1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi môn lý thuyết học thuyết kế toán có đáp án

55 517 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 125,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các giai đoạn, quốc gia khác nhau đều cónhững định nghĩa riêng về kế toán: Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bản chất kế toán được nhận định “kế toán XHCN làcông việc tính toán

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC

LÝ THUYẾT (HỌC THUYẾT) KẾ TOÁN

Câu 1: Kế toán là gì?

Cách 1:

Trước hết, theo Neddles, Anderson, Caldwell (2003), Viện kế toán Công chứng Hoa Kỳvào năm 1941 định nghĩa kế toán như sau : kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợpmột cách có ý nghĩa và dưới hình thức bằng tiền các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các sự kiện mà

ít nhiều có liên quan đến tài chính, và giải trình kết quả của việc ghi chép này Định nghĩa nàycủa kế toán chú trọng đến nhiệm vụ giữ sổ sách cố hữu của người kế toán Tuy nhiên đây là quanđiểm cổ điển về kế toán, nó không còn phù hợp với thực tiễn kế toán hiện nay nữa

Ngày nay, với quan điểm mới, kế toán không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà đếntoàn bộ các hoạt động bao gồm việc hoạch định chương trình và giải quyết vấn đề, đánh giá cáchoạt động của doanh nghiệp và kiểm tra sổ sách kế toán ngày nay chú trọng đến nhu cầu bứcthiết của những người sử dụng thông tin kế toán dù họ ở bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp

Do vậy, vào năm 1970 Viện kế toán Công chứng Hoa Kỳ cho rằng nhiệm vụ của kế toán

là cung cấp thông tin định lượng, chủ yếu mang tính chất tài chính về các đơn vị kinh tế hạchtoán độc lập nhằm giúp ích cho việc làm các quyết định kinh tế

Chúng ta có thể trích dẫn dưới đây một số định nghĩa về kế toán khác nhau theo quanđiểm mới về kế toán

Theo tinh thần của kế toán quốc tế, kế toán được định nghĩa là hệ thống thông tin và kiểmtra dùng để đo lường/phản ánh, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính, kết quả kinhdoanh và các luồng tiền tạo ra của một đơn vị kinh tế

Theo quan điểm nêu trong Luật kế toán Việt Nam, định nghĩa kế toán được trình bày ởđiều 4 như sau : kế toán là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chínhdưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động

Theo điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam thì kế toán được xem là việc ghi chép,tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hìnhthức giá trị để phản ánh kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả sảnxuất kinh doanh, sử dụng vốn của Nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp

Theo Libby, Libby, Short, Lafond, Lanthier (2003), kế toán là một hệ thống thông tin chophép thu thập và truyền đạt thông tin mà chủ yếu là những thông tin mang bản chất tài chínhthường được số hoá dưới hình thức giá trị về các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp và các

tổ chức Những thông tin này được cung cấp nhằm giúp những người quan tâm trong quá trình racác quyết định kinh tế mà chủ yếu các quyết định này liên quan đến việc phân bổ nguồn lực

CÁC ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

ĐỊNH NGHĨA 1 : Khái niệm hướng đến phương pháp, đây là loại khái niệm mà LucaPacioli (1447-1517) – nhà toán học vĩ đại người Ý có nhiều đóng góp cho ngành kế toán thế giới,

Trang 2

đã đưa ra cuốn “Chú giải về tài khoản và các bút toán” mà theo đó, “có 3 điều kiện cần thiết chobất cứ ai muốn kinh doanh: thứ nhất, là phải có tiền; thứ hai, người chủ doanh nghiệp phải cókhả năng tính toán nhanh và đồng thời biết lập sổ sách kế toán; và điều kiện sau cùng là phải cókhả năng tổ chức công việc một cách khoa học, linh động nhằm đảm bảo tiến độ hoạt động kinhdoanh.” ĐỊNH NGHĨA 2 : Khái niệm hướng đến nội dung, cốt lõi vấn đề, đại diện tiêu biểu củatrường phái này là nhà kinh tế học nổi tiếng của Pháp J.Furaste, ông cho rằng “hệ thống kế toán

là một lĩnh vực khoa học hiện đại với mục đích tính toán giá trị tài sản của doanh nghiệp, đồngthời xác định giá trị của vốn đầu tư” Khái niệm này chỉ ra hình thức tồn tại của quy trình kế toán

mà chưa nêu ra được lý do của việc tính toán giá trị tài sản cũng như việc xác định vốn đầu tưcủa doanh nghiệp

ĐỊNH NGHĨA 3 : Khái niệm nghiêng về mục đích, kết quả, cuối thế kỷ 19, nhiều kế toánviên nhận ra một thực tế rằng, người ta cần hệ thống sổ sách giấy tờ kế toán không phải chỉ đểđánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp hay giá trị vốn đầu tư mà nhằm mục đích quản lý Chính vìvậy mà E Pizani – một kế toán viên người Ý đã đưa ra một định nghĩa về kế toán như sau: “Kếtoán là khoa học sử dụng các phép tính toán, dựa trên các quy định của pháp luật và kinh tế nhằmmục đích quản lý đồng thời để đạt được những hiệu quả kinh tế khả quan nhất”

ĐỊNH NGHĨA 4 : Theo Sokolov, một chuyên gia hàng đầu về kế toán tại Nga thì “kế toán

là ngôn ngữ của các ký hiệu cũng như quy ước sử dụng và được tạo ra với mục đích làm thay thếcác đối tượng thực tế bằng các ký hiệu hay biểu tượng, cho phép phản ánh một cách trung thựchoạt động kinh doanh cùng các kết quả của hoạt động kinh doanh đó”

Sokolov cũng đưa ra hai khái niệm về kế toán Xét về khía cạnh lý thuyết, “kế toán chính

là khoa học về bản chất cũng như cấu trúc các sự kiện diễn ra trong cuộc sống, trong hoạt độngkinh doanh của con người Nhiệm vụ của kế toán là phản ánh nội dung của các quá trình hoạtđộng kinh doanh cũng như mối liên hệ giữa các phạm trù luật pháp và phạm trù kinh tế trong quátrình hoạt động kinh doanh đó.”

Còn nếu xét từ khía cạnh thực tế, “kế toán là một quá trình theo dõi, phân loại, tổng hợp,phân tích và chuyển tải thông tin về các sự kiện xảy ra trong hoạt động kinh doanh của conngười Nhiệm vụ của kế toán xét từ khía cạnh này là việc đưa ra các nguồn thông tin phục vụ chomục đích quản lý.”

ĐỊNH NGHĨA 5 : Một định nghĩa về kế toán được chấp nhận trong suốt thời gian qua làđịnh nghĩa được trình bày trong “Báo cáo về lý thuyết kế toán căn bản” ban hành bởi Hiệp hội

Kế toán Hoa Kỳ: “Kế toán là một tiến trình ghi nhận, đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tếnhằm hỗ trợ cho các đánh giá và các quyết định của người sử dụng thông tin”

ĐỊNH NGHĨA 6 : Ủy ban nguyên tắc kế toán của Mỹ (AP , trong thông báo số 4, đã địnhnghĩa “Kế toán là một dịch vụ Chức năng của nó là cung cấp thông tin định lượng được của các

tổ chức kinh tế, chủ yếu là thông tin tài chính giúp người sử dụng đề ra các quyết định kinh tế.”

ĐỊNH NGHĨA 7 : Ủy ban thuật ngữ của học viện kế toán viên công chứng của Mỹ(AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theomột phương pháp riêng có dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế và trìnhbày kết quả của nó cho người sử dụng ra quyết định.”

Trang 3

ĐỊNH NGHĨA 8 : Giáo sư, Tiến sĩ Robert Anthony – một nhà nghiên cứu lý luận kinh tếnổi tiếng của trường Đại học Harvard của Mỹ cho rằng “Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”

ĐỊNH NGHĨA 9 : Giáo sư, tiến sĩ Grene Allen Gohlke của Viện Đại Học Wisconsin lạiđịnh nghĩa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân loại, tóm tắt và giải thíchcác nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra cácquyết định kinh tế”

ĐỊNH NGHĨA 10: Trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”, Ronnald J Thacker nêuquan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công tác quản lý TheoRonnald J Thacker “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý cóhiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức”

ĐỊNH NGHĨA 11 : Theo Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (International AuditingPractices Committee) thì “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp

mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tàichính”

ĐỊNH NGHĨA 12 : Khi định nghĩa về kế toán, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) chorằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại tổng hợp theo một cách riêng có bằng nhữngkhoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trìnhbày kết quả của nó”

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều bình đẳng trongquá trình kinh doanh, mối quan hệ kinh tế tài chính của các doanh ghiệp được mở rộng Mặtkhác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã làm cho đối tượng sử dụngthông tin kế toán trở nên đa dạng hơn Mục đích của kế toán không chỉ cung cấp thông tin chủyếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng nhưngân hàng, các nhà đầu tư tương lai, nhà cung cấp, khách hàng,… Vì vậy, định nghĩa kế toánnhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin – và chức năng này được coi là chức năng cơ bảnnhất của kế toán Các định nghĩa sau này kể cả Việt nam, cũng như các nước trên thế giới đềunhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin của kế toán Để cung cấp thông tin về kinh tế tàichính thực sự hữu dụng về một doanh nghiệp, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt độngkinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báocáo kế toán Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử dụng để ghi chép và tổng hợp thànhcác báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán.Chức năng của hệ thống kế toán bao gồm:

- Quan sát, thu nhận và ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngàycác nghiệp vụ kinh tế phát sinh và các sự kiện kinh tế khác

- Phân loại các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế thành các nhóm và các loại khác nhau, việcphân loại này có tác dụng giảm được khối lượng lớn các chi tiết thành dạng cô đọng và hữu dụng

- Tổng hợp các thông tin đã phân loại thành các báo cáo kế toán đáp ứng yêu cầu củangười ra các quyết định

Trang 4

Như vậy, để định nghĩa về kế toán cần phải dựa vào bản chất của kế toán – mà bản chấtnày lại tùy thuộc vào hình thái kinh tế xã hội – nơi hoạt động kế toán diễn ra.

Cách 2:

Câu 1: Kế toán là gì?

Để có thể thực hiện tốt công tác kế toán ta cần phải hiểu định nghĩa về kế toán, đó chính

là xuất phát điểm cho các lý thuyết về kế toán Trong các giai đoạn, quốc gia khác nhau đều cónhững định nghĩa riêng về kế toán:

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bản chất kế toán được nhận định “kế toán XHCN làcông việc tính toán ghi chép, phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống cácloại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạchnhà nước; tình hình bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa”

Theo Luật Kế toán Việt Nam năm 2003: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm, kiểm tra,phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian laođộng”

Trên thế giới cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán Một định nghĩa được chấpnhận khá rộng là đinh nghĩa của Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ: “Kế toán là một tiến trình ghi nhận,

đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ cho các đánh giá và các quyết định củangười sử dụng thông tin”

Hiệp hội kế toán công chứng Mỹ (AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuậtdùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một phương pháp riêng có dưới hình thức tiền tệ vềcác nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế và trình bày kết quả của nó cho người sử dụng ra quyết định.”

Các định nghĩa trước đây thường chú trọng đén các nhiệm vụ giữ sổ sách cố hữu của kếtoán đó là ghi chếp, tổng hợp và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tuy nhiên ngày nàyđịnh nghĩa về kế toán hiện đại đã rộng hơn nhiều kế toán không chỉ liên quan đến việc giữ sổsách mà còn bao gồm cả hoạch định chương trình và giải quyết các vấn đề Kế toán là gạch nốigiữa các hoạt động kinh doan và những người ra quýet định Mục đích của công tác kế toán làcung cấp thông tin hữu ích chi người sử dụng

Tuy có nhiều định nghĩa về kế toán nhưng chung qui lại, có thể rút ra một số điểm chungnhư sau:

•Kế toán nghiên cứu tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong các

tổ chức Đó cũng chính là các quan hệ kinh tế tài chính phát sinh ở các tổ chức có sử dụng tàinguyên để thực hiện mục tiêu hoạt động của mình

•Kế toán sử dụng ba loại thước đo để phản ánh là thước đo giá trị, thước đo hiện vật vàthước đo lao động, trong đó thước đo giá trị là bắt buộc để có thể tổng hợp toàn bộ các hoạt độngkinh tế ở tổ chức

•Kế toán được xem là một hệ thống thông tin ở mỗi tổ chức Hệ thống đó được vận hànhqua một quá trình thu thập, đo lường, ghi chép và cung cấp thông tin bằng các phương phápriêng có của kế toán

Trang 5

•Chức năng của kế toán là thông tin và kiểm tra các hoạt động gắn với tài sản, nguồn hìnhthành tài sản và các hoạt động khác của đơn vị

Tóm lại, Kế toán là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong các tổ chức.

