1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích “học thuyết giá trị lao động” trong các học thuyết kinh tế đã học

22 417 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 730,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm sáng của trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh đó chính là học thuyết giá trị lao động, và đây cũng có thể coi là đỉnh cao của lí luận kinh tế chính trị tư sản cổ điển.. Trước b

Trang 1

TIỂU LUẬN

ĐỀ BÀI: Phân tích “học thuyết giá trị lao động”

trong các học thuyết kinh tế đã học.

Trang 2

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 5

I Khái quát về các nhà kinh tế và học thuyết giá trị lao động của họ 5

1 Sơ lược về cuộc đời của William Petty và học thuyết giá trị lao động của ông 5

1.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của William Petty 5

1.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của William Petty 5

2 Sơ lược về cuộc đời của Adam Smith và học thuyết giá trị lao động của ông 6

2.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Adam Smith 6

2.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của Adam Smith 7

3 Sơ lược về cuộc đời của David Ricardo và học thuyết giá trị lao động của ông 8

3.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của David Ricardo 8

3.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của David Ricardo 9

4 Những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Marx và khái quát về học thuyết giá trị lao động của chủ nghĩa Marx 11

4.1 Những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Marx 11

4.2 khái quát về học thuyết giá trị lao động của chủ nghĩa Marx 12

II Liên hệ thuyết giá trị-lao động với thực tiễn Việt Nam 14

KẾT LUẬN 20

Danh mục tài liệu tham khảo 22

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế – xã hội khác nhau

Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội nhất định Việc giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài

người Lúc đầu nó chỉ xuất hiện dưới những hình thức tư tưởng kinh tế, về sau mới trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó Mặt khác, các trường phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau mang tính kế thừa, phát triển, cũng như phê phán có tính lịch sử của các trường phái kinh tế học

Trường phái kinh tế chính trị học tư sản đầu tiên là chủ nghĩa Trọng thương Nó ra đời trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị học lúc này là lĩnh vực lưu thông và đánh giá cao vai trò tiền tệ trong việc tích luỹ của cải Con đường làm tăng của cải là thương nghiệp, là ngoại thương Họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế để tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản ra đời

xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giải của chủ nghĩa Trọng thương; Đòi hỏi phải có những lý thuyết mới – Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển xuất hiện

lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất Các đại biểu xuất sẵc của trường phái cổ điển

là W.Petty, F.Quesnay, A.Smith, D.Ricacdo Điểm sáng của trường phái kinh tế chính trị

cổ điển Anh đó chính là học thuyết giá trị lao động, và đây cũng có thể coi là đỉnh cao của lí luận kinh tế chính trị tư sản cổ điển

thể hiện sự bất lực của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển trước những hiện thực kinh tế

Trang 4

mới Trước bố cảnh đó, giữa thế kỉ XIX, trên cơ sở những thành tựu của kinh tế, áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu kinh tế, Mác-Ănghen đã làm mộ cuộc cách mạng trong lịch sử các học thuyết kinh tế khác về cơ bản trên các phương diện: đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dụng, tính giai cấp,… học thuyết của C.Mác ra đời là sự kế thừa và phát triển của những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học

trình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở của các lý luận khác Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được phát triển thành những quan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thành những phạm trù, những

hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó đã giải thích được các hiện tượng kinh tế trong xã hội

liệu nghiên cứu hiện hành, chúng tôi xin phân tích “học thuyết giá trị lao động” trong

các học thuyết kinh tế đã học

Trang 5

NỘI DUNG

I Khái quát về các nhà kinh tế và học thuyết giá trị lao động của họ

1 Sơ lược về cuộc đời của William Petty và học thuyết giá trị lao động của ông 1.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của William Petty

