Nó bao gồm việc sử dụng các giá trị thay đổi hàng ngày của các biến thị trường đã được quan sát trong quá khứ theo cách trực tiếp để ước lượng sự phân bố xác suất của sự thay đổi giá trị
Trang 1Chương 13:
MÔ PHỎNG LỊCH SỬ VÀ
LÝ THUYẾT GIÁ TRỊ CỰC TRỊ
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Lớp Tài chính Khóa 26
1 Lê Thị Ngoan
2 Châu Thanh Hảo
3 Dương Thị An
Trang 3GIỚI THIỆU
Trong chương này, chúng ta đề cập đến cách tiếp cận phổ biến nhất để tính giá trị rủi ro (VaR) và Thâm hụt kỳ vọng (ES) cho rủi ro thị trường Đó được gọi là mô phỏng lịch sử Nó bao gồm việc sử dụng các giá trị thay đổi hàng ngày của các biến thị trường đã được quan sát trong quá khứ theo cách trực tiếp để ước lượng sự phân bố xác suất của sự thay đổi giá trị của danh mục hiện tại giữa ngày hôm nay và ngày mai
Trang 41 Phương pháp luận
Trang 5Khái niệm: Mô phỏng lịch sử liên quan đến việc sử dụng dữ liệu trong quá khứ dự phóng cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai
Ví dụ: Giả sử chúng ta muốn tính VaR cho một danh mục đầu tư sử dụng thời gian một ngày, mức độ tin cậy 99%,
và 501 ngày dữ liệu
Bước đầu tiên là xác định các biến số thị trường ảnh hưởng đến danh mục đầu tư Đây thường là tỷ giá hối đoái, lãi suất, chỉ số chứng khoán, v.v Dữ liệu sau đó được thu thập về sự biến động của các biến thị trường này trong 501 ngày gần nhất Điều này cung cấp 500 kịch bản thay thế cho những gì có thể xảy ra giữa ngày hôm nay và ngày mai.
Trang 6Công thức tính giá trị kịch bản ngày thứ i:
Giá trị kịch bản thứ i = v n 𝐯𝐢
𝐯
𝐢−𝟏
(13.1)
Trong đó: vi là giá trị của một biến thị trường vào ngày i
và giả sử ngày hôm nay là ngày n
Trang 7Ví dụ: Để minh họa các tính toán của phương pháp tiếp cận, giả sử một nhà đầu tư ở Hoa Kỳ là chủ sở hữu, vào ngày 25/9/2008, một danh mục trị giá 10 triệu USD bao gồm các khoản đầu tư vào bốn chỉ số chứng khoán như sau:
Trang 8Ví dụ: Vì chúng ta đang xem xét nhà đầu tư Hoa Kỳ, nên các giá trị của FTSE 100, CAC 40 và Nikkei 225 phải được đo bằng đô la Mỹ
Trích từ dữ liệu với tất cả các chỉ số được đo bằng
đô la Mỹ được thể hiện trong Bảng 13.2:
Trang 10Ngày 25 tháng 9 năm 2008, là một ngày thú vị để lựa chọn trong việc đánh giá đầu tư vốn cổ phần:
Sự hỗn loạn trong thị trường tín dụng, bắt đầu vào
Chương trình cứu trợ tài sản bị rắc rối trị giá 700
tỷ USD của Thư ký Bộ Tài chính chưa được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua
Trang 11Bảng 13.3 Cho thấy các giá trị của các chỉ số (đo
bằng đô la Mỹ) vào ngày 26/9/2008 cho các kịch bản được xem xét như sau:
Trang 12 DJIA là 11.022,06 vào ngày 25/9/2008 Vào ngày
8/8/2006, đã là 11.173,59, giảm từ 11.219,38 vào ngày 7/8/2006 Giá trị của DJIA trong Kịch bản 1 nên ta có:
Tương tự, giá trị của FTSE 100, CAC 40 và
Nikkei 225 (đo bằng USD) lần lượt là 9.569,23, 6.204,55 và 115,05 Giá trị của danh mục đầu tư trong Kịch bản 1 là (tính $000):
Trang 13 Sự thua lỗ cho 500 kịch bản khác nhau sau đó được
xếp hạng Rút ra từ kết quả này được thể hiện trong Bảng 13.4 Tình huống tồi tệ nhất là số 494 Giá trị rủi ro 99% trong một ngày có thể được ước tính là tổn thất tồi tệ nhất thứ năm là $253.385
Như được giải thích trong Phần 12.6, VaR 99% 10
ngày thường được tính bằng 10 lần so với VaR 99% trong một ngày Trong trường hợp này, VaR 10 ngày sẽ là
10 × 253.385 = 801.274
Trang 14 Hình 13.1 và Bảng 13.4 mô dữ liệu lịch sử của
tổn thất của các kịch bản được xem xét cho ngày 25-26/09/2008:
Trang 15Tóm lại:
Kịch bản i giả định rằng tỷ lệ phần trăm thay đổi trong các chỉ số từ ngày 25/9 đến ngày 26/9 giống như giữa ngày (i – 1) và ngày i cho 1 ≤ i ≤ 500
500 hàng trong Bảng 13.3 là 500 kịch bản
Trên thực tế, danh mục đầu tư của một tổ chức tài chính quốc tế phức tạp hơn nhiều so với danh mục chúng tôi đã xem xét ở đây Nó có khả năng bao gồm hàng ngàn hoặc hàng chục vị thế
Trang 16 Trung bình tổn thất cho các kịch bản này là
$327,18 Đây là dự báo thâm hụt dự kiến
Trang 17VaR tăng cường và ES tăng cường (Stressed VaR and Stressed ES)
Các tính toán cho trước cho rằng dữ liệu gần đây nhất
được sử dụng cho mô phỏng lịch sử vào bất kỳ ngày nào
Ví dụ, khi tính VaR và ES cho ví dụ 4 chỉ số, chúng ta
đã sử dụng dữ liệu từ 501 ngày liền ngay trước đó
Tuy nhiên, mô phỏng lịch sử có thể dựa trên dữ liệu
từ bất kỳ giai đoạn nào trong quá khứ
Các chu kỳ biến động cao sẽ có xu hướng mang lại
giá trị cao cho VaR và ES, trong khi những khoảng thời gian biến động thấp sẽ có xu hướng mang lại giá trị thấp
Trang 18VaR tăng cường và ES tăng cường (Stressed VaR and
Sự thay đổi trong các biến thị trường giữa Ngày 0 và Ngày 1 của khoảng thời gian 251 ngày được sử dụng để tạo ra kịch bản đầu tiên; các biến đổi thị trường giữa Ngày 1 và Ngày 2 của thời kỳ 251 ngày được sử dụng để tạo ra kịch bản thứ hai; và như vậy Tổng cộng có 250 kịch bản được tạo
ra
Một ngày 99% VaR tăng cường có thể được tính như là sự mất mát giữa
sự mất mát của kịch bản xấu thứ hai và sự mất mát của kịch bản xấu thứ
ba ES 99% trong một ngày có thể được tính như 0.4c1 + 0.4c2 + 0.2c3 trong đó c1, c2 và c3 là ba tổn thất tồi tệ nhất với c1> c2> c3
Trang 192 Độ chính xác của VaR
Trang 20 Cách tiếp cận mô phỏng lịch sử ước tính sự phân bố của
danh mục đầu tư thay đổi từ một số lượng giới hạn các quan sát Kết quả là, các ước lượng phân vị của phân phối có thể bị sai số
Kendall và Stuart (1972) mô tả cách tính khoảng tin cậy
cho phân vị của một phân bố xác suất khi chúng được ước tính từ dữ liệu mẫu
Giả sử phân vị q của phân phối được ước tính là x Sai
số chuẩn của ước tính là:
Trong đó: n là số quan sát và f(x) là
ước tính hàm mật độ xác suất của
tổn thất được đánh giá ở x
Độ chính xác của VaR
Trang 21Sử dụng Excel, phân vị thứ 99 là NORMINV (0.99,0,10) hoặc 23,26 Giá trị của f (x) là NORMDIST (23.26,0,10, FALSE) hoặc 0,0027
Trang 22VÍ DỤ 13.1
Sai số chuẩn của ước lượng được thực hiện là
Nếu ước lượng phân vị thứ 99 bằng cách sử dụng mô phỏng lịch sử là 25 triệu đô la, khoảng tin cậy 95% là từ [25 - 1,96 x 1,67] tới [25 + 1,96 x 1,67], tức là từ 21,7 triệu đô la đến 28,3 triệu đô la
Trang 23VÍ DỤ 13.1
Sai số chuẩn của VaR ước tính bằng cách sử dụng mô phỏng lịch sử có xu hướng khá cao Chỉ giảm xuống khi mức độ tin cậy của VaR giảm xuống Ví dụ, nếu trong ví dụ 13.1, mức độ tin cậy của VaR là 95% thay
vì 99%, sai số chuẩn sẽ là 0,95 triệu $ thay vì 1,67 triệu $
Sai số chuẩn giảm xuống khi kích thước mẫu tăng lên
- nhưng chỉ như là căn bậc hai của kích thước mẫu Nếu chúng ta tăng gấp bốn lần cỡ mẫu trong ví dụ 13.1 từ 500 lên 2.000 quan sát, sai số chuẩn đã giảm một nửa từ 1,67 triệu USD xuống còn khoảng 0,83 triệu USD
Trang 24 Ngoài ra, mô phỏng lịch sử giả định rằng sự phân bố
chung của biến thị trường hàng ngày là ổn định qua thời gian
Phân phối chuẩn không phải là một giả thuyết đặc biệt
tốt cho sự phân phối tổn thất, bởi vì tổn thất có đuôi lớn hơn phân phối bình thường (Độ dày của đuôi là 4,2 cho dữ liệu trong các bảng 13.1 đến 13.4)
Ước tính sai số chuẩn tốt hơn có thể đạt được bằng
cách giả sử phân phối Pareto cho f(x)
Trang 253 Mở rộng của cách tiếp cận mô phỏng lịch sử
Trang 2613.3 Mở rộng
Sự phân bố xác suất thực nghiệm ước
tính cho các biến số thị trường trong quá khứ là một hướng dẫn tốt cho hành vi của các biến thị trường trong tương lai
Sự biến động của một biến thị trường có
thể là cao hoặc thấp Trong phần này, đề cập đến các mở rộng của cách tiếp cận
mô phỏng lịch sử cơ bản trong Phần 13.1
để điều chỉnh cho sự không ổn định này
Trang 27* Trọng số các quan sát
Cách tiếp cận mô phỏng lịch sử cơ bản
giả định rằng mỗi ngày trong quá khứ được cho trọng số như nhau
Nếu quan sát thấy những thay đổi hằng
ngày, mỗi một trong số chúng được cho một trọng số là 1/n
Phương pháp trọng số tự nhiên là một
trong những phương pháp trọng số giảm theo cấp số nhân
Trang 28* Trọng số các quan sát
Trọng số được gán cho Kịch bản 1 (được tính
từ dữ liệu xa nhất) là λ lần được gán cho kịch bản 2 Điều này lần lượt là λ lần cho kịch bản 3, v.v Vì vậy mà các trọng số thêm lên đến 1, trọng số cho kịch bản i là:
Trong đó n là số kịch bản Khi λ số lần tiếp cận
1, phương pháp tiếp cận phương pháp mô phỏng lịch sử cơ bản, trong đó tất cả các quan sát được cho một trọng số 1/n
Trang 29 VaR được tính bằng cách xếp hạng các quan sát từ kết
quả xấu nhất Trọng số được tổng hợp cho đến khi đạt đến phần trăm bắt buộc của phân phối
Ví dụ, nếu chúng ta tính VaR với mức độ tin cậy 99%,
chúng ta tiếp tục đếm trọng số cho đến khi tổng kết vượt quá 0,01 => đạt đến mức VaR 99%
Một bất lợi của phương pháp trọng số mũ so với cách
tiếp cận mô phỏng lịch sử cơ bản là kích thước mẫu hiệu quả sẽ giảm Tuy nhiên, có thể bù đắp cho điều này bằng cách sử dụng một giá trị lớn hơn của n
* Trọng số các quan sát
Trang 30 Bảng 13.5 cho thấy kết quả của việc sử dụng phương pháp này cho danh mục đầu tư xem xét trong Phần 13.1 với λ = 0,995
* Trọng số các quan sát
Trang 31* Biến động của các biến thị trường
Hull và White (1998) đề xuất một cách kết hợp các ước
tính về sự biến động vào cách tiếp cận mô phỏng lịch sử
Xác định biến động hàng ngày của một biến thị trường
cụ thể ước tính vào cuối ngày i-1 là σi Giả sử rằng bây giờ là ngày n, ước tính hiện tại về sự biến động của biến thị trường là σn+1
Giả sử rằng σn+1 là hai lần σi đối với một biến thị
trường cụ thể Khi thực hiện mô phỏng lịch sử và tạo ra một mẫu những gì có thể xảy ra giữa ngày hôm nay và ngày mai dựa trên những gì đã xảy ra giữa i-1 và i, do đó
nó có ý nghĩa để nhân sau này bằng 2
Trang 32 Cách tiếp cận này có tính đến sự thay đổi biến
động một cách tự nhiên, trực quan và đưa ra các ước tính của VaR kết hợp nhiều thông tin hiện tại hơn Các ước tính VaR có thể lớn hơn bất kỳ tổn thất lịch sử nào có thể xảy ra cho danh mục đầu tư hiện tại trong giai đoạn lịch
sử xem xét
Ước tính VaR và ES sử dụng cách tiếp cận
điều chỉnh tính biến động sẽ có hiệu quả hơn
so với cách tiếp cận chuẩn
* Biến động của các biến thị trường
Trang 33 Bảng 13.6 cho thấy các ước tính biến động hàng ngày
được tính bằng phương pháp EWMA với thông số λ bằng 0.94 (Đối với dữ liệu trong Bảng 13.2 ):
* Biến động của các biến thị trường
Trang 34 Bảng 13.7 trích từ một bảng xếp hạng những thiệt hại
từ cao nhất đến thấp nhất So sánh với bảng 13.4 , chúng
ta thấy rằng tổn thất lớn hơn nhiều VaR 99% trong một ngày là 602,968 USD ES một ngày là 750,078 USD Gấp đôi so với các ước tính được đưa ra bởi tính toán tiêu chuẩn
* Biến động của các biến thị trường
Trang 35* Một cách tiếp cận đơn giản để điều chỉnh cho sự thay đổi biến động
Một biến thể của cách tiếp cận mà chúng ta vừa mô tả
là sử dụng EWMA để theo dõi mức độ sai lệch chuẩn của tổn thất mô phỏng được đưa ra bởi các kịch bản liên tiếp trong cách tiếp cận chuẩn
Điều chỉnh cho kịch bản lần thứ i bằng cách nhân sự
thiệt hại được đưa ra bởi cách tiếp cận chuẩn theo tỷ
lệ độ lệch chuẩn ước tính cho kịch bản cuối cùng (500) độ lệch chuẩn ước tính cho kịch bản lần thứ i
Trang 36 Bảng 13.8 cho thấy việc tính sai lệch tiêu
chuẩn danh mục đầu tư và những tổn thất được điều chỉnh
* Một cách tiếp cận đơn giản để điều chỉnh cho sự thay đổi biến động
Trang 37 Bảng 13.9 cho thấy các khoản lỗ được
điều chỉnh theo xếp hạng
* Một cách tiếp cận đơn giản để điều chỉnh cho sự thay đổi biến động
Trang 38* Phương pháp bootstrap
Phương pháp bootstrap là một biến thể của
cách tiếp cận mô phỏng lịch sử cơ bản, nhằm tính toán một khoảng tin cậy cho VaR
Nó liên quan đến việc tạo ra một thay đổi
trong giá trị danh mục đầu tư dựa trên sự biến động lịch sử trong các biến thị trường theo cách thông thường Sau đó lấy mẫu thay thế từ những thay đổi này để tạo nhiều
bộ dữ liệu tương tự mới
Trang 394 Các vấn đề về tính toán
Trang 404 Các vấn đề về tính toán
Mô phỏng lịch sử liên quan đến việc định giá
toàn bộ danh mục đầu tư của một tổ chức tài chính nhiều lần => Tính toán tốn thời gian
Để giảm thời gian tính toán, các tổ chức tài
chính đôi khi sử dụng một phép tính xấp xỉ delta-gamma Xem xét một công cụ có giá P, phụ thuộc vào một biến thị trường duy nhất S Ước tính gần đúng của sự thay đổi ΔP trong P
do thay đổi ΔS trong S là:
ΔP = δΔS + 1
2γ(ΔS)2 (13.3)
Trang 41 Khi một công cụ phụ thuộc vào một số biến
Trang 425 Học thuyết giá trị cực trị
Trang 435 Học thuyết giá trị cực trị
Lý thuyết giá trị cực trị (EVT-EXTREME VALUE THEORY) là thuật ngữ được sử dụng để mô tả khoa học về ước tính đuôi của một phân bố
EVT có thể được sử dụng để cải thiện ước tính VaR và trong các tình huống mà các nhà phân tích ước tính VaR với mức độ tự tin rất cao
Trang 44Giả sử rằng F(v) là hàm phân bố tích luỹ cho biến v (như vậy
như sự thua lỗ của một danh mục đầu tư trong một thời gian
nhất định) và u là một giá trị của v ở vế bên tay phải của
Trang 45 𝑭𝒖 𝒚 = 𝑭 𝒖+𝒚𝟏−𝑭−𝑭(𝒖)
(𝒖)
Biến 𝑭𝒖 𝒚 xác định đuôi bên phải của phân bố xác suất
Đây là sự phân bố xác suất tích lũy cho số tiền mà v vượt quá u cho rằng nó không vượt quá u
Đối với một lớp phân phối rộng rãi F(v), sự phân bố của
𝑭𝒖 𝒚 hội tụ đến sự phân bố Pareto tổng quát khi ngưỡng u tăng lên Sự phân bố Pareto tổng quát (tích luỹ) là
𝑮𝝃,𝜷(𝒚) = 1- 𝟏 + 𝝃 𝒚
𝜷
−𝟏/𝝃
(13.5)
Trang 46 𝑮𝝃,𝜷(𝒚) = 1- 𝟏 + 𝝃 𝜷𝒚 −𝟏/𝝃
Phân phối có hai tham số cần được ước tính từ dữ liệu
Đây là ξ và β Tham số ξ là tham số hình dạng và xác định độ nặng của phần đuôi Tham số β là một tham số quy mô
Khi biến v có phân phối chuẩn, ξ = 0. Khi đuôi phân bố trở nên nặng hơn, giá trị của ξ tăng lên Đối với hầu hết các dữ liệu tài chính, ξ là dương và trong khoảng từ 0,1 đến 0,4
Trang 47Hàm mật độ xác suất, 𝑔𝜉,𝛽(𝑦), của phép phân phối tích lũy trong phương trình (13.5) được tính bằng cách phân biệt 𝐺𝜉,𝛽(𝑦) với
trọng tâm y 𝒈𝝃,𝜷 𝒚 = 𝟏
𝜷 (𝟏 + 𝝃𝒚
Đầu tiên chọn một giá trị cho u (Một giá trị gần điểm phân vị
thứ 95 của phân phối thực nghiệm)
Sau đó, xếp hạng các quan sát v từ cao nhất tới thấp nhất và tập trung vào những quan sát mà v> u Giả sử có những 𝑛𝑢 quan sát như vậy và 𝑣𝑖 (1≤ i ≤ 𝑛𝑢) Chức năng xác suất (giả định ξ ≠ 0) là
Trang 48- Xác suất v>u + y với điều kiện v > u là 1-𝐺𝜉,𝛽(𝑦)
- Xác suất v> u là 1-𝐹(𝑢)
- Xác suất không điều kiện v > x (khi x> u)
𝟏 − 𝑭(𝒖) 𝟏 − 𝑮𝝃,𝜷(𝒙 − 𝒖) Nếu n là tổng số các quan sát, ước tính 1-𝐹(𝑢), được tính từ dữ
Trang 49Tính tương đương của Phân phối quy tắc lũy thừa
Nếu chúng ta đặt u = β /ξ, phương trình (13.8):
Prob (v > x) = 𝒏𝒖
𝒏
𝝃𝒙 𝜷
=> Điều này cho thấy phương trình (13.8) phù hợp với
phân phối quy tắc lũy thừa
Trang 50Vế bên trái phương trình
Nếu chúng ta quan tâm đến vế trái của sự phân bố xác
suất, chúng ta có thể xem xét với -v thay vì v
Ví dụ, một công ty dầu mỏ đã thu thập dữ liệu về tỷ lệ phần trăm tăng hàng ngày trong giá dầu và muốn ước tính một VaR đó là sự suy giảm tỷ lệ phần trăm trong một ngày giá dầu có xác suất không vượt quá 99,9% Đây là một số liệu thống kê tính từ vế trái của sự phân bố xác suất của việc tăng giá dầu Công ty dầu lửa sẽ thay đổi dấu hiệu của mỗi mục dữ liệu (dữ liệu đo lường sự giảm giá dầu chứ không phải tăng)