SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9SKKN Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THCS – THPT Huỳnh Văn Nghệ
Trang 2SƠ YẾU LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN:
1 Họ và tên: Trương Thị Vân
2 Ngày tháng năm sinh : 14/04/1979
9 Đơn vị công tác: Trường THCS – THPT Huỳnh văn Nghệ
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
- Đại học sư phạm
- Năm nhận bằng : 2002
- Chuyên ngành đào tạo : Sử - GDCD
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy Lịch sử
- Số năm kinh nghiệm: 15 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có:
1 Năm học 2008 – 2009: lồng ghép trò chơi vào phương pháp trực quan trong dạyhọc lịch sử gây hứng thú cho học sinh THCS
2 Năm 2009 – 2010: Ứng dụng công nghệ thông tin vào phương pháp trực quantrong dạy học lịch sử 8
3 Năm học 2010 – 2011: Ứng dụng CNTT vào phương pháp trực quan gây hứngthú cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 8
4 Năm học 2012 – 2013: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy họcmôn lịch sử ở trường THCS
5 Năm học 2013 – 2014: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy họclịch sử trung học cơ sở
6 Năm học 2014-2015: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy họclịch sử 9
Trang 3“ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ 9 ”
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Nghị quyết Trung ương II và Đại hội Đảng lần thứ VII đã khẳng định: “Giáodục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” vì chỉ có giáo dục mới đưa chúng ta hoà nhậpvới nền kinh tế tri thức hiện đại Trong nền giáo dục toàn diện đó, người học sinh đượchọc rất nhiều môn học trong đó có môn Lịch sử Lịch sử giúp chúng ta hiểu được ngọnnguồn sự phát triển của xã hội loài người từ thời nguyên thủy đến thời kì hiện đại Lịch
sử có một vị trí, ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục học sinh - thế hệ trẻ của đấtnước Từ những hiểu biết về quá khứ học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào vớitruyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta Qua đó các em xác định nhiệm
vụ hiện tại, có thái độ đúng với quy luật của tương lai - nhất là đối với học sinh lớp 9cuối cấp Trung học cơ sở
Nhưng hiện nay, phần lớn học sinh vẫn chưa nhận thức rõ và còn xem nhẹ mônLịch sử Hầu hết các em có thói quen học thuộc lòng mà ít có khả năng phân tích, đánhgiá, so sánh… những sự kiện lịch sử nên khi dạy học cả giáo viên và học sinh đều gặpkhó khăn Điều này thể hiện rõ nhất qua các kì thi cao đẳng, đại học Điểm thi mônLịch sử đã khiến tất cả chúng ta phải suy nghĩ, băn khoăn …
Từ những vấn đề trên, bản thân là một giáo viên dạy lịch sử, đã tham dự nhiềuchuyên đề do sở, phòng tổ chức và nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn lịch sử lớp 9, tôiluôn hi vọng các em học sinh sẽ thay đổi ý thức của mình trong việc học – nhất là họcsinh lớp 9 Để làm được điều đó, yếu tố đóng vai trò quan trọng, quyết định là phương
pháp dạy học của giáo viên Vì thế tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Phương pháp
sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử 9” Qua đó, bước đầu tôi đề xuất
một số biện pháp sư phạm cần thiết, nhằm nâng cao nhận thức lịch sử cho học sinhcuối cấp đảm bảo cho các em có đủ hành trang kiến thức để bước vào cấp học Trunghọc phổ thông
II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận.
Hội nghị lần thứ IV của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá VII - năm 1993
đã nêu rõ mục tiêu tổng quát của nền giáo dục nước ta là “ Phát triển giáo dục nhằmnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nên những con người cókiến thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có
kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu pháttriển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai…”
Để thực hiện được mục tiêu trên, không thể bỏ qua vai trò, nhiệm vụ của ngườigiáo viên trong công tác giáo dục Bởi giáo viên là lực lượng cốt cán đảm nhiệm vàthực hiện tốt nhất các chức năng của giáo dục Giáo viên là những người chiến sĩ cáchmạng trên mặt trận tư tưởng và văn hoá Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượnggiáo dục, được xã hội tôn vinh và trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn đóng vai trò
Trang 4hội chủ nghĩa Từ niềm tự hào hạnh phúc ấy, chúng tôi phải gương mẫu hơn nữa, cốgắng đem hết khả năng của mình để để đào tạo các em sau này trở thành con người “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để thực hiện được những ước vọng, lí tưởng cao đẹp ấy thì trong thực tế giảngdạy, người giáo viên phải làm thế nào để có thể truyền đạt hết kiến thức cho các emhiểu được, từ đó biết cách vận dụng vào thực tiễn
Trước đây nền giáo dục của nước ta còn gặp nhiều khó khăn do hoàn cảnh đấtnước Nhưng rồi theo thời gian, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, tự do, nền giáo dụcnước ta ngày càng hoàn thiện và có nhiều đổi mới Trong nền giáo dục phát triển ấy,đòi hỏi người giáo viên cũng phải thay đổi cách dạy truyền thống, kết hợp với cácphương pháp dạy học hiện đại để nâng cao chất lượng dạy và học
Trong một lần tình cờ, tôi đọc được câu nói của Lênin: “ Nếu cùng một lúc có nhiều giác quan cùng tham gia vào một quá trình nhận thức thì hiệu quả của việc lĩnh hội kiến thức sẽ cao hơn nhiều” Và theo tài liệu của Unesco: “ Nghe giữ lại 15% kiến thức, nhìn giữ lại 25% kiến thức, kết hợp nghe và nhìn sẽ giữ lại 65% kiến thức”.
Như vậy, nếu người giáo viên truyền đạt kiến thức bằng lời nói sinh động, hấpdẫn, các phương pháp khoa học cùng với việc sử dụng đầy đủ đồ dùng dạy học sẽ giúphọc sinh kết hợp nhiều giác quan cùng một lúc Và điều đó sẽ tạo hứng thú trong quátrình học tập, giúp các em khắc sâu kiến thức, hiểu kĩ, nhớ lâu…
Sau nhiều năm kinh nghiệm đứng trên bục giảng tôi thấy những điều mình nói
ra thật dễ dàng nhưng khi thực hiện thì không dễ chút nào Bên cạnh những yếu tố chủquan và khách quan tôi đã đề cập ở phần trên thì điều làm tôi lo lắng đó là trong lúcmình đứng trên bục giảng, lời nói của mình đã rõ ràng, sinh động hay chưa, kết hợpcác phương pháp dạy học tốt hay chưa, đặc biệt là việc sử dụng các đồ dùng dạy học đãphù hợp, đã đúng lúc hay chưa, các em đã hiểu hết nội dung bài học chưa? Thật làkhó để biết được bản thân mình làm được đến mức độ nào bởi dạy học là cả một nghệthuật, đòi hỏi người giáo viên phải yêu nghề, yêu trẻ, sống hoà mình vào sự kiện, vấn
đề lịch sử mà mình đang truyền thụ cho học sinh Lúc đó giáo viên vừa là đạo diễn vàcũng là người diễn viên trên bục giảng Chính vì vậy, tôi mong đề tài của mình sẽ được
sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để có thể áp dụng hiệu quả vào thực tế giảngdạy
- Khả năng nắm bắt, đánh giá sự kiện lịch sử của học sinh chưa cao, chưa hiểu hết bảnchất của một sự kiện, vấn đề lịch sử
- Phương pháp học tập còn nghèo nàn, đơn điệu, khả năng kết hợp đa dạng các phươngpháp chưa tốt, tính sáng tạo trong giảng dạy chưa cao
- Kết quả học tập của học sinh còn thấp
Trang 5III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Với nền giáo dục hiện đại của chúng ta ngày nay thì việc sử dụng đồ dùng dạyhọc đã trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với việc đổi mới phương pháp dạy học Tuynhiên, số lượng đồ dùng dạy học còn phải tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từng địa phương,từng trường học Vậy người giáo viên phải sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quảcao nhất? Tôi nghĩ rằng đây là một câu hỏi lớn mà bất cứ người giáo viên nào cũngphải suy nghĩ và mong có câu trả lời đầy đủ
Tôi đã đề cập rất nhiều đến đồ dùng trực quan từ đầu bài viết của mình, vậy thì
đồ dùng cụ thể của môn Lịch sử là gì? Đó chính là: lược đồ, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh,các hiện vật phục chế, bút lông, bảng phụ, CNTT… tất cả đều là những thiết bị, đồdùng rất cần thiết
1 Khái niệm.
Phương pháp trực quan xuất phát từ nguyên tắc trực quan là một nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học Trên cơ sở quan sát các sự vật hay đồ dùng trực quan minh họa về
sự vật ấy tạo biểu tượng Lịch sử và hình thành khái niệm Lịch sử cho học sinh
Trong giảng dạy việc bảo đảm tính trực quan là một nguyên tắc quan trọng Đốivới môn Lịch sử nó càng trở nên thiết yếu, vì sự kiện Lịch sử xảy ra cách đây hàngchục vạn năm, những công cụ lao động, vũ khí…nếu giáo viên dùng tranh ảnh hay divật để minh họa thì học sinh sẽ tiếp thu kiến thức dễ dàng, nhanh chóng Đồng thờigiáo viên giảm được rất nhiều thời gian miêu tả tỷ mỷ, dài dòng, tiết kiệm được khâu
thông báo kiến thức trên lớp Trong đồ dùng trực quan về môn Lịch sử ở trường THCS hình thành các nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm bản đồ Lịch sử
- Nhóm hình vẽ, tranh ảnh Lịch sử
- Nhóm các loại đồ dùng trực quan khác: Niên biểu, bảng so sánh, bảng thống
kê, sa bàn, mô hình, hình vẽ trên bảng đen, phim ảnh, đèn chiếu, CNTT…
2 Ưu điểm và một số điểm cần lưu ý khi sử dụng đồ dùng trực quan.
*Ưu điểm của đồ dùng trực quan
-Trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, vai trò của đồ dùng trựcquan hết sức to lớn Không ai có thể phủ nhận vai trò ấy kể cả trong lý luận cũng nhưtrong thực tiễn Tuy nhiên sử dụng như thế nào cho có hiệu quả dạy học và phát triển
tư duy cho học sinh thì không đơn giản Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chấtlượng bài học, tranh ảnh, kỹ năng - phương pháp sử dụng, năng lực sư phạm của giáoviên v.v…
- Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiềugiác quan, kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau là tai nghe - mắt thấy.Tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, phát triển ở học sinh năng lực chú ý quansát tạo hứng thú học tập
*Lưu ý khi sử dụng đồ dùng trực quan.
Trang 6còn hạn chế phát triển năng lực tư duy trừu tượng, kỹ năng diễn đạt và lựa chọn ngônngữ của học sinh
- Đồ dùng trực quan rất phong phú, khi sử dụng giáo viên phải căn cứ vào nộidung, yêu cầu giáo dưỡng , giáo dục của từng bài để lựa chọn cho phù hợp
- Nên sử dụng đồ dùng trực quan khi cần thiết (tranh, ảnh, bản đồ…)rèn cho các
em kĩ năng quan sát một cách khoa học, có xem xét, phân tích, giải thích để đi đếnnhững nét khái quát, rút ra những kết luận Lịch sử
-Sử dụng đồ dùng thường xuyên sẽ rèn luyện cho học sinh thao tác tư duy, sángtạo để khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh ngày càng được nâng cao
3 Cách thức tiến hành
Trong chương trình lịch sử lớp 9 được chia làm hai phần Thứ nhất là phần Lịch
sử Thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay Giai đoạn này tuy chỉ dài hơn nửa thế kỉ
nhưng là một giai đoạn thế giới đã diễn ra với bao sự kiện to lớn, phức tạp và có những
đảo lộn bất ngờ Thứ hai là phần Lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (năm 1919) đến nay Việt Nam thời kì này trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại
có những sự kiện lịch sử quan trọng khác nhau Đặc biệt Việt Nam trải qua hai cuộckháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, có những sự kiện lịch sử,những chiến dịch, những trận đánh ác liệt đã diễn ra nếu giáo viên chỉ truyền đạtbằng lời nói, không có lược đồ, bản đồ, hình ảnh minh họa thì học sinh rất khó khắcsâu kiến thức
Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ mà ta khôngtrực tiếp quan sát được và do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS nhận thức bằngcảm tính là chủ yếu Nên cạnh sách giáo khoa thì việc sử dụng đồ dùng trực quan cótác dụng rất lớn Tuy nhiên nếu giáo viên áp dụng quá cứng nhắc thì sẽ giảm hứng thúcủa học sinh Vì thế đối với mỗi loại bài - mỗi loại đồ dùng trực quan khác nhau giáoviên cần đưa ra những phương pháp phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao
3.1 - Giải pháp 1: Đối với nhóm lược đồ, bản đồ Lịch sử
Đặc trưng của môn Lịch sử là học sinh được học về các cuộc kháng chiến, các cuộcchiến tranh Đặc biệt ở nước ta đã có những trận đánh đi vào lịch sử, vang mãi ngànđời Đó là sự thuận lợi cho chúng ta sử dụng các bản đồ, lược đồ một cách triệt để
3.1.1/ Khi dạy bài 9 – Nhật bản
Khi dạy mục I – Tình hình Nhật bản sau chiến tranh Giáo viên sử dụng “lược đồ
nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai” để giảng dạy
Phương pháp sử dụng:
Trước khi khai thác nội dung kênh hình, GV cho học sinh quan sát toàn diện lược đồ
6
Nhật là một quốc gia đảo hình vòng cung, gồm 4 đảo lớn, có diện tích tổng cộng khoảng 374.000 km vuông, nằm theo sườn phía đông lục địa châu
Á Mĩ danh “xứ sở hoa anh đào”, “đất
Trang 7Sau khi học sinh quan sát kĩ, giáo viên đặt một số câu
GV hỏi để các em trả lời:
- Nhật Bản nằm ở khu vực nào? Giáp với các vùng nào?
- Nhật Bản gồm có bao nhiêu đảo lớn? Diện tích nước Nhật là bao nhiêu?
- Điều kiện tự niên của nước Nhật như thế nào?
- Vì sao sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản lại bị tàn phá hết sức nặng nề?
- Những nguyên nhân nào giúp cho nền kinh tế Nhật Bản phục hồi và phát triểnnhanh chóng?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên tiến hành giảng dạy ngay trên lược đồ và đưa rakết luận cơ bản để học sinh nắm vững kiến thức
3.1.2/ Khi dạy bài 7 – Các nước Mĩ La-tinh.
Khi dạy mục I – Những nét chung Giáo viên sử dụng lược đồ “Khu vực Mĩ La – tinh
sau năm 1945” để giới thiệu khái quát về vị trí địa lí và tình hình khu vực Mĩ La – tinhsau chiến tranh thế giới thứ hai
Phương pháp sử dụng:
Trước khi khai thác nội dung kênh hình, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát toàn bộkênh hình - khu vực Mĩ La – tinh Giáo viên đặt một số câu hỏi để học sinh trả lờinhằm phát triển các năng lực nhận thức của các em
- Em hãy cho biết vị trí của Mĩ La – tinh trên lược đồ?
- Thành phần dân cư khu vực Mĩ La – tinh bao gồm những ai?
Trang 83.1.4/ Bài 25 – Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1956 – 1950).
Khi dạy mục IV – Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947
Giáo viên sử dụng lược đồ Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947
Phương pháp sử dụng:
Đối với ý 1 – Thực dân Pháp tấn công căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc
Sau khi giới thiệu khái quát lược đồ, giáo viên đặt một số câu hỏi để học sinh trả lời:
- Âm mưu của thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên căn cứ Việt Bắc?
- Kế hoạch tấn công Việt Bắc của Pháp được triển khai như thế nào?
- Em có nhận xét gì về kế hoạch tấn công của Pháp?
Đối với ý 2 – Quân dân ta chiến đấu bảo vệ căn cứ địa Việt bắc
Gáo viên hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ và nội dung sách giáo khoa, rồi đặt câuhỏi gợi mở:
- Tại Bắc Cạn ta đã đánh địch như thế nào?
- Trên đường số 4, ta thu thắng lợi ở đâu?
- Trên sông Lô, quân ta đã chiến thắng như thế nào?
Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947
Trang 9- Hai gọng kìm Đông – Tây của địch có khép lại được không?
Thông qua việc trả lời của học sinh, giáo viên dựa vào lược đồ chỉ rõ âm mưu của Pháp
và diễn biến cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc của quân ta Học sinh quan sáttrực tiếp trên lược đồ sẽ khắc sâu kiến thức
3.1.5/ Bài 26 – Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1950 – 1953).
Khi dạy mục I – Chiến dịch biên giới thu – đông 1950
Giáo viên sử dụng lược đồ chiến dịch Biên giới thu – đông 1950
Phương pháp sử dụng:
Khi dạy mục I, ý 2 – Quân ta tiến công địch ở biên giới phía Bắc.
Giáo viên giới thiệu khái quát lược đồ (kí hiệu, hệ thống phòng ngự của địch, âm mưu
của chúng ), rồi hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ và đặt câu hỏi gợi mở để họcsinh trả lời:
- Âm mưu của thực dân Pháp sau chiến dịch Việt Bắc?Chủ trương của ta ?
- Diễn biến chiến dịch Biên giới thu – đông 1950? Kết quả của chiến dịch?
Giáo viên kết hợp hình ảnh về những tấm gương chiến đấu dũng cảm(Trần Cừ, La VănCầu ) giúp học sinh khắc sâu kiến thức
3.1.6/ Bài 27 – Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953 – 1954)
Khi dạy mục II, ý 2 – Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) GV sử dụng lược đồ
chiến dịch Điện Biên Phủ - 1954, nhằm cụ thể hóa về vị trí Điện Biên Phủ, cũng nhưcách bố trí lực lượng của địch và tường thuật diễn biến của chiến dịch
Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950
Lược đồ Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Trang 10Phương pháp sử dụng: Sau khi GV dựa vào lược đồ giới thiệu vị trí địa lí của Điện
Biên Phủ, cũng như cách bố trí lực lượng của địch GV đặt một số câu hỏi:
-Em nhận xét gì về lực lượng của địch ở Điện biên Phủ?
- Đợt 1 quân ta tiến công địch ở đâu? Kết quả ra sao?
- Đợt 2 quân ta tấn công tiêu diệt các căn cứ nào?
- Đợt 3 quân ta tiến công vào đâu, kết quả ra sao?
- Em có suy nghĩ gì về cuộc chiến đấu của ta ở Điện Biên Phủ? (tính chất gay go, ácliệt, tinh thần chiến đấu của quân ta )
Học sinh phát biểu, giáo viên dựa vào lược đồ chốt lại những nội dung quan trọng
3.1.7/ Bài 30 – Hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1973 – 1975)
Khi dạy mục III, ý 2 – Cuộc tiến công và nổi dây Xuân 1975 GV sử dụng 3 lược
đồ: “chiến dịch Tây Nguyên”, “chiến dịch Huế - Đà Nẵng”, “chiến dịch Hồ Chí Minh”
để trình bày diễn biến
Chiến dịch Tây Nguyên
Trang 11Chiến dịch Huế - Đà Nẵng
Phương pháp sử dụng:
Khi dạy về chiến dịch Tây Nguyên
GV giới thiệu khái quát lược đồ và nêu lí do ta mở chiến dịch Tây Nguyên trước (Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quan trọng Nhưng quân đội Sài Gòn có nhiều
sơ hở, lực lượng yếu do nhận định sai hướng tiến công của ta )
GV hướng dẫn học sinh quan sát và gợi mở một số câu hỏi:
- Chiến dịch Tây Nguyên quân
ta đã làm gì?
- Quân địch đã phản ứng ra sao?
- Kết quả của chiến dịch Tây Nguyên?
Phương pháp sử dụng:
Gv giới thiệu khái quát lược đồ
“chiến dịch huế - Đà Nẵng”
Hướng dẫn học sinh quan sát lược
đồ và gợi mở một số câu hỏi:
- Vì sao sau thắng lợi trong chiến dịch tây Nguyên, ta nhanh chóng đánh chiếm Huế
- Đà Nẵng?
- Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đãdiễn ra như thế nào?
- Kết quả của chiến dịch ra sao?
– Hàn
Trang 12Khi dạy xong mục II, ý 2-Bài 30: GV sử dụng lược đồ cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Xuân 1975 để củng cố hoặc tiết sau kiểm tra bài cũ
3.2 - Giải pháp 2: Đối với nhóm hình vẽ, tranh ảnh Lịch sử
Thông thường, kênh hình nói chung và hình vẽ, tranh ảnh nói riêng được trình bày
với tư cách là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức, được in kèm theo câu hỏi để học
sinh tự “làm việc” với SGK dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm rút ra những kiến
thức lịch sử nhất định Để sử dụng tốt loại kênh hình này, trước hết giáo viên phải xác
định rõ nội dung lịch sử được phản ánh qua hình vẽ, tranh ảnh… Tiếp đó, giáo viên
Nhật là một quốc gia đảo hình vòng cung, gồm
4 đảo lớn, có diện tích tổng cộng khoảng
374.000 km
vuông, nằm theo sườn phía đông lục địa châu Á.
Mĩ danh “xứ sở hoa anh đào”,
“đất nước mặt trời mọc”.
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Phương pháp sử dụng:
GV giới thiệu khái quát lược đồ,hướng dẫn học sinh quan sát và gợi mở:
-Quan sát lược đồ, các em cho biết từ 4-3 đến 18-3-1975 quân
ta tiến công vào những nơi nào?
-Để mở cửa ngõ vào Sài Gòn, trước khi bắt đầu chiến dịch Hồ Chí Minh ta tấn công vào đâu,
Phương pháp sử dụng:
GV dùng lược đồ Cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Xuân 1975
để trình bày toàn bộ
diễn biến Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
HS quan sát lược đồ
và xác định các kí hiệu trên lược đồ
HS trình bày lại diễn biến 3 chiến dịch của cuộc tổng tiến công
và nổi dậy Xuân 1975
Lược đồ Cuộc tổng tiến công và nổi dây Xuân 1975
Trang 13phải dự kiến và phương pháp sẽ sử dụng trong từng bài cụ thể Phương pháp thườnghay sử dụng trong dạy học đối với loại kênh hình này là giáo viên hướng dẫn học sinhquan sát (đầu tiên là quan sát tổng thể rồi mới quan sát chi tiết) kết hợp với miêu tả,phân tích, đàm thoại thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh tựrút ra được những kết luận Khi học sinh tìm hiểu nội dung kênh hình qua các câu hỏigợi mở, giáo viên có thể tổ chức cho các em làm việc cá nhân hoặc theo nhóm hoặctoàn lớp.
Đối với các bài chiến tranh có lẽ chúng ta sẽ dễ tìm thấy và sử dụng đồ dùng dạyhọc Còn đối với các bài về kinh tế, văn hoá, xã hội thì việc sử dụng đồ dùng dạy học
sẽ hạn chế hơn vì trong sách giáo khoa có rất ít hoặc không có, buộc chúng ta phải tậndụng triệt để
Như vậy nếu một bài dạy mà trong sách giáo khoa không có tranh ảnh minh hoạthì giáo viên có thể sưu tầm trong sách báo, internet… vì đây là nguồn tài liệu phongphú và quý giá Nhưng nếu chúng ta cũng không tìm được hình ảnh thì trong quá trìnhgiảng bài, giáo viên nên sử dụng các phiếu học tập, bảng phụ…để kích thích sự chú ýcủa học sinh vào nội dung bài học, như thế cũng là một cách sử dụng đồ dùng dạy họcđúng lúc và đạt hiệu quả
3.2.1/ Bài 7 – Các nước Mĩ La-tinh.
Khi dạy mục II – Cu Ba – Hòn đảo anh hùng.
Giáo viên sử dụng bức ảnh chụp chân dung Phi-đen Ca-xtơ-rô – người anh hùngcủa đất nước CuBa và bức ảnh ông cùng các chiến sĩ cách mạng
- Vì sao Phi-đen Ca-xtơ-rô được gọi là anh hùng dân tộc của đất nước Cu – Ba?
Ngoài ra Gv có thể liên hệ quan hệ Việt Nam – Cu Ba trong cách mạng cũng như
trong thời bình Gv sử dụng một số hình ảnh để các em khắc sâu kiến thức
Trang 143.2.2/ Bài 9 – Nhật Bản.
Khi dạy mục II – Nhật Bản khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
GV cho học sinh quan sát các bức ảnh về thành tựu của Nhật trong các lĩnh vực
Phương pháp sử dụng:
Gv hướng dẫn học sinh quan sát các bức ảnh và gợi mở bằng các câu hỏi:
- Em nhận xét gì về thành tựu trong công nghiệp mà Nhật đạt được?
- Trong nông nghiệp Nhật Bản sản xuất như thế nào?
- Em thấy trồng trọt theo phương pháp sinh học có gì khác với cách trồng trọt tựnhiên mà chúng ta thường gặp? Kết quả nông nghiệp của Nhật đạt được là gì?
- Bức ảnh chụp cây cầu nào? Ở đâu? Cây cầu nói lên điều gì về sự phát triển khoahọc – kĩ thuật của Nhật sau thế chiến hai?
Trang 153.2.3/ Bài 11 – Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi dạy mục I – Sự hình thành trật tự thế giới mới.
Giáo viên sử dụng bức ảnh chụp ba nguyên thủ quốc gia của các cường quốc Liên Xô,
Mĩ, Anh tại Hội nghị I-an-ta tháng 2-1945
Phương pháp sử dụng:
GV cho HS quan sát tổng thể bức ảnh, đặt câu hỏi gợi mở, định hướng để HS trả lời:
- Những nhân vật trong bức ảnh này là ai?
- Họ đến Hội nghị I-an-ta để làm gì?
- Những ai được tham gia và quyết định các vấn đề quan trọng của Hội nghị?
- Hội nghị diễn ra như thế nào và kết quả ra sao?
HS trả lời, GV tiến hành khai thác kênh hình và kết luận
Khi dạy mục II – Sự thành lập Liên hợp quốc.
GV sử dụng bức ảnh chụp quang cảnh của cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc
Phương pháp sử dụng:
Gv yêu cầu học sinh quan sát các bức ảnh và đặt câu hỏi gợi mở khai thác kênh hình:
- Bức ảnh trên là quang cảnh cuộc họp nào? Nhiệm vụ của Liên hợp quốc là gì?
- Việt Nam tham gia vào tổ chức Liên hợp quốc chưa?
- Em hãy cho biết nhiệm vụ của Liên Hợp Quốc trong các bức ảnh 2,3,4?
3.2.4/ Bài 23 – Tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa.
Khi dạy mục III – giành chính quyền trong cả nước.
GV sử dụng bức ảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945
Trang 16Phương pháp sử dụng:
GV yêu cầu học sinh quan sát kĩ bức ảnh và đặt câu hỏi gợi mở để học sinh trả lời:
- Em nhận xét gì về bức ảnh thứ nhất?
- Em hãy cho biết nhân vật trong bức ảnh thứ hai là ai?
- Em hãy cho biết bác Hồ đang làm gì?
- Em nhận xét gì về Bác khi đọc Tuyên ngôn Độc lập?
Qua HS trả lời kết hợp với miêu tả về nội dung bức ảnh giúp học sinh khắc sâu kiếnthức – đặc biệt không khí phấn khởi ngày Độc lập của cả dân tộc Học sinh sẽ thấyđược công lao to lớn của cha anh và phải phấn đấu vươn lên trong học tập, rèn luyện,nhất là phải tham gia phong trào thi đua “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh”
3.2.5/ Bài 27 – Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953 – 1954)
Khi dạy mục III, ý 2 – Chiến dịch lịch sử Điện biên Phủ.
GV chiếu một số hình ảnh học sinh quan sát
Phương pháp sử dụng:
Gv yêu cầu học sinh quan sát kĩ các bức ảnh và đặt một số câu hỏi gợi ý:
- Em hãy cho biết bức ảnh thứ nhất là gì?
Trang 173.2.6/ Trong phần lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến nay chúng ta thấy có rất
nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng, đặc biệt là từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợikhác, và ngày hôm nay đất nước hoàn toàn độc lập tự do, mọi người có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc Và người lèo lái con tàu cách mạng Việt Nam trải qua muôn vàn sónggió để đến bến bờ vinh quang chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị Cha già kính yêu,lãnh tụ thiên tài của dân tộc Không có Người sẽ không có chúng ta của ngày hôm nay
Vì thế tôi nghĩ rằng khi dạy lịch sử thời kì này, bên cạnh lược đồ, tranh ảnh sách giáokhoa , trong mỗi bài dạy đều có thể minh hoạ chân dung của Bác qua từng thời kìnhằm khắc sâu kiến thức và giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh
(Hình ảnh mang tính chất minh hoạ để lồng ghép tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh)
3.3 Đối với nhóm các loại đồ dùng trực quan khác: Niên biểu, bảng so sánh, bảng thống kê, sa bàn, mô hình, hình vẽ trên bảng đen, phim ảnh, đèn chiếu, CNTT…
Một loại đồ dùng dạy học cũng không thể thiếu trong môn Lịch sử chính là sơ đồ
3.3.1/ Bài 9 – Nhật bản.
Khi dạy mục II – Nhật Bản khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
Trang 18GV lập bảng thống kê những thành tựu của Nhật Bản trên các lĩnh vực.
Phương pháp sử dụng:
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và đặt câu hỏi gợi mở:
- Nhìn vào bảng thống kê, em hãy cho biết những thành tựu mà Nhật đạt được?
- Em có nhận xét gì về sự phát triển trong kinh tế của Nhật?
Qua đó học sinh có thể thấy được: từ những năm 50 đến những năm 70, kinh tế Nhậtphát trển mạnh mẽ, được coi là sự phát triển “thần kì”, vươn lên đứng thứ hai trong thếgiới tư bản và trở thành 1 trong 3 trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới cùng mĩ vàtây Âu
3.3.2/ Bài 11 – Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi dạy xong bài 11, Gv có thể tóm tắt nội dung bài học theo sơ đồ sau.
Phương pháp sử dụng:
GV đưa sơ đồ nội dung bài 11, yêu cầu học sinh củng cố nội dung bài học trên sơ đồ Học sinh nhìn vào sơ đồ sẽ thấy được trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứhai gồm 4 nội dung chính Mỗi nội dung lại có những đặc điểm khác nhau và trả lờitheo yêu cầu của giáo viên
3.3.3/ Khi học xong chương II – Việt Nam trong những năm 1930 – 1939.
Trang 19Phương pháp sử dụng:
Gv cho học sinh lập bảng so sánh về đường lới, chủ trương của Đảng giai đoạn
1936-1939 với giai đoạn 1930-1931
Sau khi so sánh về phong trào của 2 giai đoạn 1930-1931 với 1936-1939 Học sinh sẽrút ra được đây chính là sự chuyển hướng trong chỉ đạo chiến lược của Đảng phù hợpvới hoàn cảnh thế giới và trong nước, thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt củađảng ta
Trên đây tôi chỉ lấy một số ví dụ minh họa cho để góp phần làm sáng tỏ đề tàicủa mình, còn mỗi giáo viên sẽ có cách sử dụng đồ dùng dạy học và cách truyền đạtkhác nhau Riêng ý kiến của tôi, chúng ta sử dụng đồ dùng dạy học triệt để là rất tốtnhưng phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách, kết hợp với các phương pháp dạyhọc phù hợp, lời nói rõ ràng, truyền cảm Giáo viên làm thế nào để học sinh có thể nhìnvào đồ dùng mà tìm ra kiến thức, như vậy là chúng ta đã thành công
IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.
Một trong những nguyên tắc dạy học là phải đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận
và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với nhiệm vụ pháttriển đất nước Thực hiện theo nguyên tắc ấy, những gì tôi đề cập trong đề tài của mìnhtôi đã áp dụng vào thực tế giảng dạy với những kết quả đạt được rất khả quan Vàonhững lúc các em ra chơi hay mười lăm phút đầu giờ học tôi thường trò chuyện cùngcác em, hỏi ý kiến về cách dạy của tôi nhất là việc sử dụng đồ dùng dạy học có tácdụng như thế nào? Thì ngoài các em thích học môn lịch sử, còn có các em trước đâykhông hứng thú với môn lịch sử nhưng khi được học với các loại đồ dùng trực quan thìcác em đã có hứng thú và thích học môn Lịch sử Các em luôn muốn được tự mìnhkhám phá ra những kiến thức từ các thiết bị đồ dùng dạy học Từ đó góp phần giáo dục
Trang 20Sau khi áp dụng triệt để nội dung sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy trong nămhọc 2015-2016, tôi thu được kết quả như sau:
Số liệu thống kê trên 136 học sinh ở khối 9 năm học 2016 – 2017 tôi thu được kết quả như sau:
Qua so sánh giữa hai học kì của năm học, tôi nhận thấy việc sử dụng triệt để đồdùng dạy học thì mức độ hiểu bài của các em đã tăng lên rất nhiều Và ngay trong quátrình đứng lớp giảng bài tôi cũng nhận thấy sự thay đổi tích cực ở các em Nếu trướcđây là sự lơ là trong học tập, không chú ý, hay làm việc riêng, dễ buồn ngủ trong tiếtLịch sử thì bây giờ các em học rất sôi nổi, hăng say Đến lớp chú ý nghe giảng bài hơn
và về nhà tích cực học bài cũ Đây là một điều đáng mừng đối với tất cả chúng ta, vàtôi mong rằng dần dần các em sẽ thấy được tầm quan trọng của việc học tập môn Lịchsử
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1 Đề xuất.
Sử dụng đồ dùng dạy học là một điều cần thiết và quan trọng phải phối kết hợpcác phương pháp, phương tiện, thiết bị dạy học một cách nhuần nhuyễn, kết hợp giữahiện đại và truyền thống… nhằm giúp các em học sinh tìm ra và khắc sâu kiến thức
Tuy nhiên việc sử dụng đồ dùng dạy học còn chưa đồng đều ở các vùng miền,nhất là các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Vì vậy chúng tôi mong các ngành, cáccấp quản lí tiếp tục cung cấp, hỗ trợ thêm trang thiết bị cho trường nhằm đáp ứng vàphục vụ tốt nhu cầu giáo dục
Chúng ta đã lựa chọn cho mình một nghề thật cao quý vậy thì chúng ta phảicống hiến hết mình để xứng đáng với sự tôn vinh của toàn xã hội, xứng đáng với lờidặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người ”.
2.Khuyến nghị.
Trang 21- Trong dạy học, mỗi giáo viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn các
phương pháp Vì mỗi phương pháp đều góp phần vào quá trình giáo dưỡng, giáo dục
và phát triển trí tuệ
- Giáo viên phải luôn cập nhật thông tin để bổ sung cho bài giảng
- Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp để học hỏi kinh nghiệm
- Hiện nay tranh ảnh, bản đồ phục vụ bài giảng còn hạn chế, rất mong các ban ngànhnhà trường giúp đỡ để phong phú đồ dùng trực quan phục vụ bài giảng
VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1 Sách giáo khoa lịch sử 9- Nhà xuất bản giáo dục- Năm 2016
2 Sách giáo viên lịch sử 9- Nhà xuất bản giáo dục- Năm 2015
3 Báo giáo dục đào tạo- Nhà xuất bản Đồng Nai
4 Làm chủ phương pháp giảng dạy- Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP