đối tượng mắc TNMT 63Bảng 3.1: Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản

lý hoạt động phòng chống ma túy cho học sinh tại các trường THPT huyện Sơn Dương 86

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm

nhập học đường ở các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 53Biểu đồ 2.2 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động phòng chống TNMT xâm

nhập học đường của GVCN lớp 54Biểu đồ 2.3 Thực trạng về tổ chức thực hiện kế hoạch phòng chống TNMT

ở các trường THPT 56

Sơ đồ:

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý 17

Sơ đồ 1.2 Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong quản lý 18

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp quốc Ngài Boutros Gali đã đánh giá

“Trong những năm gần đây, tình trạng nghiện ma túy đã trở thành hiểm họa của toàn nhân loại, không một quốc gia, dân tộc nào thoát ra khỏi ngoài vòng xoáy khủng khiếp của nó để tránh khỏi những hậu quả do nghiện hút và buôn lậu ma tý gây ra Ma túy đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, hủy diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người Nghiêm trọng hơn ma túy còn là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS” [dẫn theo 22]

Nghiện ma túy đã trở thành một trong những tệ nạn xã hội đang ngày càng phát triển không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều các quốc gia trên thế giới Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia

Ma túy gắn với tội phạm ngày một tăng, tỷ lệ nghiện nặng chiếm đa số, các loại ma túy được sử dụng ngày càng đa dạng… Diễn tiến phức tạp của tình trạng nghiện ma túy hiện nay đặt ra cho xã hội những nhiệm vụ cấp bách Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo hoạt động của công tác phòng chống và kiểm soát ma túy Một số ban ngành chức năng được thành lập và tiến hành những biện pháp phòng chống ma túy một cách tích cực

Tình trạng tái nghiện còn ở mức cao; nạn trồng cây thuốc phiện trên vùng núi cao, tuyến biên giới còn phức tạp Ma túy bùng phát, nhưng sự lo ngại chính là việc độ tuổi của người nghiện ma túy ở Việt Nam ngày càng trẻ Kết quả điều tra những năm gần đây cho thấy, người nghiện ma túy dưới 18 tuổi

Trang 14

chiếm 4,5%; dưới 30 tuổi chiếm 68,3% và số người nghiện ma túy ở độ tuổi lao động là 80% trong tổng số người nghiện ma túy [31]

Theo báo cáo trong Hội nghị tổng kết 5 năm phòng chống ma túy học đường 2011 - 2016 thì đến hết năm 2016 có 146.731 người sử dụng và nghiện ma tuý có hồ sơ, trong đó bao gồm cả cán bộ, giáo viên và học sinh sinh viên trong ngành giáo dục; 63/63 tỉnh thành phố trên cả nước, 90% quận huyện, trên 56% xã, phường, thị trấn đã có người sử dụng và nghiện ma tuý

Độ tuổi của các đối tượng sử dụng và nghiện ma tuý ngày càng được trẻ hóa, năm 2001 số độ tuổi sử dụng và nghiện ma tuý dưới 30 tuổi chiếm 57,7% năm

2016 tăng lên 68,3%

Tuy nhiên, dù nhiều biện pháp được thực thi, một lượng lớn tiền của đã

bỏ ra nhưng số người mắc nghiện và tái nghiện không hề giảm mà có chiều hướng gia tăng qua từng năm, số người cai nghiện thành công chiếm một tỷ lệ vô cùng khiêm tốn

Thanh niên là một lực lượng rất quan trọng trong mọi hoạt động xã hội,

là một bộ phận lao động chính, sau này là lực lượng góp phần thúc đẩy sự tiến

bộ xã hội Chính vì vậy, bọn tội phạm ma túy đã chọn thế hệ trẻ là khách hàng chiến lược vì chúng sẽ đạt được mục tiêu lâu dài Thủ đoạn của bọn tội phạm

ma túy là bắt đầu với những loại ma túy có hàm lượng ma túy rất nhẹ trong thuốc lá hoặc các loại nước uống … với nhiều hình thức chào mời, dụ dỗ đưa các em đến ma túy một cách không trực tiếp Trong số những người mắc nghiện thì thanh niên chiếm một tỷ lệ khá lớn

Hiện nay, với hàng loạt giải pháp của Chính phủ, các bộ, các đoàn thể đang từng bước ngăn chặn tệ nạn ma túy, tệ nạn nghiện ma túy trong học sinh, sinh viên đã giảm, song chưa cơ bản, chưa vững chắc, một số trường học vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức, chưa kiên trì, thường xuyên và liên tục

