Bên cạnh đó, còn rất nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện như: các thuốc không thiết yếu được sử dụng với tỉ lệ cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin, …Việc sử dụng thuốc bất
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI THÚY HÂN
KHẢO SÁT DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN VỤ BẢN
TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2017
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI THÚY HÂN
KHẢO SÁT DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN VỤ BẢN
TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2016 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương Thời gian thực hiện: Từ tháng 5/2017 đến tháng 9/2017
HÀ NỘI 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện hoàn thành Luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và có hiệu quả của rất nhiều cá nhân và tập thể, của các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Thanh
Dược Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy, các Cô Bộ môn Quản lý và kinh tế dược của Trường Đại học Dược Hà Nội, đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và khoa Dược, Phòng tổ chức cán bộ, Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính kế toán của Bệnh viện đa khoa Vụ Bản đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu tại bệnh viện
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, các bạn đồng nghiệp và những người thân đã chia sẻ, động viên tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại
để tôi được yên tâm học tập và hoàn thành bản luận văn
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2017
Bùi Thúy Hân
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Danh mục thuốc bệnh viện 3
1.1.1 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 3
1.1.2.Vị trí của DMT bệnh viện trong hoạt động cung ứng thuốc 3
1.2 Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện 4
1.2.1 Mô hình bệnh tật 4
1.2.2 Phác đồ điều trị 5
1.2.3 Danh mục thuốc thiết yếu 5
1.2.4 Danh mục thuốc thanh toán BHYT 6
1.2.5 Hội đồng thuốc và điều trị 6
1.2.6 Các tiêu chí lựa chọn thuốc: 7
1.2.7 Nguồn kinh phí của bệnh viện 7
1.3 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và ở Việt Nam 8
1.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc trên thế giới 8
1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc tại một số bệnh viện Việt Nam 10
1.4 Vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Vụ Bản 18
1.4.1 Tổ chức, cơ cấu nhân lực bệnh viện 18
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ tổ chức của khoa Dược 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.1.2 Đối tượng thu nhập dữ liệu, chọn mẫu 21
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
Trang 52.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Các biến số nghiên cứu 21
2.2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện năm 2016 31
3.3.1 Cơ cấu DMTBV theo nhóm tác dụng dược lý 31
3.1.2 Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 33
3.1.3 Cơ cấu DMT sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 43
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc tân dược/ thuốc có nguồn gốc từ dược liệu 44
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tên biệt dược gốc và thuố7c tên generic 44
3.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo thành phần 45
3.1.7 Cơ cấu DMT sử dụng theo quy chế chuyên môn 46
3.1.8 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng 46
3.2 Cơ cấu thuốc trong danh mục thuốc sử dụng tại BVĐKVB theo phân tích ABC/VEN 47
3.2.1 Cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện theo phân loại ABC 47
3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại VEN 49
3.2.3 Phân tích ma trận ABC/VEN 50
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 53
4.1 Về cơ cấu danh mục thuốc 53
4.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý 53
4.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 54
4.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc tân dược, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu 55
4.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tên biệt dược gốc và tên generic 55
Trang 64.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo thành phần 56
4.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo quy chế chuyên môn 57
4.1.7 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng 57
4.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC/VEN 58
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 KẾT LUẬN 60
1.1 Cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện đa khoa Vụ Bản năm 2016 cho kết quả như sau: 60
1.2 Cơ cấu DMT theo phân tích ABC/VEN 60
2 KIẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC HÌNH
ơ Trang