Câu 2: Phân tích ảnh hưởng của sự ra đời của tiền tệ tới sự hình thành và phát triển của kế toán.

Cách 1:

Tiền tệ là một trong sáu yếu tố là cơ sở hình thành kế toán Nếu không có tiền tệ thì kếtoán không thực sự là kế toán là chỉ là các ghi chép đơn giản Gắn với lịch sử ra đời của tiền tệ

mà kế toán chịu những ảnh hưởng khác nhau:

Khi tiền tệ chưa được hình thành, hàng hóa được trao đổi trực tiếp với nhau, tỷ lệ trao đổi không

cố định, người ta mới chỉ tiến hành ghi chép đơn giản những gì phát sinh, những thông tin nàykhông cung cấp được những thông tin cần thiết để so sánh các giao dịch với nhau

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển đến trình độ nhất định,sản xuất hàng hoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chunglàm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó đòi hỏi khách quan phải hìnhthành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độctôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị Tiền tệ ra đời với các chức năng: làthước đo giá trị, làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, đồngtiền thế giới Lúc đó các giao dịch trở nên dễ dàng hơn, mọi ghi chép đều quy về mọi hình thứctrao đổi duy nhất là tiền tệ, các thông tin đều có thể so sánh và đối chiếu được một cách dễ dàng.Điều này giúp cho kế toán dần được hình thành và phát triển

Viện Kế toán công Hoa Kỳ (1953) định nghĩa: “kế toán là một nghệ thuật ghi nhận,phân loại và tổng hợp các sự kiện kinh tế dưới hình thái tiền tệ theo một phương thức có ý nghĩa

và giải thích các kết quả đó”

Như vậy, để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanhnghiệp, ngoài việc cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày củadoanh nghiệp thì cần phải có một loại hình thái tiền tệ để có thể phân tích, giải thích kết quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa như hiệnnay, tiền tệ là một yếu tố không thể thiếu trong các giao dịch và để ghi nhận được các giao dịchmột cách khách quan, phù hợp thì tiền tệ là yếu tố không thể thiếu Tiền tệ tạo nên một hệ thống

kế toán ngày một phát triển hơn

Cách 2 :

Tiền tệ là một trong sáu yếu tố là cơ sở hình thành kế toán Nếu không có tiền tệ thì kếtoán không thực sự là kế toán là chỉ là các ghi chép đơn giản Gắn với lịch sử ra đời của tiền tệ

mà kế toán chịu những ảnh hưởng khác nhau:

Khi tiền tệ chưa được hình thành, hàng hóa được trao đổi trực tiếp với nhau, tỷ lệ trao đổi không

cố định, người ta mới chỉ tiến hành ghi chép đơn giản những gì phát sinh, những thông tin nàykhông cung cấp được những thông tin cần thiết để so sánh các giao dịch với nhau

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển đến trình độ nhất định,sản xuất hàng hoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chunglàm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó đòi hỏi khách quan phải hìnhthành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc

Trang 6

tôn và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị Tiền tệ ra đời với các chức năng: làthước đo giá trị, làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, đồngtiền thế giới Lúc đó các giao dịch trở nên dễ dàng hơn, mọi ghi chép đều quy về mọi hình thứctrao đổi duy nhất là tiền tệ, các thông tin đều có thể so sánh và đối chiếu được một cách dễ dàng.Điều này giúp cho kế toán dần được hình thành và phát triển.

Viện Kế toán công Hoa Kỳ (1953) định nghĩa: “kế toán là một nghệ thuật ghi nhận,phân loại và tổng hợp các sự kiện kinh tế dưới hình thái tiền tệ theo một phương thức có ý nghĩa

và giải thích các kết quả đó”

Như vậy, để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanhnghiệp, ngoài việc cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày củadoanh nghiệp thì cần phải có một loại hình thái tiền tệ để có thể phân tích, giải thích kết quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa như hiệnnay, tiền tệ là một yếu tố không thể thiếu trong các giao dịch và để ghi nhận được các giao dịchmột cách khách quan, phù hợp thì tiền tệ là yếu tố không thể thiếu Tiền tệ tạo nên một hệ thống

kế toán ngày một phát triển hơn

Câu 3: Ảnh hưởng của sự ra đời phương tiện ghi chép tới sự hình thành và phát triển kế toán Liên hệ với khái niệm kế toán?

Phương tiện ghi chép được ra đời trong thời kỳ cổ đại, trong thời kỳ này ở các vùngkhác nhau đã xuất hiện các phương tiện ghi chép kác nhau Ở vùng Mespotamia Cổ đại các giaodịch được ghi chép lại trên các mảnh gồm sứ; ở vùng Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp cổ cũng dùnggiấy cói để chép lại thay cho việc dùng đồ gốm

• Ảnh hưởng của sự ra đời đến sự hình thành và phát triển kế toán

Kể từ khi phương tiện ghi chép ra đời, những giao dịch được ghi chép trên gốm, cói vàđược các gia đình, người ghi chép lưu trữ lại cẩn thận Việc có phương tiện ghi chép làm việc ghichép chi tiết trở nên dễ dàng hơn và việc ghi chép được kiểm tra bởi hệ thống soát xét nội bộchặt chẽ Với sự ra đời của phương tiện ghi chép mà người Hy Lạp đã dễ dàng hơn trong việc

“kế toán công khai”, tạo điều kiện cho công dân có thể theo dõi được tình hình tài chính Chínhphủ Hoạt động của các ngân hàng từ đó cũng phát triển lên Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiềncho vay và thậm chí thực hiện các giao dịch dễ dàng hơn Với việc ghi chép vào sổ sách, sẽ dễdàng hơn cho việc kiểm tra kế toán và từ đó, kế toán sẽ thực hiện một cách trung thực và đúngđắn bởi hệ thống kiểm tra sẽ kiểm tra thông qua sổ sách Sự ra đời phương tiện ghi chép kéo theo

sự ra đời và phát triển của nhiều công cụ, kỹ thuật … đã làm kế toán dần được định hình và pháttriển

• Liên hệ với khái niệm kế toán:

Khái niệm kế toán trên góc độ kỹ thuật: kế toán là việc thu nhận, xử lý và cung cấp thôngtin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động

Để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanh nghiệp, cần có một sốcông cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp, trên cơ sở đó tổnghợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán Những phương pháp mà một doanh nghiệp sửdụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán

Trang 7

Từ đó có thể thấy được phương tiện ghi chép đóng góp vai trò quan trọng trong kế toán Phươngtiện ghi chép phát triển thì hệ thống kế toán mới phát triển và thuận tiện hơn cho người làm côngtác kế toán.

Câu 4: Phân tích ảnh hưởng của yếu tố sở hữu và sự phát triển của tín dụng tới sự hình thành và phát triển của kế toán.

Cách 1:

Kế toán là một lĩnh vực khoa học kinh tế, là một chức năng không thể thiếu cùng vớichức năng tài chính, sản xuất, nhân sự trong công tác quản trị của mọi tổ chức Kế toán có lịch sửhình thành lâu dài gắn liền với nhiều giai đoạn phát triển của loài người Có nhiều nhân tố gópphần cho sự hình thành và phát triển của kế toán trong đó phải kế đển yếu tố sở hữu và sự pháttriển của tín dụng

Kể từ khi công xã nguyên thuỷ tan rã ý thức sở hữu bắt đầu manh nha Con người bắt đầubiết chiếm cho riêng mình những loại của cải Với những công cụ thô sơ, con người tiến hànhcác hoạt động săn bắn hái lượm để nuôi sống bản thân và cộng đồng Khác với thời kỳ nguyênthuỷ mọi thứ làm ra đều là của cải chung của toàn cộng đồng, khi lao động sản xuất con người đãquan tâm đến các hao phí bỏ ra và những kết quả đạt được Chính sự quan tâm này đã đặt ra nhucầu tất yếu phải thực hiện quản lý hoạt động sản xuất Khi xã hội loài người càng phát triển ýthức về sự sở hữu và phân chia thành qủ lao động càng tăng do đó yêu cầu quản lý hoạt độngsản xuất cũng ngày càng được nâng lên Và để quản lý được hoạt động thì cần phải cps thông tin

về quá trình hoạt động đó Để có được thông tin đòi hỏi phải thực hiện quan sát, đo lường, ghichép và cung cấp thông tin cho người quản lý Vì vậy nhu cầu về công cụ cung cấp thông tin vêhoạt động kinh tế trở nên bức thiết hơn

Cùng với sự phát triển lịch sử loài người, nền kinh tể ngày càng phát triển, mối quan hệgiữa các thực thể trong nền kinh tế ban đầu chủ yêu chỉ là mua bán sau đó hình thức mua chịu,bán chịu được hình thành và ngày càng trở nên phổ biến Đây chính là tiền đề cho mối quan hệtín dụng- quan hệ vay mượn có hoàn trả Theo thời gian mối quan hệ tín dụng ngày càng phảttriển, các định chế tài chính, ngân hàng ra đời cùng với các công cụ tài chính tất cả những điềukiện đó làm cho dòng tư bản dịch chuyển nhanh hơn Trong bối cảnh này kế toán không chỉ là sựghi chép thông thường mà cần mở rộng ra thêm chức năng cung cấp thông tin cho các nhà quản

lý bên trong cũng như những đối tượng bên ngoài

Có thể thấy ý thức sở hữu và sự phát triển của tín dụng đã nảy sinh các yêu cầu sử dụngthông tin kế toán, và từ đó góp phần cho việc hình thành và phát triển của kế toán

Cách 2

Trước hết để phân tích được sự ảnh hưởng của yếu tố sở hữu và sự phát triển của tín dụng đến sựhình thành và phát triển của kế toán ta phải hiểu được sở hữu là gì và nó phát triển như thế nào,đồng thời cũng phải hiểu tín dụng là gì và sự hình thành phát triển của tín dụng, từ những cơ sởnêu trên ta phân tích sự hình thành và phát triển của kế toán và rút ra được sự ảnh hưởng củanhững yếu tố sở hữu và tín dụng đến sự phát triển của kế toán như thế nào:

1. Khái niệm sở hữu và sự phát triển của yếu tố sở hữu.

Trang 8

Quan hệ sở hữu là một nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản xuất Đó là quan hệkinh tế giữa người với người trong sự chiếm hữu hay nói cách khác đó là hình thức xã hội của sựchiếm hữu của cải Do đó, cũng như quan hệ sản xuất, sự vận động của quan hệ sở hữu về hìnhthức, mức độ và phạm vi không phải là ý muốn chủ quan của con người mà là khách quan dotrình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định.

Đi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội trong lịch sử, từ phương thức sản xuấtcộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản tathấy tương ứng với mỗi lực lượng sản xuất thì cũng có các quan hệ sở hữu khác nhau, từ đó màcũng tồn tại các quan hệ sản xuất khác nhau Tức là sự phát triển của sở hữu là một quá trình lịch

sử tự nhiên

Trước hết, ta đi sâu làm rõ các khái niệm về sở hữu và chế độ sở hữu

Sở hữu là một phạm trù kinh tế cơ bản và xuất phát của kinh tế chính trị học Đó là quan

hệ kinh tế giữa người với người trong sự chiếm hữu của cải Ở đây, quan hệ sở hữu không phảnánh mối quan hệ giữa người với vật mà nó phản ánh quan hệ giữa người với người đối với vật.Nội dung của quan hệ sở hữu được xét trên hai mặt

- Thứ nhất: Xét về mặt pháp lý, sở hữu được luật pháp hoá thành các quyền, bao gồm:quyền sở hữu, quyền định đạt, quyền chuyển nhượng, quyền kế thừa và cơ chế để thực hiện cácquyền đó thì gọi là chế độ sở hữu

- Thứ hai: Xét về mặt kinh tế, khi sở hữu được thực hiện về mặt kinh tế, nó gắn liền vớilợi ích và thu nhập của chủ sở hữu đối với của cải, mang lại thu nhập cho chủ sở hữu Mỗi hìnhthức sở hữu mang lại hình thức thu nhập khác nhau cho chủ sở hữu Sở hữu cổ phần thu nhập là

cổ tức

Sở hữu ruộng đất thu nhập là địa tô Khi quan hệ sở hữu được luật pháp hoá thành cácquyền: quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt, và cơ chế để thực hiện các quyền đphátsinh gọi là chế độ sở hữu Ở bất kỳ xã hội nào, chế độ sở hữu đều là vấn đề căn bản nhất của chế

độ kinh tế xã hội đó Bởi vì nó là nội dung quan trọng nhất trong quan hệ sản xuất, quyết địnhđến tính phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Chỉ có trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các vấn

đề về động lực, vấn đề lợi ích kinh tế, vấn đề chính trị, vấn đề pháp quyền và các vấn đề xã hội.Chúng ta cùng xem xét trong lịch sử, giai đoạn từ năm 1975 - 1986, giai đoạn chúng ta mới thựchiện xong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.Chế độ sở hữu bao gồm 3 nội dung:

- Thứ nhất là nội dung vật chất của sở hữu hay còn gọi là đối tượng của sở hữu, nó baogồm sở hữu tư liệu tiêu dùng, sở hữu tư liệu sản xuất, sở hữu vốn, sở hữu chất xám, sở hữu bảnquyền, sở hữu thị trường

- Thứ hai là nội dung kinh tế của sở hữu

- Thứ ba là nội dung pháp lý của sở hữu

Ba mặt trên của chế độ sở hữu thống nhất với nhau và chỉ có thể đảm bảo tính thống nhấtcủa ba mặt đó thì chế độ sở hữu mới phát huy được hiệu quả và không trở thành hình thức

Trang 9

Trong chế độ sở hữu, cần phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất.

- Trong nền kinh tế tự cung tự cấp và trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ thì quyền sở hữu

và quyền sử dụng tư liệu sản xuất là đồng nhất với nhau Đó là sở hữu của những nông dân vàthợ thủ công Người sở hữu cũng là người sử dụng tư liệu sản xuất đó

- Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuấtlại có những diễn biến đa dạng do sự xuất hiện của nhiều loạ hình sở hữu, nhiều chủ thể sở hữu

và các cấp độ khác nhau Do đó, quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể thuộc về chủ thể duynhất, cũng có thể là quyền sở hữu thuộc người này nhưng quyền sử dụng lại thuộc về ngườikhác, tức là có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Thí dụ, trong chủ nghĩa tư bản,giai cấp địa chủ vẫn có quyền sở hữu đối với ruộng đất, nhưng quyền sử dụng lại thuộc về nhà tưbản kinh doanh nông nghiệp thuê ruộng đất đó của địa chủ Như vậy, giai cấp địa chủ đã chuyểnquyền sử dụng ruộng đất sang các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp Thí dụ khác nữa đó làtrong hình thức công ty cổ phần, quyền sở hữu vốn thuộc về các cổ đông, nhưng quyền sử dụngvốn (dùng vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh) lại tuộc về ban quản trị Tuy nhiên, trong hìnhthức doanh nghiệp tư nhân tư bản chủ nghĩa thì thông thường quyền sở hữu và quyền sử dụngthuộc về một chủ thể (nhà tư bản tự bỏ ra tiến hành sản xuất kinh doanh) Theo sự phát triển củalực lượng sản xuất xã hội loài người cũng phát triển theo các hình thái kinh tế khác nhau Ở mỗigiai đoạn, thời đại kinh tế đó do đặc điểm về năng lực của nền kinh tế nên ở xã hội cộng sảnnguyên thủy do lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội không có của dư, sản phẩm do conngười làm ra chưa đủ tích lũy, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở cộng đồng mọi sản phẩm đều làcủa chung, con người hoàn toàn dựa vào nhau, chung sống, tư hữu chưa ra đời Do đó chưa xuấthiện quan hệ mua bán, trao đổi Khi xã hội ngày càng phát triển xuất hiện nhiều thành phần kinh

tế vì thế xuất hiện yếu tố sở hữu trong xã hội

2 Tín dụng và sự phát triển của tín dụng.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất sau đó đã tạo điều kiện tăng năng suất lao động, sảnphẩm làm ra ngày càng nhiều, con người không chỉ đủ tiêu dùng mà dần dần còn có tích lũy, dựtrữ xuất hiện của dư Cùng với sự phát triển của phân công lao động xã hội, của công cụ lao độngchế độ tư hữu dần dần xuất hiện, sự phân hoá giữa người giàu người nghèo và các tầng lớp, giaicấp, các giai cấp cũng theo đó phát triển ngày càng rõ rệt Quan hệ trao đổi, mua bán, vay mượncũng từng bước xuất hiện với nhiều hình thức đa dạng phong phú Tuy nhiên quan hệ vay mượnthời kỳ đầu chỉ là hình thức sơ khai, phôi thai của tín dụng sau này

Khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định nhu cầu mua bán, trao đổi, vay mượntăng lên, xuất hiện tiền tệ (một loại hàng hoá đặc biệt vật trung gian trong trao đổi mua bán, mộtloại của cải để tích trữ ), xã hội dần dần xuất hiện quan hệ tín dụng Sự tồn tại và phát triểnquan hệ tín dụng do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự vận động của vốn tiền tệ dẫn đến nảysinh hiện tượng trong cùng một thời gian có những đơn vị kinh tế thừa vốn để sản xuất kinhdoanh, chưa có nhu cầu sử dụng Ngược lại có những đơn vị thiếu vốn, có nhu cầu vay mượntăng vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh Tình trạng đó nảy sinh mâu thuẫn đỏi hỏi có cách thứcgiải quyết mở đường cho sản xuất phát triển Do vậy cần có sự tập trung vốn, phân phối lại cácnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi theo nguyên tắc vay mượn hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời

Trang 10

gian nhất định, bảo đảm quá trình tái sản xuất, tuần hoàn, xoay vòng của nguồn vốn được diễn raliên tục nâng cao khả năng sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được nguồn vốn

Hai là: Trong đời sống sinh hoạt, vận động của toàn xã hội có tình trạng có những cơquan, đơn vị, tổ chức tập thể và trong nhân dân (cá nhân, hộ gia đình ) thường xuyên có lượngtiền nhàn rỗi chưa cần sử dụng ngay Đây cũng là một điều kiện, cơ sở tiềm tàng dẫn đến nảysinh quan hệ tín dụng bởi lẽ không có những lượng tiền nhàn rỗi đó thì không có cơ sở để thựchiện quan hệ tín dụng

Ba là do chế độ sở hữu về vốn trong nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần nền kinh tếthị trường, do tồn tại nhiều thành phần kinh tế - nhiều hình thức sở hữu khác nhau về vốn songl

ại đòi hỏi có sự chuyển hoá trong nội bộ của các hình thức sở hữu và giữa các hình thức sở hữu,các thành phần kinh tế Tuy nhiên để việc chuyển vốn giữa các hình thức sở hữu các thành phầnkinh tế và không làm ảnh hưởng, không xâm phạm đến quyền lợi của nhau giữa các chủ sở hữucần phải thông qua quan hệ tín dụng có vay có trả theo thoả thuận nhất định mà bên cho vay khinhận lại số tiền cho vay ngoài phần gốc còn được thêm một số tiền lãi theo tỷ lệ quy định Nhờ

đó mà quyền lợi của các chủ sở hữu khác nhau khi tham gia quan hệ tín dụng được đảm bảo mộtcách chặt chẽ, theo một quy tắc thống nhất, với sự bảo đảm có tính pháp lý, pháp luật

Bốn là do yêu cầu của quá trình hạch toán kinh tế trong sản xuất, kinh doanh rất chặt chẽ,

cụ thể chi tiết nên các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp phải luôn chủ động, thận trọngtrong tính toán huy động, chuẩn bị tạo nguồn vốn nắm chắc nguồn vốn cũng như sử dụng vốn kể

cả vốn cố định và lưu động Tính toán cân nhắc, xác định đúng về nhu cầu vốn của mình trongsản xuất kinh doanh đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi Chính việc đi vay và cho vay thông quaquan hệ tín dụng các đơn vị tổ chức kinh tế giải quyết được vấn đề nhu cầu về vốn, sử dụngvốn

Từ những vấn đề trình bày ở trên có thể đi đến khẳng định rằng sự hình thành và pháttriển của quan hệ tín dụng hoạt động tín dụng trong quá trình phát triển của sản xuất của nền kinh

tế là một tất yếu khách quan, là vấn đề có tính quy luật

3 Định nghĩa kế toán và quá trình hinh thành và phát triển của kế toán

Định nghĩa về kế toán cũng được ghi nhận trong Luật Kế toán nước CHXHCN Việt Nam.Theo đó: “kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tàichính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Định nghĩa này cụ thể hóa hơn cáccông việc của kế toán: từ giai đoạn thu thập dữ liệu ban đầu đến việc xử lý và cung cấp các thôngtin kinh tế tài chính Kế toán sử dụng nhiều thước đo để phản ánh các thông tin kinh tế tài chính,trong đó thước đo giá trị là thước đo chủ yếu và bắt buộcSản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồntại và phát triển của xã hội loài người

Ngay từ thời xa xưa, với công cụ lao động hết sức thô sơ, con người cũng đã tiến hànhhoạt động sản xuất bằng việc hái lượm hoa quả, săn bắn để nuôi sống bản thân và cộng đồng.Hoạt động sản xuất là hoạt động tự giác, có ý thức và có mục đích của con người Cho nên khitiến hành hoạt động sản xuất, con người luôn quan tâm đến các hao phí bỏ ra và những kết quảđạt được Chính sự quan tâm này đã đặt ra nhu cầu tất yếu phải thực hiện quản lý hoạt động sảnxuất Xã hội loài người càng phát triển thì mức độ quan tâm của con người đến hoạt động sảnxuất càng tăng và do đó, yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất cũng được nâng lên

Trang 11

Để quản lý, điều hành hoạt động sản xuất nêu trên mà ngày nay gọi là hoạt động kinh tếcần phải có thông tin về quá trình hoạt động kinh tế đó Thông tin đóng vai trò quyết định trongviệc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát quá trình kinh tế.

Để có được thông tin đòi hỏi phải thực hiện việc quan sát, đo lường, ghi chép và cung cấp thôngtin về các hoạt động kinh tế cho người quản lý Kế toán là một trong các công cụ cung cấp thôngtin về hoạt động kinh tế phục vụ cho công tác quản lý các quá trình kinh tế đó

Quan sát là giai đoạn đầu tiên của việc phản ánh các quá trình và hiện tượng kinh tế phátsinh ở các tổ chức

Đo lường là việc xác định các nguồn lực, tình hình sử dụng các nguồn lực đó theo những phươngthức tổ chức sản xuất kinh doanh riêng biệt, và các kết quả tạo ra từ quá trình đó bằng nhữngthước đo thích hợp

Ghi chép là quá trình hệ thống hoá tình hình và kết quả các hoạt động kinh tế trong từng thời kỳtheo từng địa điểm phát sinh, làm cơ sở để cung cấp thông tin có liên quan cho người quản lý Trải qua lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, kế toán có những đổi mới về phương thứcquan sát, đo lường, ghi chép và cung cấp thông tin cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Cóthể nhìn nhận những thay đổi này qua những hình thái kinh tế xã hội

Ở thời kỳ nguyên thủy, các cách thức đo lường, ghi chép, phản ánh được tiến hành bằngnhững phương thức đơn giản, như: đánh dấu trên thân cây, ghi lên vách đá, buột nút trên các dâythừng… để ghi nhận những thông tin cần thiết Các công việc trên trong thời kỳ này phục vụ cholợi ích từng nhóm cộng đồng Khi xã hội chuyển sang chế độ nô lệ với việc hình thành giai cấpchủ nô, nhu cầu theo dõi, kiểm soát tình hình và kết quả sử dụng nô lệ, tài sản của chủ nô nhằmthu được ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư đã đặt ra những yêu cầu cao hơn trong công việccủa kế toán Các kết quả nghiên cứu của những nhà khảo cổ học cho thấy các loại sổ sách đãđược sử dụng để ghi chép thay cho cách ghi và đánh dấu thời nguyên thủy Các sổ sách này đãđược cải tiến và chi tiết hơn trong thời kỳ phong kiến để đáp ứng với những phát triển mạnh mẽtrong các quan hệ kinh tế trong cộng đồng Kế toán còn được sử dụng trong các phòng đổi tiền,các nhà thờ và trong lĩnh vực tài chính Nhà nước… để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanhtoán và buôn bán

Mặc dù có nhiều đổi mới về cách thức ghi chép, phản ánh các giao dịch nói trên qua cácgiai đoạn phát triển của xã hội nhưng kế toán vẫn chưa được xem là một khoa học độc lập chođến khi xuất hiện phương pháp ghi kép Phương pháp ghi kép trước tiên được xuất hiện ở nơinày nơi khác qua sự tìm tòi của những người trực tiếp làm kế toán trong lĩnh vực thương nghiệp,công nghiệp Đến năm 1494, Luca Pacioli, một thầy dòng thuộc dòng thánh Fran-xít, trong mộttác phẩm của mình lần đầu tiên đã giới thiệu phương pháp ghi kép Ông đã minh họa việc sửdụng khái niệm Nợ và Có để đảm bảo một lần ghi kép Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử kế toán

đã cho rằng sự xuất hiện phương pháp ghi chép có hệ thống của kế toán dựa trên bảy điều kiệnsau:

• Có một nghệ thuật ghi chép riêng

• Sự xuất hiện của số học

• Việc tồn tại sở hữu tư nhân

Trang 12

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không chỉ gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹthuật, mà còn gắn liền với những thay đổi về hình thái của các tổ chức kinh tế, các trung gian tàichính, cách thức quản lý trong các tổ chức này cũng như phương thức quản lý nền kinh tế ở góc

độ vĩ mô Đó là sự phát triển của hệ thống các ngân hàng cùng với việc ra đời nhiều công cụ tàichính, là sự phổ biến của mô hình công ty cổ phần vận hành trên các thị trường chứng khoán Tất

cả những điều kiện đó làm cho các dòng tư bản dịch chuyển thuận lợi và nhanh chóng hơn Kháiniệm người chủ doanh nghiệp không chỉ hạn chế vào một số nhà tư bản mà mở rộng ra cho mọitầng lớp dân cư có khả năng góp một phần của cải dôi thừa của mình vào các công ty qua hìnhthức cổ phiếu, trái phiếu Trong bối cảnh đó, kế toán không chỉ là sự ghi chép và cung cấp thôngtin cho người quản lý ở doanh nghiệp mà còn có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho những đốitượng bên ngoài, như: cơ quan thuế, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, nhà đầu tư, nhàcung cấp, khách hàng…Việc công bố thông tin kế toán ra bên ngoài được xem là một yêu cầukhách quan của thực tiễn để nhà nước vận hành nền kinh tế tốt hơn; để các tổ chức kinh tế và cánhân liên quan có điều kiện đánh giá các khoản vốn đầu tư của mình hoặc tìm kiếm cơ hội kinhdoanh tốt nhất Vấn đề này đặt ra cho kế toán phải công bố những thông tin gì cho bên ngoài đểvừa đảm bảo tính bí mật thông tin của từng doanh nghiệp, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin củacộng đồng kinh doanh Để đáp ứng những đòi hỏi đó, các hiệp hội nghề nghiệp về kế toán (cóthể có sự can thiệp của chính phủ) đã xây dựng những qui tắc chung trong ghi chép, phản ánh vàcông bố các giao dịch kinh tế Đây là một nhu cầu khách quan để người làm công việc kế toán cóthể đạt được những thống nhất ở một chừng mực nhất định trong xử lý và cung cấp thông tin

Có thể thấy, những yêu cầu của thực tiễn đã đặt khoa học kế toán có những thay đổi vềphương thức ghi chép, xử lý và công bố thông tin; thể hiện là vào những thập niên đầu thế kỷ 20,

kế toán đã dần dần tách biệt thành hai hệ thống Một là: Sự hình thành của hệ thống kế toánnhằm cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng bên ngoài thông qua các báo cáo tài chính theonhững tiêu chuẩn thống nhất về cách trình bày (Các chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính) Hệthống kế toán này ngày nay thường gọi là kế toán tài chính Hai là: sự ra đời của hệ thống kế toánquản trị nhằm cung cấp thông tin đa dạng hơn cho người quản lý trong các tổ chức Hệ thống kếtoán này đòi hỏi những cách thức ghi chép và xử lý thông tin riêng để đáp ứng yêu cầu quản trị

do áp lực của cạnh tranh ngày càng tăng Do tính bí mật về thông tin, hệ thống kế toán quản trị

Trang 13

dần dần tách biệt với kế toán tài chính và ngày càng được phát triển nhờ những ứng dụng củacông nghệ thông tin trong xử lý số liệu.

Tóm lại: sự ra đời và phát triển của kế toán gắn liền với sự phát triển các họat động kinh

tế và nhu cầu sử dụng thông tin kế toán Ở mỗi quốc gia, sự phát triển của kế toán phụ thuộc vàocác điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và những tập quán riêng Tuy nhiên, khoa học kế toánngày nay không còn giới hạn trong biên giới của mỗi nước mà đã có những biểu hiện có tínhtoàn cầu hóa Sự bùng nổ mậu dịch quốc tế, việc hình thành các công ty đa quốc gia và sự dịchchuyển các dòng vốn trên thế giới đã nảy sinh nhu cầu thông tin có tính so sánh, thuận lợi chocác nhà đầu tư trong việc ra quyết định Những nguyên tắc và phương pháp kế toán chung haycác chuẩn mực kế toán đã ra đời trong bối cảnh đó và ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng nhucầu ngày càng cao trong hệ thống quản lý ở các tổ chức, các đơn vị kinh tế

3. Sự ảnh hưởng của yếu tố sở hữu và sự phát triển của Tín dụng đến sự hình thành và phát triển của kế toán.

Từ việc khái quát sự ra đời và phát triển kế toán ra rút ra được ảnh hưởng của yếu tố sởhữu và sự phát triển của tín dụng đến sự hình thành và phát triển của kế toán

Yếu tố sở hữu và quan hệ tín dụng là một trong những điều kiện dẫn đến sự ra đời và pháttriển của kế toán Quan hệ sản xuất ngày càng phát triển, trình độ lao động ngày càng cao, lựclượng lao động ngày càng phát triển, làm cho năng suất lao động xã hội cũng ngày càng cao lên,

xã hội phát triển dẫn đến việc hình thành nhiều thành phần kinh tế ra đời, xuất hiện chế độ sởhữu về của cải làm ra Khi năng suất lao động tăng lên con người có dư của cải, vật chất, sảnphẩm của lao động làm ra không chỉ đủ tiêu mà còn dư thừa, cho vay, cho mượn Người có thừacủa cải, vật chất thì cho người thiếu người có nhu cầu sử dụng vay mượn, từ đó xuất hiện quan

hệ tín dụng, cũng từ đó tín dụng ra đời và phát triển cũng với sự phát triển nền kinh tế xã hội

Khi các quan hệ tín dụng cho vay, các quan hệ kinh tế giữa con người với con người ngàycàng phát triển phong phú, đa dạng, yêu cầu đặt ra cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế làphải có đủ thông tin, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các quan hệ tín dụng trao đổi giữacon người với con người chính vì thế mà kế toán đã ra đời và phát triển cùng với sự phát triểncủa yếu tố sở hữu và tín dụng

Như vậy, yếu tố sở hữu và sự phát triển của tín dụng có ảnh hưởng to lớn đến sự hìnhthành và phát triển của kế toán Nếu không có 2 điều kiện sở hữu và tín dụng nêu trên thì kế toáncũng không thể hình thành một cách đầy đủ và toàn diện theo đúng nghĩa của nó Sự ra đời vàphát triển của vấn đề sở hữu cùng với sự phát triển của quan hệ tín dụng là cơ sở, là tiền đề cho

sự ra đời và phát triển của kế toán, chính vì thế, nếu yếu tố sở hữu và các quan hệ tín dụng ngàycàng phát triển sẽ tạo điều kiện và tạo cơ sở cho các hoạt động kế toán ngày càng phát triển.Ngược lại, kế toán cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và hình thành các yếu tố sở hữu

và quan hệ tín dụng, nếu không có sự ra đời và phát triển của kế toán thì sự phân chia các quan

hệ sở hữu và các quan hệ tín dụng sẽ không được thực hiện một cách triệt để, toàn vẹn và chặtchẽ do không có thông tin kịp thời, chính xác để ghi nhận, phản ánh lại các quan hệ tín dụng,quan hệ kinh tế của con người trong xã hội

Như vậy, sở hữu và tín dụng có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của kếtoán, hỗ trợ và thúc đẩy cho sự ra đời và phát triển của kế toán đồng thời kế toán cũng tác độngtrở lại cho các quan hệ sở hữu và quan hệ tín dụng trong sự phát triển kinh tế xã hội

Trang 14

Câu 5: Trình bày khái quát sự phát triển của kế toán trong thời kỳ cổ đại và liên hệ với khái niệm kế toán hiện đại.

Kế toán ở vùng Mesopotamia Cổ đại

-Năm 2285 – 2242 TCN: Babilon quy ước Hammurabi: mọi giao dịch mua bán đều phải đượcghi chép và đóng dấu

- Khu vực Lưỡng Hà (Mesophotamian): nghề ghi chép giao dịch để đáp ứng yêu cầu của luậtpháp Phương tiện ghi chép: đất sét, gốm

Khoảng thế kỷ 36 trước Công nguyên, nền văn minh Át-xi-ri, Babylon và Xume phát triển rực rỡ

ở thung lũng Mesopotamia - nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi mà trở thành vùng nông nghiệp trùphú Đây cũng là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán Khi ngườinông dân đó trở nên giàu có, các hoạt động kinh doanh dịch vụ và các ngành công nghiệp nhỏphát triển ở khu vực lân cận thung lũng Mesopotamia Thành phố Babylon và Ninevah trở thànhcác trung tâm thương mại của vùng, trong đó Babylon được xem như là tiếng nói của kinh doanh

và chính trị của cả vùng Cận Đông Có hơn một ngân hàng ở Mesopotamia sử dụng thước đo tiêuchuẩn là vàng và bạc và cho phép một số giao dịch bằng tiền gửi ngân hàng

Trong suốt kỷ nguyên này, tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc ghi chép tài sản và cácgiao dịch liên quan đến tài sản Vì thế, gần như toàn bộ các giao dịch được ghi lại và được mô tảbởi các bên liên quan trong suốt thời kỳ này Nhiệm vụ của người thực hiện việc ghi chép kế toánkhá đơn giản, nhưng lại bao quát Ngoài việc ghi lại trọn vẹn một giao dịch, anh ta cùng cần chắcchắn rằng các giao dịch thoả thuận đó đáp ứng được yêu cầu pháp lý áp dụng cho các giao dịchthương mại

Ở Mesopotamia, các giao dịch được ghi chép lại trên mảnh gốm sứ Mảnh gốm được nung theohình dạng và kích thước tuỳ theo nội dung của các giao dịch Mỗi giao dịch được ghi chép lạitheo những nội dung sau: tên của các bên tham gia buôn bán, loại hàng hoá buôn bán và giá cảcùng những điều cam kết quan trọng khác Sau đó, mỗi bên sẽ chứng nhận sự hiện diện của họcùngg như thoả thuận giữa họ lên mảnh gốm bằng cách ấn mạnh lên mảnh gốm “dấu” riêng của

họ Người ghi chép tài sản sau đó sẽ hong khô mảnh gốm để đảm bảo những điều ghi chép trênmảnh gốm không thể bị thay đổi

Kế toán ở Ai Cập, Trung Hoa, Hy Lạp và Roma cổ đại

• Kế toán ở Ai Cập cổ đại cùngg phát triển theo cách tương tự như ở Mesopotamia Tuynhiên, người Ai Cập sử dụng giấy làm từ cói thay vì gốm, do đó việc ghi chép chi tiết trởnên dễ dàng hơn Ở Ai Cập, người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận các tài liệu ghichép của mình trong một nơi gọi là kho lưu trữ sau khi những tài liệu đó đó được kiểm trabởi một hệ thống soát xét nội bộ chặt chẽ Chính do hệ thống kiểm tra này mà nhữngngười ghi sổ kế toán phải luôn trung thực và cẩn thận vì họ sẽ bị xử phạt nếu vi phạm cácđiều luật liên quan Mặc dù những ghi chép như vậy rất quan trọng nhưng kế toán Ai Cập

cổ xưa chưa bao giờ tiến bộ xa hơn công việc liệt kê đơn giản trong suốt hàng nghìn nămtồn tại của nó Có lẽ nguyên nhân cốt yếu là do sự mù chữ và thiếu một loại tiền kim loạithích hợp đó cản trở sự phát triển của nó Trên thực tế, người Ai Cập sử dụng vàng và bạcvới tư cách là vật trao đổi ngang giá chung Tuy nhiên, phương pháp đo lường giá trị đơnkhông thể mô tả tất cả hàng hoá, do đó làm cho việc tích luỹ và tổng kết tài sản trở nênkhó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả hệ thống kế toán

• Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đó áp dụng “kế toán công khai” đểtạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính chính phủ Thành viêncủa Hiệp Hội Nhân dân Athens lập ra những quy tắc pháp lý cho vấn đề tài chính và quản

lý thu chi của hệ thống công thông qua sự giám sát của 10 nhân viên kế toán Nhà nước

Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hy Lạp là việc sáng tạo ra tiền kim loại vào

Trang 15

khoảng năm 600 trước Công Nguyên Việc sử dụng rộng rãi tiền kim loại trong một thờigian dài đó có tác động đến sự phát triển của kế toán Hoạt động ngân hàng ở Hy Lạp cổđại đạt được sự phát triển nhiều hơn các xã hội trước Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiềncho vay, và thậm chí thực hiện các giao dịch chuyển tiền cho các cư dân ở các thành phốcách xa nhau thông qua các ngân hàng trong cùng hệ thống.

• Kế toán ở Roma phát triển từ việc ghi chép truyền thống của các gia đình được thực hiệnbởi người chủ gia đình Việc ghi chép này vốn nhằm mục đích phục vụ cho việc tính thuế

và xác định vị thế cùngg như quyền lực của mỗi gia đình Ở Roma duy trỡ một hệ thốngchứng từ và cân đối chính xác đối với các hoạt động thu chi của chính phủ được dưới sựthực hiện người quản lý ngân sách quốc gia Hệ thống kế toán công được kiểm tra thườngxuyên bởi các nhân viên kiểm tra sổ sách và những người quản lý ngân sách quốc giaphải bàn giao lại toàn bộ công việc cho người kế nhiệm của mình và cho Thượng viện La

Mã trước khi thôi việc Một trong những cách tân của kế toán La Mã là việc sử dụngngân sách thường niên nhằm phối hợp các hoạt động tài chính khác nhau của nhà nước,hạn chế chi tiêu để đạt được mức thu mong muốn và số thuế thu được trong một đơn vịquản lý sau khi xem xét khả năng chi trả của dân cư

Đây được coi như một cuốc cách mạng về sự phát triển của kế toán

Thời kỳ hiện đại:

Nền kinh tế Mỹ phát triển một cách mạnh mẽ Trong thời kỳ này cũng chứng kiến nhiều cuộckhủng hoảng và bê bối tài chính, cũng với đó là sự phát triển của kế toán quản trị Xu hướng lậpquy và thực chứng được hình thành

Nếu trong thời ký cố đại, Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định, quy tắc kế toán cụ thể vàbắt buộc mọi người phải tuân theo những quy định đó thì trong thời kỳ hiện đại, các hiệp hội tổchức nghề nghiệp được thành lập, đưa ra các chuẩn mực, nguyên tắc mang tính chất gợi ý, cácdoanh nghiệp và người lập BCTC dựa vào những nguyên tắc đó để lập BCTC

Câu 6 Phân tích các thành tựu cơ bản của kế toán trong thời kỳ trung cổ? Theo quan điểm của anh, chị, các thành tựu này có ảnh hưởng thế nào tới sự phát triển của kế toán hiện đại?

Cách 1

Thời kỳ Trung Cổ là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốcTây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳTrung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ Trong giai đoạn Sơ kỳ và Trung kỳ thì không có lý thuyết kế toánnào phát triển, kế toán tồn tại dưới hình thức các ghi chép phục vụ cho hoạt động kinh doanh, tàichính của con người Chỉ đến giai đoạn hậu kỳ, khoa học về kế toán mới xuất hiện bởi hai nhà lýluận đầu tiên về khoa học kế toán đó là một thương gia và một nhà nhân văn học có tên làBedenetto Cotrulli và một nhà toán học Friar Luca Pacioli Cotrugli đã viết Delia Mercatura delMercante Perfetto, trong đó có một chương ngắn gọn mô tả nhiều đặc tính của kế toán kép Mặcdầu công trình này không được xuất bản Pacioli đã lấy đó làm khởi nguồn viết nên phương pháp

kế toán kép Vào năm 1494, Pacioli đã xuất bản “Summa de Arithmatia, Geometria, Proportioni

et Proportionlita” một tác phẩm vĩ đại tựa như một cuốn tự điển về số học, đại số, toán họcthương mại, kế toán Riêng về phần kế toán, ông đã dành 36 chương về kế toán và được coi như

là người cha của ngành kế toán

Những thành tựu đạt được của thời kỳ này bao gồm:

Trang 16

- Phổ biến phương pháp kế toán kép

- Phổ biến việc sử dụng tài khoản

- Sự hình thành các loại nhật ký chuyên dùng cho việc ghi nhận các nghiệp vụ khácnhau

- Phổ biến lập báo cáo định kỳ

- Hình thành khái niệm về hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích

• Các thành tựu của giai đoạn này tạo ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của kếtoán, đóng góp quan trọng cho việc phát triển của kế toán hiện đại Cho đến ngày nay,phương pháp kế toán kép vẫn là phương pháp kế toán không thể thay thế Dù cho kế toán

có biến đổi như thế nào, sử dụng các mô hình tính giá khác nhau, hay là việc sử dụng tàikhoản có thể có sự khác nhau giữa các quốc gia nhưng vẫn có một đặc điểm chung là sửdụng phương pháp kế toán ghi sổ kép, áp dụng hệ thống tài khoản, cũng như các nhật kýchuyên dùng cho việc ghi nhận các nghiệp vụ khác nhau và lập báo cáo tài chính vào cuối

kỳ kế toán

Cách 2

Các thành tựu cơ bản của kế toán trong thời kỳ trung cổ và sự ảnh hưởng tới sự phát triểncủa kế toán hiện đại:

• Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ

sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phụchưng và Thời đại khám phá Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thờiđại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại vàHiện đại Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung

Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ

Kế toán Thời Trung cổ

• Hàng nghìn năm sau sự sụp của Đế quốc La mã và trước khi tu sĩ Luca Paciolixuất bản “Summa” được xem là thời kỳ ngưng trệ của kế toán, và thường không đượcnhắc đến trong lịch sử kế toán Tuy nhiên, theo sử gia Michael Chatfield, kế toán thờiTrung cổ đã đặt nền tảng cho những học thuyết của chủ nghĩa bảo thủ, và đã tạo tiền đềcho sự phát triển thần tốc của kế toán thời Phục hưng Bản ghi chép kế toán còn tồn tạilâu nhất cho đến nay bằng tiếng Anh là “Pipe Roll”, hoặc "Great Roll of the Exchequer”ghi chép số tiền thuê mướn, tiền phạt và tiền thuế hàng năm của hoàng tộc Anh từ năm

1130 đến 1830 “Pipe Roll” là bản ghi chép trên giấy da cuối cùng về một hệ thống

"proffer" sử dụng một vật đối chiếu “tally stick” làm bằng gỗ như một cơ sở của việc ghi

sổ kế toán Hai lần mỗi năm, vào Lễ phục sinh và Ngày lễ thánh Mi-sen (29/9), các lãnhchúa được gọi đến kho bạc quốc gia tại Westminster ở Lễ phục sinh, mỗi lãnh chúa phảinộp một nửa trong tổng mức định giá tài sản hàng năm người đó sở hữu Sau khi nhậnđược các khoản đóng góp này, viên thủ quỹ sẽ cắt “tally stick” được chuẩn bị trước coinhư một ghi nhận của giao dịch đó Được sử dụng thậm chí trước khi bản thảo Pipe Roll

ra đời, “tally stick”là một thanh gỗ hẹp, dài chín inch, được cắt với những với các kích cỡkhác nhau tương ứng cho số tiền nhận được Một mẩu cắt kích cỡ một bàn tay người cóđịnh giá 1000 bảng, mẩu cắt rộng bằng một ngón tay cái trị giá 100 bảng; mẩu cắt dàybằng một " hạt ngô hoặc lúa mạch chín " trị giá 1 bảng; và một shilling, chỉ là một vếtkhía Nước Ý thời kỳ Phục hưng : sự ra đời của kế toán kép Những người Italia cách tânthời kỳ Phục hưng (TK 14 th - 16 th) được cho là cha đẻ của kế toán hiện đại Họ đã nânghoạt động mậu dịch và thương mại lên một tầm cao mới qua việc sáng tạo các phươngthức xác định lợi nhuận chuẩn xác hơn Mặc dầu đã biết đến chữ số Arập từ lâu, vào thời

Trang 17

kỳ này, người Italia sử dụng chúng thường xuyên để theo dõi những tài khoản kế toán.

Họ giữ lại cho những bản ghi chép hoạt động kinh doanh do thời kỳ này việc sử dụng vốn

và tín dụng quy mô lớn ngày một phát triển Luca Pacioli và Summa Luca Pacioli là đạidiện tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng, ông thông hiểu các kiến thức về văn học, nghệthuật, toán học, kinh doanh và các môn khoa học Sinh năm 1445 tại Borgo San Sepulcro,Tuscany, Frater Luca Bartolomes Pacioli thu thập được một lượng kiến thức đáng kinhngạc về khoa học kỹ thuật, tôn giáo, kinh doanh, khoa học quân sự, toán học, y học, nghệthuật, âm nhạc, pháp luật và ngôn ngữ Ông đồng tình với quan điểm cho rằng tồn tại mốiquan hệ nội sinh giữa vô vàn các quy luật khác nhau và trong mối quan hệ đó luôn duy trì

sự hoà hợp và cân bằng như giưã toán học và kế toán Bạn của ông, Leonardo da Vinci đãgiúp ông chuẩn bị những bản vẽ cho tuyển tập 1497, Divina Proportione; đổi lại, Paciolitính cho Da Vinci mà số lượng đồng đỏ cần cho pho tượng khổng lồ Duke LidovicoSforza ở Milan Khoảng năm 1482, sau khi hoàn thành luận thuyết thứ ba về toán học,Pacioli một người muốn cống hiến đời mình cho công việc thuyết giáo, khoác lên mìnhchiếc áo tu sĩ Ông đi chu du khắp Italy thuyết trình về toán học, và đến năm 1486, ông

đã hoàn thành cấp bậc đại học tương đương với học vị tiến sĩ Pacioli không bao giờ chorằng mình sáng tạo ra kế toán kép Ba mươi sáu năm trước khi ông hoàn thành luậnthuyết nổi tiếng này, Benedetto Cotrugli đã viết Delia Mercatura et del Mercante Perfetto,trong đó có một chương ngắn gọn mô tả nhiều đặc tính của kế toán kép Mặc dầu côngtrình này không được xuất bản, Pacioli đã biết đến bản thảo này và lấy đó làm khởinguồn viết nên Phương pháp kế toán kép Vào năm 1494, ở tuổi 50, chỉ 2 năm sau khiColombus phát hiện ra châu Mỹ, Pacioli trở lại Venice cho xuất bản xuất bản ấn phẩm thứnăm mình, Summa de Arithmetica, Geometria, Proportioni et Proportionalita Cuốn sáchnày được coi là một bản tóm lược và kiến giải về toán học, trong đó sổ kế toán chỉ là mộttrong số năm đề mục được đề cập đến với 36 chương ngắn về sổ kế toán Vào thời điểm

đó, 10 tháng 11 năm 1494, tức là mới một phần tư thế kỷ sau khi Gutenberg sáng chế ramáy chữ, nên việc xuất bản sách là vô cùng đắt đỏ Điều đó cho thấy việc Pacioli xuấtbản các tác phẩm nghiên cứu khoa học của mình quả thật là kỳ công Ý nghĩa của SummaTrong vòng 1 thế kỷ đầu tiên sau khi được công bố, Summa được dịch ra 5 ngôn ngữkhác nhau như tiếng Hà lan, Đức, tiếng Anh và đã nhanh chóng đụơc truyền bá khắp châulục Có lẽ nhiều người trong số chúng ta không tránh khỏi ngạc nhiên rằng tại sao kể từsau Pacioli, phương thức ghi sổ kế toán dường như không có thay đổi gì đáng kể Trongthực tế, điểm khác nhau sơ đẳng giữa kế toán hiện đại và "Phương pháp Venice " là có sự

bổ sung và tinh giản hơn nhằm đáp ứng quy mô kinh doanh ngày càng được mở rộng Kếtoán phát triển xuyên lục địa Vào giữa thế kỷ 19, Nước Anh đang ở vào thời kỳ thịnhvượng với Cách mạng Công nghiệp Nước Anh dẫn đầu về sản xuất than đá, hàng dệtbông và sắt, và là trung tâm tài chính của thế giới Năm 1880 Institute of CharteredAccountants mới được hình thành ở Anh và xứ Wales tập hợp tất cả những người hànhnghề kế toán tại các nước đó Ngoài 587 thành viên ghi danh đầu tiên, sau đó đã bổ sungthêm 606 thành viên là những kế toán viên có kinh nghiệm Vào cuối những năm 1800,một số lượng lớn của tư bản Anh chảy sang các ngành công nghiệp phát triển ở Hoa kỳ.Các kế toán viên người Anh và Xcốt-len đã sang Mỹ để kiểm toán các khoản mục đầu tưnày, và một số trong bọn họ đã tiếp tục ở lại và hành nghề ở Mỹ Thư mục thành phố từnăm 1850 liệt kê 14 kế toán viên đang hành nghề tại New York, bốn ở Philadelphia vàmột ở Chicago Đến năm 1886, con số đó la 115 tại New York, 87 ở Philadelphia và 31 ởChicago Những nhóm những kế toán viên đã tập hợp lại và phát triển thành hiệp hội kếtoán chuyên nghiệp tại khắp các thành phố Mỹ Năm 1887, hiệp hội kế toán quốc gia đầu

Trang 18

tiên ở Mỹ được thành lập là American Association of Public Accountants, tiền thân củaAmerican Institute of Certified Public Accountants

Câu 7: Phân tích mối liên hệ giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế và bê bối tài chính tới sự phát triển của xu hướng lập quy của kế toán hiện đại.

Cách 1:

Một trong những đặc điểm của kế toán là tính tương đối, việc xử lý một số nghiệp vụphát sinh trong kế toán dựa trên một số giả định kế toán nhất định nên có thể tuỳ theo từng cáchhiểu về giả định kế toán khác nhau có thể tạo ra những con số kết quả khác nhau hoàn toàn Đặcbiệt trong những năm đầu của thế kỷ 20 khi mà các lý thuyết lập quy của kế toán chưa ra đời,công tác kế toán tại các công ty không được thống nhất đây cũng là một trong những nguyênnhân trực tiếp gây ra các cuộc khủng hoảng và bê bôi tài chính trong thời kỳ này

Một cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất trong thế kỷ 20 chính là đại suy thoái năm

1929-1933, đây là cuộc khủng hoảng có quy mô lớn nhất và trầm trọng nhất của giới tư bản một cuộckhủng hoảng cơ cấu mà đến ngày nay mọi người nhắc tới nó như là một nỗi kinh hoàng Sự tăngtrưởng nóng của các doanh nghiệp trong khi nhu cầu không tăng, hàng hoá dư thừa nhưng tất cảnhững điều đó không thể hiện trong các thông tin của kế toán khiến cho nhiều nhà đầu tư cónhững quyết định sai lầm Sự kiện “ngày thứ sáu đen tối”-29/10/1929 thị trường chứng khoán

Mỹ bắt đầu rơi vào khủng hoảng các cổ phiếu trở thành đống giấy lộn Từ lĩnh vực chứng khoáncuộc khủng hoảng lan rộng ra tất cả các lĩnh vực khác trở thành một cuộc khủng hoảng toàn diệntrên tất cả các mặt kinh tế xã hội Có thể nói những hậu quả từ cuộc khủng hoảng này chính làđộng lực để phát triển xu hướng lập quy bắt đầu từ những năm 1950 Lý thuyết lập quy lúc nàytập trung vào việc giải quyết vấn đề “kế toán phải làm như thế nào” thay vì “kế toán đang làmthế nào” Các chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính được phát triển tại nhiều quốcgia và từ các tổ chức kế toán quốc tế để đảm bảo thông tin kế toán hữu ích hơn cho người sửdụng Nội dung cơ bản của kế toán quy chuẩn là phê phán giá gốc và đi tìm các lý thuyế giá mớitrong kế toán, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế lạm phát Các mô hình định giá ngoài giágốc( ví dụ giá hiện hành) ra đời trong bối cảnh này Đề xuất một khuôn mẫu lý thuyết kế toánnhư một lý thuyết cấu trúc về kế toán Xuất phát từ việc định nghĩa bản chất và ý nghĩa của kếtoán, các nghiên cứu xác định mục đích kế toán và từ đó đưa ra các nguyên tắc xác định mụcđích kế toán và từ đó đưa ra các nguyên tắc kế toán Các nghiên cứu này làm nền tảng cho việcphát triển các khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ và

Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế

Thực ra một số nghiên cứu theo hướng quy chuẩn đã hình thành từ thập kỷ 1940 như tác phẩm “Giới thiệu về chuẩn mực kế toán công ty” đây là bộ nguyên tắc kế toán đầu tiên được phát triểntrên cơ sở diễn dịch thay vì chỉ quy nạp từ thực tiễn Đã phân biệt rất õ giữa nguyên tắc kế toánvới các phương pháp kế toán và mối quan hệ giữa chúng Đến năm 1960 các nghiên cứu quychuẩn phát triển mạnh mẽ như: các nghiên cứu về các nguyên tắc kế toán theo hướng quy chuẩnnhư các giả định cơ bản của kế toán, các nghiên cứu về lợi nhuận doanh nghiệp và định giá như

Kế toán định giá và hành vi kinh tế của Chambers năm 1966

Trang 19

CÂU 8 Phân tích khái quát các luận điểm về lý thuyết kế toán? Theo anh, chị, lý thuyết kế toán là gì và có vai trò gì trong sự phát triển của kế toán?

Cách 1:

Các luận điểm về lý thuyết kế toán

Một điểm xuất phát quan trọng trong các lý thuyết kế toán là vai trò của kế toán Có rấtnhiều quan điểm khác nhau về bản chuất của kế toán và điều này ảnh hưởng đến việc phát triểncác lý thuyết kế toán Tuy nhiên, sự khác biệt này không loại từ nhau mà giúp cho việc hiểu biếtsâu hơn về kế toán

- Kế toán là công cụ phản ánh quá khứ: Kế toán là một công cụ ghi chép lại các giao

dịch trong quá khứ của doanh nghiệp một cách trung thực dựa trên các nguyên tắc khách quan,nhất quán và thận trọng Các ghi chép này cung cấp thông tin về khả năng của người quản lýtrong việc sử dụng nguồn lực của chủ sở hữu, bao gồm việc bảo quản cho đến huy động mộtcách hiệu quả nhất Quá trình phản ánh của kế toán dựa trên các quy định mang tính hành vi vềtính trọng yếu, khách quan, nhất quán và sự giám sát hành động của kế toán

- Kế toán phản ánh thực tại kinh tế: Kế toán là một công cụ phản ánh hiện thực kinh tế

tại thời điểm hiện tại hơn là sử dụng giá gốc để ghi chép và phản ánh Theo đó, bảng cân đối kếtoán phải trình bày được giá trị kinh tế của tài sản và nợ phải trả, báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh phải phan ánh “lợi nhuận thực” của doanh nghiệp, là giá trị lợi ích kinh tế tăng lên độc lậpvới các phương pháp phân bổ hay phân loại Quan điểm này dẫn đến sự phủ nhận giá gốc và tìmkiếm các loại giá thay thế như giá hiện hành hoặc giá trị có thể thực hiện Đây là quan điểm làmnền tảng cho các lý thuyết quy chuẩn liên quan đến định giá trong kế toán

- Kế toán là hệ thống thông tin: Là hệ thống thông tin, kế toán bao gồm nguồn thông tin

(kế toán viên), kênh thông tin và người sử dụng Dưới góc độ này, kế toán được hiểu như côngviệc mã hóa các quan sát theo ngôn ngữ của hệ thống, biến thành các tín hiệu và báo cáo của hệthống, sau đó giải mã thành các kết quả Cách tiếp cận này có ý nghĩa quan trọng trong phát triểncác lý thuyết kế toán Theo đó, kế toán không còn bị ràng buộc bởi mục đích tạo ra một con sốlợi nhuận đúng tuyệt đối hay một bức tranh trung thực tuyệt đối Thay vào đó, kế toán được thiếtlập để cung cấp thông tin phù hợp cho người sử dụng

- Kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh:

Quan điểm này được đưa ra trên những điểm tương đồng giữa kế toán và ngôn ngữ:+ Về mục đích: Cả hai cùng nhắm đến cung cấp thông tin cho một đối tượng nhất định+ Về cấu trúc, tương tự như ngôn ngữ bao gồm hai thành phần là từ ngữ và văn pham, kếtoán cũng bao gồm các số liệu và nguyên tắc xác định để hình thành báo cáo tài chính

Với tư cách là một ngôn ngữ, kế toán chuyển các nghiệp vụ kinh tế thành các con số theomột quy luật nhất định giúp người đọc có thể hiểu được thực trạng tài chính và kinh doanh cùadoanh nghiệp, bất kể khoảng cách về không gian, thời gian Quan điểm này là nền tảng cho việcnghiên cứu cấu trúc của lý thuyết kế toán

- Kế toán là hoạt động chính trị trong phạm vi doanh nghiệp

+ Hệ thống kế toán phản ánh và phục vụ các giá trị và nhu cầu của các nhóm lợi ích cụthể

+ Thông tin kế toán được tạo lập và sử dụng để định hình các chính sách của doanhnghiệp, đặc biệt trong việc ra quyết định và các mục tiêu quản lý

+ Việc thiết lập chuẩn mjwcj kế toán là chính trị:

Các nhà quản lý tham gia vận động cho các chuẩn mực kế toán nhằm phục vụ cho lợiích của họ;

Các nhà quản lý sẽ lựa chọn các kỹ thuật đem lại hiệu quả nhất cho họ;

Trang 20

Các nhà quản lý sẽ ủng hộ cho các chuẩn mực nào làm giảm thuế, giảm chi phí ghi sổ,tăng lợi ích của nhà quản lý

Chuẩn mực kế toán là sản phẩm của hoạt động chính trị và không có hiệu lực kỹ thuật.Quan điểm tiếp cận dưới góc độ chính trị làm nền tảng cho các nghiên cứu về quy trìnhlập quy về kế toán như có cần thiết có các tổ chức lập quy không, vai trò của nhà nước, chi phíchính trị của kế toán…

- Kế toán là lợi ích kinh tế:

+ Kế toán là một phần trong hệ thống các thông tin, việc thực hiện nó cũng bao gồm cácchi phí và đem lại các lợi ích

+ Việc thực hiện chuẩn mực kế toán chính là chi phí tuân thủ

+ Kế toán đưa ra các quy tắc xác định người chịu chi phí và người hưởng lợi

+ Kế toán phục vụ việc giám sát hoạt động của nhà quản lý và hỗ trợ nhà quản lý thể hiệnđóng góp của mình cho lợi ích của các nhà đầu tư, cổ đông

+ Giả định rằng nhà quản lý đã lựa chọn các thủ tục để xây dựng các phương pháp kếtoán ban đầu mà theo đó có thể tối thiểu chi phí của doanh nghiệp  các thay đổi trong các thủtục kế toán sẽ có tác động đến nhà quản lý, ví dụ như vận động các nhà ban hành chính sách đểngăn chặn các thay đổi không mong muốn

- Ngoài ra, còn một số luận điểm khác như: kế toán được xem như thần học, kế toán làhàng hóa xã hội, kế toán là một nhóm xã hội,…

Lý thuyết kế toán và vai trò của nó trong sự phát triển của kế toán

- Khái niệm lý thuyết:

+ Là một hệ thống các kiến thức chung được sử dụng để giải thích một hiện tượng, mộtvấn đề nhấn định

+ Là hệ thống suy luận (diễn dịch) bao gồm các mệnh đề, các công bố về các nguyên tắctổng quát

+ Là hệ thống logic bao gồm các giả thuyết, các nguyên tắc lý luận và thực tiễn tạo ra hệ

thống chung, liên quan đến một lĩnh vực nghiên cứu nhất định (Hendricksen) Đây là khái niệmđược tham chiếu đến nhiều nhất

- Lý thuyết kế toán: Là các luận điểm logic trong khuôn khổ hệ thống các nguyên tắc

tổng quát, từ đó: (1) cung cấp cơ sở đển đánh giá thực tiễn kế toán và (2) định hướng cho sự pháttriển của các quy trình và vấn đề thực tiễn mới

- Vai trò của lý thuyết kế toán đối với sự phát triển kế toán:

+ Có thể nói, chính từ thực tiễn của kế toán những nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạpcủa người sử dụng đối với thông tin kế toán đã tạo tiền đề cho sự ra đời của rất nhiều lý thuyết kếtoán khác nhau Đến lượt mình, các lý thuyết kế toán lại góp phần tạo ra những khuôn khổ, quyđịnh, định hướng cho sự vận động và phát triển của kế toán và tạo ra những công cụ hữu ích để

kế toán có thể sử dụng và đưa ra những thông tin ngày càng sát hơn với nhu cầu của từng đốitượng sử dụng Tiếp theo đó, các lý thuyết kế toán thực chứng đã góp phần to lớn trong việckhám phá ra các quy luật vận động, tác động của thông tin kế toán đến việc ra quyết định của cácđối tượng khác nhau

+ Các lý thuyết chọn lựa các cách tiếp cận khác nhau, các góc nhìn khác nhau mang lạinhững hiểu biết đầy đủ hơn cho người học và hành nghề kế toán, tránh được cái nhìn phiến diệnhay định kiến Qua quá trình phát triển, lý thuyết kế toán ngày càng mang lại cho kế toán một nộihàm sâu sắc hơn là những quy trình nghiệp vụ đơn thuần hay các quy định pháp lý Nói nhưVangermeersch và Power J.W “các tranh luận vượt khỏi các tiên đề và phát hiện của kế toánthực chứng cho thấy tư tưởng kế toán đã đạt đến độ chín của một lĩnh vực khoa học”

Trang 21

+ Dưới góc độ của các nhà lập quy kế toán, các lý thuyết tạo lập nền tảng cho việc đánh giá thựctiễn phát sinh và thiết lập cơ sở tham chiếu cho các quy định về kế toán được ban hành.

Cách 2

Câu 8 – Dương Thị Thanh Hải

PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT CÁC LUẬN ĐIỂM VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN ? THEO ANH CHỊ LÝ THUYẾT KÉ TOÁN LÀ GÌ VÀ CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ Toán

Phân tích khái quát các luận điểm về lý thuyết kế toán :

Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vậnđộng của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trongdoanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế – xãhội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp

Lý thuyết thường được hiểu như hệ thống các phát biểu nhằm giải thích hiện thực Dướigóc độ cấu trúc, lý thuyết có thể xem là một hệ thống chặt chẽ các nguyên tắc từ giả định, kháiniệm cho dến ứng dụng tạo thành một cơ sở tham chiếu tổng thể cho lĩnh vực nghiên cứu Cấutrúc của lý thuyết bao gồm quan hệ logic, quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ ứng dụng

Lý thuyết kế toán được định nghĩa là các lập luận logic dưới dạng các nguyên tắc chung,các nguyên tắc này cung cấp một khuôn mẫu tham chiếu tổng quát có thể đánh giá thông lệ kếtoán đồng thời hướng dẫn phát triển thông lệ hoặc thủ tục kế toán mới

Các phương pháp tiếp cận được sử dụng trong lý thuyết kế toán hình thành các trườngphái khác nhau :

- Việc quan sát phản ứng của đối tượng sử dụng thông tin kế toán cho phép đánh giá tính hữu íchcủa thông tin và mức độ thích hợp của thông tin với nhu cầu người sử dụng Khó khăn của cáchtiếp cận này là các đối tượng sử dụng thông tin không đồng nhất và không phải lúc nào cũngphản ứng hợp lý Để khắc phục, người ta phải sử dụng một cỡ mẫu lớn Đây là các lý thuyếthành vi phát triển vào những năm cuối thế kỷ 20

Các lý thuyết cấu trúc

Phương pháp tiếp cận này dựa trên các suy luận logic hơn là quan sát thực tế Thí dụ kếtoán giá gốc cho rằng dựa trên các giá giả định ban đầu (không có lạm phát, bỏ qua giá thị trườngcủa tài sản…), các nghiệp vụ dựa trên giá gốc, được xử lý qua sổ sách kế toán (tập hợp, phânbổ ) và từ đó báo cáo tài chính được lập ra, sau đó được kiểm tra bởi các kiểm toán viên độc lập.Nhờ vậy, báo cáo tài chính sẽ phản ánh đúng tình hình tài chính và kết quả hoạt động của Doanhnghiệp Lý thuyết này bị phê phán vì dựa trên quan sát thực tế mà chỉ nhấn mạnh vào việc tổnghợp các số liệu, kiểm toán không xem xét đến ý nghĩa thực sự của những con số và trên thực tế,

Trang 22

các phương pháp kế toán khác nhau vẫn được chấp nhận trong các chuẩn mực, quy định về kếtoán.

Các lý thuyết quy chuẩn

Tập trung vào việc đưa ra các đề xuất về chính sách để dạt được thông tin kế toán tốtnhất, thay vì phân tích và giải thích các thông lệ hiện hành Các lý thuyết chủ yếu xuất phát từhai nền tảng cơ bản là lợi nhuận thực và thông tin hữu ích cho quyết định Các lý thuyết quychuẩn chủ yếu dựa trên các khái niệm của kinh tế học cổ điển về lợi nhuận, phúc lợi hoặc về quátrình ra quyết định hợp lý Do đó chúng tâm nhiều đến điều chỉnh giá gốc theo ảnh hưởng củalạm phát hoặc giá thị trường

Các lý thuyết quy chuẩn dựa trên giả thuyết :

- Kế toán phải là một hệ thống đo lường

- Kế toán truyền thống không hoàn hảo dưới góc độ cung cấp thông tin Giá gốc khôngphản ảnh đúng tài sản và lợi nhuận thực

- Lợi nhuận và giá trị tài sản có thể đo lường một cách chính xác và chỉ có một con sốlợi nhuận duy nhất

- Kế toán tài chính cần hữu ích cho người sử dụng để ra quyết định

Các lý thuyết thực chứng

Các lý thuyết này kiểm chứng các giả định của lý thuyết quy chuẩn, đồng thời mở rộngsang việc giải thích các thông lệ kế toán hiện hành và dự đoán ảnh hưởng của kế toán đến quyếtđịnh của các bên trong thị trường và nền kinh tế

Vai trò của lý thuyết kế toán trong sự phát triển của kế toán :

Lý thuyết kế toán hình thành và phát triển đã đưa kế toán từ chỗ chỉ đơn thuần là nhữnghoạt động thực tiễn nhằm giải quyết nhu cầu quản lý tài chính của con người nên một tầm mới cóảnh hưởng rộng lớn hơn phạm vi mà nó vốn có Lý thuyết kế toán tạo lập các nguyên tắc kế toán,giải thích và hướng dẫn thực tiễn công tác kế toán

Kế toán không ngừng phát triển, hoàn thiện đồng nghĩa với việc lý thuyết kế toán cũngkhông bao giờ ngừng lại và không lý thuyết nào bao quát hết các khía cạnh của hoạt động thựctiễn phong phú và phức tạp

Dưới góc độ của các nhà lập quy lý thuyết kế toán tạo lập nền tẳng cho việc đánh giá thựctiễn phát sinh và thiết lập cơ sở cho tham chiếu cho các quy định về kế toán được ban hành

Các phương pháp tiếp cận khác nhau tồn tại đồng thời hoặc kế tiếp nhau trong các nghiêncứu kế toán qua nhiều năm Các nhà nghiên cứu trong mỗi lý thuyết của mình đều phê phánnhững hạn chế của lý thuyết khác Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể có thể thấy chúng tạo thành mộthiểu biết đầy đu hơn của bản chất kế toán cũng như có thể kết hợp với nhau trong việc phát triểnthông lệ kế toán

Câu 9: Phân tích các đặc trưng cơ bản và thành tựu chủ yếu trong thời kỳ Tiền lý thuyết? Theo anh, chị, các thành tựu nào có ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung của lý thuyết kế toán hiện đại.

Trả lời:

Thời kỳ tiền lý thuyết được coi là bắt đầu từ khi có những hình thức sơ khai của kế toán cho đếnhết thế kỷ 18

Trang 23

* Đặc trưng cơ bản thời kỳ này: Chỉ tập trung vào việc phát triển các thông lệ kế toán hơn là đưa

ra một lý thuyết đầy đủ Không có lý thuyết nào về kế toán được đưa ra từ thời Pacioli cho đếnđầu thế kỷ 19 Mặc dù đây đó có những đề xuất về lý thuyết nhưng chúng không đủ phạm vi cầnthiết để đặt kế toán trên một nền tảng mang tính hệ thống

* Thành tựu chủ yếu:

Trước khi hệ thống kế toán kép ra đời vào thế kỷ 15, kế toán dưới hình thức các ghi chép phục

vụ cho hoạt động kinh doanh, tài chính của con người đã tồn tại từ lâu Năm 1494, Luca Pacilio

đã giới thiệu hệ thống kế toán kép trong tác phẩm "Summa de Arithmatia, Geometria,Proportioni et Proportionalita" đóng góp quan trọng cho việc phát triển của kế toán hiện đại

* Như đã nói trên việc giới thiệu hệ thống kế toán kép của Luca Pacilio đã đóng góp quan trọngtrong việc phát triển của kế toán hiện đại Những đóng góp chính vào kế toán ngày nay gồm:

- Sự hình thành các loại nhật ký chuyên dùng cho việc ghi nhận các nghiệp vụ khác nhau

- Tạo lập các báo cáo kế toán định kỳ

- Mở rộng áp dụng hệ thống kế toán kép cho các tổ chức kinh tế khác như tu viện, nhà nước

- Sử dụng các tài khoản riêng biệt để theo dõi các loại hàng tồn kho khác nhau

- Hình thành các khái niệm về hoạt động liên tục, niên độ và dồn tích

- Một số phương pháp kế toán tài sản cố định

Câu 10: Trình bày khái quát mục tiêu chủ yếu của lý thuyết kế toán trong thời kỳ khoa học

cơ bản ? Thời kỳ này có những thay đổi chủ yếu nào so với thời kỳ tiền lý thuyết?.

Cách 1:

 Giai đoạn thời kỳ khoa học cơ bản: 1800 – 1955

- TK 19 là thời kỷ phát triển mạnh mẽ các kỹ thuật và thông lệ kế toán xuất phát từquá trình công nghiệp hóa, sự tách rời quyền sở hữu và chức năng quản lý trong cácdoanh nghiệp quy mô lớn làm tăng nhu cầu thông tin về quản trị tài chính

- Các kỹ thuật và thông lệ kế toán bắt đầu được đưa vào giảng dạy trong trường đại học

và nhiều giáo trình kế toán được hình thành

- Nhiều đóng góp cho kế toán trong giai đoạn này như sự phát triển phương pháp khấuhao, kỹ thuật dồn tích, hệ thống kế toán chi phí….Sự phát triển của kinh tế học trongthời kỳ này cũng đặt nền móng cho sự liên kết giữa các lĩnh vực với nhau

- Cuối TK 19 đầu TK20, một số tổ chức nghề được thành lập ở Anh và Mỹ cùng với sựhình thành nghề kế toán chuyên nghiệp Các tổ chức này đóng góp vào việc phát triểncác lý thuyết ban đầu của kế toán như:

+ Năm 1936 Hội kế toán Mỹ AAA xuất bản ấn phẩm “Một công bố định hướng vềcác nguyên tắc kế toán cơ bản cho báo cáo tài chính công ty”

+ Năm 1938 Hội kế toán viên hành nghề Mỹ - AICPA ban hành “Một công bố vềnguyên tắc kế toán”

 Mục tiêu chủ yếu của lý thuyết kế toán trong thời kỳ khoa học cơ bản :

- Các nghiên cứu lý thuyết trong giai đoạn này tập trung vào việc cung cấp các giảithích về thực tiễn, trên cơ sở phân tích thực nghiệm cách thức doanh nghiệp đang làm

kế toán

- Tạo ra một bộ các nguyên tắc kế toán hữu ích cho việc làm sáng tỏ và cải thiện côngtác kế toán công ty và báo cáo tài chính phát hành ra công chúng

Trang 24

 Thời kỳ khoa học cơ bản có những thay đổi chủ yếu nào so với thời kỳ tiền lý thuyết.

- Thời kỳ tiền lý thuyết không có lý thuyết nào được đưa ra, chỉ là những đề xuất về lýthuyết chưa đủ ảnh hưởng mang tính hệ thống

- Thời kỳ tiền lý thuyết mới chỉ phát triển về kỹ thuật và các phương pháp ghi chép;Thời kỳ khoa học cơ bản đã phát triển thành lý thuyết, nguyên tắc được giảng dạytrong trường đại học, xuất bản những ấn phẩm và là nền tảng các công ty xây dựngbáo cáo

- Thời kỳ khoa học cơ bản có những Hội kế toán như: Hội kế toán Mỹ AAA; Hội kếtoán viên hành nghề Mỹ - AICPA

Cách 2

Thời kỳ khoa học tiền cơ bản bao gồm toàn bộ thế kỷ 19 và kéo dài đến thập niên 50 của thế kỷ

20 Đây là thời kỳ phat triển mạnh mẽ của kỹ thuật và thông lệ kế toán do sự tá động của quátrình công nghiệp hoá, tách rời quyền sở hữu với chức năng quản lý trong doanh nghiệp quy môlớn làm tăng nhu cầu thông tin về quản trị tài chính Bối cảnh lịch sử kinh tế có tác động lớn đếnmục tiêu của kế toán

Việc phát triển lý thuyết chủ yếu nhằm giải thích các vấn đề thực tiễn, đặc biệt tập trungvào việc xây dựng chính sách chung để giải thích và phát triển thực tiễn kế toán

Các lý thuyết được dựa trên các nghiên cứu thực chứng với các phương phát của KHTN

Lý thuyết được xây dựng trên các vấn đề quan sát được từ thực tien hơn là các suy luậnlogic.Các nghiên cứu lý thuyết trong giai đoạn này tập trung vào cung cấp các giải thích vè thựctiến, trên cơ sở phân tích thực nghiệm cách thức doanh nghiệp đang làm kế toán

Kết quả là vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 một số tổ chức nghề nghiệp ra đời tại Anh vàHoa Kỳ với sự hình thành của kế toán chuyên nghiệp như AAA, AICPA

Khác biệt:

Khác biết chủ yếu của thời kỳ này so với thời kỳ tiên lý thuyết là trong thời kỳ tiền lýthuyết không có lý thuyết nào được đưa ra , mặc dù cũng có một vài đề xuất về lý thuyết nhưngxhúng không đủ phạm vi cần thiết để đặt kế toán trên một nền tảng có tính hệ thống, chủ yếu làphát triển về kỹ thuật và các phương pháp kế toán, trong khi đó tại thời kỳ khoa học cơ bản một

số lý thuyết được xây dựng, các nguyên tắc kế toán ra đời làm nền tảng cho công tác kế toán tạicông ty, đồng thời kế toán cũng được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học, nhiều tácphẩm nôi tiếng làm nền tảng cho kế toán được xuất bản bởi cá tổ chức nghề nghiệp

Câu 11: Phân tích hệ thống mục tiêu, nội dung và thành tựu của thời kỳ lập quy của lý thuyết kế toán? Theo anh, chị thời kỳ lập quy có ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển của kế toán ngày nay?

Cách 1:

Trang 25

Lý thuyết thời kỳ này tập trung vào giải quyết vấn đề “ kế toán cần phải làm như thế nào” thay vì

“ kế toán đang được làm thế nào?” Đến những năm 1960 Các quy chẩn mới được phát triểnmạnh mẽ như:

- Các nghiên cứu về các nguyên tắc kế toán theo hướng quy chuẩn như “các giả định cơbản của kế toán” do Moonitz năm 1961, “ Định hướng các nguyên tắc kế toán áp dụng chodoanh nghiệp”

-Các nghiên cứu về lợi nhuận doanh nghiệp và định giá như “kế toán, định giá và hành vikinh tế của chambers năm 1966; “ cơ sở của đo lường trong kế toán” của Ijiri năm 1967

Thời kỳ quy chuẩn là thời kỳ các nhà lý thuyết kế toán cố gắng thiết lập những tiêu chuẩn choviệc thực hành kế toán tốt nhất Thời kỳ của báo cáo thực hành theo quy chuẩn và những cơ sở

để đạt được việc thực hành kế toán như vậy

Thời kỳ lập quy là thời kỳ đưa ra các chuẩn mực, chuẩn tắc (1956-1970)

- Năm 1959 AICPA thành lập hội đồng chuẩn mực kế toán nhằm định hướng cho các nghiên cứu

về kế toán

- Các lý thuyết được công bố để giải thích thực tế ngày càng phức tạp

- Tập trung vào việc xác định các quy tắc để thực hành kế toán tốt nhất

- Các lý thuyết kế toán không tập trung vào việc tìm hiểu thực tế kế toán đang diễn ra thế nào màtập trung vào nghiên cứu vấn đề kế toán cần phải được thực hiện và phát triển thế nào?

* Hệ thống mục tiêu của thời kỳ lập quy của lý thuyết kế toán:

Thời kỳ lập quy đã ra đời các tổ chức lập quy , các tổ chức này sẽ đưa ra các chuẩn mựcnhằm đảm bảo sự thống nhất quan điểm giữa người lập và người sử dụng cũng như khả năng sosánh các thông tin kế toán Do vậy các chuẩn mực này phải đảm bảo tính hệ thống, và chỉ đặt racác nguyên tắc chứ không đi vào các quy định cụ thể

- Tính hệ thống của các chuẩn mực: như bất kỳ một quy định nào, các chuẩn mực kế toánphải đảm bảo tính hệ thống nghĩa là mối quan hệ chặt chẽ và nhất quán giữa các chuẩn mực.Trong khi đó mỗi chuẩn mực kế toán giải quyết một vấn đề cụ thể và ra đời trong bối cảnh cụthể, do đó các chuẩn mực luôn có khả năng bị đe dọa thay thế Cách giải quyết hiện nay là hìnhthành một khuôn mẫu lý thuyết cho các chuẩn mực kế toán

- Mức độ cụ thể của chuẩn mực: khuynh hướng dựa vào nguyên tắc cho rằng chuẩn mực

kế toán chỉ nên đưa ra nguyên tắc thay vì đi vào các quy định quá cụ thể Điều này sẽ giúp ngườilập vận dụng phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể phát sinh

* Nội dung của các lý thuyết kế toán thời kỳ lập quy:

- Phê phán giá gốc và đi tìm các lý thuyết định giá mới trong kế toán, đặc biệt là trongđiều kiện nền kinh tế lạm phát Các mô hình định giá ngoài giá gốc (giá hiện hành) ra đời trongbối cảnh này

Trang 26

- Đề xuất một khuôn mẫu lý thuyết kế toán như một lý thuyết cấu trúc về kế toán Xuấtphát từ việc định nghĩa bản chất và ý nghĩa của kế toán, các nghiên cứu xác định mục đích kếtoán và từ đó đưa ra các nguyên tắc kế toán Các nghiên cứu này làm nền tảng cho việc phát triểncác khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ (FASB) và

Ủy ban chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) sau này

* Ảnh hưởng của thời kỳ lập quy tới sự phát triển của kế toán ngày nay

- Việc chỉ ra những bất cập của mô hình giá gốc trong kế toán trong đó nêu những ảnhhưởng của biến đổi giá cả, lạm phát khi định giá tài sản, xác định doanh thu Từ đó đòi hỏi kếtoán phải tìm ra một mô hình giá hợp lý hơn so với mô hình giá gốc

- Thông qua việc đề xuất một khuôn mẫu lý thuyết kế toán như một lý thuyết cấu trúc về

kế toán Xuất phát từ việc định nghĩa bản chất và ý nghĩa của kế toán, các nghiên cứu xác địnhmục đích kế toán và từ đó đưa ra các nguyên tắc kế toán Các nghiên cứu này làm nền tảng choviệc phát triển các khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa

Kỳ (FASB) và Ủy ban chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) sau này Nó làm cơ sở cho sự ra đờicủa các chuẩn mực kế toán, hình thành nên các nguyên tắc kế toán của các quốc gia ngày nay

- Nhìn chung, lý thuyết lập quy đã được sử dụng làm nền tảng cho việc tăng cường vaitrò tổ chức lập quy trong kế toán và hình thành chuẩn mực kế toán trong suốt thể kỷ 20 Tuynhiên, những vấn đề của lý thuyết thị trường tự do cũng cần xem xét khi thiết lập các chuẩn mựcnhằm tránh khuynh hướng quá tải của các chuẩn mực

- Là nền tảng hình thành “ các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến”

- Quy định hình thức và nội dung thông tin tài chính phải công bố của các công ty niêm yết

- Nền tảng cho việc ban hành các nguyên tắc kế toán Trong 12 năm từ 1961 đến 1973 APB

đã đưa ra 31 ý kiến , 15 nghiên cứu kế toán, trong đó có nhiều tài liệu đã đặt nền tảng cho sựphát triển các lý thuyết kế toán sau này

- Năm 1973 một nhóm đã công bố kết quả nghiên cứu về mục đích của báo cáo tài chínhnhằm tạo lập cơ sở lý thuyết cho chuẩn mực kế toán, đây là một trong những nghiên cứu tiềnthân của khuôn mẫu lý thuyết kế toán sau này

Cách 2

Xu hướng lập quy là xu hướng đưa ra các quy định, chuẩn mực, chuẩn tắc nhằm yêu cầuviệc ghi nhận và công bố các thông tin kế toán phát sinh theo một khung nguyên tắc và quy địnhthống nhất Xu hướng này nhằm đưa mọi thứ vào khuôn khổ của kế toán và bắt nguồn từ từngquốc gia, sau đó là ra toàn khu vực thế giới

Trang 27

Xu hướng lập quy trong lý thuyết kế toán có từ năm 1956 – 1970 Xuất phát từ các cuộckhủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp muốn tự do lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC)theo cách của mình Điều này dẫn đến tình trạng các thông tin kế toán mà doanh nghiệp đưa ratrong tình trạng lộn xộn, không thống nhất với nhau, gây khó khăn cho những người sử dụngthông tin kế toán Do đó, các tổ chức, các nhà lập pháp đã đưa ra các quy định về việc ghi nhận

và công bố các thông tin kế toán, đưa mọi thứ vào một khuôn khổ thống nhất của kế toán Điềunày giúp cho những người cần sử dụng thông tin kế toán dễ dàng nắm bắt được tình hình tàichính của các công ty theo một cách hiểu chung nhất, dễ dàng nhất theo một quy định chung màkhông cần phải tìm hiểu cách lập BCTC của từng công ty Năm 1959: AICPA thành lập hội đồngchuẩn mực kế toán nhằm định hướng cho các nghiên cứu về kế toán Bên cạnh đó, các lý thuyếtđược công bố để giải thích thực tế ngày càng phức tạp Các lý thuyết này tập trung vào việc xâydựng các quy tắc để thực hành kế toán tốt nhất Các lý thuyết kế toán không tập trung vào việctìm hiểu thực tế kế toán đang diễn ra như thế nào mà tập trung nghiên cứu vấn đề kế toán cầnphải thực hiện và phát triển như thế nào

+ Kế toán chịu ảnh hưởng bởi các định kiến chủ quan, dẫn đến nhiều quan điểm, không đưa

ra được cách giải quyết sự khác biệt giữa các quan điểm về kế toán

+ Lý thuyết lập quy không đòi hỏi việc thử nghiệm giả thuyết

+ Lý thuyết lập quy dựa trên các quan điểm về giá trị

Lập quy là xu hướng tất yếu phải có trong lịch sử phát triển của kế toán Vói những thành tựu đãđạt được và những hạn chế của nó, xu hướng lập quy có những ảnh hưởng nhất định đến sự pháttriển của kế toán ngày nay:

- Chỉ ra được bất cập của mô hình giá gốc, hình thành nên các mô hình giá khác thay thếcho mô hình giá gốc

- Các tổ chức nghề nghiệp vẫn tồn tại đến ngày nay nhưng việc ban hành các chuẩn mực,nguyên tắc kế toán mang tình hướng dẫn người lập BCTC làm theo

- Hình thành nên xu hướng mới trong lịch sử phát triển của kế toán là xu thế thực chứng

Câu 12: Phân tích nội dung của học thuyết kế toán là hàng hoá xã hội và cho biết quan điểm của anh/chị về vấn đề này?

Kế toán tác động đến lợi ích của nhiều nhóm chủ thể trong xã hội, tuỳ thuộc vào mục tiêucủa mỗi nhóm thì thông tin mà kế toán cần cung cấp là khác nhau Kế toán nhìn dưới góc độkinh tế xã hội thì nó có thể xem như là một loại hàng hoá Theo đó việc tạo ra nó cần có các chiphí và nó mang lại nguồn lực tương ứng Có quan điểm cho rằng kế toán là hàng hoá xã hội điềunày là do:

• Kế toán là một hàng hoá đặc biệt liên quan đến lợi ích công chúng (ví dụ: thị trường CK),

kế toán cần được kiểm soát bởi hệ thống các quy định thay vì để cho nhà quản lý tự dotrong việc lựa chọn chính sách và trình bày báo cáo tài chính

• Chi phí mà phải bỏ ra cho bộ máy kế toán mang lại lợi ích cho doanh nghiệp

Ngày đăng: 11/01/2018, 21:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w