Trang 15

Sơn Dương là huyện ở cửa ngõ phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách thành phố Tuyên Quang 30 km, cách thành phố Thái Nguyên 54 km; giáp danh với huyện Sơn Dương là các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Phú Thọ Sơn Dương có nhiều mỏ khai thác khoáng sản và một số cụm, điểm công nghiệp, có nhiều tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng như quốc lộ 2c, quốc lộ 37 và khu di tích lịch sử ATK Tân Trào Từ năm 1990 trở lại đây,

do tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra thường xuyên, người dân nhiều nơi đổ về nên tình hình tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm đồi truỵ, tệ nạn nghiện ma túy trên địa bàn huyện có nhiều diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến các trường phổ thông trên địa bàn huyện Đặc biệt trong những năm học gần đây tình trạng học sinh nghiện ma túy tăng so với những năm học trước, qua khảo sát của các lực lượng chức năng có 114/6.778 học sinh nghiện và có biểu hiện nghiện ma túy Do đó công tác giáo dục PCMT trong trường học là một đòi hỏi quan trọng và cấp bách, là trách nhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người làm công tác giáo dục và công tác quản lý Vì vậy tôi xác định

chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm

nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương - tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục

với hy vọng đóng góp một phần nhỏ những biện pháp của mình vào công tác PCMT trong các trường THPT huyện Sơn Dương

Trang 16

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Quá trình quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

* Khách thể nghiên cứu

Hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường Trung học phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường trong trường THPT

4.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động phòng chống ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang trong thời gian qua đã được quan tâm thực hiện tuy nhiên, vẫn còn một số những tồn tại nhất định điều này do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường một cách khoa học phù hợp theo hướng phát huy được tính tự giác tích cực của học sinh, có sự phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường thì sẽ ngăn chặn kịp thời tệ nạn ma tuý ngoài xã hội xâm nhập học đường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường và đề ra các biện pháp quản lý phòng chống ma tuý xâm

Trang 17

nhập học đường cho học sinh ở 6 trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Dương

Số liệu khảo sát được lấy từ năm 2010 trở lại đây

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Nghiên cứu các văn kiện của Đại hội Đảng các cấp, Luật Giáo dục, Điều lệ trường học

+ Nghiên cứu tài liệu kinh điển

+ Nghiên cứu các giáo trình, sách báo, các công trình sản phẩm liên quan

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Phương pháp điều tra: khảo sát nhóm cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của 6 trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

+ Phương pháp đàm thoại: đươ ̣c thực hiê ̣n với ho ̣c sinh đã từng sử dụng

ma túy để tìm hiểu nhâ ̣n thức, thái đô ̣ và hành vi sử dụng ma túy của em Ngoài

ra, phỏng vấn này được thực hiện với những thầy cô giáo (cán bộ quản lí và giáo viên chủ nhiệm lớp) nhằm tìm hiểu nhâ ̣n thức, thái đô ̣ của ho ̣ về tình tra ̣ng

ma túy xâm nhập học đường củ a ho ̣c sinh trong pha ̣m vi quản lý của nhà trường; phỏng vấn cũng đươ ̣c tiến hành với phu ̣ huynh ho ̣c sinh là cha hoă ̣c me ̣

củ a na ̣n nhân hay cha me ̣ của những học sinh có biểu hiện sử dụng ma túy để

tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình, thái đô ̣ của gia đình đố i với hành vi sử dụng ma túy củ a con ho ̣

+ Phương pháp quan sát: quan sát những hành vi, cử chỉ, những biểu hiện cảm xúc, những thay đổi về trạng thái tình cảm của học sinh từng là chủ thể, là nạn nhân của tệ nạn ma túy, học sinh từng chứng kiến tệ nạn ma túy trong trường học Từ những quan sát này, chúng tôi phân tích và đưa ra những đánh giá về tệ nạn ma túy ở các trường THPT huyện Sơn Dương và từ đó đưa

ra các biện pháp cụ thể để quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

+ Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp tác giả đề xuất

Trang 18

- Nhóm phương pháp sử dụng toán học thống kê: Sử dụng công thức

toán học để thống kê, xử lý số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khác

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma

tuý xâm nhập học đường ở các trường THPT

Chương 2: Thực trạng quản lý phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường trong trường trung học phổ thông ở huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN

MA TÚY XÂM NHẬP HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Từ rất lâu, người ta sử dụng ma túy như một phương tiện để chữa bệnh, cho nên việc PCMT ít được quan tâm Công tác PCMT chỉ được các nước trên thế giới quan tâm khi họ nhận thấy rõ bản chất của chúng Hiện nay, vấn đề ma túy không còn hạn chế bởi quốc gia nào mà đã trở thành hiểm họa trên phạm vi toàn thế giới Cho nên, “chống ma túy” đã trở thành nhiệm vụ chung của tất cả các nước Chúng ta có thể điểm qua vài nét về lịch sử vấn đề này

Mỹ là nước tiêu thụ ma túy lớn nhất thế giới, vấn đề ma túy nghiêm trọng hơn bất cứ quốc gia nào Luật chống ma túy Liên bang sớm nhất nước Mỹ là

“pháp lệnh Halition” năm 1914 Năm 1930 chính phủ liên bang thành lập cục chống ma túy trong Bộ Tài chính, tiến hành quản lý chất ma túy, heroine, cocaine đang lạm dụng lúc đó Năm 1986, Quốc hội Mỹ thông qua “pháp lệnh chống lạm dụng ma túy”, lần đầu tiên đưa ra về mặt pháp luật một cách toàn diện đối với vấn

đề lạm dụng ma túy và vấn đề buôn lậu ma túy Năm 1986, nhà trường ở nước Mỹ phải là nhà trường không có ma túy

