MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỞ ĐẦU 1 Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH DANH THẮNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 5 1.1. Cơ sở lí luận chung về di tích danh thắng 5 1.1.1. Một số khái niệm 5 1.1.2.Phân loại di tích 6 1.1.3.Tầm quan trọng của di tích danh thắng 8 1.2. Khái quát về thành phố Lạng Sơn 9 1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9 1.2.2. Đặc điểm dân cư – kinh tế xã hội 10 1.2.3. Cơ sở hạ tầng 11 Tiểu kết 12 Chương 2.ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC CỦA KHU DI TÍCH DANH THẮNG NHỊ TAM THANH 13 2.1. Đặc điểm kiến trúc động Nhị Thanh chùa Tam Giáo 13 2.2. Đặc điểm kiến trúc động Tam Thanh chùa Tam Thanh 17 2.3. Đặc điểm kiến trúc tượng đá nàng Tô Thị, núi Tô Thị 20 2.4. Đặc điểm kiến trúc thành nhà Mạc 22 Tiểu kết 23 Chương 3.GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA KHU DI TÍCH DANH THẮNG NHỊ TAM THANH 24 3.1. Các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị Tam Thanh 24 3.1.1. Giá trị lịch sử 24 3.1.2. Giá trị văn hóa 24 3.1.3. Giá trị du lịch 25 3.1.4. Giá trị tâm linh 26 3.1.5. Giá trị kiến trúc 26 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị Tam Thanh 26 3.2.1. Tăng cường và nâng cao hiệu quả của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trong khu di tích danh thắng Nhị Tam Thanh. 27 3.2.2. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo tồn và phát triển khu di tích danh thắng Nhị Tam Thanh. 27 3.2.3. Đầu tư ngân sách cho việc tu bổ các công trình di tích trong khu di tích danh thắng Nhị Tam Thanh. 28 3.2.4. Đào tạo đội ngũ quản lí có chuyên môn cao và có tinh thần trách nhiệm với công tác quản lí. 28 3.2.5. Quy hoạch lại không gian khu di tích. 29 3.2.6. Tổ chức đan xen nhiều chương trình nghệ thuật kết hợp với tuyên truyền giáo dục cho nhân dân và du khách về các giá trị và công tác bảo tồn của khu di tích. 30 3.2.7. Giải pháp xã hội hoá công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá. 30 Tiểu kết 31 KẾT LUẬN 32 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ LỤC 34
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Tôinghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phục vụ việc nghiên cứu chứ không nhằmmục đích thương mại Mọi thông tin và số liệu trong bài tiểu luận này là hoàntoàn xác thực Tôi xin chịu mọi trách nhiệm nếu có sự thiếu trung thực về thôngtin trong bài tiểu luận này
Trang 2đề tài.
Do trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu của tôi còn hạn chế nên bài tiểuluận không tránh khỏi khiếm khuyết và thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để tôi có thể hoàn thiện hơnbài nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH DANH THẮNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 5
1.1 Cơ sở lí luận chung về di tích danh thắng 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Phân loại di tích 6
1.1.3 Tầm quan trọng của di tích danh thắng 8
1.2 Khái quát về thành phố Lạng Sơn 9
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9
1.2.2 Đặc điểm dân cư – kinh tế - xã hội 10
1.2.3 Cơ sở hạ tầng 11
Tiểu kết 12
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC CỦA KHU DI TÍCH DANH THẮNG NHỊ - TAM THANH 13
2.1 Đặc điểm kiến trúc động Nhị Thanh - chùa Tam Giáo 13
2.2 Đặc điểm kiến trúc động Tam Thanh - chùa Tam Thanh 17
2.3 Đặc điểm kiến trúc tượng đá nàng Tô Thị, núi Tô Thị 20
2.4 Đặc điểm kiến trúc thành nhà Mạc 22
Tiểu kết 23
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA KHU DI TÍCH DANH THẮNG NHỊ - TAM THANH 24
3.1 Các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh 24
3.1.1 Giá trị lịch sử 24
3.1.2 Giá trị văn hóa 24
3.1.3 Giá trị du lịch 25
3.1.4 Giá trị tâm linh 26
Trang 43.1.5 Giá trị kiến trúc 26
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh 26
3.2.1 Tăng cường và nâng cao hiệu quả của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trong khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh 27
3.2.2 Tuyên truyền, phổ biến nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo tồn và phát triển khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh 27
3.2.3 Đầu tư ngân sách cho việc tu bổ các công trình di tích trong khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh 28
3.2.4 Đào tạo đội ngũ quản lí có chuyên môn cao và có tinh thần trách nhiệm với công tác quản lí 28
3.2.5 Quy hoạch lại không gian khu di tích 29
3.2.6 Tổ chức đan xen nhiều chương trình nghệ thuật kết hợp với tuyên truyền giáo dục cho nhân dân và du khách về các giá trị và công tác bảo tồn của khu di tích 30
3.2.7 Giải pháp xã hội hoá công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá 30
Tiểu kết 31
KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC 34
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
VHTT & DL Văn hóa thể thao & du lịch
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay với xu thế hội nhập, ngành du lịch đang trở thành ngành mũinhọn của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Bắt nhịp với xu thếkhách quan ấy, tỉnh Lạng Sơn luôn chú trọng phát triển ngành du lịch, đặc biệt
là các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh tại tỉnh như Ải Chi Lăng, núi MẫuSơn, cột cờ Phai Vệ, Thành cổ Lạng Sơn Trong đó, khu di tích danh thắng Nhị
- Tam Thanh – khu di tích thắng cảnh đẹp nhất của thành phố Lạng Sơn đượcđặc biệt quan tâmphát triển bởi ý nghĩa và giá trị đặc biệt của nó đã làm nên cáihồn của xứ Lạng thân yêu
Không chỉ đẹp và nổi tiếng, khu di tích danh thắng này còn chứa đựngnhững giá trị và ý nghĩa sâu sắc gắn liền với kinh tế du lịch của tỉnh Lạng Sơn.Tuy nhiên, việc sử dụng, khai thác khu di tích này còn diễn ra chồng chéo nhau,
vì các cơ quan bảo tồn, du lịch, điện ảnh, thương mại, dịch vụ… địa phương đềuhướng vào khai thác di tích và các hoạt động này chưa được quản lý, phối hợpchặt chẽ Hiện nay các di tích trong khu di tích này đang dần bị tàn phá và hủyhoại nghiêm trọng không chỉ bởi những tác động của tự nhiên, mà còn củakhách du lịch Vì vậy, cấp thiết cần có những biện pháp thích hợp để bảo tồn vàphát huy giá trị của chúng
Vốn yêu thích thắng cảnh của quê hương từ lâu nên đề tài nghiên cứu này
là dịp để tôi tìm hiểu về thắng cảnh của quê hương mình và đề ra giải pháp gópphần phát triển các giá trị của danh thắng quê hương
Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh ở thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài
thi hết môn của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu về đặc điểm kiến trúc của các ditích trong khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh Đó là đặc điểm kiến trúc củađộng Nhị Thanh - chùa Tam Giáo, đặc điểm kiến trúc của chùa Tam Thanh -
Trang 7động Tam Thanh, đặc điểm kiến trúc của Thành nhà Mạc và đặc điểm kiến trúccủa tượng đá nàng Tô Thị tại núi Tô Thị.
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm kiến trúc của khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh
- Đề ra các giải pháp có thể áp dụng vào thực tiễn nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh
- Công trình nghiên cứu này có thể trở thành tư liệu tham khảo cho những
ai nghiên cứu về di tích danh thắng nói chung và nghiên cứu về khu di tích danhthắng Nhị - Tam Thanh nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Hệ thống hóa, khái quát hóa lí luận về di tích danh thắng.
-Phân tích, làm rõ đặc điểm kiến trúc nổi bật của khu di tích danh thắngNhị - Tam Thanh
-Làm rõ giá trị và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giátrị của khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh
4 Lịch sử nghiên cứu
Đã có một số nhà nghiên cứu và các bài viết về khu danh thắng này như:-Trong quyển Ngữ văn địa phương cấp trung học cơ sở - tài liệu nội bộlưu hành trong tỉnh Lạng Sơn có bài viết về động Nhị Thanh Bài viết đã miêu
tả về những đặc điểm nổi bật của động Nhị Thanh tuy nhiên còn khá bao quát vàchưa nói đến giá trị của nó
-Tác phẩm Lạng Sơn, thế và lực trong thế kỉ XXI của tác giả Viết Luân
Chu, NXB Chính trị quốc gia, 2005 có đề cập đến những tiềm lực phát triển của
Trang 8khu danh thắng nhưng chưa làm rõ cần bảo tồn nó như thế nào.
-Cuốn Xứ Lạng văn hóa và du lịch của tác giả Nguyễn Cường, NXB Văn
hóa dân tộc, 2000 đã giới thiệu và mô tả đặc điểm của khu di tích danh thắngnày nhưng chỉ mang tính khái quát, mô tả
-Trong cuốn Di sản văn hóa Lạng Sơn của tác giả Nguyễn Cường, NXB
Văn hóa thông tin, 2006 có bài viết giới thiệu về tổng thể khu di tích này vànghiên cứu khá sâu về các di tích trong khu di tích như chùa Tam Thanh, độngNhị Thanh, thành Nhà Mạc, núi Tô Thị Tuy nhiên tác giả lại chưa nêu rõ việcbảo tồn các di tích này như thế nào
Như vậy, các tài liệu trên đã tìm hiểu về các di tích danh thắng trong khu
di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh tuy nhiên chúng chỉ mang tính bao quát màchưa có bài viết nào hệ thống hóa các đặc điểm, giá trị và đề ra các biện pháp đểbảo tồn và phát huy các giá trị của chúng Bởi vậy tôi mong rằng bài tiểu luậncủa tôi sẽ tạo ra được cái nhìn tổng quan nhất về cả khu di tích danh thắng Nhị -Tam Thanh
5 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
-Phương pháp khảo sát thực địa
6 Giả thuyết nghiên cứu
-Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ đặc điểm kiến trúc của khu di tích danhthắng Nhị - Tam Thanh
-Nếu những giải pháp tôi đưa ra trong đề tài này được công nhận và đượcđưa vào thực tế thì sẽ có thể góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị của khu ditích danh thắng Nhị - Tam Thanh Từ đó, khu di tích danh thắng này sẽ đượcbảo tồn tốt hơn góp phần thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế cho tỉnh LạngSơn
Trang 9hiệu quả quản lí và bảo tồn các giá trị của khu di tích danh thắng Nhị - TamThanh.
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì đề tài có cấutrúc gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về di tích danh thắng và khái quát về thành phốLạng Sơn
Chương 2 Đặc điểm kiến trúc của khu di tích danh thắng Nhị - TamThanh
Chương 3 Giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của khu di tích danhthắng Nhị - Tam Thanh
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH DANH THẮNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN 1.1 Cơ sở lí luận chung về di tích danh thắng
1.1.1 Một số khái niệm
Di tích danh thắng hay còn gọi là danh lam thắng cảnh là một thành tố của
di sản văn hóa Di tích danh thắng có ý nghĩa vô cùng quan trọng góp phần tạonên vẻ đẹp của một quốc gia, dân tộc
Khái niệm di tích:
Theo Từ điển Thiều Chiểu:
“Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”[7;123].
Trong Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của trường Đại học
Văn hóa Hà Nội có định nghĩa di tích như sau:
“Di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”[2;17].
Ở Việt Nam, một di tích khi đủ các điều kiện sẽ được công nhận theo thứtự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt
Khái niệm di tích lịch sử văn hóa:
Lần đầu tiên Pháp lệnh di tích lịch sử năm 1984 đã đưa ra khái niệm về ditích lịch sử, văn hóa như sau:
“Di tích lịch sử, văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc
có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”[6].
Tiếp đó, trong Luật Di sản văn hóa năm 2013 (Điều 4) có định nghĩa: “
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”[5].
Khái niệm danh lam thắng cảnh (di tích thắng cảnh):
Trang 11Luật Di sản văn hóa 2013 cũng định nghĩa về danh lam thắng cảnh nhưsau:
“Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm
Di tích lịch sử - văn hoá
Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổvật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, vănhoá, khoa học Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trongquá trình dựng nước và giữ nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như đềnHùng, Cổ Loa, Cố đô Hoa Lư, Bãi cọc Bạch Đằng, Cột cờ
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân của đất nước Các di tích tiêu biểu thuộc loại nàynhư Khu di tích lịch sử Kim Liên, Đền Kiếp Bạc, Quần thể di tích danh thắngYên Tử, Lam Kinh, đền Đồng Nhân
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của cácthời kỳ cách mạng, kháng chiến Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như Khu ditích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, Khu di tích lịch sử cách mạngPắc Bó, Phòng tuyến Tam Điệp, Hành cung Vũ Lâm, Khu rừng Trần HưngĐạo
Năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng Các ditích này không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị
Trang 12lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch.
Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thểkiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệthuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trìnhkiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiềugiai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội
An, nhà thờ Phát Diệm, chùa Keo, đình Tây Đằng,Chùa Phật Tích
Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44.2% tổng số di tích đượcxếp hạng
Di tích khảo cổ
Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu cácgiai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ Các di tích tiêu biểu thuộc loại nàynhư Hoàng thành Thăng Long, hang Con Moong, di chỉ Đông Sơn, động NgườiXưa, thánh địa Mỹ Sơn
Năm 2010, di tích khảo cổ chiếm 1.3% các di tích được xếp hạng
Di tích thắng cảnh
Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặcđịa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc cógiá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong cáctiêu chí sau đây:
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tíchquốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danhthắng Tây Thiên, Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, vịnh Hạ Long, động PhongNha
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng
Trang 13những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêubiểu thuộc loại này như vịnh Hạ Long, Cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốcgia và khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam.
Danh lam thắng cảnh chiếm khoảng 3.3% số di tích được xếp hạng
Di tích lịch sử cách mạng
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các ditích lịch sử - văn hoá, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáotín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể,công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được conngười tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liềnvới những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Loại hình
di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồngthời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết
và theo thời gian Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tácdụng nếu không được quan tâm đặc biệt
Một số di tích lịch sử cách mạng như: Chiến khu Tân Trào, Chiến khuQuỳnh Lưu, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, [3],[5]
1.1.3 Tầm quan trọng của di tích danh thắng
Di tích danh thắng (danh lam thắng cảnh) là điều kiện thuận lợi để quảng
bá đất nước và con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế Trong thời đại hộinhập và phát triển, vai trò của ngành dịch vụ đóng vai trò ngày càng to lớn đối
sự phát triển kinh tế của một đất nước Phát triển du lịch đặc biệt là khai thácgiá trị du lịch của các khu di tích thắng cảnh có ý nghĩa đóng góp to lớn đối vớingành dịch vụ Các di tích thắng cảnh không chỉ là nơi lí tưởng để khách du lịchnghỉ dưỡng, tận hưởng không khí yên bình, tĩnh lặng của thiên nhiên mà còn là
cơ hội để họ tiếp xúc và tìm hiểu văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc và vùngmiền Thông qua hoạt động du lịch này, những nét văn hóa truyền thống của cácdân tộc được gìn giữ và biết đến nhiều hơn, tạo động lực phát triển cho các loạihình nghệ thuật truyền thống đặc sắc Một vai trò quan trọng nữa của du lịch
Trang 14thắng cảnh là tạo nguồn thu từ du lịch tại các di tích thắng cảnh này Phát triển
du lịch ở các di tích thắng cảnh không chỉ giúp phát triển ngành du lịch nóiriêng mà còn tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội nói chung Phát huy cácgiá trị của di tích thắng cảnh sẽ giúp hội nhập quốc tế và khu vực khi các giá trịvăn minh này đến với bạn bè quốc tế Đây cũng là lợi thế giúp nâng cao vị thếcủa một quốc gia Quan trọng hơn, danh lam thắng cảnh luôn gắn với một địadanh hay vùng miền cụ thể do đó nó cũng sẽ nâng cao hiểu biết về vùng miềncho người dân Ví như nhắc đến Hồ Gươm là sẽ nhớ ngay đến thủ đô Hà Nội,nhắc đến vịnh Hạ Long thì sẽ nhớ ngay đến Quảng Ninh… Như vậy, mỗi thắngcảnh còn quảng bá hình ảnh cho địa phương, khiến nơi có di tích thắng cảnhcàng được nhiều người biết đến hơn và nổi tiếng hơn
Điều kiện trở thành di tích danh thắng
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2013:
Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
-Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiênnhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu
-Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhữngdấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất [5]
1.2 Khái quát về thành phố Lạng Sơn
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Thành phố Lạng Sơn nằm ở vị trí từ 21,45 đến 22 độ vĩ Bắc, 106,39 đến107,03 độ kinh Đông Thành phố nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông KỳCùng chảy qua trung tâm Thành phố và đây là dòng sông chảy ngược Nó bắtnguồn từ huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc vềhuyện Quảng Tây - Trung Quốc
Thành phố Lạng Sơn nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên vậnquốc tế Việt Nam – Trung Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đườngquốc lộ 4B đi Quảng Ninh, đường quốc Lộ 4A đi Cao Bằng Thành phố cách
Trang 15Thủ đô Hà Nội 154 km, cách cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị 14 km và cách 5 cặpchợ đường biên Việt - Trung thuộc huyện Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng từ 25đến 30km.
Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc
Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã VânThủy - huyện Chi Lăng
Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, TânLiên – huyện Cao Lộc
Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp –huyện Văn Quan
Bao gồm 5 phường và 3 xã: phường Hoàng Văn Thụ, phường Vĩnh Trại,phường Tam Thanh, phường Chi Lăng, phường Đông Kinh, xã Mai Pha, xãQuảng Lạc, xã Hoàng Đồng
Điều kiện tự nhiên
Thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bìnhhàng năm 21 ⁰C, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm.Thành phố nằm trên nền đá cổ, có độ cao trung bình 250 mét so với mực nướcbiển, gồm các kiểu địa hình: xâm thực bóc mòn, cacxtơ và đá vôi, tích tụ
1.2.2 Đặc điểm dân cư – kinh tế - xã hội
Đặc điểm dân cư
Dân số của thành phố năm 2014 là 92.200người, với nhiều dân tộc khácnhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa, Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cộng đồngcác dân tộc Lạng sơn luôn đoàn kết cùng nhau xây dựng đời sống và nếp sốngvăn hóa tốt đẹp
Đặc điểm kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Thành phố chủ yếu là phát triển thương mại du lịchdịch vụ (chiếm 59,8%), công nghiệp –xây dựng (chiếm 35,5%) và nông lâmnghiệp (chiếm 4,7%) GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 14,9 triệuđồng/người/năm
Hoạt động của các thành phần kinh tế phát triển ổn định, phong phú và đa
Trang 16dạng Hiện Thành phố có hơn 300 doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, hơn4.000 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
Đặc điểm văn hóa - xã hội
Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo năm 2005còn 3,67% (theo tiêu chí mới), hộ giàu và khá chiếm trên 40% 100% thôn bản
có điện lưới quốc gia, 100% số hộ được nghe đài phát thanh, trên 95% số hộđược xem truyền hình, tỷ lệ thôn bản được dùng nước sạch chiếm khoảng 85%.Chất lượng giáo dục - đào tạo ngày càng được nâng cao, tỷ lệ học sinh tốtnghiệp bình quân từ 98-100%, số học sinh giỏi hàng năm đều tăng Đảm bảo cácchương trình mục tiêu quốc gia về Y tế, Dân số, Gia đình và trẻ em Tỷ lệ tăngdân số tự nhiên duy trì ổn định ở mức 0,9%/năm Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡngcòn 16% vào năm 2005
f >100, 80km đường ống f <100 Hệ thống thoát nước có 10,2km đường ống,2km mương, 580 hố ga Hệ thống thuỷ lợi hiện có 06 hồ đập lớn nhỏ, 11 trạmbơm Thực hiện tốt chương trình kiên cố hoá kênh mương, đến nay cơ bản đãkiên cố hoá được hệ thống mương thuỷ lợi trên địa bàn Thành phố Số trườnghọc hiện có trên địa bàn là 25 trường, bao gồm: 08 trường Tiểu học, 07 trường
Trang 17Trung học cơ sở, 02 trường Phổ thông cơ sở (cấp I + II), 04 trường Trung họcphổ thông; 04 trường Trung học chuyên nghiệp Về Y tế, có 04 bệnh viện cấpTỉnh, 01 Trung tâm Y tế thành phố và 08 trạm y tế của 08 phường, xã.
Cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại du lịch cũng có những thay đổi mạnh
mẽ, bước đầu đáp ứng được sự phát triển của ngành kinh tế thương mại - du lịch
- dịch vụ Thành phố Nhiều khu di tích văn hoá - lịch sử, danh lam thắng cảnh
đã được đầu tư, tôn tạo như: Khu di tích Thành nhà Mạc, khu di tích danh thắngNhị - Tam Thanh, Chùa Tiên… Đầu tư xây dựng các công trình phục vụ pháttriển du lịch như: kè bờ sông Kỳ Cùng, kè suối Lao Ly, cải tạo công viên HồPhai Loạn, xây dựng Khu du lịch sinh thái hồ Nà Tâm, hồ Thâm Sỉnh, Khu dulịch sinh thái Đèo Giang - Văn Vỉ nhằm tạo ra các điểm du lịch hấp dẫn, thuhút khách đến tham quan, du lịch trên địa bàn Hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ
du lịch hiện có hơn 800 cơ sở hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàngtrên địa bàn …
Những thay đổi về hệ thống cơ sở hạ tầng của Thành phố đã từng bướccải thiện diện mạo đô thị, tạo ra nền tảng để thu hút được nhiều nguồn lực đầu tưvào Thành phố nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh củaThành phố về phát triển kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ
Tiểu kết
Trong chương 1, tôi đã trình bày cơ sở lí luận về di tích danh thắng Bêncạnh đó, tôi đã trình bày những đặc điểm khái quát về thành phố Lạng Sơn.Những nội dung ở trong chương 1 đã đặt cơ sở lí luận và thực tiễn để tôi có thểtriển khai chương 2 tốt hơn
Trang 18Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC CỦA KHU DI TÍCH DANH THẮNG NHỊ -
TAM THANH
Khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh [A1; Tr 34] nằm trong dãy núi
đá vôi phía Tây Bắc thành phố Lạng Sơn, thuộc phường Tam Thanh, thành phốLạng Sơn Khu di tích danh thắng này có tổng diện tích 52 ha với nhiều hangđộng tự nhiên kỳ thú Theo các nhà địa chất, đây là vùng thuộc hệ Triat, phiếnthạch, và các hang động này được tạo nên từ kỷ Permi Than đá có niên đại cáchngày nay từ 360 đến 245 triệu năm
Trong khu danh thắng Nhị - Tam thanh có nhiều di tích nổi tiếng đượcđông đảo du khách trong và ngoài nước biết đến, tiêu biểu là: Động Tam Thanh,chùa Tam Thanh, Động Nhị Thanh, Chùa Tam Giáo, Núi Tô Thị (còn gọi là núiVọng Phu) với tượng đá Tô Thị nổi tiếng và Thành Nhà Mạc
2.1 Đặc điểm kiến trúc động Nhị Thanh - chùa Tam Giáo
Đi từ vòng xuyến ngã năm chợ Kỳ Lừa, trung tâm thành phố Lạng Sơn,chếch hướng Tây Nam theo đường Nhị Thanh khoảng 500 mét là đến động NhịThanh và chùa Tam Giáo Động Nhị Thanh [A2; Tr 34] và chùa Tam Giáo [A3;
Tr 35] được danh nhân Ngô Thì Sĩ khám phá và tôn tạo khi ông làm Quan ĐốcTrấn Lạng Sơn ( Trấn là đơn vị hành chính như một tỉnh ngày nay, Đốc Trấn làchức quan đứng đầu tỉnh) từ năm 1777 - 1780
Ngô Thì Sĩ sinh ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ (1726) là người làng
Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây cũ Khi đang giữ chức Ngự sử,tháng 11 năm 1777 Ngô Thì Sĩ lĩnh chỉ lên làm Đốc trấn Lạng Sơn Đến nơithấy dân 7 Châu của Lạng Sơn ly tán quá nửa, nhiều người chết do hạn hán vànạn trộm cướp Ông cùng người nhà khai phá đất hoang hóa, dạy dân cày bừatrồng lúa, xin triều đình miễn thuế cho dân Lạng Sơn Sau đó vài năm mọi cõiyên ổn, lúc này ông mới thung dung giữa chốn núi khe của xứ Lạng, vượt sôngsang phía Bắc thành thấy cây cối dây leo chằng chịt um tùm, lam chướng bốclên ngùn ngụt, thấp thoáng phía trong có 2 cái động: Động ở trên cao có thạch
Trang 19nhũ rủ xuống; động chếch phía dưới có suối nhỏ róc rách, hỏi dặn mới biết suốichảy từ Hoàng Đồng về và đặt tên là suối Thụ Phúc (nay là suối Ngọc Tuyền –tức suối Ngọc) chảy qua động đọng thành ao nước trong suốt, ông gọi là “NhấtBích Trì” nghĩa là ao Nhất Bích hay ao trong biếc
Ngay bên trong Tam quan chùa Tam Giáo khoảng 5 mét có khối đá cao 3mét đường kính hơn 3 mét, trên đó Ngô Thì Sĩ cho dựng một ngôi đình gọi là
“Quân đình quân môn” nghĩa là Đình duyệt quân Cách đó 10 mét, phía bên trái,ông cho dọn đá làm “Thụy Tuyền hiên” nghĩa là hiên Ngủ bên suối Ở động thấptrên nóc cửa động có ghi chữ Nhị Thanh động nét chữ 10 cm, chiều cao chữ đếngần 1 mét
Cách cửa động Nhị Thanh 10 mét có một hốc đá trông tự cái am nhỏ ở độcao 8 mét có bức tượng chân dung theo hình trạng kiết già ngồi dựa vào vách đá,
đó là tượng truyền thần Ngô Thì Sĩ kích thước lớn nhỏ cao thấp không sai một
li, như con người thật của ông vậy
Đi tiếp 30 mét nữa đến cầu kiều đầu tiên, trần hang hạ thấp, lòng hang chỉmột người đi cúi là vừa, nhường chỗ cho cơ man thạch nhũ đủ các hình thù lạlẫm Nhiều nhũ đá nối liền tạo thành các các cột đỡ trần hang, lại có gió nhẹphảng phất đâu đây rất dễ chịu Đến đây suối như biến mất không thấy đâu, lạinghe tiếng nước chảy róc rách, qua khúc quanh, không gian rộng lớn mở ratrước mặt nóc hang cao hơn 30 mét, chỗ rộng nhất cũng phải gần 30 mét, từ độcao 18 mét một thác nước nhỏ đổ xuống , cách nền động 2 mét theo kẽ đá, thácchảy vào suối chảy ngầm dưới nền động nên không nhìn thấy lòng suối đâu.Dưới chân thác nước Ngô Thì Sĩ cho tôn cao hơn để làm sân khấu, trên nócđộng có khe nhỏ ánh sáng rọi qua được ông cho khắc 3 chữ lớn “Hang thôngthiên”
“Động Nhị Thanh có nhiều ngách thông từ bên này sang bên kia Suối Ngọc Tuyền bắt nguồn từ Hoàng Đồng chảy xuyên qua động đọng lại trước cửa hang tạo thành ao Nhất Bích, nước xanh biêng biếc Đây cũng là con đường ra vào hang rất tiện lợi Xưa kia vào mùa mưa có thể ngồi trên thuyền len lỏi khắp động vãn cảnh, lắng nghe âm thanh thánh thót, du dương của nước suối vọng
Trang 20vào vách núi Trong lòng động, muôn trùng nhũ đá lung linh soi bóng xuống dòng nước lấp lánh như gương Mảnh thì giống tiên ông,mảnh thì giống sư tử đang trầm mình Gần giữa hang có một khoảng đất rộng gọi là sân khấu” Ánh sáng từ thông thiên” lọt xuống đủ để soi tỏ từng vách đá, từng viên cuội dưới dòng suối Nơi đây, Ngô Thì Sĩ từng mở tiệc thiết đãi tướng sĩ, tổ chức bình thơ Nhiều người đã ví động Nhị Thanh như một câu lạc bộ thơ văn của Lạng Sơn thế kỉ XVIII”[4;15].
Vòng bên cánh gà sân khấu, qua khúc ngoặt là đến hang Giao Long ta nhưlạc vào “Vườn thạch nhũ” chỗ rộng phải đến 25 mét, chiều dài hút mắt đến hàngchục mét, trần và nền hang tương đối bằng phẳng, không biết cơ man nào là nhũ
đá tạo nên muôn hình vạn trạng, có hình như voi phục lại có hình như rùa bò, cóhình như gấu, hải cẩu…nhiều cột đá hững hờ bên mép suối đỡ lấy trần hang,nhiều nhũ đá lòng thòng, mầm đá cao thấp như đang cố vượt lên
Từ cửa trước đến cửa sau động Nhị Thanh chỉ khoảng 500 mét, nhưngphải trải qua 4 chiếc cầu kiều do suối uốn lượn lúc phải lúc trái ta cảm nhậnđược rất rõ cảnh hoang sơ của hang động qua tiếng cá nhảy, ếch bơi và nhữngchú dơi giật mình thảng thốt bay quang quàng, cảnh sắc thiên nhiên thật là thơmộng
Ngày nay, Nhị Thanh có giá trị như một bảo tàng về Ngô Thì Sĩ Các bứctích tự trên vách đá, vòm động còn lưu bút tích của ông Đặc biệt, ông cho rằngđạo là một mà thôi, Phật - Lão chỉ khác tên nhưng nội dung đều là Nho cả.Khổng Tử, Lão Tử và Phật Thích Ca tuy tên là ba nhưng thực đạo đều thốngnhất là một Chính vì vậy Ông đã đưa 3 đạo vào thờ chung một chùa và gọi làchùa Tam Giáo
Chếch phía trái động Nhị Thanh có lẽ do thế đất tôn hơn nên Ngô Thì Sỹ
đã cho xây dựng chùa Tam Giáo Chùa Tam Giáo [A3; Tr 35] là một loại hìnhkiến trúc đặc biệt: Không có mái, không có nhà, bàn thờ được đặt trong cáchang, hốc đá làm cho ta có cảm giác thiên tạo với những nhũ đá kỳ vĩ càng tạonên sự linh thiêng của ngôi chùa
Hiện nay trong chùa có các cung thờ như: Cung Công Đồng, Cung Tam
Trang 21Tòa Thánh Mẫu, Cung Sơn Trang, Cung Tam Bảo Giờ đây, khi vào chùa TamGiáo, chính giữa chỗ nóc hang cao nhất Ngô Thì Sĩ cho khắc 4 chữ lớn “Bất khảhình dung” nghĩa là không thể hình dung được; liền đó ở bên trái có chữ
“Ngưỡng chi di cao”, bên phải có chữ “Vô đắc nhi du” có nghĩa là ngẩng trôngcàng cao không thể vượt qua, chỗ này là nơi thờ bóng vị tiên thánh Khổng PhuTử; phía dưới bên trái có trạm 4 vật là Đàn, Sách, Cung, Kiếm tượng trưng cho
4 vị hiền sĩ đứng chầu Vách trái động có dòng chữ “Đại thánh nhân xuất yên”
có nghĩa là bậc Đại Thánh ra đời, thờ Đức phạt tổ Thích Ca, ngay dưới có tượngngười cưỡi tượng trắng theo hầu là hai tiểu đồng: một tiểu đồng cầm lọng che,một tiểu đồng cầm bộ kinh Kim cương Vách phải động có khắc chữ “Kỳ do
long hổ” có nghĩa là có lẽ là như Rồng chăng? Thờ vị Tổ đạo gia Lý Lão Quân,
ngay phía dưới có tượng người cưỡi trâu xanh, theo sau là hai tiểu đồng: 1 tiểuđồng cầm lọng che, một tiểu đồng cầm bộ Đạo đức kinh Ngày nay, các hìnhảnh khác đã bị mờ khó nhìn
Từ cửa chùa Tam Giáo, rẽ trái đi khoảng 30 mét có một hang đá nhỏ chứađược vài chục người, nền hang cao, đất sạch lại kín mưa gió, Ngô Thì Sĩ cho
dọn kê làm bếp cho các nhà sư, gọi là “Trai táo” nghĩa là Bếp cơm chay, bút tích
của ông vẫn còn trong hang này
Trong sách Di sản văn hóa Lạng Sơn có ghi lại như sau:
“Tất cả mọi công việc thổ mộc đất đá dựng Đình duyệt quân, chùa Tam Giáo, thạch miên am, Thụy tuyền hiên, Trai táo, vị Đốc trấn Ngô Thì Sĩ cho làm
từ tháng Trọng Thu năm Kỷ Hợi (tức tháng 5 năm 1779 âm lịch) đến tháng Mạnh Thu (tháng 7) cùng năm thì hoàn thành Ngày 28 tháng 7 năm 1779 âm, Ngô Thì Sĩ tổ chức mở hội ăn mừng: Ở chùa Tam Giáo làm lễ tế, trong động Nhị Thanh tổ chức ăn uống, ca hát, múa rối nước và các trò diễn khác trong 7 ngày 7 đêm Nội dung bia Ma Nhai “Bài ký động Nhị Thanh” có ghi: Đêm đầu
mở hội có một con hổ to như con bò đến gần sân khấu hang Thông Thiên vòng quanh đàn lễ rồi đi không thấy quay trở lại, nên dân chúng ban đêm không còn
sợ hãi nữa; Lại có một con Giao Long, râu và đuôi đều đỏ vào phường múa rối nước như muốn xem trò, đuổi cũng không đi, khi các trò diễn kết thúc thì không