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện là cơ sở khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, trong đó thuốc có vai trò quan trọng trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Xã hội càng phát triển thì giá trị của con người ngày càng được tôn trọng, trong đó ý thức về việc bảo vệ sức khỏe của bản than mỗi người cũng được nâng cao Hiện nay chi phí cho thuốc phòng và điều trị bệnh khá đắt, tại Việt Nam, chi phí bình quân đầu người cho thuốc tăng từ 19,77 USD năm 2009[11] lên 34,48 USD năm 2014[15]
Sự phát triển của ngành công nghiệp dược đã mang lại lợi ích to lớn cho xã hội: Thuốc được sản xuất với số lượng lớn, chất lượng tốt hơn và mạng lưới cung ứng thuốc phát triển rộng khắp làm giảm tình trạng khan hiếm thuốc Tuy nhiên sự đa dạng của thuốc cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa, sử dụng thuốc chữa bệnh trong các cơ sở y tế và có
sự cạnh tranh không lành mạnh cũng như tình trạng sử dụng thuốc không hợp
lý Sự cạnh tranh giữa thuốc sản xuất trong nước với thuốc nhập khẩu Bên cạnh đó, còn rất nhiều bất cập trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện như: các thuốc không thiết yếu được sử dụng với tỉ lệ cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin, …Việc sử dụng thuốc bất hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu như tăng chi phí cho người bệnh, hiệu quả điều trị kém, tăng nguy cơ gặp những phản ứng bất lợi của thuốc từ đó làm cho các vấn đề sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng và tăng gánh nặng cho kinh tế xã hội [4]
Để tránh tình trạng dùng thuốc lãng phí, không hợp lý, Tổ chức y tế thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện Hội đồng thuốc và điều trị đóng vai trò quan trọng trong hoạt động lựa chọn thuốc, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện Đối với mỗi bệnh viện, một hệ thống danh mục thuốc có hiệu quả sẽ đem lại lợi ích rất lớn trong công tác khám, chữa bệnh Từ đó giúp cho việc sử dụng thuốc cho người bệnh được hiệu quả nhất
Trang 11Bệnh viện đa khoa huyện Vụ Bản là bệnh viện hạng III, thuộc Sở y tế Nam Định Bệnh viện có quy mô thiết kế 160 giường bệnh, 6 khoa lâm sàng,
4 phòng chức năng, 2 khoa cận lâm sàng Bệnh viện có nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trong toàn huyện và các vùng lân cận Với trọng trách đó, công tác khám chữa bệnh và hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện cần được quan tâm nghiên cứu để đạt hiệu quả cao nhất Trong những năm qua chi phí thuốc tại Bệnh viện đa khoa Vụ Bản ngày một tăng do lượng bệnh nhân đến với bệnh viện Với mô hình bệnh tật đa dạng, bệnh viện có một danh mục thuốc với nhiều nhóm tác dụng dược lý và biệt dược khác nhau Công tác cung ứng thuốc cũng gặp không ít những khó khăn Mặt khác, trong những năm qua chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực dược trong bệnh viện.Vì vậy để góp phần tăng cường sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả cho
bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát danh mục thuốc sử dụng tại
Bệnh viện đa khoa Vụ Bản năm 2016” Với hai mục tiêu sau :
1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định năm 2016
2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN
Để từ nghiên cứu khoa học này chỉ ra những bất cập của danh mục thuốc
đã sử dụng tại bệnh viện Từ đó tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo đơn vị và Hội đồng thuốc và điều trị xây dựng một danh mục thuốc sử dụng tại đơn vị phù hợp với tuyến chuyên môn mà đơn vị đang thực hiện
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Danh mục thuốc bệnh viện
Danh mục thuốc là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sỹ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này DMT của bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện
1.1.1 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng trong bệnh viện
Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật
Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám, chữa bệnh
Đáp ứng các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị
Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện
Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu của
Bộ y tế ban hành
Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước[8]
1.1.2.Vị trí của DMT bệnh viện trong hoạt động cung ứng thuốc
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến người sử dụng Chu trình cung ứng thuốc được tiến hành lần lượt theo 4 bước cơ bản tạo thành chu trình khép kín:
Trang 13Trong hoạt động quản lý thuốc ở bệnh viện thì HĐT & ĐT có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện Do đó hoạt động của HĐT & ĐT có vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến chu trình cung ứng thuốc của bệnh viện
1.2 Hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc trong bệnh viện