Các nước Trung và Nam Mỹ đều có luật chuyên về chống ma túy và áp dụng luật hình sự để trừng trị các loại hoạt động tội phạm vi phạm pháp lệnh cấm ma túy Những năm 1970 đến nay, luật cấm ma túy là một loại luật pháp chủ yếu được coi trọng ở các nước, phần lớn các nước đều có cơ quan chấp pháp chống ma túy

Nhìn chung, các nước Trung và Nam Mỹ rất coi trọng công tác giáo dục PCMT Từ năm 1990, Bộ Giáo dục Pêru bắt đầu triển khai hoạt động chống lạm dụng ma túy trong HS, yêu cầu phụ huynh HS và GV tích cực phối hợp thực hiện công tác này Braxin tiến hành tuyên truyền PCMT, thông qua nhà

Trang 20

trường yêu cầu HS hiểu rõ tác hại của ma túy và tránh xa ma túy Ở một số nước vùng Nam Mỹ hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng đều có chương trình tuyên truyền PCMT

Năm 1975, Ý đã ban bố pháp lệnh về vấn đề ma túy Tháng 6 năm 1990, Quốc hội thông qua Luật chống ma túy và thành lập “Cục chống ma túy Trung ương” Các nước Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức đều có pháp luật và

cơ quan phụ trách vấn đề PCMT từ những năm 80

Ở Thái Lan, Luật PCMT đã có từ cuối những năm 1950 Ủy ban bài trừ

ma túy của Phủ thủ tướng được thành lập từ cuối những năm 1960 Năm 1982, nhà nước lại thành lập ủy ban đặc biệt trấn áp hoạt động buôn bán ma túy ở biên giới Thái-Miến (Thái Lan-Myanma) Trong những năm gần đây, việc lạm dụng ma túy ở Thái Lan đã đến mức báo động, đặc biệt trong HS, SV Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chương trình “Trường học trắng” trong trường phổ thông nhằm đưa nhà trường và xã hội xích lại gần nhau hơn

Các nước Myanmar, Malaixia, Singapore, Brunay, Indonesia, Philippine đều có luật PCMT và cơ quan chuyên trách PCMT Nhìn chung luật pháp các nước đều có hình phạt nặng đối với những kẻ buôn bán hoặc tàng trữ ma túy phi pháp Trong pháp lệnh chống ma túy đều có án tử hình Malaixia, Singapore triển khai công tác giáo dục PCMT thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thành lập đội thiếu niên tuyên truyền PCMT trong và ngoài nhà trường; tập huấn cán bộ chuyên môn giảng dạy, biên soạn tài liệu về vấn đề ma túy và phụ trách công tác PCMT trong nhà trường; tăng cường lồng ghép các nội dung về ma túy và tác hại của ma túy trong các môn học có liên quan để nâng cao ý thức PCMT trong học sinh

Ai Cập là nước rất tích cực và nghiêm minh trong công tác phòng chống tội phạm ma túy Luật pháp về ma túy có quy định, những kẻ chế biến chất ma túy phi pháp với mục đích buôn bán phải chịu tội tử hình và phạt tiền tùy tính chất, những kẻ buôn lậu ma túy sẽ bị nghiêm trị, nhẹ thì vào tù, nặng thì xử tử hình Trong các nước Châu Phi, Ai Cập là nước có nét đặc sắc

Trang 21

riêng về công tác giáo dục PCMT Chính phủ đã phát động phong trào đài truyền hình tham gia PCMT nhằm vào đặc điểm yêu thích xem truyền hình của thanh thiếu nhi

Các nước khác như: Nigieria, Kênia, Nam Phi đã và đang phải đối mặt với vấn đề ma túy ngày càng nghiêm trọng Các quốc gia này cũng đã có luật pháp và cơ quan làm nhiệm vụ bài trừ ma túy

Một số công trình nghiên cứu có liên quan về phòng chống TNMT xâm

nhập học đường: Luận án tiến sĩ “Hiệu quả pháp luật phòng, chống ma túy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ở Việt Nam”

(năm 2012) của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Lan, Công trình nghiên cứu khoa

học “Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện pháp luật, phòng chống ma túy trong các trường Đại học, Cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang từ năm 2003-2008” (năm 2010) của tác giả Trần Khánh Mai; về thực hiện pháp luật: Bài viết tham khảo “Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam” (năm 2012) của GS.TSKH Đào Trí Úc đăng trên

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2011 Ngoài các công trình nghiên cứu có liên quan nêu trên, qua tra cứu, tác giả nhận thấy: chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT một cách có hệ thống từ cả khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn; đặc biệt là việc nghiên cứu trong phạm vi thực tiễn tại địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Do đó, tác giả hi vọng, Luận văn sẽ

là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về việc quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT, có giá trị tham khảo về mặt lý luận, cũng như góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma tuý xâm nhập học đường tại các trường THPT huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi

tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội

Trang 22

1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Vào năm Cảnh Trị thứ ba (1665) Nhà nước Phong kiến Việt Nam đã ban hành đạo luật đầu tiên về “Cấm trồng cây thuốc phiện” Đạo luật này nêu rõ:

“Con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dật, trộm cướp dùng nó

để nhòm ngó nhà người ta Trong thì kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà

có khi hỏa hoạn, khánh kiệt tài sản Vì nó mà thân thể tàn tạ, người chẳng ra người” Đạo luật này còn quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi” Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) có quy định thêm những hình phạt cụ thể đối với tội phạm ma túy: gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện Năm Tự Đức thứ ba (1840), quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm ma túy nghiêm trọng và chú trọng biện pháp điều trị cho người nghiện hút thuốc phiện Đặc biệt là vấn đề khen thưởng hậu hỉ cho những người có công phát hiện hoặc tố giác đúng tội phạm ma túy

Trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp (1858- 1954), công tác PCMT không được chú trọng Các cấp chính quyền bấy giờ không hề quan tâm đến việc phòng chống thuốc phiện, tình trạng gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện ở nước ta lại phát triển Chính vì vậy, tệ nạn nghiện hút thuốc phiện làm cho nhiều gia đình tan nát, nhiều người rơi vào hoàn cảnh túng quẫn, sức khoẻ bị hủy hoại, trí tuệ cạn kiệt

Sau thành công của Cách mạng tháng Tám (1945), mặc dù chính quyền cách mạng còn non trẻ song vấn đề đấu tranh với tệ nạn thuốc phiện đã được Chính phủ rất quan tâm: Chính phủ đã cấm việc trồng trọt, buôn bán và sử dụng thuốc phiện ngoài danh mục y tế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị rõ ràng trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước: “Cuối cùng tôi đề nghị cấm hút thuốc phiện” Nghị định số 150/TTg của Chính phủ ban hành ngày 12/3/1952 ấn định chế độ tạm thời về thuốc phiện; ngày 22/12/1952, Chính phủ lại ban hành Nghị định mới số 225/TTg sửa đổi lại Nghị định 150/TTg Nhìn

Trang 23

chung, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh chống thuốc phiện nói chung Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ở miền Bắc XHCN, tệ nạn trồng, hút thuốc phiện đã căn bản xóa bỏ được Trong khi đó, ở Miền nam thời Mỹ- Ngụy, nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy rất phát triển ở Sài gòn, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ

Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (năm 1975) Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương bài trừ nạn trồng trọt, chế biến, sử dụng các chất ma túy Cuộc đấu tranh chống nạn ma túy đã đạt được nhiều kết quả từ năm 1975- 1984 Nhưng từ giữa thập kỷ 80, do việc buông lỏng quản lý của Nhà nước và gia đình nên tệ nạn ma túy có cơ hội phát triển Vì thế, để kịp thời ngăn chặn tệ nạn này ngày 08/4/1991, Chính phủ ra Nghị quyết số 99/CT về việc vận động nhân dân không trồng cây Anh Túc

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản để chỉ đạo công tác PCMT, cụ thể như: Chỉ thị số 33/CT-TW ngày 01/3/1994 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Phòng chống, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết là nạn mại dâm, nghiện ma túy, là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện

để có bước tiến bộ rõ rệt ngay từ năm 1994” Chỉ thị 06-CT/TW ngày 30/11/1996 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy đã yêu cầu: “Các cấp ủy Đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng chống và kiểm soát

ma túy, phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng sử dụng ma túy trong nhân dân ”

Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng đã nêu: “Phòng chống đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy Thực hiện cơ chế, giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, giáo dục, chữa trị, đào tạo nghề, tạo việc làm Xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội”

Trang 24

Theo báo cáo tổng kết của Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm năm 2016 cả nước hiện có khoảng trên 172.000 người nghiện, tăng 8,5% so với năm 2015 Số người sử dụng ma túy tổng hợp đang có xu hướng tăng Tình trạng nghiện ma tuý trong học sinh, sinh viên vẫn chưa giảm, theo báo cáo của Vụ Công tác Chính trị- Bộ Giáo dục và Đào tạo tính đến tháng 12 năm 2016: cả nước có 1.756 sinh viên, học sinh nghiện ma tuý gồm 922 HS,SV đang tiếp tục học, 834 HSSV đó bỏ học hoặc theo học để cai nghiện Mỗi năm số HSSV tiêu hết 50-60 tỷ đồng

Theo báo cáo của Sở Lao động và Thương binh xã hội tỉnh Tuyên Quang thì tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đến tháng 12 năm 2016 ở Sơn Dương có trên 30% người nghiện đang ở độ tuổi thanh thiếu niên

Theo tổng kết của ngành Công an thì trong số những người nghiện ma túy phát hiện được ở Hà Nội có tới 70% ở độ tuổi dưới 30 Ngay trong những người nghiện lớn tuổi cũng dễ mắc nghiện từ khi họ còn ở tuổi thanh niên Theo thống kê tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy năm 2010 độ tuổi phạm pháp từ 14 - 17 tuổi là 40% tổng số vụ phạm pháp bị phát hiện có liên quan đến

ma túy Ở độ tuổi này các em đang tập làm người lớn, muốn khẳng định mình nhưng lại chưa nhận thức đầy đủ về các vấn đề, không có kinh nghiệm và không tự chủ được trước những cám dỗ

