Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM NGÂN HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM NGÂN HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Minh Huế
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Minh Huế Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Học viên thực hiện
Phạm Ngân Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 23 (2015 - 2017)
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Minh Huế đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn
và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Xin gửi lời cảm ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu xong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong tiếp tục nhận được ý kiến góp
ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 8
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 Khái niệm công cụ 13
1.2.1 Tai nạn thương tích 13
1.2.2 Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non 14
1.3 Hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non 15 1.3.1 Mục tiêu của hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 15 1.3.2 Yêu cầu và nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non 16
Trang 61.3.3 Phương pháp và hình thức phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
mầm non 20
1.3.4 Giáo viên trong hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 29
1.4 Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non 31
1.4.1 Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non 31
1.4.2 Mục tiêu quản lý 31
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non 32
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em 38
1.5.1 Các yếu tố khách quan 38
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 39
Kết luận chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 43
2.1 Khái quát khảo sát về thực trạng 43
2.1.1 Khái quát về giáo dục mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh 43
2.1.2 Mục tiêu khảo sát 44
2.1.3 Nội dung khảo sát 44
2.1.4 Đối tượng khảo sát 45
2.1.5 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 45
2.2 Thực trạng nhận thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 45
Trang 72.2.1 Nhận thức về mục tiêu, nội dung phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ 45
2.2.2 Nhận thức về phương pháp và hình thức phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 48
2.2.3 Nhận thức về nội dung quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 49
2.3 Thực trạng hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 50
2.3.1 Thực trạng thực hiện các nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 50
2.3.2 Thực trạng sử dụng phương pháp và hình thức phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 51
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 53
2.4.1 Thực trạng nội dung quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 53
2.4.2 Thực trạng phương pháp quản lý 61
2.4.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động phòng chống tai nại thương tích cho trẻ ở trường mầm non 62
2.5 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 63
2.5.1 Những ưu điểm 63
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng 64
Kết luận chương 2 66
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 67
3.1 Nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 67
Trang 83.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 67
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 68
3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 68
3.1.5 Đảm bảo tính hệ thống 68
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non 68
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho GV, NV về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức, cũng như công tác quản lý phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 68
3.2.2 Tuyên truyền phổ biến kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tới các bậc phụ huynh 71
3.2.3 Bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích đối với trẻ mầm non cho CBQL, GV, NV 74
3.2.4 Xây dựng và sử dụng môi trường giáo dục đảm bảo an toàn cho trẻ 76
3.2.5 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ 81
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp đề xuất 85
3.4 Khảo nghiệm sư phạm 85
3.3.1 Mục tiêu 86
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 86 Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV về mục tiêu phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ mầm non 46 Bảng 2.2 Nhận thức về nội dung PCTNTT cho trẻ mầm non 47 Bảng 2.3 Nhận thức về phương pháp và hình thức phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ 48 Bảng 2.4 Nhận thức về nội dung quản lý hoạt động phòng chống tai
nạn thương tích cho trẻ 49 Bảng 2.5 Thực trạng thực hiện các nội dung phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 50 Bảng 2.6 Thực trạng thực hiện sử dụng phương pháp và hình thức
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 52 Bảng 2.7 Thực trạng công tác lập kế hoạch PCTNTT cho trẻ 54 Bảng 2.8 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện PCTNTT cho trẻ 57 Bảng 2.9 Kết quả chỉ đạo hoạt động PCTNTT cho trẻ 58 Bảng 2.10 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của CB, GV
trong hoạt động PCTNTT cho trẻ 60 Bảng 2.11 Thực trạng và kết quả sử dụng các phương pháp trong hoạt
động PCTNTT cho trẻ ở các trường mầm non 61 Bảng 2.12 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động
PCTNTT cho trẻ ở các trường mầm non 62 Bảng 3.1 Kết quả thăm dò tính cần thiết của các biện pháp đã đề
xuất 87 Bảng 3.2 Kết quả thăm dò tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề
xuất 88
Trang 12sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá Bởi vậy Đảng ta đã khẳng định "GD
là quốc sách hàng đầu", trong đó GD mầm non là một bộ phận cấu thành của hệ thống GD quốc dân, có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước GD mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, GD
trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi (Điều 21 Luật GD 2005) Mục tiêu của GD mầm
non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; Hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, những kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo Với đặc điểm phát triển đặc biệt của trẻ mầm non, với vai trò quan trọng của việc GD trẻ nên GD mầm non có những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà không một bậc học nào có được, đó là đồng thời thực hiện ba nhiệm vụ: nuôi dưỡng, chăm sóc và GD Trong ba nhiệm vụ trên thì nhiệm vụ chăm sóc nói chung trong đó việc đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ có vị trí vô cùng quan trọng mà nhà trường gia đình và xã hội cần chung tay phối hợp thực hiện để đảm bảo cho trẻ có được thể chất khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái khi tham gia vào các hoạt động ở trường cũng như ở gia đình
Hiện cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này tại nước ta, như công trình nghiên cứu “Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh (2015), “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 24-36 tháng tại trường mầm non A xã Ngọc Hồi” của tác giả Trịnh Thị Lan Ngọc (2014), cũng như một số công trình nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng nhằm đảm bảo an
Trang 13toàn về mặt thể chất cho trẻ em như công trình “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” của tác giả Lê Thị Khánh Hoà (1983), “Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm (1989), “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc (1992) Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình liên quan tới công tác quản lý trong các đơn vị mầm non như: Công trình “Kỹ năng và bài tập thực hành quản lý trường mầm non của hiệu trưởng” của tác giả Trần Bích Liễu (2001), công trình “Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ trong các trường mẫu giáo quận Thanh Xuân - Hà Nội” của tác giả Dương Thuý Quỳnh (1999), công trình “Nâng cao năng lực quản
lý của hiệu trưởng trường mầm non quận Hai Bà Trưng” của tác giả Bùi Thị Kim Xuân (2004), “Biện pháp quản lý thực hiện chương trình thí điểm GD mầm non của hiệu trưởng trường mầm non” của tác giả Vũ Thị Thu Hằng (2008),…Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến công tác CSGD trẻ em ở trường mầm non, các giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở giáo dục trong đó có quan tâm đến vấn đề đảm bảo an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non, đặc biệt dưới góc độ quản lý
1.2 Về mặt thực tiễn
Thực tế trong những năm gần đây cho thấy, có nhiều tai nạn thương tích hết sức thương tâm đã cướp đi sinh mạng và để lại những hậu quả nặng nề cho gia đình, nhà trường và xã hội Điển hình như: Tháng 6/2013, một bé trai 4 tuổi tử vong khi hóc miếng thịt chưa được nhai và nuốt hết (Cẩm Phả) Ngày 23/06/2011,
bé Minh (Lê Chân, Hải Phòng) đang ngủ tại nơi trông trẻ thì bị chiếc TV 29 inch
từ trên kệ gỗ rơi trúng đầu Em bị chấn thương sọ não, rồi tử vong Ngày 29.10.2014, trong khi chơi với bạn, cháu Vũ Công Minh 6 tuổi (ở Nam Định) bị đập đầu vào đầu bạn khiến thái dương phải lún móp gây chấn thương sọ não Bé
Trang 14Phạm Ánh Nhật quê ở Đăklăc (6 tuổi) nhập viện trong tình trạng hoảng loạn, lưỡi cháy đen và co rút biến dạng sau khi nghịch phích cắm từ máy phát điện năng lượng mặt trời… Tai nạn thương tích ở trẻ em đã để lại hậu quả đáng tiếc cho gia đình, nhà trường, trở thành một gánh nặng đối với xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng trong hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở lứa tuổi mầm non, trong những năm qua tại Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh được sự quan tâm của các cấp các ngành đặc biệt là ngành
GD thì hoạt động phòng chống tai nạn thương tích nói riêng và công tác GD toàn diện cho trẻ ở các trường mầm nói chung đạt được những thành tựu rất đáng khích
lệ về qui mô trường, lớp; chất lượng giáo dục Trong năm học các trường mầm non trong Thành phố đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn về thân thể và tinh thần cho trẻ Công tác chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non được nâng lên… kết quả của các hoạt động đã góp phần quan trọng trong quá trình GD toàn diện nhân cách cho trẻ ở các trường mầm non
Tuy nhiên, đi sâu tìm hiểu thì hoạt động phòng chống tai nạn thương tích
ở Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định đặc biệt là công tác quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ như: Hoạt động quản lý thực hiện chương trình chăm sóc chưa triệt để; kế hoạch đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích còn chung chung khó thực hiện; đội ngũ cán bộ, GV, NV thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích còn thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về mặt chất
lượng Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn nội dung “Quản
lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu của mình với
mong muốn tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động đảm bảo an toàn phòng chống tai nạn thương tích hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện trẻ cho trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn Thành phố Cẩm Phả hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 15Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh, đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tế các nhà trường và đặc điểm đối tượng trẻ mầm non để vận dụng trong công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ thì sẽ đảm bảo được an toàn cho trẻ và góp phần nâng cao được chất lượng hoạt động chăm sóc, giáo dục toàn diện cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở trường mầm non
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai
nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
5.3 Đề xuất, khảo nghiệm một số biện pháp quản lý hoạt động phòng
chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
6 Phạm vi nghiên cứu
Trang 166.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non công lập Thành phố Cẩm Phả, từ đó bước đầu đề xuất, khảo nghiệm tính cần thiết cũng như tính khả thi của các biện pháp đó
6.2 Về khách thể điều tra
- Tổng số khách thể khảo sát: 170 người
- Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng: 30 đồng chí
- Giáo viên, nhân viên: 140 đồng chí
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng các nhóm phương pháp sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu về quản lý, quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống tài liệu xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các biểu hiện của hoạt động phòng chống tai nạn thương tích; quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ của GV, NV các trường mầm non công lập Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng ankét
Sử dụng phương pháp điều tra để nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả qua bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp CBQL, GV, NV
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Trang 17Nghiên cứu những sản phẩm của hoạt động phòng chống tai nạn thương tích ở các trường mầm non để khẳng định được kết quả của biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích ở các trường mầm non
7.2.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu, lãnh đạo và chuyên viên Phòng
GD, các đồng chí hiệu trưởng, GV lâu năm,… để có thông tin tin cậy đảm bảo tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu Đặc biệt xin ý kiến đóng góp cho những biện pháp nhằm đổi mới quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích ở địa bàn nghiên cứu
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm đã được thực hiện và công bố trong các sáng kiến kinh nghiệm; hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về đổi mới quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích… đề xuất các biện pháp quản lý phòng chống tai nạn thương tích phù hợp
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm
Qua nghiên cứu thực tiễn khảo nghiệm mức độ cần thiết và phù hợp của
các biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm
non
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Dùng xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ dưới dạng: Bảng số liệu, biểu đồ giúp cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác và đảm bảo độ tin cậy
8 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ ở trường mầm non
Trang 18Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ ở các trường mầm non Thành phố Cẩm Phả, Tỉnh Quảng Ninh
Ngoài ra, luận văn còn có phần: Mở đầu; kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em là một phần rất quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, của từng gia đình và của toàn xã hội
Trên thế giới cũng có nhiều tác giả nghiên cứu đến vấn đề CSGD trẻ nói chung và chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ mầm non nói riêng Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu:
Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của GV với chất lượng CSGD trẻ em, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2007) đã cho thấy rằng, những GV có trình độ cao hơn (trình độ cử nhân) thì có tác động tích cực đến chất lượng CSGD trẻ Nghiên cứu này chỉ ra rằng ảnh hưởng về kết quả CSGD trẻ của những GV có trình độ cử nhân thì khác đáng kể so với kết quả chăm sóc
từ các GV có trình độ GD thấp hơn [36]
Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối quan hệ giữa những đặc điểm của
GV và điều kiện lớp học với hoạt động chăm sóc trẻ, của 2 tác giả Andrew J và Robert C Pianta Trong tác phẩm đó chỉ ra rằng trình độ đào tạo, lĩnh vực đào tạo và những điều kiện của lớp học như kích thước lớp học, số lượng trẻ và chương trình CSGD trẻ có tác động gián tiếp đến việc học tập và phát triển thể chất của trẻ [1]
Một nghiên cứu khác của tác giả William Fowler vào năm 1980 trong đó chỉ ra những yếu tố nhằm nâng cao chất lượng CSGD trẻ có chất lượng cao có thể giúp phát triển tốt thể chất và tình cảm - xã hội cho trẻ [23]
Giáo sư Makoto Shichida của Nhật Bản đã viết trong cuốn “Phương pháp Shichida” về tầm quan trọng của dinh dưỡng có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự
Trang 20phát triển thể chất và nhân cách của trẻ [23] Đây là phương pháp giáo dục cân nhắc đến những tác động, kích thích tích cực để giúp não bộ phát triển một cách toàn diện mà không tạo ra sự chênh lệch giữa não trái và não phải Các bán cầu não sẽ được chú trọng kích thích sự phát triển theo đúng giai đoạn phát triển sinh học của trẻ nhằm phát triển hết tiềm năng của bé Bên cạnh đó, các bài tập thể dục và chế độ dinh dưỡng thích hợp rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ Và quan trọng hơn cả, phương pháp giáo dục Shichida đặt mục tiêu giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ lên hàng đầu Cụ thể là dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, cách bé suy nghĩ độc lập, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng Phương pháp giáo dục này sẽ giúp trẻ phát triển động cơ học tập, cũng như niềm vui tò mò, khám phá những điều mới và thế giới quan xung quanh trẻ
Nghiên cứu về phòng chống thương tích ở trẻ em và vị thành niên: Lời kêu gọi hành động toàn cầu Genave Tổ chức Y tế thế giới và UNICEF, 2005
Nghiên cứu về Phòng chống thương tích ở trẻ em và vị thành niên: Một kế hoạch hành động của WHO Geneva; Tổ chức y tế thế giới 2006
Công ước về quyền trẻ em, 1989 New York, NY, liên hợp quốc, 1989 Một nghiên cứu khác của 2 tác giả Andrew J và Robert C Pianta cũng chỉ
ra mối quan hệ giữa những đặc điểm của GV và điều kiện lớp học với hoạt động chăm sóc trẻ Trong tác phẩm đó chỉ ra rằng trình độ đào tạo, lĩnh vực đào tạo và những điều kiện của lớp học như kích thước lớp học, số lượng trẻ và chương trình CSGD trẻ có tác động gián tiếp đến việc đảm bảo an toàn cho trẻ ở trường mầm non
Như vậy, các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe trẻ em nói chung và chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ trong trường mầm non nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu khá nhiều, nhưng những nghiên cứu về quản
lý hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ trong trường mầm non thì hầu như có rất ít tài liệu đề cập đến
Trang 211.1.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Để nâng cao chất lượng CSGD trẻ em ở trường mầm non nói chung và chăm sóc về mặt thể chất cho trẻ nói riêng Ở nước ta cùng với những kết quả đã đạt được trong thực tế hoạt động chăm sóc, thì các nhà nghiên cứu cũng luôn quan tâm đến việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp tốt nhất để chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ
Các công trình được nghiên cứu sớm đã tập trung vào nội dung nghiên cứu
về tổ chức bữa ăn để đảm bảo sự phát triển thể chất cho trẻ, cụ thể: công trình nghiên cứu: “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” của tác giả Lê Thị Khánh Hoà (1983) có đưa ra khảo sát khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường mầm non Kết qủa nghiên cứu cho thấy tình hình cung cấp năng lượng cho trẻ ở trường mầm non còn thấp so với tiêu chuẩn; tỉ lệ các chất sinh năng lượng chưa cân đối, chưa hợp lý, trong đó lượng Gluxit quá cao, còn lượng Lipit thì quá thấp Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một nguyên nhân dẫn đến tình hình trên như: bếp
ăn mới được hình thành, cơ sở vật chất thiếu thốn, có nhiều quan niệm coi nhẹ việc nuôi nên các hình thức tổ chức còn nghèo nàn Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho các trường mầm non để đảm bảo cho việc tổ chức ăn cho trẻ; đào tạo đội ngũ cô nuôi có trình độ hiểu biết về dinh dưỡng cho trẻ… và công trình nghiên cứu: “Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm (1989) và “Tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc (1992) cũng cho thấy việc cung cấp dưỡng chất cơ bản (Gluxit, Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non của ta hiện nay còn thấp Chúng ta mới chỉ cung cấp được khoảng 70% nhu cầu cần thiết tối thiểu năng lượng cho trẻ mẫu giáo và năng lượng đó chủ yếu là do Gluxit mang lại Mặt khác hai tác giả cũng nhấn mạnh việc nâng cao hơn nữa kiến thức khoa học
về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đối với các cơ sở nuôi dạy trẻ là cần thiết, tránh tình trạng cho ăn theo kinh nghiệm hoặc tổ chức dinh dưỡng thiếu lí luận toàn
Trang 22diện, chặt chẽ và kém hiệu quả Đồng thời, nhà trường và gia đình cần có sự hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ giữa nuôi và dạy, giữa sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của trẻ mẫu giáo
Một nghiên cứu năm 2001, cuốn sách “Kỹ năng và bài tập thực hành
quản lý trường mầm non của hiệu trưởng” của tác giả Trần Bích Liễu, cuốn
sách cung cấp những tri thức khoa học về nghiệp vụ quản lý trường mầm non
và hệ thống các bài tập hình thành các kỹ năng cơ bản của người hiệu trưởng [38]
Những năm gần đây có một số tác giả tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động chăm sóc, GD trẻ mầm non và đã đề ra những biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non đã cung cấp nhiều kiến thức lý luận và thực tế cho các nhà quản lý GD mầm non như:
Đề tài luận văn thạc sĩ: “Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng nuôi dưỡng trẻ trong các trường mẫu giáo quận Thanh Xuân - Hà Nội”
của tác giả Dương Thúy Quỳnh, năm 1999 đó phân tích thực trạng hoạt động nuôi dưỡng trẻ ở các trường mẫu giáo quận Thanh Xuân và đề ra một số biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ nhằm góp phần làm giảm tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo ở quận Thanh Xuân [14]
Sáng kiến kinh nghiệm về “Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương
tích cho trẻ trong trường mầm non” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh (2015) đã đề
xuất 05 biện pháp để nâng cao hiệu quả phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non, bao gồm: (1) Xây dựng kế hoạch hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ; (2) Nâng cao nhận thức của giáo viên về cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ; (3) Chỉ đạo giáo viên tích hợp lồng ghép nội dung giáo dục phòng tránh tai nạn thương tích thông qua các hoạt động; (4) Chỉ đạo giáo viên cho trẻ tiếp cận với công nghệ thông tin nhằm phòng tránh tai nạn thương tích; (5) Tuyên truyền về kiến thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích với các bậc phụ huynh học sinh Theo tác giả, việc áp dụng các biện pháp
đó sẽ mang lại 03 lợi ích: (1) Giúp giáo viên hiểu sâu hơn về một số tai nạn
Trang 23thường xẩy ra cho trẻ để từ đó có kỹ năng trong việc sơ cứu ban đầu cũng như cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ; (2) Giúp trẻ có những hiểu biết cơ bản về một số loại tai nạn thương tích, đồ dùng đồ chơi, một số nơi có nguy cơ xẩy ra tai nạn thương tích cũng như có một số kỹ năng trong việc phòng tránh tai nạn thương tích xây ra cho bản thân và bạn bè xung quanh; (3) Tăng cường nhận thức của phụ huynh về vấn đề này, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm cùng kết hợp với giáo viên và nhà trường giáo dục trẻ phòng tránh tai nạn thương tích [26]
Đề tài luận văn thạc sĩ: “Nâng cao năng lực quản lý của hiệu trưởng
trường mầm non quận Hai Bà Trưng” của tác giả Bùi Thị Kim Xuân, 2004 đã
đề ra một số biện pháp giúp cho hiệu trưởng các trường mầm non của quận Hai
Bà Trưng nâng cao năng lực quản lý để thực hiện tốt hơn các công tác quản lý trường mầm non trong giai đoạn tiếp theo [9]
Đề tài luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý thực hiện chương trình thí điểm
GD mầm non của hiệu trưởng trường mầm non” của tác giả Vũ Thị Thu Hằng,
năm 2008 Đề tài đã cung cấp hệ thống lý thuyết về việc thực hiện chương trình thí điểm GD mầm non và đã đề ra những biện pháp quản lý giúp hiệu trưởng thực hiện tốt chương trình thí điềm GD mầm non mà Bộ GD đề ra Trong đó chú trọng đến kỹ năng lập kế hoạch của người hiệu trưởng trường mầm non [42]
Sáng kiến kinh nghiệm về “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng
tránh tai nạn thương tích cho trẻ 24-36 tháng tại trường mầm non A xã Ngọc Hồi” tại của tác giả Trịnh Thị Lan Ngọc (2014) đã một mặt trang bị những
phương pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ hiệu quả,
từ đó làm tiền đề cho việc giáo dục những kỹ năng sống khác, đồng thời nâng cao sự tự tin trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ của giáo viên; mặt khác đưa ra phương pháp giúp hình thành thói quen và kỹ năng cần thiết trong độ tuổi của trẻ, để trẻ có thể tự bảo vệ bản thân trước những mối nguy hiểm thường trực xung quanh trẻ, giúp trẻ nhận biết được điều nên làm và không nên làm phù hợp
Trang 24với hoàn cảnh cụ thể, đồng thời đưa ra các biện pháp giúp trẻ tự tin, có phản ứng nhanh để vượt qua các mối nguy hiểm trong cuộc sống [39]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trình bày trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến công tác CSGD trẻ em ở trường mầm non, các giải pháp nâng cao chất lượng CSGD Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
về quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non Quản lý hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ là vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GD trẻ em ở các trường mầm non, cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng vào các trường mầm non khác nhau trên phạm vi vùng, miền và quốc gia
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Tai nạn thương tích
Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: Tai nạn là một sự kiện không định trước gây ra thương tích có thể nhận thấy được Trong đó, thương tích là tổn thương của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, bức xạ ion, chất phóng xạ ) quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mất nhiệt Thương tích có thể lý giải được
và có thể phòng tránh được Tuy nhiên, khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và thương tích, do vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của
Việt Nam thường dùng chung thuật ngữ “tai nạn thương tích”
Tai nạn thương tích là tổn thương có chủ định hoặc không có chủ định liên quan đến va chạm giao thông, ngã, điện giật, bỏng gây ra tổn thương chảy máu, phù nề, sây sát cần đến sự chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất là 1 ngày
* Phân loại tai nạn thương tích
Thương tích không chủ định, không chủ ý (thường hiểu là “tai nạn”) là
hậu quả của tai nạn giao thông, bị đuối nước, bỏng và ngã Thương tích không chủ ý cũng có thể do nghẹn hóc, ngộ độc, do bom mìn và các vật liệu nổ gây ra,
Trang 25do côn trùng và súc vật cắn đốt… Hầu hết các thương tích không chủ ý đều có
thể phòng tránh được
Thương tích có chủ định, có chủ ý gây nên do sự chủ định của con người
(người chủ định gây thương tích cho người khác hoặc do bản thân người bị thương tích tự gây ra) như: Bị sát thương do chiến tranh, tự sát thương, tự tử,
thương tật do bạo lực, lạm dụng hoặc bị bỏ rơi
1.2.2 Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non
Phòng chống tai nạn thương tích được hiểu là hệ thống biện pháp của chủ thể nhằm giảm thiểu hoặc hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thương đối với
cơ thể con người
Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non là hệ thống biện pháp của nhà quản lý, giáo viên, cha mẹ trẻ phối hợp với nhau trong công tác chăm sóc trẻ, để bảo vệ bản thân trẻ, tạo môi trường an toàn cho trẻ được tham gia hoạt động, vui chơi, học tập
Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non có vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện mặt nhân cách của trẻ Thực vậy, phòng chống tai nạn thương tích tốt giúp cơ thể trẻ được khỏe mạnh, trẻ không bị tổn thương về
da thịt, giúp cho việc thực hiện các vận động được chính xác, nhanh nhẹn Sự khoẻ mạnh về cơ thể giúp trẻ tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh tốt hơn, trẻ tích lũy được vốn kiến thức, kỹ năng để có thêm kinh nghiệm, làm hành trang
để trải nghiệm cuộc sống
Hơn nữa, phòng chống được tai nạn thương tích cho trẻ sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không phát triển được tư duy Những tổn thương khi bị ngạt, hay bị vật nhọn đâm vào miệng cũng có thể tổn thương về ngôn ngữ của trẻ
Ngoài ra, phòng chống được tai nạn thương tích sẽ giúp trẻ phát triển về mặt tình cảm xã hội Trẻ được sống trong một môi trường an toàn, không làm tổn thương đến trẻ, trẻ cảm nhận được những tình cảm, sự yêu thương, quan tâm,
Trang 26chăm sóc của người lớn Qua đó trẻ biết yêu quý, trân trọng mọi người xung quanh, biết giúp đỡ người khác Không chỉ thế, còn giúp trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ Giáo viên tạo môi trường an toàn, đẹp sẽ giúp trẻ muốn cảm nhận được cái đẹp từ con người, môi trường Từ đó trẻ muốn tạo cho bản thân mình có những hành động, việc làm đẹp cho xã hôi, tạo ra một môi trường an toàn cho chính mình và cho cả mọi người
1.3 Hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
Thực hiện hoạt động phòng chống tai nạn thương tích hướng đến các mục tiêu sau:
- Đảm bảo sự tồn tại an toàn về thể chất cho trẻ: Cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, đảm bảo cho sự tồn tại về tính mạng của trẻ
- Đảm bảo sự phát triển về thể chất của trẻ, trong đó thể hiện tập trung ở
sự phát triển của sức khỏe, sức đề kháng; sự phát triển của các vận động cơ bản, các phẩm chất/tố chất vận động; các hệ sinh học và các giác quan
- Đảm bảo sự phát triển về nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội
và thẩm mỹ… trẻ không bị tổn thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ được tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh tốt hơn Trẻ tích lũy được vốn kiến thức, kỹ năng để có thêm kinh nghiệm, làm hành trang để trải nghiệm cuộc sống Hơn nữa, phòng chống được tai nạn thương tích cho trẻ sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là phương tiện của
tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không phát triển được tư duy Những tổn thương khi bị ngạt, hay bị vật nhọn đâm vào miệng cũng có thể tổn thương về ngôn ngữ của trẻ Ngoài ra, phòng chống được tai nạn thương tích sẽ giúp trẻ phát triển về mặt tình cảm xã hội Trẻ được sống trong một môi trường an toàn, không làm tổn thương đến trẻ, trẻ cảm nhận được những tình cảm, sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của người lớn Qua đó trẻ biết yêu quý, trân trọng mọi người xung quanh, biết giúp đỡ người khác Không chỉ thế, còn giúp trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ Các trường mầm non tạo môi trường an toàn, sạch đẹp sẽ giúp trẻ
Trang 27muốn cảm nhận được cái đẹp từ con người, môi trường Từ đó trẻ muốn tạo cho bản thân mình có những hành động, việc làm đẹp cho xã hôi, tạo ra một môi trường an toàn cho chính mình và cho cả mọi người
- Đảm bảo tạo cơ sở tốt nhất cho trẻ vào lớp 1 và nền tảng phát triển tốt cho những giai đoạn, độ tuổi sau của trẻ
Như vậy phòng chống tai nạn thương tích có vai trò hết sức to lớn đối với
sự phát triển cho trẻ Vì thế mỗi CBQL, GV, NV trong các nhà trường phải cùng nhau tìm những biện pháp để khắc phục đến mức tối thiểu những tai nạn cho trẻ
Vì trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ mà chúng ta ươm mầm xanh cho tổ quốc
1.3.2 Yêu cầu và nội dung phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở trường mầm non
Yêu cầu trong phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ:
Căn cứ vào đặc thù đối tượng trẻ mầm non từ 3 tháng đến 6 tuổi và mục tiêu của giáo dục mầm non, công tác phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ cần đảm bảo các yêu cầu sau:
* Tạo môi trường an toàn cho trẻ về thể lực sức khoẻ:
- Đảm bảo trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, vệ sinh và phòng tránh bệnh tật tốt
- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Nước uống và nước sinh hoạt dùng cho trẻ đảm bảo vệ sinh
- Tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo cần có đồ dùng sơ cứu và các loại thuốc thông thường sử dụng cho trẻ
* Tạo môi trường an toàn cho trẻ về tâm lý:
- Tạo cảm giác an toàn cho trẻ khi đến trường, lớp mầm non
- Giáo viên thương yêu và đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ
- Giáo viên dành thời gian tiếp xúc vui vẻ với trẻ, tạo không khí thân mật như ở gia đình, tạo cảm giác yên ổn cho trẻ khi ở trường/lớp, trẻ tin tưởng rằng
cô yêu trẻ
Trang 28- Tránh gò ép, dọa nạt, phê phán trẻ Đặc biệt quan tâm chăm sóc trẻ mới đến lớp, nhóm trẻ và các trẻ có nhu cầu đặc biệt
* Tạo môi trường an toàn cho trẻ về tính mạng:
- Không để xảy ra tai nạn và thất lạc trẻ;
- Có hàng rào bảo vệ xung quanh khu vực trường (lớp, nhóm) Sân chơi
và đồ chơi ngoài trời phù hợp với lứa tuổi, tránh trơn trượt Trường và lớp học không gần đường giao thông
- Bảo đảm đủ ánh sáng cho lớp học, nhóm trẻ (bằng hệ thống cửa sổ hoặc đèn chiếu sáng)
- Tạo không gian cho trẻ hoạt động trong lớp, tránh kê, bày quá nhiều, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi trong nhóm hợp lý
- Đảm bảo đồ dùng, đồ chơi sạch sẽ; Các đồ dùng, đồ chơi nguy hiểm cho trẻ phải được cất ngoài tầm với của trẻ Khi cho trẻ sử dụng các đồ chơi phải có
sự giám sát chặt chẽ của giáo viên và người trông trẻ
- Nhà vệ sinh phù hợp với lứa tuổi, tránh để sàn bị trơn gây trượt Các bể chứa nước, miệng cống phải có nắp đậy kín
- Không để trẻ tiếp xúc hoặc nhận quà từ người lạ
- Giáo viên, người trông trẻ cần có ý kiến kịp thời những vấn đề về cơ sở vật chất chưa đảm bảo an toàn cho trẻ tại nhóm, lớp mình phụ trách với ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh học sinh và cùng nhau bàn bạc để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp tạo môi trường an toàn cho trẻ
Nội dung và biện pháp phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ:
* Phòng tránh trẻ thất lạc:
- Giáo viên nhận trẻ trực tiếp từ người của gia đình trẻ;
- Đếm và kiểm tra trẻ nhiều lần trong ngày, chú ý những lúc đưa trẻ ra ngoài lớp trong các hoạt động ngoài trợi hoặc tham quan; Bàn giao số trẻ khi giao ca
- Giáo viên phải ở lại lớp cho tới khi trả hết trẻ;
- Chỉ trả trẻ cho cha mẹ trẻ, cho người lớn được ủy quyền, không trả trẻ cho người lạ
Trang 29* Phòng tránh dị vật đường thở:
- Không cho trẻ cầm các đồ chơi quá nhỏ có thể cho vào miệng mũi;
- Khi cho trẻ ăn các quả có hạt cần bóc bỏ hạt trước khi cho trẻ ăn;
- Giáo dục trẻ lớn khi ăn không được vừa ăn, vừa đùa nghịch hoặc nói chuyện
- Không ép trẻ ăn uống khi trẻ đang khóc; Thận trọng khi cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các thuốc dạng viên
- Cần nắm vững cách phòng tránh dị vật đường thở cho trẻ và có một số
kỹ năng đơn giản giúp trẻ loại dị vật đường thở ra ngoài
- Khi xảy ra trường hợp bị dị vật đường thở, cần bình tĩnh sơ cứu cho trẻ, đồng thời báo cho gia đình và đưa trẻ tới nơi gần nhất để cấp cứu cho trẻ
* Phòng tránh đuối nước:
- Nếu có điều kiện nên dạy trẻ tập bơi sớm
- Rào ao, các hố nước, kênh mương cạnh trường (hoặc lớp học)
- Không bao giờ để trẻ ở một mình ở dưới nước hoặc ở gần nơi nguy hiểm Nhắc nhở cha mẹ khi đưa trẻ đi đến trường và từ trường về nhà, nếu phải đi qua những nơi nguy hiểm như ao, hồ, kênh rạch phải luôn để mắt tới trẻ Lớp học được tổ chức ở các bè nổi trên mặt nước phải có biện pháp bảo vệ để tránh để trẻ ngã xuống nước
- Tại các lớp học, không nên để trẻ chơi một mình vào nơi chứa nước, kể
cả xô nước, chậu nước Giám sát khi trẻ đi vệ sinh, khi trẻ chơi gần khu vực có chứa nguồn nước
- Giếng nước, bể nước phải xây cao thành, có nắp đậy Các dụng cụ chứa nước như chum, vại… phải có nắp đậy chắc chắn
Trang 30- Không để trẻ nghịch diêm, bật lửa và các chất khác gây cháy bỏng Để diêm, bật lửa, nến, đèn dầu, bàn là, vật nóng xa tầm với của trẻ hoặc để ở nơi an toàn đối với trẻ
- Giáo dục cho trẻ nhận biết đồ vật và nơi nguy hiểm có nguy cơ gây cháy, bỏng
- Thuốc chữa bệnh để trên cao ngoài tầm với của trẻ
- Không cho trẻ chơi đồ chơi có hóa chất
- Không cho trẻ tiếp xúc với thuốc trừ sâu; Không đựng thuốc trừ sâu, thuốc chuột, dầu hỏa… trong vỏ chai nước ngọt, nước khoáng, lon bia, chai dầu
ăn, cốc…
* Phòng tránh điện giật:
- Đặt ổ điện, bảng điện ngoài tầm với của trẻ; luôn đậy nắp các ổ điện
- Khi thiết bị điện bị hở không được sử dụng và có biện pháp sửa chữa ngay
- Giáo dục trẻ không nghịch, chọc vào ổ điện, không tự động cắm các đồ dùng vào các ổ cắm điện
Trang 31* Phòng tránh tai nạn giao thông:
- Khi cho trẻ đi bộ: Dắt trẻ di trên vỉa hè, đi phía bên tay phải để tạo thói quen cho trẻ
- Tuyên truyền cho phụ huynh khi đưa, đón trẻ bằng xe đạp, xe máy; Không để cho trẻ dưới 15 tuổi đèo em đi học
* Phòng tránh động vật cắn:
- Không cho trẻ đến gần chó, mèo lạ; xích hoặc đeo rọ mõm cho chó
- Không để trẻ chơi gần các bụi rậm, đề phòng rắn cắn, ong đốt
1.3.3 Phương pháp và hình thức phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ mầm non
1.3.3.1 Phòng chống tai nạn thương tích trong tổ chức cho trẻ ăn
Khoa học dinh dưỡng cho chúng ta biết: Thức ăn, các chất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể Các vật liệu này thường xuyên đổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hoá các chất trong cơ thể ngược lại, khi
cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không thể phát triển bình thường và đó là nguyên nhân gây ra bệnh tật, như suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì sự ăn uống có
sự ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của trẻ Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy
đủ thì da dẻ hồng hào và cân nặng đảm bảo Tuy nhiên, để tổ chức bữa ăn cho trẻ được khoa học và đảm bảo an toàn thì GV, NV phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
Những thương tích có thể xảy ra với trẻ trong quá trình tổ chức bữa ăn là: Hóc sặc thức ăn, hóc sặc dị vật đường thở, bỏng ; ngã do chệch tư thế ngồi… Trong tổ chức ăn, giáo viên cần đảm bảo thực hiện cách thức sau:
* Trước khi ăn
- Kê bàn ghế ở khu vực phòng ăn gọn gàng, ngăn nắp không ảnh hưởng đến việc di chuyển của trẻ và giáo viên, nhân viên
- Hướng dẫn trẻ sắp xếp bàn ghế, cho 4 - 6 trẻ ngồi một bàn, có lối đi quanh bàn dễ dàng
Trang 32- Chuẩn bị khăn mặt, bát, thìa, cốc uống nước đầy đủ cho số lượng trẻ
- Trước khi chia thức ăn, giáo viên cần rửa tay sạch, quần áo và đầu tóc gọn gàng
- Giáo viên mang thức ăn và cơm vào phòng ăn để đúng nơi quy định, chia cơm và thức ăn ra từng bát, trộn đều, không để quá nóng
* Trong khi ăn
- Kiểm tra thức ăn trước khi cho trẻ ăn, uống; tránh cho trẻ ăn thức ăn, nước uống còn quá nóng
- Không ép trẻ ăn, uống khi trẻ đang khóc, trẻ vừa ăn, vừa cười đùa hoặc khi trẻ đang khóc mà giáo viên cố ép trẻ ăn, uống đều rất dễ gây sặc cho trẻ Vì thế giáo viên phải để trẻ ăn trong tâm trạng thật thoải mái, không cố ép trẻ;
- Khi ăn cần cho trẻ ăn ở tư thế ngồi, nhắc trẻ ăn từ từ, nhai kỹ; giáo dục trẻ khi ăn không được vừa ăn, vừa đùa nghịch, nói chuyện dễ bị sặc, nghẹn
- Khi cho trẻ ăn các quả tráng miệng lên chọn các loại quả không có hạt nếu có hạt cần chú ý bóc bỏ hạt trước khi đưa lên lớp
- Thận trọng khi cho trẻ uống thuốc, đặc biệt là các thuốc dạng viên
- GV, NV cần vui vẻ, lời nói dịu dàng, tạo không khí thoải mái cho trẻ trong khi ăn Động viên, khuyến khích trẻ ăn hết suất, kết hợp giáo dục dinh dưỡng, hành vi vệ sinh văn minh trong ăn uống; dạy cho trẻ biết mời cô và các bạn trước khi bắt đầu ăn; ngồi ăn ngay ngắn, không co chân lên ghế; cầm thìa bằng tay phải và tự xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vãi; ăn từ tốn, nhai kĩ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn…
- GV, NV cần chăm sóc, quan tâm hơn với trẻ mới đến lớp, trẻ yếu hoặc mới ốm dạy Nếu thấy trẻ ăn kém, giáo dục không được ép trẻ ăn, không cho trẻ
ăn quá no Đối với trẻ xúc chưa thạo, ăn chậm hoặc biếng ăn, giáo viên có thể giúp trẻ xúc và động viên trẻ ăn khẩn trương hơn; có biện pháp phòng tránh hóc sặc trong khi trẻ ăn
* Sau khi ăn
- Hướng dẫn trẻ đi lại trật tự không chạy nhảy, xếp bát, thìa, ghế vào nơi quy định, uống nước, lau miệng, lau tay sau khi ăn, đi vệ sinh (nếu trẻ có nhu cầu)
Trang 33- Cho trẻ đi lại nhẹ nhàng, nghỉ ngơi sau khi ăn rồi mới vào phòng ngủ
1.3.3.2 Phòng chống tai nạn thương tích trong tổ chức cho trẻ ngủ
Ngủ là một nhu cầu thiết yếu, rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của trẻ Việc tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ trường mầm non là đáp ứng một nhu cầu hết sức tự nhiên và chính đáng của trẻ Giấc ngủ là một hiện tượng ức chế mang tính chất phòng chống hay bảo vệ thần kinh trên vỏ não Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ bản ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và của cơ thể Những đứa trẻ ngủ theo quy luật bình thường, ngủ đủ thời gian, ngủ ngon giấc thì tinh thần luôn sảng khoái và phát triển tốt Trẻ ngủ
ít thì sự mệt mỏi thái quá càng dồn lại và sự hưng phấn xúc cảm tiêu cực càng dễ phát sinh, điều đó càng thể hiện sự trái tính trái nết của trẻ Giấc ngủ tốt vừa là một trong những điều kiện căn bản, vừa là một trong những dấu hiệu của sức khỏe trẻ em Vì vậy vai trò của giấc ngủ trưa rất quan trọng Thời gian dành cho giấc ngủ trưa tuy chỉ chiếm một lượng nhỏ, bằng 1/5 thời gian giấc ngủ đêm, song nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt đối với cơ thể Giấc ngủ trưa có tác dụng làm giảm bớt sự mệt mỏi do hoạt động, khôi phục lại tinh thần, sức lực của trẻ
Để thực hiện tốt và đảm bảo an toàn khi tổ chức giấc ngủ cho trẻ GV, NV cần chuẩn bị tốt các yêu cầu sau:
* Chuẩn bị trước khi ngủ:
- Trước khi ngủ, giáo viên nhắc nhở trẻ đi vệ sinh, đi lại nhẹ nhàng trước khi vào phòng ngủ Hướng dẫn trẻ tự lấy gối, chăn…; kiểm tra chăn gối của trẻ cẩn thận trước khi trẻ sử dụng
- Bố trí chỗ ngủ cho trẻ sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông; phòng ngủ nên giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt một số cửa sổ hoặc tắt bớt điện
- Cho trẻ nằm theo tổ hoặc nam một dãy, nữ một dãy để giáo viên dễ bao quát trẻ; Tuyệt đối không cho trẻ nằm gần các vật dụng có kích thước lớn như:
Tủ, giá đồ chơi, ti vi, điều hòa Không cho trẻ mang theo đồ chơi đi ngủ, không cho trẻ nằm sấp khi ngủ
Trang 34- Khi đã ổn định chỗ ngủ, giáo viên có thể hát hoặc cho trẻ nghe những bài hát ru, dân ca êm dịu để trẻ dễ đi vào giấc ngủ Với những cháu khó ngủ, cô gần gũi, vỗ về cho trẻ yên tâm vào giấc ngủ
* Trong khi ngủ:
- Trong thời gian trẻ ngủ, giáo viên phải luôn luôn có mặt để theo dõi lúc trẻ ngủ, sửa lại tư thế để trẻ ngủ thoải mái, không để trẻ chúi mặt vào gối hoặc trùm chăn kín
- Mùa hè nếu dùng quạt điện, chú ý vặn tốc độ vừa phải và để xa, từ phía chân trẻ Mùa đông chú ý đắp chăn ấm cho trẻ Cho phép trẻ đi vệ sinh trong khi ngủ khi trẻ có nhu cầu
- Quan sát, phát hiện kịp thời và xử lý các tình huống có thể xảy ra trong khi trẻ ngủ
- Có thái độ ân cần cho trẻ ngủ, giúp trẻ nằm đúng tư thế (không nằm sấp, không nằm co ro đầu gối)
- Giúp đỡ riêng cho trẻ yếu
* Sau khi ngủ dậy:
- Do nhu cầu ngủ của mỗi trẻ cũng khác nhau nên đến cuối thời gian ngủ, nếu có trẻ còn ngủ thì không được trẻ đánh thức trẻ dậy đồng loạt (trẻ nào thức giấc trước cô cho dậy trước), tránh tình trạng dậy đồng loạt một lúc ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ và sinh hoạt của lớp Không nên thức trẻ dậy đột ngột dễ gây cho trẻ cáu kỉnh, mệt mỏi
- Sau khi trẻ dậy hết, cô hướng dẫn trẻ tự làm các công việc vừa sức với trẻ như: cất gối, chiếu Có thể chuyển dần từ trạng thái ngủ sang hoạt động khác bằng cách cho trẻ hát một bài hát hoặc cho trẻ vận động nhẹ nhàng Cô bật đèn,
mở cửa sổ từ từ Cô nhắc nhở trẻ đi vệ sinh, sau khi trẻ tỉnh táo cho trẻ ăn quà chiều
1.3.3.3 Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong tổ chức hoạt động học
Các bài học được thiết kế dưới dạng các hoạt động, các trò chơi dễ gần, dễ hiểu giúp trẻ tiếp nhận kiến thức dễ dàng hơn Học thông qua chơi và khi chơi thực chất là đang học Cũng bằng hình thức chơi, trẻ vui vẻ tham gia lĩnh hội bài
Trang 35học mà không một sự gượng ép hay áp lực Cứ thế các bài học cuộn chảy về miền tri thức trẻ thơ một cách tự nhiên
Sự phát triển của trẻ diễn ra trong quá trình trẻ tương tác với môi trường xung quanh, với đồ dùng đồ chơi Trẻ học một cách tự nhiên và tích cực Như vậy, việc học tập sẽ có hiệu quả khi trẻ tích cực tham gia và thu hút vào thực hiện các nhiệm vụ mà chùng cho là có ý nghĩa Điều đó có nghĩa trẻ phải được hoạt động Việc tổ chức cho trẻ học chính là tạo các cơ hội để trẻ quan sát, nghiên cứu, khám phá, trải nghiệm các hoạt động thực hành Những hoạt động này phải dựa trên nhu cầu và hứng thú của trẻ Nếu việc học được tổ chức như vậy thì trẻ
sẽ là người học tích cực trong quá trình đó
Trẻ nhỏ học tất cả những gì xảy ra đối với chúng và không chia tách việc học thành các môn học Các trải nghiệm học tập của chúng cần tích hợp thành một thể thống nhất Các hoạt động liên môn này giúp trẻ hiểu các kiến thức và
kỹ năng liên kết với nhau như thế nào hơn là tách riêng trong quá trình dạy và học Trong hoàn cảnh có ý nghĩa, trẻ phát hiện sự vật từ quan sát, nghiên cứu, khám phá và các hoạt động thực hành
Những kinh nghiệm học tập từ lĩnh vực này có thể một cách tự nhiên dẫn đến kinh nghiệm học tập ở lĩnh vực khác Cách dạy tập trung theo chủ để làm cho hoạt động học tập mang tính thực tiễn hơn là chỉ tập trung vào kiến thức và
kỹ năng Chủ đề bao gồm những kinh nghiệm mắt thấy tai nghe và những hoạt động dựa trên việc học và đưa ra cho trẻ nhiều sự lựa chọn hơn về những điều
mà chúng sẽ làm Dạy theo chủ đề cũng mang đến cho người học nhiều kiến thức hơn là kiểu dạy theo đơn vị bài học Tuy nhiên, tổ chức giáo dục theo chủ để chỉ mang lại hiệu quả khi giáo viên kết hợp chặt chẽ những qui tắc sau thành một kế hoạch và thực hiện đầy để những nội dung của chúng
- Những nội dung phải liên quan tới những kinh nghiệm trong đời sống thực của trẻ và dựa trên những cái mà chúng biết
- Mỗi một chủ đề nên đưa ra một vấn đề cho trẻ khám phá nhiều hơn Tầm quan trọng của học theo chủ đề là giúp trẻ xây dựng nên những khái niệm hơn là mong chờ chúng nhớ được những thông tin riêng rẽ
Trang 36- Mọi chủ đề nên được hỗ trợ bởi một cấu trúc khái niệm mà giáo viên đã nghiên cứu đầy đủ
- Để cho các chủ đề/chủ điểm thực sự gây hứng thú ở trẻ thì chúng thường nảy sinh từ một sự kiện bất ngờ, những khêu gợi sự tò mò của trẻ, chẳng hạn như nhìn thấy nhà bếp sau khi được sửa chữa lại hay nhìn thấy nhiều cái cây mới được trồng trong sân trường, điều đó sẽ liên quan đến chủ điểm về trường mầm non Các chủ đề/chủ điểm phải là một diều gì đó mà trẻ có thể học được trực tiếp
Mỗi mặt phát triển của trẻ cần được nhìn nhận và đánh giá Mỗi trẻ có cách học khác nhau, với hứng thú và khả năng khác nhau Giáo viên cần nhận thức được các nhu cầu và phát triển tối đa năng lực của mỗi cá nhân trẻ Cần được tạo
cơ hội để trẻ khám phá và thử nghiệm phát triển trí tuệ đa dạng của mình 4 lĩnh vực quan trọng của trải nghiệm học tập được xác định đối với các mục đích:
1.3.3.4 Phòng chống tai nạn thương tích trong tổ chức hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động không thể thiếu được của trẻ ở mọi lứa tuổi đặc biệt là lứa tuổi mầm non Hoạt động vui chơi có tác động tích cực tới sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ Qua vui chơi không những hình thành cho trẻ óc tưởng tượng sáng tạo, phát triển ngôn ngữ và tăng cường khả năng nhận thức mà còn giúp trẻ thể hiện năng lực, kỹ năng, tình cảm, nguyện vọng và mối liên hệ với những người xung quanh Chỉ khi chơi trẻ mới tích cực tìm hiểu sự vật để thoả mãn nhu cầu nhận thức Chơi là một cách để trẻ học, là con đường để giúp trẻ lớn lên và phát triển nhân cách toàn diện
Như vậy, hoạt động vui chơi được nhìn nhận với phương diện như là phương tiện để giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non Vui chơi của trẻ là một hoạt động phản ánh sáng tạo độc đáo, thực hiện tác động qua lại giữa trẻ với trẻ, trẻ với môi trường xung quanh; trong vui chơi trẻ nhận thức được thế giới xung quanh, khi chơi các trò
Trang 37chơi trẻ lĩnh hội kinh nghiệm xã hội của người lớn một cách tự nhiên, lĩnh hội những kiến thức, những kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành động, những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc sống Trong vui chơi trẻ hoạt động tự lực, tự nguyện và tự tin; xã hội trẻ em được hình thành trong quá trình vui chơi sẽ phát triển việc tự tổ chức, hình thành và biểu hiện những phẩm chất mang tính xã hội: khả năng hoà nhập vào nhóm chơi, khả năng hoạt động đóng vai, khả năng phục tùng những yêu cầu của xã hội trẻ em và bộc lộ những khả năng riêng của trẻ
Hoạt động vui chơi của trẻ bao gồm: Hoạt động chơi ngoài trời, chơi tự do, hoạt động chơi ở các góc trong phòng nhóm, chơi các trò chơi có luật trong hoạt động học có chủ định, hoạt động chiều
Để thực hiện tốt và đảm bảo an toàn khi tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ GV, NV cần chuẩn bị tốt các yêu cầu sau:
* Chuẩn bị môi trường tổ chức hoạt động vui chơi: Chia diện tích phòng thành các góc hoặc các khu vực chơi khác nhau - Bố trí góc chơi ồn ào (góc xây dựng, góc gia đình) xa góc yên tĩnh (góc tạo hình, góc thư viện); Có góc cố định (góc tạo hình, góc gia đình, góc thư viện), có góc di động hoặc thay đổi tuỳ theo chủ đề chính của lớp trong thời gian đó; Lối đi lại giữa các góc đủ rộng cho trẻ di chuyển dễ dàng; Có ranh giới riêng giữa các góc (sử dụng giá, kệ để ngăn cách); Bố trí bàn ghế đệm gối phù hợp với từng góc (ví dụ: góc thư viện trải chiếu hoặc thảm, đệm gối để trẻ ngồi đọc sách, xem tranh hoặc có thể nằm thư giãn); Các khay đựng
đồ chơi, học liệu để mở, vừa tầm với của trẻ để trẻ dễ tiếp cận và sử dụng Không
bố trí góc quá kín hoặc xa tầm nhìn bao quát của giáo viên Đảm bảo an toàn (về đồ dùng-đồ chơi), giám sát chặt chẽ trẻ khi chơi Bố trí khu vực chơi ngoài trời: vị trí nơi chơi, chơi dụng cụ (vòng, bóng, xe kéo, xe đạp ), tất cả phải đảm bảo an toàn cho trẻ về độ phẳng của nền ciment, độ ánh sáng, độ an toàn của đồ chơi
Xây dựng hoạt động vui chơi ngoài trời thú vị và chú ý bố trí hợp lý không gian cho các trò chơi vận động, trò chơi xây dựng, trò chơi với cát nước Thiết kế
cả nơi để thư giãn, nghỉ ngơi (trong sân trường và trong lớp học) Trong khi trẻ chơi:
Có 2 hình thức của hoạt động vui chơi để giúp trẻ chơi có hiệu quả:
Trang 38a Chơi tự do:
Là hình thức chơi không có sự can thiệp hay tham gia trực tiếp của giáo viên; trẻ chơi dựa trên kinh nghiệm cá nhân một cách tự chủ; trẻ chủ động lựa chọn, tự định ra cách thức tiến hành và biết kiểm soát quá trình chơi; Trẻ thường chơi mải
mê, say sưa
Hình thức này thường được sử dụng cho trẻ chơi tự do, chơi mọi nơi mọi lúc Vai trò của giáo viên là quan sát và khuyến khích mở rộng hoạt động vui chơi của trẻ bằng cách đặt ra những câu hỏi gợi mở, khen ngợi động viên trẻ và dành chút ít thời gian cho từng trẻ
b Chơi có hướng dẫn của giáo viên theo cá nhân, nhóm và tập thể ở trong lớp hay ngoài trời:
- Chơi có sự gợi ý, tham dự thích hợp của giáo viên;
- Giáo viên hỗ trợ trẻ chơi: gợi ý kế hoạch chơi, dạy cách chơi; Vai trò của giáo viên là giới thiệu và giải thích một cách cụ thể và cẩn thận trò chơi cho trẻ;
- GV chọn những trò chơi có nội dung phù hợp với chủ đề
Như vậy, vai trò của GV trong việc tổ chức hoạt động vui chơi là tạo cơ hội
và hướng dẫn khi cần thiết như: Biết quan sát, lắng nghe; Cùng tham gia gợi ý; Cung cấp các cơ hội chơi; Chuẩn bị đồ dùng vật liệu
* Kết thúc hoạt động vui chơi:
Kết thúc hoạt động vui chơi, giáo viên hướng dẫn trẻ tự làm các công việc vừa sức với trẻ như: Cất dọn bàn ghế đồ dùng đồ chơi, vật liệu học tập, vệ sinh lớp học vệ sinh cá nhân… Trong khi trẻ cất dọn, giáo viên lưu ý chỉ cho trẻ tham gia vào các việc vừa sức với trẻ, tuyệt đối không để trẻ mang vác các vật nặng, để vật nặng lên giá cao quá tầm với của trẻ; Nhắc nhở trẻ không chạy nhảy khi cất dọn đồ chơi để tránh vấp ngã, không tranh giành đồ chơi với bạn; Nhẹ nhàng đi vệ sinh cá nhân dưới sự bao quát của giáo viên; Sau khi cất đồ chơi đúng nơi quy định có thể chuyển dần sang hoạt động khác bằng cách cho trẻ hát một bài hát hoặc cho trẻ vận động nhẹ nhàng
Trang 391.3.3.5 Phòng chống tai nạn thương tích trong thực hiện chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non
Thực hiện chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non là sự luân phiên rõ ràng và hợp lý các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ về nhu cầu ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt
Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để GD thể chất cho trẻ có kết quả Khi chế độ sinh hoạt trở thành thói quen thì nó giúp trẻ phát triển tính độc lập tích cực, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ có được những phẩm chất thói quen đạo đức, sinh hoạt, có nề nếp theo trật tự thời gian Thực hiện chế độ sinh hoạt cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Chế độ sinh hoạt ở trường mầm non được xây dựng trên cơ sở những đặc điểm sinh lý, tâm lý của trẻ, trên cơ sở nhiệm vụ GD và điều kiện sinh hoạt quyết định Chế độ sinh hoạt phải thể hiện rõ các hoạt động trong ngày của trẻ, được trình tự theo trình tự nhất định, phù hợp với chức năng cơ thể, với môi trường sống
Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo thời gian cần thiết cho mỗi hoạt động trong ngày phù hợp với nhu cầu sinh lý và khả năng hoạt động của các độ tuổi Ví dụ: Trẻ từ 1- 5 tháng ăn 6 bữa trong ngày; trẻ từ 5-12 tháng ăn 5 bữa trong ngày; trẻ
từ 12-72 tháng ăn bốn bữa trong ngày
Chế độ sinh hoạt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các hoạt động và nghỉ ngơi, giúp trẻ có thể tiến hành hoạt động dưới nhiều dạng khác nhau và tránh quá sức đối với trẻ Chế độ sinh hoạt phải được lặp đi lặp lại tránh xáo trộn nhiều để tạo thói quen, nề nếp cho trẻ Chế độ sinh hoạt phải được tổ chức một cách linh hoạt cho phù hợp đối với mọi trẻ; đồng thời chế độ sinh hoạt cần chú ý tới những đặc điểm riêng của từng trẻ: với những trẻ yếu, hệ thần kinh dễ bị kích thích thì cần tăng cường thời gian ngủ, nghỉ ngơi nhiều hơn các trẻ khác
Trang 40Để đảm bảo thực hiện đúng chế độ sinh hoạt, trường mầm non cần phải chia trẻ thành các nhóm khác nhau theo lứa tuổi Mỗi nhóm tuổi là một lớp và có chế độ sinh hoạt riêng, nhằm đảm bảo cho việc GD trẻ diễn ra thuận lợi và dễ dàng, giúp cơ thể trẻ phát triển tốt Các hoạt động diễn ra trong ngày của trẻ là
ăn ngủ, vui chơi, học tập, lao động… Các hoạt động này được phân định rõ ràng trong chế độ sinh hoạt theo trình tự và thời gian khác nhau theo lứa tuổi
Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không cứng nhắc, khi áp dụng với mỗi trẻ cần có sự linh hoạt thích hợp Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần thiết Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và chưa có biểu hiện mệt mỏi, có thể kéo dài thời gian 3-5 phút đối với tuổi mẫu giáo, nếu cần ngủ sớm hay dậy sớm khi
có yêu cầu, một số trẻ suy dinh dưỡng cần ăn bữa bổ sung
1.3.4 Giáo viên trong hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
* Vai trò của giáo viên trong hoạt động phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ:
Giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ bởi giáo viên là người tiếp xúc trực tiếp và gần gũi nhất với trẻ ở trường học Với đặc thù sinh hoạt nội trú trong trường học, suốt thời gian sinh hoạt ở trường, giáo viên là người lớn duy nhất trực tiếp tiếp xúc, bao quát, theo dõi, giám sát các hoạt động của trẻ Chính giáo viên là người có thể nhìn thấy nguy cơ sớm nhất những tai nạn có thể xảy ra với trẻ để từ đó có thể đưa ra biện pháp phòng ngừa, bảo vệ trẻ Xét về góc độ xây dựng môi trường an toàn, giáo viên cũng là người có đánh giá, cái nhìn thực tế và trực tiếp nhất đối với các vấn đề an toàn của trẻ cả về thân thể, tâm lý cũng như tính mạng
Mặt khác, khi tai nạn xẩy ra, giáo viên là người trực tiếp, dễ nhất và nhanh nhất thực hiện các biện pháp sơ cứu cần thiết để hạn chế thương tật cũng như kêu gọi các biện pháp hỗ trợ y tế, cấp cứu kịp thời Thời gian tiếp cận dịch vụ y tế trong cấp cứu là vô cùng quan trọng Với sự hỗ trợ kịp thời, sơ cứu đúng phương pháp sẽ giúp trẻ bảo đảm tính mạng, hạn chế tối đa thương vong cả thể xẩy ra