Lựa chọn thuốc là khâu đầu tiên và quan trọng nhất của chu trình cung ứng thuốc Để công tác điều trị đạt hiệu quả cao cả về mặt chuyên môn cũng như kinh tế, việc lựa chọn danh mục thuốc phù hợp với mỗi cơ sở khám , chữa bệnh đóng vai trò quan trọng Danh mục thuốc là cơ sở đảm bảo cho việc cung ứng chủ động, có kế hoạch, hợp lý, an toàn, hiệu quả và có tác động trực tiếp đến kết quả điều trị
Một số yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc sử dụng như: Mô hình bệnh tật, phác đồ điều trị, danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc thanh toán bảo hiểm y tế, danh mục thuốc sử dụng kỳ trước, nguồn kinh phí của bệnh viện, trình độ khám chữa bệnh của bệnh viện…
1.2.1 Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời gian nhất định (thường theo từng năm) Để nghiên cứu MHBT được thống nhất, thuận lợi và chính xác, Tổ chức y tế thế giới đã ban hành phân loại quốc tế về bệnh tật ICD
MHBT của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn làm cơ sở để bệnh viện hoạch định, phát triển toàn diện trong tương lai Mỗi bệnh viện có tổ chức, nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn khác nhau với đặc điểm dân cư địa lý khác nhau, từ đó dẫn tới MHBT ở mỗi bệnh viện khác nhau
Trang 141.2.2 Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị hay hướng dẫn điều trị chuẩn là văn bản có tính chất pháp lý Nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh.Một hướng dẫn thực hành điều trị
có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau
Theo Tổ chức y tế thế giới, một hướng dẫn điều trị bao gồm đủ 4 tiêu chí: Hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế[4]
Phác đồ điều trị là sự tập trung trí tuệ của tập thể cán bộ chuyên môn của bệnh viện cho những phương án điều trị cụ thể của từng loại bệnh Vì vậy danh mục thuốc của bệnh viện cần dựa vào phác đồ điều trị (có thể là các phác đồ điều trị trong và ngoài nước), không có phác đồ điều trị thì không thể xây dựng danh mục thuốc một cách khoa học
1.2.3 Danh mục thuốc thiết yếu
Là DMT có đủ chủng loại đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong danh mục là tên gốc, dễ biết, dễ nhớ, dễ lựa chọn, dễ
sử dụng
Hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước áp dụng và có DMTTY (chủ yếu các nước đang phát triển) Số lượng tên thuốc trong DMTTY của các nước trung bình khoảng 300 thuốc [29]
DMTTY Việt Nam lần thứ VI được ban hành kèm theo thông tư số 45/2013/TT-BYT ngày 26/12/2013 bao gồm 466 thuốc hoạt chất; thông tư số 40/TT-BYT ngày 18/11/2013 ban hành DMT thiết yếu thuốc đông y và thuốc
từ dược liệu bao gồm 186 thuốc đông y , thuốc từ dược liệu; 334 danh mục vị thuốc và 70 danh mục cây thuốc Nam DMTTY là cơ sở pháp lý để xây dựng các chính sách của Nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế, liên quan đến thuốc phòng và chữa bệnh DMTTY là cơ sở để xây dựng danh mục thuốc thanh toán BHYT tại cơ sở khám, chữa bệnh [9][10]
Trang 151.2.4 Danh mục thuốc thanh toán BHYT
Danh mục thuốc thanh toán BHYT là thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với cơ cấu bệnh tật ở Việt Nam được quy định tại danh mục thuốc được quỹ BHYT thanh toán sử dụng trong
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
Danh mục thuốc thanh toán BHYT xây dựng trên cơ sở DMTTY Danh mục này là căn cứ để các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lựa chọn, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng người bệnh, bao gồm cả người bệnh không có thẻ bảo hiểm y tế [3]
Ở Việt Nam hiện nay đang dùng danh mục thuốc thanh toán BHYT sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban hành kèm theo “thông tư ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế ” số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 và thông
tư số 36/2015/TT-BYT ngày 20/10/2015 thông tư sửa đổi, bổ xung một số điều của thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 về thuốc tân dược; số 05/2015/TT-BYT về thuốc đông y, chế phẩm YHCT và vị thuốc[12][13][14]
1.2.5 Hội đồng thuốc và điều trị
Chức năng
HĐT & ĐT có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
Nhiệm vụ:
Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện Xây dựng DMT trong bệnh viện
Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Giám sát các phản ứng có hại của thuốc (ADR) và sai sót trong điều trị
Trang 16Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc[8]
1.2.6 Các tiêu chí lựa chọn thuốc:
Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng
Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng
Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc
Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất
Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng[8]
1.2.7 Nguồn kinh phí của bệnh viện
Nguồn kinh phí của bệnh viện đến từ nguồn đầu tư của nhà nước, nguồn thu của bệnh viện thông qua các hoạt động như khám, chữa bệnh, nguồn quỹ BHYT Đây cũng là căn cứ quan trọng để quy định về lựa chọn danh mục thuốc sao cho thật hợp lý