Trong những năm qua, nhiều nhà quản lý giáo dục đã dành khá nhiều thời gian nghiên cứu về tệ nạn ma túy để tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả nhất như:

- Tác giả Vũ Ngọc Bừng với cuốn: “Phòng chống ma túy trong nhà trường” (1997), tác giả Nguyễn Thị Miến với bài viết: “Vai trò của người vợ, người mẹ với việc lôi kéo chồng ra khỏi ma túy” (1999), tài liệu bồi dưỡng

“Những vấn đề về phòng chống tệ nạn ma túy” của Trung tâm giáo dục dạy

nghề Bình Triệu (từ năm 1994 đến 2000), tác giả Phạm Ngọc Cường với cuốn

“Sổ tay phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội”

Trang 25

- Với đề tài nghiên cứu “Biện pháp giáo dục phòng chống ma túy ở một

số trường trung học phổ thông tỉnh Lai Châu” (2003), tác giả Nguyễn Mạnh Chủ đã tập trung nghiên cứu, làm rõ thực trạng nhận thức và những vấn đề vi phạm ma túy của HS trường THPT trên địa bàn tỉnh Lai Châu, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục PCMT học đường có tính khả thi trong tình hình hiện nay

- Tác giả Dương Thị Kim Oanh cũng đã xác định được thực trạng nhận thức của học sinh THPT về vấn đề ma túy và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn nghiện ma túy trong HS trường THPT, qua kết quả nghiên cứu của

đề tài: “Tìm hiểu thực trạng nhận thức về ma túy và nguyên nhân dẫn tới tệ nạn nghiện ma túy của học sinh trung học phổ thông” (1998)

Trong tạp chí “Phòng chống ma túy” của Ủy ban quốc gia PCMT xuất bản

do Đại tá Bùi Xuân Biên, Trung tá Nguyễn Xuân Yêm biên tập được phát hành hàng tháng Các tác giả đã nêu lên nhiều vấn đề có liên quan đến ma túy Nó cần thiết và bổ ích cho công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong các nhà trường hiện nay

Ngoài ra, còn có nhiều khóa luận, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này Hầu hết các công trình tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề ma túy Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện Sơn Dương, trong phạm

vi các trường THPT, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động phòng chống TNMT Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi khảo sát thực trạng một số biện pháp quản lý hoạt động phòng chống TNMT ở các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Dương

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một trong những loại hình hoạt động quan trọng nhất của con người Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người

Trang 26

Là một phạm trù tồn tại khách quan, ra đời tất yếu do nhu cầu của một chế độ

xã hội, mọi tổ chức, một quốc gia, mọi thời đại, khoa học quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp của con người nhằm điều khiển lao động, thúc đẩy sự phát triển của xã hội trên tất cả các phương diện, mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc

Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có

tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội, kỹ thuật,… nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một động tác hợp quy luật khách quan

Theo quan điểm lý thuyết hệ thống: Quản lý là "Phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm các quy tắc, các ràng buộc

về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu"

Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo cách tiếp cận khác nhau

Ở nước ngoài, một số tác giả khái niệm như sau:

Các Mác đã viết: "Tất cả mọi loại lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy hoạt động của mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [45]

Còn Fredrich Winslow Taylor (1856 - 1915) khẳng định: "Quản lý là biết được chính xác điều người khác muốn làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [dẫn theo 28]

Theo Harold Kooutz, Cyri O''donnell và Heiuz Weihrich thì "Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các

Trang 27

mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [10]

Trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”, Paul Herscy và Ken Blane Heard lại coi “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổ chức” [dẫn theo 43]

Các ông Thomas.J.Robins và Wayned Morrison lại cho rằng: "Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [dẫn theo 13]

Ở Việt Nam có một số khái niệm quản lý như sau:

Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: "Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [41]

Trong giáo trình Quản lý hành chính Nhà nước của Học viện hành chính

quốc gia chỉ rõ: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý" [9]

Theo giáo sư Hà Hồ Sĩ: "Quản lý là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong các đối tượng có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" [36]

Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cũng cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [23]

Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các lao động trí

óc, liên kết bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa

Trang 28

phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả” [dẫn theo 19]

Từ những khái niệm trên, có thể rút ra kết luận, quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng tới đích, có mục tiêu xác định Quản lý thể hiện mối quan

hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan, có khả năng thích nghi giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và ngược lại

Để quản lý có hiệu quả nó phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Chủ thể quản lý: Là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức

- Đối tượng quản lý: Là những con người cụ thể, họ rất có nhiều quan hệ đan xen và đa dạng mà chủ thể quản lý phải sử lí khi thực hiện chức năng quản

lý của mình Vì vậy, nhiệm vụ quản lý là biến các mối quan hệ trên thành các yếu tố tích cực tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới mục tiêu chung Đó

là tính nghệ thuật của quản lý

- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh, quyết định, văn bản, chính sách, chương trình, mục tiêu

- Phương pháp quản lý được xác định bằng nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào nhiều hình thức lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý Muốn đạt được mục tiêu trong quản lý, chủ thể quản lý phải biết được mục tiêu của tổ chức mình trên cơ sở của sự hội nhập giữa các nhu cầu và mục đích của mỗi cá nhân trong tổ chức, do vậy sự chia sẻ các mục tiêu tổ chức của khách thể quản lý là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả quản lý của một tổ chức

Mục tiêu quản lý là đích của chủ thể quản lý đặt ra cho tổ chức thực hiện Chức năng Quản lý:

+ Chức năng kế hoạch hoá

+ Chức năng tổ chức

+ Chức năng chỉ đạo

Trang 29

+ Chức năng kiểm tra, đánh giá

Tất cả các chức năng quản lí tạo nên nội dung của quá trình quản lý Trong một chu trình quản lý, các chức năng kế tiếp nhau và độc lập với nhau chỉ mang tính tương đối bởi vì một số chức năng có thể diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện các chức năng khác Chu trình đó được thể hiện qua

sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý

Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự biến động không ngừng của nền kinh tế - xã hội, quản lý được xem là một trong năm nhân

tố phát triển kinh tế - xã hội (vốn - nguồn lực lao động - khoa học kỹ thuật - tài nguyên và quản lý) trong đó quản lý đóng vai trò quyết định của sự thành bại

của công việc Hoạt động quản lý tồn tại với 3 yếu tố cơ bản đó là “Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý" Các yếu tố này có mối quan hệ

qua lại chặt chẽ với nhau và cùng nằm trong môi trường quản lý được thể hiện

sơ đồ sau:

Tiền kế hoạch

Kế hoạch hoá công cụ quản lý

Thông tin

Chỉ đạo thực hiện

Trang 30

Sơ đồ 1.2 Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong quản lý

1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ đó là góc độ vĩ mô và góc độ vi mô Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, vì vậy khái niệm

quản lý giáo dục có thể hiểu như sau:

Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy

luật và chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục

Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng, giám đốc sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính,…), vì vậy khái niệm

quản lý giáo dục có thể hiểu như sau:

Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp

quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo

Kế hoạch hóa công cụ quản lý

Khách thể quản lý

Phương pháp quản lý

Mục tiêu quản lý Chủ thể

quản lý

Trang 31

đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện các mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu của xã hội

1.2.2 Ma túy, tệ nạn ma túy, phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường

- Ma túy: Theo từ Hán - Việt: Ma là “tê”, tê liệt; túy là “ say” say mê Ma túy là tên gọi chung của chất gây nghiện có đặc tính:

+ Làm cho người sử dụng luôn có ham muốn phải sử dụng bằng bất cứ giá nào

+ Làm cho người sử dụng có khuynh hướng tăng liều dùng, ngày càng cao mới đủ độ “ phê ”

+ Làm người sử dụng trở thành nô lệ về vật chất lẫn tinh thần Nếu ngưng

sẽ bị vật vã, đau đớn, thậm chí tính mạng bị đe doạ Do vậy khái niệm ma túy

được các chuyên gia nghiên cứu của Liên hiệp quốc cho rằng: “Ma túy là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ

có tác động làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên tổn thương cho cá nhân và cộng đồng” [dẫn theo 14]

Các chuyên gia nghiên cứu về ma túy của Việt Nam cho rằng: “Ma túy

là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp Khi được đưa vào cơ thể của con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của con người đó Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng ” [dẫn theo 14]

Theo Bộ luật hình sự được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/12/1999, trong đó quy định các tội phạm ma túy

đã chỉ rõ: Ma túy bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca, lá, hoa, quả cây cần sa; lá cây côca; quả thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; herôin; côcain; các chất ma túy khác ở thể lỏng; các chất ma túy khác ở thể rắn

Luật phòng chống ma túy đã khái niệm các từ ngữ:

+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng

Trang 32

+ Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục được Chính phủ ban hành

+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

Có nhiều cách phân loại ma túy, nhưng nhìn chung có một số dạng phân loại cơ bản sau đây:

+ Căn cứ vào nguồn gốc ma túy, ma túy được chia làm ba nhóm: ma túy

tự nhiên, ma túy bán tổng hợp, ma túy tổng hợp

+ Căn cứ vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng, ma túy được chia làm hai nhóm: ma túy có hiệu lực cao và ma túy có hiệu lực thấp

+ Dựa vào tác dụng sinh lý trên cơ thể người, ma túy được chia làm 8 nhóm: Chất gây êm dịu, đam mê như thuốc phiện và các chế phẩm, cần sa và các sản phẩm của cần sa; côca và các sản phẩm của coca, thuốc ngủ có tác dụng

ức chế thần kinh; các chất kích thích gồm amphetamin và các dẫn xuất của nó, các chất gây ảo giác, dung môi hữu cơ và các chất thuốc xông…

+ Căn cứ vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động tâm lý, các chuyên gia Liên hiệp quốc chia ma túy làm nhiều nhóm; ma túy là các chất từ cây thuốc phiện; ma túy là các chất từ cây cần sa; ma túy lá các chất kích thích,

ma túy là các chất ức chế, ma túy là các chất gây ảo giác

- Tệ nạn ma túy: Tệ nạn ma túy là những hoạt động do con người gây ra

có ảnh hưởng đến sự sống của con người, phá vỡ quan hệ lành mạnh của xã hội Tệ nạn ma túy có thể liên quan đến ít người hoặc nhiều người Song chưa bao giờ tệ nạn ma túy xảy ra ở nhiều quốc gia ảnh hưởng đến sự sống, an ninh của con người có tính phổ biến do những kẻ vô lương tâm tổ chức thực hiện như vài ba thập niên gần đây như: ma túy, mại dâm, buôn lậu, cờ bạc, hàng giả

… Trong đó tệ nạn ma túy ngày càng phát triển và ngày càng có chiều hướng gia tăng

Trang 33

- Phòng, chống tệ nạn ma túy học đường: Là quá trình nâng cao nhận thức

về vai trò, vị trí, trách nhiệm của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc giáo dục học sinh; tăng cường phòng, chống ma túy học đường và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình và cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ,

tính mạng của học sinh, xử lý kịp thời các hành vi gây ra tệ nạn ma túy

1.2.3 Trường Trung học Phổ thông

Trường phổ thông trung học hay còn được gọi là trường trung học phổ thông, là một loại hình đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 không kể một số trường hợp đặc biệt Nó gồm các khối học: lớp 10, lớp

11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này, học sinh phải trải qua Kỳ thi THPT quốc gia

1.2.4 Học sinh Trung học phổ thông

Học sinh THPT là lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15

- 25 tuổi, được chia làm hai thời kỳ:

+ Thời kỳ từ 15 -18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên

+ Thời kỳ từ 18 -25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên) Lứa tuổi học sinh THPT thuộc giai đoạn đầu

Trong tâm lý học lứa tuổi, các nhà khoa học quan niệm tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bắt đầu vào tuổi người lớn Giới hạn thứ nhất là giới hạn sinh lý và giới hạn thứ hai là giới hạn xã hội

đã chỉ ra tính chất phức tạp về nhiều mặt của hiện tượng Vị trí của thanh niên

có tính chất không xác định (ở mặt này họ được coi là người lớn, mặt khác lại không), tính chất đó và những yêu cầu đề ra cho thanh niên được phản ánh một cách độc đáo về tâm lý thanh niên Vị trí “không xác định” của thanh niên là một tất yếu khách quan Người lớn phải tìm cách tạo điều kiện cho việc xây dựng một phương thức sống mới phù hợp với mức độ phát triển chung của họ bằng cách khuyến khích hành động có ý thức trách nhiệm riêng và khuyến

Trang 34

khích sự giáo dục lẫn nhau trong tập thể thanh niên mới lớn Thái độ của các

em với học tập có tính lựa chọn hơn, ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với những khuynh hướng nghề nghiệp

1.2.5 Quản lý hoạt động phòng chống ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông

Luật Giáo dục quy định đối với tất cả các giáo viên, người làm công tác quản lý giáo dục Đối với giáo viên bộ môn, trách nhiệm của họ không chỉ truyền đạt những kiến thức chuyên môn mà còn phải giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách của người học, dạy chữ phải đi đôi với dạy người Còn đối với chủ nhiệm lớp, họ phải nắm được chất lượng toàn diện trên tất cả các mặt, không chỉ học mà còn là sự tu dưỡng, rèn luyện của các em học sinh

Như vậy, có thể hiểu, quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhà trường trong việc giáo dục đạo đức học sinh nhằm tăng cường phòng, chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường và thực hiện theo nguyên tắc lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính; thực hiện các biện pháp giáo dục, vận động và can thiệp của nhà trường, gia đình và cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ, tính

mạng của học sinh, xử lý kịp thời các hành vi xâm nhập của ma túy

1.3 Một số vấn đề cơ bản về phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học

đường cho học sinh ở các trường THPT

1.3.1 Trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặc điểm của học sinh Trung học phổ thông

1.3.1.1 Trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

Tại Điều 4, Luật giáo dục 2005 quy định: Các cấp học và trình độ đào tạo của Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; Giáo dục phổ thông có tiểu học, THCS, THPT; Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ

Trang 35

Vị trí của trường THPT được xác định trong Điều lệ trường trung học

như sau: “Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”

Có thể nói, giáo dục THPT là một bậc học quan trọng trong Hệ thống giáo dục quốc dân Đây là cấp học nối tiếp chương trình giáo dục THCS và là bước chuẩn bị để HS có thể tiếp tục học các trường ĐH, trường nghề, hay đi vào đời sống lao động

Điều 27, Luật giáo dục năm 2005 quy định: Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học ĐH, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Điều 28, Luật giáo dục 2005 quy định: “ Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học và THCS, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc, kiến thức khác về khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp”

1.3.1.2 Đặc điểm của học sinh Trung học phổ thông

Lứa tuổi học sinh THPT bao gồm các em có độ tuổi từ 16 - 18 tuổi, các em được vào học ở trường trung học phổ thông (từ lớp 10 - 12) Lứa tuổi này có một

vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời

kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “

- Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này

Trang 36

- Ở lứa tuổi thanh niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động…của các em

- Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:

+ Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ

có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội

+ Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn

- Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:

+ Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít

+ Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn

+ Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …còn quan hệ với bạn gái như trẻ con

- Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thanh niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp

Trang 37

nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này Thời kỳ thanh niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên

- Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thanh, thiếu niên, giúp chúng ta có cách đối xử đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện

1.3.2 Mục tiêu của hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông

Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông nhằm mục đích ngăn chặn GV và HS có những thái

độ, hành vi sai lệch với chuẩn mực xã hội, giữ cho môi trường giáo dục lành mạnh, nhằm thực hiện phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" đạt hiệu quả, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước

ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường THPT nhằm góp phần cho học sinh thấy được tác hại của việc mắc tệ nạn ma túy, có thái độ bất bình với tệ nạn trên, đồng thời có ý thức đấu tranh với những hành

vi sai trái, tích cực phát hiện những biểu hiện tệ nạn ma túy, thông tin kịp thời đến thầy cô, cha mẹ học sinh để ngăn ngừa không để tệ nạn ma túy xảy ra

Phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường THPT góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong trường học, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng mối quan hệ thầy - trò, trò với trò ngày càng gắn bó, thân thiết, trường học thật sự là "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" để nhà trường hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra

Phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường THPT sẽ giúp những học sinh có hành vi lệch chuẩn nhận thức được hành vi sai trái của mình, tự giác sửa chữa lỗi lầm, hình thành những thái độ, hành vi hợp chuẩn Điều này mang lại lợi ích cho gia đình, nhà trường và xã hội bớt đi những bất

Trang 38

ổn tiềm ẩn sau này Góp phần xây dựng niềm tin của phụ huynh học sinh, gia đình học sinh vào nhà trường Đồng thời góp phần tạo niềm tin trong xã hội, bởi trật tự, an toàn trong xã hội được bảo đảm, giảm đi nỗi bức xúc của dư luận, nhân dân tin tưởng ở môi trường giáo dục thân thiện, con người thực sự

được rèn luyện trở thành người có tài, có đức, có nhân cách

1.3.3 Nội dung hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường

ở các trường Trung học phổ thông

Quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường nhằm giúp học sinh tăng cường khả năng nhận diện các biểu hiện và nguyên nhân của tệ nạn ma túy, chuẩn bị cho học sinh sự sẵn sàng về tâm lý đấu tranh chống lại tệ nạn ma túy và các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn Nhận thức đúng là cơ sở để hành động, bởi vì để ngăn chặn tệ nạn ma túy, phải hiểu biết

về bản chất của tệ nạn ma túy và những biểu hiện của nó trong mỗi giai đoạn

Nâng cao nhận thức cho học sinh về nguy cơ và hậu quả của tệ nạn ma túy xâm nhập học đường Những tổn thương về tinh thần, sức khỏe và vật chất của học sinh, cả những em chủ mưu gây ra và những em bị hại là khôn lường Đặc biệt, sự gia tăng tệ nạn ma túy đang làm suy thoái nhân cách của một bộ phận những người trẻ tuổi, thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước Trong cuộc đấu tranh này, không ai đứng ngoài cuộc Việc tuyên truyền về nguy cơ và hậu quả của tệ nạn ma túy học đường, nhà trường và các phương tiện truyền thông

- Giảng giải cho học sinh nhận thức đúng về tệ nạn ma túy xâm nhập học đường

Trang 39

- Đàm thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh khi có biểu hiện vi phạm

tệ nạn ma túy trong trường

- Kể những câu chuyện về các tình huống có thật trong cuộc sống để học sinh tự rút ra bài học cho mình

- Nêu những gương tốt về phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường

- Khen thưởng những tập thể, cá nhân có việc làm tốt về phòng, chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường

- Có những kỷ luật nghiêm khắc đối với những HS có các biểu hiện, muốn tiếp xúc, kết bạn với đối tượng mắc TNMT, đồng thời cũng tạo điều

kiện cho các em có cơ hội để sửa chữa khuyết điểm của mình

1.3.5 Các hình thức tổ chức hoạt động phòng chống tệ nạn ma túy xâm nhập học đường ở các trường Trung học phổ thông

Trong quá trình giáo dục thì giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy là một

bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó được tiến hành thông qua những hình thức tổ chức sau:

- Thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản làm cho người được giáo dục tự giác chiếm lĩnh một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, nhân cách Các môn khoa học xã hội và nhân văn như: Văn học, Lịch sử, Giáo dục công dân,… có tiềm năng to lớn trong việc giáo dục nhân cách cho người học Những kiến thức các bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi trong phòng, chống tệ nạn ma túy Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục nhân cách HS Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân cách và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng… tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí

Trang 40

kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân, giảm thiểu các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội

- Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể

và hoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động, năng động và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục phòng, chống tệ nạn ma túy cho học sinh Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ,… Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh

- Giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh thông qua con đường

tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh Mỗi học sinh

từ chỗ là đối tượng của quá trình giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy Đặc biệt đối với học sinh THPT, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con người với con người thì nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính

- Giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày

và những ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục cho học sinh thiết thực nhất Chính vì vậy, mỗi thầy cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo

Các hình thức tổ chức giáo dục phòng chống tệ nạn ma túy nói trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giác thực hiện việc tự giáo dục là

Ngày đăng: 12/01/2018, 10:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w