W Petty là nhà kinh tế học người Anh, sinh trưởng trong một gia đình thợ thủ công Ông là một người có nhiều tài năng Ông nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau như: vật lí, y học, âm nhạc, thống kê, kinh tế,… năm 1647 ông phát minh ra máy đánh chữ, năm 1649 đậu tiến sĩ vật lí, năm 1651 được phong giáo sư về giải phẩu và âm nhạc, ông được coi là người sáng lập ra kinh tế học Ngoài ra, ông còn được phong nam tước vì có công phục vụ cho nhà vua Về kinh tế, ông có các tác phẩm nổi tiếng như: “bàn về thuế khóa và lệ phí” (1662), “số học chính trị” (1676),… ông được K.Marx đánh giá cao và coi ông là cha đẻ của chính trị kinh tế học tư sản ở Anh

Trong những tác phẩm đầu tiên của mình, W Petty còn mang nặng tư tưởng trong thương, nhưng trong tác phẩm cuối cùng của ông thì không còn mang dấu vết của chủ nghĩa trọng thương

Về phương pháp luận, W Petty đã áp dụng phương pháp mới về nhận thức

Trường phái trọng thương chỉ thỏa mãn với việc đơn thuần đưa ra những biện pháp kinh

tế hay miêu tả lại những hiện tượng kinh tế theo kinh nghiệm Còn W Petty đã đi xa hơn trong việc tìm ra cách giải quyết những hiện tượng đó Ông đã tiếp cận với qui luật khách quan Ông nói: “trong chính sách kinh tế cũng như trong y học cần phải tính đến những quá trình tự nhiên, không nên dùng những hành động cưỡng bức riêng của mình để chống lại những quá trình đó”

Tuy vậy, ông đã nhầm lẫn trong việc coi các quy luật kinh tế của CNTB cũng như qui luật tự nhiên là tồn tại vĩnh viễn

Phương pháp trình bày của ông xuất phát từ nhưng hiện tượng cụ thể, phức tạp, đi đến hiện tượng trừu tượng Đó cũng là phương pháp kinh tế học đặc trưng của thế kỉ XVII

1.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của William Petty

Trang 6

W Petty đã có những nhận xét đúng đắn khi vạch rõ vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị, tức nguồn gốc thực sự của của cải Chỉ riêng điều này đã cho thấy ông

là người đầu tiên khai sinh ra lí luận giá trị-lao động

Khi nghiên cứu về giá trị lao động, ông dùng thuật ngữ “giá cả” và chia thành “giá

cả chính trị” và “giá cả tự nhiên” Theo ông, giá cả tự nhiên do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định Như vậy, W Petty đã hiểu đúng giá trị lao động với thuật ngữ “giá cả tự nhiên” và còn giá cả chính trị chính là giá cả thị trường, nó thường thay đổi theo những điều kiện chính trị, do đó khó hiểu rõ được nó.\

W Petty cũng đã thấy được mối quan hệ giữa năng suất lao động với “giá cả tự nhiên”, nó tỉ lệ nghịch với năng suất lao động Ông đã so sánh khối lượng lao động hao phí để sản xuất bạc với lượng lao động hao phí để sản xuất lúa mì Nếu năng suất lao động sản xuất ra bạc tăng lên thì giá trị của nó giảm xuống ngoài ra, ông còn đề cập đến lao động giản đơn và lao động phức tạp nhưng chưa phân tích đầy đủ

Tuy nhiên, ông còn chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương khi cho rằng chỉ có giá trị khai thác bạc (tiền tệ) mới tạo ra giá trị, lao động trong các ngành khác chỉ tạo nên của cải khi so sánh với lao động tạo ra tiền Theo ông, giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền tệ, giống như ánh mặt trăng là sự phản chiếu của ánh mặt trời ông còn cho rằng lao động thương nghiệp là ngành kinh tế có lợi nhất Đồng thời, ông còn nêu lên nguyên lí nổi tiếng: “lao động là cha còn đất là mẹ của của cải” Đáng tiếc rằng ông chỉ nêu ra nguyên lí mà không lí giải về nguyên lí đó Ở đây, nếu ông coi đó là hai yếu tố của quá trình lao động sản xuất thì hoàn toàn đúng đắn, nhưng nếu ông coi đó

là hai yếu tố hình thành giá trị thì lại là sai lầm

2 Sơ lược về cuộc đời của Adam Smith và học thuyết giá trị lao động của ông 2.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Adam Smith

Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế học nổi tiếng ở Anh và thế giới Ông xuất thân từ một gia đình viên chức thế quan ở Kirkaldy, xứ Scotland Adam Smith đã học ở trường đại học Glasgow và Oxford Sau khi tốt nghiệp tốt đại học, ông nghiên cứu và giảng dạy ở Edinburg và sau đó, vào 1751 ông được bầu làm giáo sư về môn Logic ở trường đại học tổng hợp Glasgow, năm 30 tuổi ông còn nhận thêm ghế giáo sư về triết

Trang 7

học đạo đức Adam Smith am hiểu về nhiều lĩnh vực như triết học, văn chương, lịch sử, vật lí, toán hoc, kinh tế học,…

Năm 1759, Adam Smith xuất bản cuốn “lí luận đạo đức”, ở đây ông vạch ra các lí luận về đạo đức, với cuốn sách này đã làm ông nổi tiếng Năm 1763, ông đi du lịch châu

Âu, nhờ đó đã tiếp xúc được với chủ nghĩa trọng nông Những quan điểm của chủ nghĩa trọng nông, nhất là quan điểm về thị trường tự do đã ảnh hưởng nhiều tới Adam Smith Đến năm 1766, ông xuất bản tác phẩm nổi tiếng “của cải các dân tộc”

Adam Smith được đánh giá là một đại biểu xuất sắc của trường phái kinh tế học chính trị tư sản cổ điển vào thời kì của ông, Anh là một nước có nền công nghiệp phát triển mạnh so với các nước khác Chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ cả trong nông nghiệp Giai cấp tư sản chiếm địa vị thống trị trong công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp Bên cạnh đó, giai cấp công nhân cũng ngày càng trở nên lớn mạnh Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân không phải là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội lúc bấy giờ mà là mâu thuẫn của giai cấp tư sản với tầng lớp bảo hoàng muốn duy trì trật tự phong kiến Trước tình hình này, giai cấp tư sản cần phải có một lí luận sắc bén để chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa tư bản so với chế độ phong kiến trong điều kiện đó, Adam Smith đã xuất hiện với tư tưởng bảo vệ chủ nghĩa tư bản mà không vạch ra những mâu thuẫn trong long nó, bởi vì lúc này chủ nghĩa tư bản là phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu, lỗi thời

2.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của Adam Smith

Ông phân tích giá trị bằng việc phân tích giá cả biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.Vì theo ông thì trao đổi là dấu hiệu quan trong nhất nói lên tính chất sản xuất,

xã hội là một khồi liên hiệp của sản xuất và trao đổi sản phẩm

Hơn nữa, giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị là do hao phí lao động

để sản xuất ra hàng hoá quyết định Lao động giản đơn và lao động phức tạp ảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị hàng hoá Trong cùng một thời gian, lao động chuyên môn, phức tạp xẽ tạo ra một lượng giá trị nhiều hơn so với lao động có chuyên môn hay lao động giản đơn Đây là khái niệm đúng đắn về giá trị nhưng ông cũng vấp phải vấn đề về giá cả sản xuất

Trang 8

Ông khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi Adam Smith kịch liệt phê phán lí luận lợi ích, một trường phái phổ biến rộng rãi ở thế kỉ XVIII Ông khẳng định rằng lợi ích không có liên quan gì tới giá trị trao đổi theo ông, giá trị trao đổi

là do lao động quyết định, giá trị là do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa quyết định Đó là khái niệm đúng đắn về giá trị và với khái niệm này, ông được xem là cha đẻ của lí luận giá trị-lao động ngoài ra, ông còn nêu lên định nghĩa thứ hai về giá giá trị của hàng hóa: giá trị một hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có thể mua được nhờ hàng hóa đó Theo Adam Smith thì quan điểm này không mâu thuẫn với quan điểm trên

Về cấu thành giá trị của hàng hóa, theo Adam Smith trong sản xuất TBCN, tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của mọi giá trị trao đổi, đó là quan điểm đúng đắn song, ông lại sai lầm ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, hơn nữa ông cũng xem thường tư bản bất biến (C), coi giá trị chỉ có (v+m)

Tóm lại, Adam Smith có nhiều cống hiến đối với giá trị-lao động Công lao chủ yếu của ông về lí luận giá trị là đã phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa ông đã cho rằng lao động là “thước đo thực tế của giá trị” Song, ở ông vẫn còn có những sai lầm và hạn chế về lí luận này

3 Sơ lược về cuộc đời của David Ricardo và học thuyết giá trị lao động của ông 3.1 Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của David Ricardo

David Ricardo (1772-1823) sinh ra trong một gia đình giàu có làm nghề chứng khoán, là một nhà tư bản có địa vị trong các gia đình giàu có ở châu Âu Năm 14 tuổi ông

đã làm việc tại thị trường chứng khoán ở Luân Đôn Ông học hai năm ở trường thương nghiệp Amsterdiam, sau đó trở về tiếp tục tham gia vào công việc kinh doanh trên thị trường chứng khoán và trở thành một trong những người giàu nhất nước Anh lúc bấy giờ Năm 25 tuổi, ông kiếm đủ tiền để rút khỏi công việc buôn bán

Đến năm 1799, ông mới bắt đầu nghiên cứu toán, vật lí và cá môn khoa học khác

Từ năm 1807-1808 ông mới bắt đầu nghiên cứu kinh tế Năm 1809, ông viết các tác

Trang 9

phẩm “giá cả cao của vàng là bằng chứng của sự giảm giá ngân phiếu” từ đó, nước Anh

có hai phái kinh tế học là: phái tiền tệ của David Ricardo và phái ngân hàng

Năm 1815, ở Anh giá lúa mì tăng cao, David Ricardo đã xuất bản tác phẩm “bàn

về giá cả lúa mì” Năm 1817, ông xuất bản tác phẩm có tính chất lí luận đó là “nguyên lí

cơ bản của chính trị kinh tế học và thuế khóa” Với tác phẩm này ông được xem là người phát triển cao nhất của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển ở nước Anh

Về phương pháp luận, David Ricardo tiếp tục dùng phương pháp trừu tượng hóa, ông phân tích chủ nghĩa tư bản ở dạng thuần tí của nó, cố gắng phân tích sâu sắc hơn các hiện tượng và quá trình kinh tế so với các tiền bối của ông Ông hiểu được ý nghĩa vật chất của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa và xem quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản là quá trình khách quan Khi đứng trên quan điểm sản xuất, mọi thu nhập đều có nguồn gốc sản xuất Ông còn sử dụng phương pháp toán học khi nghiên cứu, cố gắng làm chính xác hóa kinh tế chính trị học

Tuy nhiên, phương pháp luận của ông còn mang tính máy móc, siêu hình khi không thể phân tích được những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, tính phi lịch sử khi cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ tồn tại vĩnh viễn

3.2 Nội dung cơ bản về học thuyết giá trị lao động của David Ricardo

Lí luận giá trị-lao động chiếm vị trí quan trọng trong học thuyết kinh tế của David Ricardo Ông đã kế thừa và phát huy tư tưởng của A.Smith Công lao của David Ricardo

là ông đã rà soát lại toàn bộ lí luận giá trị của A.Smith, phê phán những quan điểm sai lầm, gạt bỏ những mâu thuẫn trong giải thích nước đôi của A.Smith và phát triển thêm những nguyên lí đúng đắn, khoa học của A.Smith

David Ricardo khẳng định rằng: “giá trị của hàng hóa hay số lượng của một hàng hóa nào khác mà hàng hóa đó trao đổi, là do số lượng lao động tương đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định, chứ không phải do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định”

Trang 10

Cũng như A.Smith, David Ricardo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi ông bác bỏ lí luân giá trị sử dụng quyết định giá trị hàng hóa, ông đã chứng minh các nhân tố tự nhiên giúp con người tạo nên giá trị sử dụng nhưng không thêm một phần tử gì vào giá trị hàng hóa cả ông có ý kiến: “tính hữu ích không phải là thước đo giá trị trao đổi, mặc dù hàng hóa rất cần thiết giá trị này” Giá trị khác xa với của cải, giá trị không tùy thuộc vào việc có nhiều hay ít của của cải, mà tùy thuộc vào điều kiện sản xuất khó khan hay thuận lợi” theo ông, sở dĩ có nhiều nhầm lẫn trong khoa kinh tế chính trị là do người ta quên rằng thước đo giá trị chưa phải là thước

đo của của cải vì của cải không phụ thuộc vào giá trị Theo ông, giá trị hàng hóa được qui định bởi lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa, lượng lao động đó tỉ lệ thuận với lao

động tạo ra hàng hóa “tính hữu ích không phải tăng cùng nhịp độ với tăng giá trị”, “tính hữu ích là cần thiết vì vật không có ích, nó không có được giá trị trao đổi”

David Ricardo cho rằng hàng hóa hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai nguyên sau:

 tính chất khan hiếm

Như vậy là ông đã nhận thức giá trị trao đổi được quyết định bởi lượng lao động đồng nhất của con người, chứ không phải là lượng lao động hao phí cá biệt Nhưng nhầm lẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hóa được điều tiết bởi lao động lớn nhất hao phí trong điều kiện xấu

David Ricardo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Ông cho rằng, không

có một giá cả nào mà hàng hóa không bị ảnh hưởng của biến động ngẫu nhiên hay tạm thời nhưng nguyện vọng của mỗi nhà tư bản luôn rút vốn mình ra khỏi công việc kinh doanh lại ít và đầu tư vào một công việc có lãi lớn hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả thị trường của hàng hóa dừng lâu ở mức nào đó cao hơn nhiều hay ít hơn nhiều so với giá cả tự nhiên của chúng

Trang 11

David Ricardo đã chứng minh một cách tài tình rằng, giá trị hàng hóa giảm khi năng suất lao động tăng lên, ông gạt bỏ sai lầm của A.Smith cho rằng lao động trong nông nghiệp có năng suất cao hơn và cho rằng sự tăng lên của của cải đi kèm với giá trị của nó giảm

David Ricardo đã trình bày lí luận của mình từ việc phê phán A.Smith ông đã gạt

bỏ tính không triệt để, không nhất quán về cách xác định giá trị của A.Smith David Ricardo kiên định với quan điểm: lao động là nguồn gốc giá trị, công lao to lớn của ông

là đã đứng trên quan điểm đó để xây dựng quan điểm khoa học của mình Đồng thời cũng phê phán A.Smith cho rằng giá trị là do nguồn gốc thu nhập hợp thành Theo ông, giá trị hàng hóa không phải do nguồn gốc thu nhập hợp thành, mà ngược lại được phân thành các nguồn thu nhập

Về cơ cấu giá trị của hàng hóa, ông cũng có ý kiến khác với A.Smith bỏ ra C ngoài giá trị hàng hóa David Ricardo cho rằng: giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra mà còn là lao động cần thiết trước đó nữa như máy móc, nhà xưởng,…

Mặt hạn chế trong lí luận của David Ricardo là ở chỗ là ông đã không nhận được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Khác với A.Smith, David Ricardo cho rằng qui luật giá trị vẫn hoạt động trong CNTB, nhưng hoạt động như thế nào thì ông không chứ minh được, vì ông không thể giải quyết được vấn đề giá cả sản xuất, ông đã đồng nhất hóa giá trị và giá cả sản xuất ông cũng chưa hiểu được giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị David Ricardo nói riêng và các nhà kinh tế học nói chung chỉ chú ý phân tích mặt lượng giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích giá trị ấy Đây là một trong những nhược điểm chủ yếu của kinh tế chính trị cổ điển tư sản, khuyết điểm này la do thiếu quan điểm lịch sử, xem xét tiền tệ, tư bản là hình thái tự nhiên vĩnh viễn

4 Những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Marx và khái quát về học thuyết giá trị lao động của chủ nghĩa Marx

4.1 Những tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Marx

Ngày đăng: 11/01/2018, 14:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w