Nhìn chung, hoạt động xây dựng DMT của BVĐKVB năm 2016 đã được triển khai theo các bước rõ ràng và đầy đủ Những căn cứ trong quá trình xây dựng DTM hoàn toàn phù hợp và mang tính chất khoa học
Trang 17HĐT&ĐT đóng vai trò chính trong quá trình xây dựng DMT của bệnh viện Ngoài ra, còn có sự đóng góp các bác sĩ, dược sĩ của các khoa/phòng liên quan Giám đốc bệnh viện chính là người có thẩm quyền phê duyệt DMT sử
dụng trong bệnh viện và buộc các thành viên có liên quan phải tuân theo
1.3 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc trên thế giới
Ngành dược thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 20 của thế kỷ trước Thụy Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển công nghiệp dược, tiếp sau đó là Anh, Mỹ, Bỉ, Hà Lan,…Qua nhiều thập kỷ phát triển, môi trường sản xuất và kinh doanh dược phẩm có nhiều thay đổi, hoạt động mua bán sát nhập trên quy mô toàn cầu làm một số tập đoàn dược phẩm khổng lồ thống trị thị trường dược thế giới và kiểm soát nền công nghiệp dược toàn cầu Theo dự báo, tổng giá trị tiêu thụ thuốc thế giới từ 731 tỷ USD năm 2007
sẽ tăng lên trên 1.000 tỷ USD vào năm 2017[31]
Thực trạng sử dụng thuốc của các quốc gia trên thế giới trong những năm qua cho thấy, mỗi nước khác nhau có mức chi phí sử dụng thuốc bình quân trên đầu người khác nhau và có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước có thu nhập bình quân đầu người cao so với các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO) ngày 25/10/2011: Chi phí sử dụng thuốc bình quân đầu người trên thế giới trong năm 2005-
2006 dao động trong khoảng từ 7,61 USD/người/năm ở các nước có thu nhập thấp đến 431,6 USD/người/năm ở các nước có thu nhập cao Dự báo 2016, người Mỹ, Nhật và Canada có mức chi nhiều nhất thế giới, theo thứ tự là 892,
644 và 420 USD/người/năm, trong khi mức chi bình quân đầu người trên toàn thế giới là 186 USD/người/năm Chỉ ba nước dẫn đầu này đã chiếm 55% tổng giá trị tiêu thụ thuốc toàn cầu Trong nhóm các nước có công nghiệp dược đang
Trang 18phát triển, Trung Quốc có mức chi tiêu 121 USD/người/năm và Ấn Độ 33 USD/người/năm, là quốc gia có mức chi cho tiêu thụ thuốc thấp nhất thế giới
Tổng giá trị tiêu thụ thuốc ở các quốc gia cũng có sự chênh lệch lớn: Năm 2011, Mỹ dẫn đầu, chiếm 34% tổng giá trị tiêu thụ thuốc trên thế giới,
kế đến là Nhật 12% Tổng giá trị tiêu thụ thuốc tăng trưởng chủ yếu ở các nước có nền công nghiệp dược đang phát triển, dự báo đến 2016 tăng đến 30%, tuy vậy chưa có thay đổi vị trí thứ hạng của các nước[31]
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe cũng ngày càng tăng lên đòi hỏi sử dụng nhiều thuốc hơn với chất lượng tốt hơn, an toàn hơn Nhu cầu đó của xã hội
đã đưa đến ngành công nghiệp dược phẩm nhiều cơ hội phát triển với nhiều loại thuốc mới Và hiện nay nền công nghiệp dược phẩm đang góp phần đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế nhiều nước
Lượng thuốc được sử dụng của thế giới sẽ không đồng đều trên các nhóm thuốc theo tác dụng dược lý mà chỉ tập trung vào các thuốc phù hợp với
mô hình bệnh tật của các khu vực Một số nhóm thuốc chính được sử dụng trên thị trường dược phẩm thế giới năm 2012 theo thứ tự là ung thư, thuốc giảm đau, chống tăng huyết áp, chống đái tháo đường
Bảng 1.1 Mười nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất trong năm 2012
Trang 19(Nguồn: IMS Health)
Nhóm thuốc ung thư đang dẫn đầu về doanh số bán thuốc trên toàn thế giới năm 2012, doanh số bán loại thuốc này năm 2012 là 61,6 tỷ USD tương đương 14,7% doanh số bán thuốc toàn thế giới[38] Đây là nhóm thuốc có giá trị cao, bệnh nhân phải sử dụng trong thời gian dài và bệnh ung thư đang có
xu hướng phát triển cao trên thế giới Tiếp đến là các nhóm thuốc chống đái tháo đường, chống tăng huyết áp, Với nhóm hai nhóm thuốc chống đái tháo đường và chống tăng huyết áp đây là hai nhóm thuốc đặc trưng của các bệnh của các nước đang phát triển
1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc tại một số bệnh viện Việt Nam
Tổng kinh phí mua thuốc của 1018 bệnh viện trên cả nước (năm 2010)
là khoảng 15.000 tỷ đồng, trong đó 92% kinh phí là ở khối bệnh viện công lập [5] Cùng đánh giá Chính sách thuốc Quốc gia của Cục quản lý dược Việt Nam phối hơp với Viện chiến lược và Chính sách y tế, hỗ trợ bởi Tổ chức y tế thế giới thì năm 2010 tại các bệnh viện ở Việt Nam có chi phí tiền thuốc so với tổng chi phí thường xuyên của bệnh viện lên đến 58% Các báo cáo của
Trang 20Bộ y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện
Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010 của cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ y Tế tổng giá tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009 ) và 58,7% (năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hàng năm [5], [25] Tổng giá trị sử dụng thuốc trong các bệnh viện trên cả nước 2010 là 15.300 tỷ đồng tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh [17]
Ngành dược đã cung cấp đủ thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân, thuốc sản xuất trong nước chiếm khoảng 50% thị phần dược phẩm Tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2011 là 2,4 tỷ USD [19] Năm
2012 tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại Việt Nam đạt 2,6 tỷ USD [18] Tổng giá trị tiền thuốc sử dụng năm 2013 là 2,7 tỷ USD [24] Ước tính đến năm
2016 con số này là 4,2 tỉ USD[20]
a Về việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước
Trong năm 2012 Cục quản lý Dược đã tổ chức thành công diễn đàn
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” Đây là một trong những giải pháp quan trọng hỗ trợ cho ngành Dược Việt Nam phát triển bền vững, bảo đảm nguồn cung ứng thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân và không lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài
Tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2012 là 2.600 triệu USD tăng 9,1% so với năm 2011 Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt khoảng 1.200 triệu USD, tăng 5,26% so với năm 2011 Trị giá thuốc nhập khẩu năm 2012 là 1.750 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 29,5 USD [18] Tổng giá trị tiền thuốc ước sử dụng năm 2014 là 3.120 triệu USD Giá trị thuốc sản xuất trong nước năm 2014 là 1.390 triệu USD Trị giá thuốc nhập khẩu năm 2014 là 2.170 triệu USD và bình quân tiền thuốc đầu người là 34,48 USD[15]
Trang 21Ở 1.018 bệnh viện trong cả nước năm 2010, tổng số tiền mua thuốc là
15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với năm 2009, trong đó tỷ lệ tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam chiếm 38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%).Tại 34 bệnh viện Trung ương năm 2010, tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam là hơn 378 tỷ đồng (11,9%), giảm nhẹ so với năm 2009 (12,3%).Tại 307 bệnh viện tỉnh/thành phố năm 2010,tổng trị giá tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam là hơn 2.232 tỷ đồng (33,9%), tăng nhẹ so với năm 2009 (33,2%).Ở
559 bệnh viện huyện năm 2010, tổng trị giá tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam là 2.900 tỷ đồng, chiếm 61,5% so với tổng số tiền mua thuốc Tỷ lệ này tăng hơn so với năm 2009 (60,4%)[7]
Theo báo cáo của Cục quản lý Dược (Bộ y tế) tại hội nghị về kết quả sau 4 năm thực hiện giai đoạn 1 của đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” diễn ra vào ngày 12/05/2017 cho thấy, với nhiều giải pháp được triển khai và tiến hành đồng bộ từ trung ương đến địa phương, bước đầu
đề án đã thu được những thành quả đáng khích lệ Cụ thể, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đều đã tăng lên
so với trước đây Tại tuyến tỉnh, trước khi thực hiện đề án, tỷ lệ sử dụng thuốc trong nước là 33,9%, nay đã tăng lên 35,4%; tỷ lệ tương ứng ở tuyến huyện là 61,5% và nay là 69,4% Đặc biệt, có những địa phương đã vượt mục tiêu đề
án khi tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại tuyến huyện lên đến 80%, tuyến tỉnh trên 60% như Ninh Thuận, Phú Yên, Lai Châu, Lâm Đồng, Long An[18]
Tuy nhiên, báo cáo của Bộ y tế cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các bệnh viện tuyến trung ương còn khá thấp, tiêu biểu như: Bệnh viện Phụ sản Trung ương (3,14%); Bệnh viện Bạch Mai (3,97%); Bệnh viện Việt Đức (5,87%)…Và đáng nói, tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại tuyến Trung ương lại đang có xu hướng giảm dần Cụ thể, năm 2013, tỷ lệ này là 11,57%; năm
Trang 22nâng cao tỉ lệ sử dụng thuốc nội trong các cơ sở y tế, Bộ Y tế đã phát động giai đoạn 2 đề án Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam (2016 - 2020).Trong giai đoạn 2 của đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam”, Bộ Y tế đề ra mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước đạt mức 30% tại các bệnh viện tuyến trung ương, 50% ở bệnh viện tuyến tỉnh và 75% ở bệnh viện tuyến huyện[18]
b Về việc sử dụng kháng sinh
Mặc dù cuộc chiến chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh đã trở thành cuộc chiến toàn cầu nhưng tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn diễn ra trên khắp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tại Việt Nam, theo báo cáo phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại Việt Nam đã tổng kết một số vấn đề: Chi phí kháng sinh chiếm khoảng 36% tổng chi phí thuốc và hóa chất Cao nhất là chi phí tại bệnh viện Nhi thành phố Hồ Chí Minh 89% [30]
Theo một nghiên tiến hành ở 38 bệnh viện trên cả nước năm 2009 cho thấy: Kháng sinh là nhóm thuốc đứng hàng đầu trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất Trong đó tỷ trọng của kháng sinh tại bệnh viện tuyến trung ương là 25,7%, bệnh viện tuyến tỉnh là 32,5%, bệnh viện tuyến huyện là 43,1% [36]
Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến
c Việc sử dụng vitamin và thuốc hỗ trợ
Tỷ lệ sử dụng vitamin giảm từ 6,5% (năm 2009) xuống còn 4,7% (năm 2010) Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử
Trang 23lạm dụng vitamin còn xảy ra phổ biến Theo nghiên cứu tại bệnh xá quân dân
y kết hợp trường sỹ quan lục quân II, số đơn có kê vitamin chiếm tỷ lệ 74% tổng số đơn [ 22] Tại bệnh viện đa khoa huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh, số đơn có kê vitamin chiếm 26% tổng số đơn[34]
Bên cạnh đó, các thuốc có tác dụng hỗ trợ, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng phổ biến trong cả nước Kết quả khảo sát về thực trạng thanh toán thuốc bảo hiểm y tế trong cả nước năm 2010 cho thấy, tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất có cả thuốc hỗ trợ là : L – ornithin- L – aspartat; Glucosamin; Arginin ; Ginko biloba; Glutathion Trong
đó hoạt chất L – ornithin- L – aspartat nằm trong 5 hoạt chất chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị thanh toán[1]
Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng rãi các thuốc hỗ trợ trên, Bộ y tế
đã ban hành thông tư số 40/TT-BYT ngày 17/11/2014 quy định về danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế và thông tư số 36/TT-BYT ngày 29/10/2015 sửa đổi, bổ xung một số điều của thông tư 40/TT-BYT ngày 17/11/2014 Trong các thông tư này, Bộ y tế cũng quy định
rõ bảo hiểm y tế chỉ thanh toán các thuốc trên trong những trường hợp cụ thể
d Việc sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Tại một số bệnh viện, các thuốc biệt dược và thuốc generic chiếm tỷ lệ không đồng đều trong danh mục thuốc bệnh viện Nghiên cứu tại bệnh viện trung ương Huế năm 2012 , tỷ lệ thuốc mang tên biệt dược gốc chiếm 9,96% giá trị sử dụng, trong khi đó thuốc generic chiếm 90,04% giá trị sử dụng [25] Tại bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa năm 2015 thuốc biệt dược gốc chiếm 5,03% giá trị sử dụng còn thuốc generic chiếm 94.97% giá trị
sử dụng [32]
Ngày 25/4/2017, BHXH Việt Nam tổ chức Hội nghị cung cấp thông tin định kỳ về BHXH, BHYT tháng 4/2017, số liệu sử dụng thuốc năm 2016 cho thấy, tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc trên cả nước ước tính chiếm khoảng 20%-
Trang 2423% trên tổng chi phí thuốc Tại một số bệnh viện tuyến trung ương như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy là các bệnh viện đầu ngành tuyến cuối, tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược khoảng 24% tổng chi phí thuốc tại Bệnh viện Bạch Mai, và khoảng 11% tại Bệnh viện Chợ Rẫy Tại một số tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên: tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc chiếm khoảng 6% tổng chi phí thuốc sử dụng tại các cơ sở KCB năm 2016 Tương tự, tại Nam Định, Lào Cai, Hà Nam, Sơn La, Thái Bình tỷ lệ này là 1%-2% tổng chi phí thuốc[37]
Sử dụng thuốc generic được xem là một trong những cách làm giảm chi phí điều trị và đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ y tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng tại bệnh viện
Trong thông tư 21/2013/TT-BYT, Bộ y tế cũng nêu ra các tiêu chí lựa chon thuốc trong đó có tiêu chí “ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất” Chỉ nên sử dụng các thuốc dạng phối hợp khi chúng có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với các thuốc ở dạng đơn chất Nghiên cứu tại một số bệnh viện cho thấy, thuốc đơn thành phần vẫn được ưu tiên lựa chọn: Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh thuốc đơn thành phần chiếm 80,51% SKM và 74,33% GTSD, thuốc đa thành phần chiếm 19,49% SKM và 25,67% GTSD[24] Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, thuốc đơn thành phần chiếm 87,32% SKM và 84,92% GTSD trong khi thuốc đa thành phần chỉ chiếm 12,68% SKM và 15,08% GTSD[ 27]
Hiện nay các thuốc đông dược đang được khuyến khích sử dụng nhưng
trên thực tế phần lớn các thuốc này chỉ dùng để hỗ trợ điều trị Thuốc tân dược vẫn được ưu tiên lựa chọn vì có tác dụng hiệu quả điều trị rõ ràng Tại các bệnh viện trừ bệnh viện y học cổ truyền thì tỉ lệ sử dụng thuốc có nguồn
Trang 25gốc từ dược liệu vẫn thấp hơn rất nhiều so với thuốc tân dược Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa cho thấy thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chiếm 9,17% SKM và 16,22% GTSD[32] Một nghiên cứu khác tại bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang cũng cho thấy tỉ
lệ thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chiếm 11,4% SKM và 12,4% GTSD[28]
g.Về sử dụng thuốc theo dạng đường dùng
Theo quy chế sử dụng thuốc do Bộ y tế ban hành cũng đã yêu cầu “chỉ
sử dụng thuốc tiêm khi bệnh nhân không uống được hoặc cần tác dụng nhanh” Tuy nhiên việc sử dụng thuốc tiêm tại các bệnh viện lại không có sự đồng đều: Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang cho thấy thuốc tiêm được sử dụng ít hơn thuốc uống chỉ chiếm 23,8% số khoản mục và 18,3% giá trị sử dụng[ 27] Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên thì thuốc tiêm được sử dụng chiếm tỉ lệ 36,27% số khoản mục và chiếm tới 45,99% giá trị sử dụng [27]
h Về phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Phân tích ABC là một công cụ cho việc lựa chọn, mua, phân phối, quản
lý và thúc đẩy sử dụng hợp lý, cho phép để có được bức tranh chính xác và khách quan về chi ngân sách cho thuốc, từ đó cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin này được sử dụng để lựa chọn những thuốc thay thế
có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra được những liệu pháp điều trị thay thế
Thuốc trong nhóm A là các loại thuốc giá cao, có thể được thay thế bởi các thuốc rẻ hơn Mua thuốc A nên thường xuyên hơn, nhưng nhỏ hơn, tồn kho thấp hơn Khi thay thế thuốc nhóm A bằng thuốc tương đương sinh học giá rẻ hơn có thể tiết kiệm ngân sách đáng kể Nên cẩn thận theo dõi tình trạng sử dụng của nhóm thuốc A, vì sự gián đoạn bất ngờ trong cung ứng có thể dẫn đến chi phí tốn kém lớn [35]
Trang 26Phân tích VEN – phân loại thuốc theo các mức độ quan trọng của nó: V (Vital) – tối cần, E (essential) – thiết yếu, N (nonessential) – không thiết yếu Mục tiêu chính của phân tích VEN là ưu tiên giữa các loại thuốc khác nhau trong việc lựa chọn, mua và sử dụng chúng, quản lý hàng tồn kho và xác định giá mua thích hợp.Mua các loại thuốc tối cần và thiết yếu phải được kiểm tra cẩn thận vì chi phí lớn để duy trì sự sống và sức khỏe của bệnh nhân Ưu tiên cho việc lưu trữ thuốc “V” và “E”
Thực hiện phân tích ABC/VEN ở các nước khác đã cung cấp một mức
độ đủ về tính khách quan trong việc phân tích các chi tiêu của Nhà nước về cung cấp thuốc, giúp giảm thiểu chi phí và loại bỏ các vấn đề đã phát sinh trước đó trong quá trình mua sắm
Việc phân tích ABC – VEN đã được đưa vào thông tư số BYT ban hành ngày 08/08/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề về sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMTB Một nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT& ĐT trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua sắm 11,2% - 13,1% số khoản mục thuốc) Đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm A này[36]
21/2013/TT-Ở Việt Nam hiện đang mở rộng việc áp dụng phân tích ABC/VEN ở các bệnh viện Một nghiên cứu đã dùng phân tích ABC/VEN là một tiêu chí
để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp cải thiện chất lượng DMT tại bệnh viện 115, ban đầu phân tích ABC/VEN năm 2006, sau đó sử dụng các biện pháp can thiệp và đánh giá lại vào năm 2008 Theo số lượng thuốc, nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV,CV) là nhóm cần đặc biệt quan tâm (vì sử dụng nhiều
Trang 27ngân sách hoặc cần cho điều trị) đã thay đổi từ 14,8% trước can thiệp xuống còn 9,1% sau can thiệp Nhóm II (gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị Từ tỷ lệ 57,3% trước can thiệu giảm xuống còn 41,6%, 71 hoạt chất đã được HĐT&ĐT loại khỏi DMT sau can thiệp Nhóm III ít quan trọng nhưng chiếm tỷ lệ 27,9% theo số lượng, sau can thiệp còn 11,5%, có 82 hoạt chất được loại khỏi DMT [23] Tuy vậy tại Việt Nam có rất ít bệnh viện ban hành được danh mục thuốc phân loại theo VEN
do sự bất đồng ý kiến của các thành viên trong hội đồng thuốc và điều trị trong việc xếp loại các thuốc vào các nhóm V, E, N
1.4 Vài nét về bệnh viện đa khoa huyện Vụ Bản
1.4.1 Tổ chức, cơ cấu nhân lực bệnh viện
Bệnh viện có 04 phòng chức năng: KHTH, TCHC, Điều dưỡng, Tài vụ
và 06 khoa lâm sàng: Hồi sức tích cực – Chống độc- Nhi, Ngoại tổng hợp và Phụ sản, Nội tổng hợp, Y học cổ truyền, Phòng khám, Khoa Truyền nhiễm và
02 khoa cận lâm sàng : Khoa xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, Khoa Dược – Chống nhiễm khuẩn Bệnh viện có 160 giường bệnh với đội ngũ cán bộ đồng đều đủ các chuyên khoa, có chuyên môn sâu trong đó có 1 bác sĩ CKII,
6 bác sĩ CKI, 13 Bác sĩ, 2 dược sĩ đại học, 8 Điều dưỡng Đại học và 1 Cử nhân kinh tế Bệnh viện hiện là một trong những đơn vị trong tỉnh đáp ứng được công tác chuyên môn theo phân cấp của Bệnh viện hạng III
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ tổ chức của khoa Dược
Khoa dược bệnh viện đa khoa Vụ Bản gồm 8 nhân viên, trong đó: 2 dược sỹ đại học; 6 dược sỹ trung học
Khoa Dược bệnh viện là một khoa cận lâm sàng chịu sự quản lý của Ban Giám đốc bệnh viện và sự giám sát của Phòng Nghiệp vụ Dược- Sở y tế tỉnh
toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp
Trang 28thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
Khoa dược có nhiệm vụ sau:
* Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa)
* Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị
và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
* Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
* Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
*Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện
*Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
* Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
* Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
* Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
* Tham gia chỉ đạo tuyến
* Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
* Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
* Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
Trang 29*Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc) khí y tế đối với các cơ
sở y tế chưa có phòng Vật tư – Trang thiết bị y tế và được người đứng đầu các
cơ sở đó giao nhiệm vụ[6]
Trang 30Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Vụ Bản năm 2016
2.1.2 Đối tượng thu nhập dữ liệu, chọn mẫu
- Danh mục thuốc bệnh viện năm 2016
- Danh mục thuốc sử dụng năm 2016
- Danh mục thuốc trúng thầu của Sở y tế tỉnh Nam Định năm 2016
- Các báo cáo sử dụng thuốc của khoa Dược – Bệnh viện đa khoa Vụ Bản năm 2016
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 05/2017 đến tháng 09/2017
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa Vụ Bản tỉnh Nam Định
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Mô tả hồi cứu
2.2.2 Các biến số nghiên cứu
Trang 31STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
tư 40/2014/TT-BYT
và thông tư 05/2015/TT-BYT
Phân loại (thuốc tê mê, thuốc tác dụng đối với máu, thuốc tim mạch…)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại (thuốc tê mê, tác dụng đối với máu…)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
chống nhiễm khuẩn
Phân loại (Beta- lactam, aminosid…)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại (Beta- lactam, aminosid…)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Trang 32STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
Phân loại ( thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại ( thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Cơ cấu thuốc theo tân dược – dược liệu
Phân loại ( thuốc tân dược , thuốc
có nguồn gốc
từ dược liệu)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại ( thuốc tân dược , thuốc
có nguồn gốc
từ dược liệu)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Trang 33STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
và được đưa ra thị trường sau khi bằng phát minh và các độc quyền hết hạn
+ Thuốc biệt dược: Là thuốc đặc chế
nghiên cứu đang được giữ bằng sang chế khi lưu thông trên thị trường và độc quyền sản xuất
Phân loại (thuốc generic, thuốc biệt dược gốc)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại (thuốc generic, thuốc biệt dược gốc)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Trang 34STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
- Thuốc đa thành phần:
là thuốc có từ 2 hoạt chất có tác dụng dược
lý khác nhau trở lên
Phân loại (thuốc đơn thành phần,
đa thành phần)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại (thuốc đơn thành phần,
đa thành phần)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Cơ cấu thuốc theo quy chế chuyên môn
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Trang 35STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
Phân loại (thuốc gây nghiện, hướng tâm thần, tiền chất; thuốc thường)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Phân loại (thuốc tiêm, thuốc uống , các dạng khác)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Phân loại (thuốc tiêm, thuốc uống , các dạng khác
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 1)
Cơ cấu thuốc theo phương pháp ABC
Phân loại ( A,B,C)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Trang 36STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Cơ cấu thuốc theo phương pháp ABC/VEN
Phân loại (V,E,N)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
nhóm V,E,N
Phân loại (AV,AE,AN, BV,BE )
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Trang 37STT Tên biến số Định nghĩa Giá trị biến Cách thu
N trong hạng A
Phân loại (Didiera, scaneuron )
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
Báo cáo xuất nhập tồn kho năm 2016 (phụ lục 2)
2.2.3 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu :
Để khảo sát DMT đã được sử dụng tại BVĐKVB, đề tài đã hồi cứu các
thông tin sẵn có, các số liệu hoạt động của bệnh viện bao gồm :
- Các báo cáo tổng kết công tác bệnh viện, công tác dược năm 2016
- Danh mục thuốc sử dụng năm 2016
- Danh mục thuốc bệnh viện năm 2016
- Danh mục thuốc trúng thầu năm 2016
- Thu thập thông tin chi tiết ( tên hoạt chất, nồng độ - hàm lượng, đơn
vị tính, đơn giá, số lượng, nhà sản xuất, nước sản xuất) của toàn bộ thuốc được sử dụng tại bệnh viện năm 2016 theo phụ lục 1 và phụ lục 2
* Phân tích danh mục thuốc sử dụng
a) Phân tích cơ cấu DMT
Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft