M ục tiêu cụ thể: - Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định quản trị lợi nhuận - Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
TR ẦN THỊ MỸ TÚ
TP H ồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
TR ẦN THỊ MỸ TÚ
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ kinh tế “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung
thực Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
H ọc viên
TR ẦN THỊ MỸ TÚ
Trang 4M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các chữ viết tắt
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Các nghiên cứu có liên quan 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa của đề tài 6
1.7 Kết cấu đề tài 6
Chương 2: Tổng quan về thông tin lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận 7
2.1 Các vấn đề cơ bản về thông tin lợi nhuận 7
2.1.1 Khái niệm về lợi nhuận và các yếu tố xác định lợi nhuận 7
2.1.2 Nguồn hình thành của lợi nhuận 9
2.1.3 Vai trò của lợi nhuận 9
2.1.4 Định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận 11
2.2 Các vấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận 16
2.2.1 Động lực của hành vi quản trị lợi nhuận 16
Trang 52.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận – cơ sở dồn tích 20
a Kế toán theo cơ sở tiền 20
b Kế toán theo cơ sở dồn tích 20
2.2.3 Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận 21
a Thông qua thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể 22
b Thông qua phân bổ chi phí hay doanh thu 23
c Thông qua công bố thông tin 23
d thông qua các hoạt động thực tế 24
2.2.4 Hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận 26
Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận - Khảo sát thực nghiệm tại các công ty niêm yết TP HCM 29 3.1 Giới thiệu các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM 29
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch chứng khoán TPHCM 29
3.1.2 Phân ngành các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM 30
3.2 Khảo sát thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM 33
3.2.1 Mục tiêu khảo sát 33
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 33
a Tính độc lập của HĐQT 33
b Chất lượng kiểm toán 36
c Quy mô công ty 39
Trang 6d Đòn bẩy tài chính 40
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu 42
3.2.3.1 Phương pháp nghiên cứu: 42
3.2.3.2 Chọn mẫu 44
3.2.3.3 Quy trình nghiên cứu 45
3.2.3.4 Biến phụ thuộc 45
3.2.3.5 Biến độc lập 51
Chương 4: Kết quả nghiên cứu 54
4.1 Thống kê mô tả 54
4.2 Phân tích tương quan giữa các biến 57
4.3 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 59
Chương 5: Các giải pháp nhằm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận 64
5.1 Giải pháp hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận 64
5.1.1 Đối với công ty niêm yết 64
5.1.2 Đối với kiểm toán viên 70
5.1.3 Đối với nhà đầu tư 73
5.1.4 Đối với Bộ tài chính 75
5.1.5 Đối với các tổ chức bên ngoài 77
5.1.6 Đối với Ủy ban chứng khoán Nhà nước 77
5.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính 79 Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1- Khảo sát số lượng công ty trong ngành năm 2013 sàn HOSE
Bảng 3.2: Kết quả một số nghiên cứu
Bảng 3.3: Mức kỳ vọng tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
Bảng 4.1 : Kết quả phân tích thống kê mô tả biến phụ thuộc
Bảng 4.2 : Kết quả phân tích thống kê mô tả biến độc lập
Bảng 4.3: Kết quả phân tích thống kê mô tả biến Quy mô công ty kiểm toán
Bảng 4.4: Kết quả Phân tích tương quan giữa các biến
Bảng 4.5: Tóm tắt theo mô hình
Bảng 4.6: Phân tích phương sai
Bảng 4.7: Phân tích hồi quy đa biến
Bảng 4.8: Kết quả sau khi khảo sát thực nghiệm
Trang 8
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TSCĐ: Tài sản cố định
BCTC: Báo cáo tài chính
BCKQKD: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 9chỉnh, và các thông tin tài chính có thể so sánh được
Chính vì vậy, thông tin kế toán cung cấp ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có quan tâm Báo cáo tài chính được lập
ra dựa trên các chuẩn mực kế toán, chính sách kế toán và thông tư hướng dẫn Tuy nhiên, giữa các quy định cứng nhắc, thì cũng có một khoảng không tự do để doanh nghiệp vận dụng và hướng đến nhiều mục tiêu chủ quan Đặc biệt là ở công ty niêm
yết thường có xu hướng thổi phồng kết quả kinh doanh trong những giai đoạn quan
trọng Để giành được sự quan tâm của nhà đầu tư, ngoài những điều kiện thuận lợi như quy mô công ty, có chiến lược rõ ràng, thì chỉ tiêu lợi nhuận chính là chỉ tiêu quan trọng mà nhiều nhà đầu tư quan tâm đến Đó cũng là lý do khiến các nhà quản
trị công ty luôn tìm mọi cách để quản trị lợi nhuận nhằm tranh thủ sự quan tâm của nhiều người
Trong hoàn cảnh này, việc tìm hiểu rõ hơn về hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết, thông qua các phương pháp nào, đồng thời nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề quản trị sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực Chính vì
vậy, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị
l ợi nhuận trên báo cáo tài chính ở công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng
Trang 10khoán TP HCM”, nhằm nghiên cứu thực tế ở các công ty, và đưa ra các kết luận mang tính khái quát, đồng thời đề xuất giải pháp giảm thiểu hành vi quản trị lợi nhuận
1.2 M ục tiêu nghiên cứu của đề tài:
a M ục tiêu chung:
Đề tài tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần niêm yết, về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên đến biến nghiên cứu chính của đề tài – biến dồn tích
Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục tình trạng quản trị lợi nhuận
b M ục tiêu cụ thể:
- Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định quản trị lợi nhuận
- Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng quản trịlợi nhuận
- Đề xuất một số giải pháp giúp hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận trong quá trình quản lý các doanh nghiệp Việt Nam
1.3 Các nghiên c ứu có liên quan:
Hu ỳnh Thị Vân (2012)- Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty c ổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính là số liệu trên báo cáo tài chính năm 2008-2010 của các doanh nghiệp năm đầu niêm yết trên 2 sàn chứng khoán TP Hồ Chính Minh và Hà Nội dựa trên 2 mô hình được lựa chọn là Mô hình
DeAngelo (1986) và Mô hình Friedlan (1994) Tác giả đã đưa ra 3 nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với những doanh nghiệp niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô doanh nghiệp Qua
khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán, điều chỉnh tăng lợi
Trang 11nhuận trong năm đầu niêm yết quan hệ thuận chiều với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà doanh nghiệp được hưởng Qua đó tác giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính trong đó nhấn mạnh
vấn đề công bố thông tin
thu ật điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Bài báo đã trình bày một cách tổng quát về các kỹ thuật như lựa chọn phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản…mà các nhà quản
trị có thể vận dụng để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan, đồng thời đưa ra
một vài ý kiến về tính trung thực của công tin kế toán và yêu cầu công bố để tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối tượng kiểm tra chất lượng nguồn thông tin từ
đó đưa ra quyết định đúng đắn
Nguy ễn Trí Tri (2013) – Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi ph ối thu nhập trên báo cáo tài chính
Bài nghiên cứu đã hệ thống một số kết quả nghiên cứu quan trọng về
những nhân tố tác động đến việc chi phối thu nhập, thông qua đó sẽ nêu ra một số
kiến nghị về chính sách nhằm góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu hành vi chi phối thu nhập trong các doanh nghiệp tại Việt Nam Dựa trên việc tổng hợp các nghiên
cứu thực nghiệm, bài báo đã tổng hợp và cho rằng hành vi chi phối thu nhập bị tác động bởi nhiều nhân tố, bao gồm: lương và thưởng cho nhà quản lý, giá cổ phần,
hợp đồng vay vốn, chất lượng của hoạt động kiểm toán BCTC, sự độc lập của HĐQT và ủy ban kiểm toán và môi trường pháp lý Ngoài ra, bài báo còn nêu ra về hành vi chi phối thu nhập có thể phân thành 2 loại chính: chi phối việc lựa chọn chính sách kế toán, và chi phối các hoạt động kinh tế
Corporate Governance, firm size, and Earning management:
Evidence in Indonesia Stock Exchange (2013) – Dwi Lusi Tyasing Swastika
Trang 12Bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận, bao gồm: số lượng thành viên trong hội đồng quản trị, tính độc lập của các thành viên, quy mô công ty, và chất lượng công ty kiểm toán Tác giả đã sử dụng mô hình của Deshow (1995) với các biến dồn tích như đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận để khảo sát mô hình Kết quả cho thấy rằng, các biến
về hội đồng quản trị có quan hệ đồng biến đối với hành vi quản trị lợi nhuận, chất lượng kiểm toán và quy mô công ty có ảnh hưởng nghịch biến trong việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
Impact of firm size and capital structure on earning management:
Evidence from Pakistan (2011) – Iram Naz et al
Bài báo này nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của quy mô công ty và cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Dữ liệu thu thập là 75 công ty
từ năm 2006-2010 Tổng tài sản là đại diện cho biến quy mô công ty, tỷ lệ đòn bẩy tài chính sẽ được sử dụng để đo lường cấu trúc vốn, và biến kế toán dồn tích chính
là đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận Bài nghiên cứu sử dụng mô hình của Jones để khảo sát số liệu thu thập được gồm biến kế toán dồn tích là biến phụ thuộc, quy mô công ty và cấu trúc vốn là biến độc lập Kết quả khảo sát đã chỉ ra
rằng, cấu trúc vốn có ảnh hưởng nghịch biến đối với hành vi quản trị lợi nhuận Do
đó, tác giả cho rằng các công ty có tỷ lệ đòn bẩy cao, thì các chủ nợ có vai trò như
cơ quan giám sát quản lý hành vi quản trị lợi nhuận; tuy nhiên, biến quy mô công
ty thì không có ý nghĩa khảo sát
Effect of financial leverage and investment diversification on
income-increasing earnings management (2013) – Nasrollah Takhtaei et al
Theo bài báo, lợi nhuận kế toán luôn là một trong những phương pháp đo lường để đưa ra các quyết định tài chính đối với nhà đầu tư và nhà quản trị Giám đốc dựa vào những lý do khác nhau như là yêu cầu của báo cáo kiểm toán và tạo ra các điều kiện trong hợp đồng vay nợ về cách ứng xử của chủ nợ tài chính, thông tin
bất cân xứng giữa chủ nợ và giám đốc, đa dạng hóa đầu tư, nhằm thực hiện hành vi
Trang 13quản trị lợi nhuận Vì vậy có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện quyết định
quản trị lợi nhuận Một trong những phương pháp trên là vận dụng linh hoạt các chuẩn mực kế toán (tích cực hay tiêu cực) Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát tác động của đòn bẩy tài chính và đa dạng hóa đầu tư vào việc thực hiện hành vi
quản trị lợi nhuận Bài nghiên cứu đã khảo sát ở các công ty trong giai đoạn
2002-2008 Trong nghiên cứu này, kế toán dồn tích đã được áp dụng đo lường quản trị
lợi nhuận, và để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu, tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến Kết quả cho thấy xu hướng quản trị lợi nhuận tăng cùng với tăng đòn
bẩy tài chính và đa dạng hóa đầu tư
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng phân tích: Đề tài tập trung nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý Đối tượng chính được phân tích là bộ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố Ngoài ra, thông tin về các yếu tố quy mô công ty, đặc điểm Ban quản trị, và công ty kiểm toán thu thập từ báo cáo tài chính cũng được xem xét nhằm kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tại các công ty niêm yết tại Sàn giao dịch chứng khoán TP HCM Đề tài không lựa chọn các công ty chưa được niêm yết vì ở các doanh nghiệp này, mức độ quản trị lợi nhuận không trọng yếu, đồng thời, ở các công ty niêm yết thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, do đó, mỗi chênh lệch do hành vi quản trị lợi nhuận sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài thu thập số liệu nghiên cứu dựa trên bộ báo cáo tài chính đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết nghiên cứu, kiểm định sự tương quan giữa các biến thông qua việc ứng dụng phần
mềm SPSS
Trang 14Ngoài ra, nghiên cứu còn vận dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu thông tin, số liệu để tìm hiểu, đúc kết những vấn đề lý luận, kinh nghiệm, từ
đó, xác lập phương hướng và giải pháp hỗ trợ việc hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận
1.6 Ý nghĩa của đề tài:
Thông qua đề tài, đã cho thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản
trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần niêm yết Từ đó, có những giải pháp nhằm giảm thiểu mức độ quản trị lợi nhuận, giúp cho các đối tượng có liên quan sẽ đưa ra được các quyết định đúng đắn hơn khi xem xét về tình hình lợi nhuận ở các công ty
1.7 K ết cấu của đề tài:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về thông tin lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết TP HCM
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Các giải pháp nhằm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận
Trang 15Chương 2:
Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về vấn đề lợi nhuận, cũng như về hành
vi quản trị lợi nhuận Dựa vào những vấn đề lý thuyết nền cơ bản, chương 3 sẽ phân tích những nhân tố chính tác động đến hành vi quản trịlợi nhuận
Chương này gồm 3 phần chính Phần đầu giới thiệu tổng quan về vấn đề lợi nhuận Phần thứ 2, trình bày về hành vi quản trị lợi nhuận, động cơ và cơ sở của nhà
quản lý khi thực hiện hành vi này Phần thứ ba, đề tài tập trung nghiên cứu về các phương pháp được vận dụng nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
2.1 Các v ấn đề cơ bản về thông tin lợi nhuận 2.1.1 Khái ni ệm về lợi nhuận và các yếu tố xác định lợi nhuận
a Theo góc độ kế toán của Chuẩn mực kế toán hiện hành – Chuẩn
m ực chung VAS 01
Trang 16- Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các
b Theo thông lệ quốc tế IAS:
Theo Quy định chung về việc lập và trình bày BCTC, đưa ra các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc đánh giá kết quả hoạt động:
- Thu nhập: các lợi ích kinh tế tăng lên dưới hình thức luồng thu hoặc tăng tài sản, hoặc giảm nợ dẫn tới tăng vốn chủ sở hữu (chứ không phải là các khoản tăng đóng góp của chủ sở hữu) Thu nhập bao gồm doanh thu và các khoản thu được
- Chi phí: giảm lợi ích kinh tế dưới dạng luồng chi hoặc giảm giá trị tài sản,
hoặc phát sinh nợ dẫn tới giảm vốn chủ sở hữu (chứ không phải các khoản giảm do phân chia cho các chủ sở hữu)
Theo IAS 18, quy định việc hạch toán doanh thu có được từ bán hàng, cung
cấp dịch vụ, cho người khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp mang lại lãi, tiền bản quyền và cổ tức
Doanh thu là luồng thu gộp các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm tăng vốn chủ sở hữu chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần
Tóm lại, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài định hướng khái niệm lợi nhuận theo Thông lệ quốc tế, vì theo cách hiểu này, lợi nhuận mang tính chất khái quát, tiếp cận nguồn thông tin từ quốc tế, và dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu các bài nghiên cứu của những nhà kinh tế trên thế giới
Trang 172.1.2 Ngu ồn hình thành của lợi nhuận:
Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất phong phú và
đa dạng, do đó lợi nhuận đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ của các ngành sản xuất kinh doanh chính và ngành sản xuất kinh doanh phụ
Lợi nhuận thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn, nhằm
mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, đầu tư vào công ty liện kết Lãi thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính
- Những hoạt động trên đều được doanh nghiệp hoạch định từ trước, có kế
hoạch, có sự chuẩn bị các hoạt động theo ý muốn Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có rất nhiều hoạt động xảy ra bất ngờ như thanh
lý, nhượng bán TSCĐ, giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế, xử lý tài
sản thừa thiếu chưa rõ nguyên nhân Những hoạt động này cũng đem lại cho doanh nghiệp một khoản thu nhập, khoản thu nhập này sau khi trừ đi các chi phí cho những
hoạt động bất thường này gọi là lợi nhuận từ hoạt động khác
2.1.3 Vai trò c ủa lợi nhuận
Theo Ronen và Yaari (2008) cho rằng, lợi nhuận là đối tượng cuối cùng của
việc quản lý các số liệu kế toán, và trong phần này sẽ trình bày lời giải thích cho tầm quan trọng của lợi nhuận
1.1.3.1 Vai trò kép của kế toán:
Các nghiên cứu trước đây tìm hiểu về vai trò kép của kế toán bằng cách tìm
ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu Họ cho rằng báo cáo về lợi nhuận có
mối liên kết chặt chẽ với giá hơn là dòng tiền, doanh thu, và các số liệu báo cáo tài chính khác Vai trò quản lý của kế toán xuất phát từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu
Trang 18và quản lý giữa các công ty công, trong đó đặt các nhà quản lý ở vị trí của một người quản lý cho các cổ đông Bởi vì các nhà quản lý hoạt động như các cá nhân độc lập, mục tiêu giữa các cổ đông và nhà quản lý không được đảm bảo Đối với các
cổ đông, biện pháp khắc phục là yêu cầu thông tin để theo dõi các nhà quản lý sau khi đã thực hiện, và yêu cầu cung cấp cho họ những ưu đãi gắn với lợi ích của họ trước khi thực hiện Theo Watt và Zimmerman (1978) cho rằng, một chức năng của báo cáo tài chính là để hạn chế quản lý, để hành động vì lợi ích của các cổ đông
Vai trò kép của kế toán cũng phần nào thể hiện tầm quan trọng của lợi nhuận Thực tế là sẽ tập trung vào các cổ đông, và nhà quản lý sẽ bỏ qua các bên liên quan khác, chẳng hạn như nhà cung cấp, nhân viên Mức lợi nhuận này một
phần ảnh hưởng đến giá cả, lợi nhuận giảm gây ra nghi ngờ về động lực quản lý các khoản lợi nhuận từ góc độ lợi ích – chi phí Nói các khác, nếu trong lượng của lợi nhuận là nhỏ, sau đó các lợi ích có thể là quá nhỏ để minh họa cho các chi phí lớn hơn liên quan đến việc cung cấp các khoản lợi nhuận và quản trị lợi nhuận
2.1.3.2 Vai trò của lợi nhuận:
Nghiên cứu cho rằng việc quản lý, không mang tính chủ sở hữu, là cho hầu
hết các quyết định của công ty mang tính xung đột lợi ích giữa 2 bên Những quyết định quản lý không nhất thiết phải trùng hợp với mong muốn của các cổ đông Mỗi bên cần có những hành động mà cho là có lợi ích cho bản thân, mà không nhất thiết tính đến lợi ích của những người khác
Ronen và Yaari đưa ra 3 cách tiếp cận :
- Theo định hướng hợp đồng chi phí
- Theo phương pháp ra quyết định
Trang 19động như có sự tương quan với việc theo đuổi lợi ích trong chi phí cơ hội Mặc dù
có sự tương quan này, nhưng mỗi phương pháp đều có sự khác biệt ở 2 khía cạnh Các mối quan tâm trước hết là mức độ tin cậy ở lợi nhuận kế toán, các cổ đông sẽ
biết được nền kinh tế thực sự của công ty mà không cần dựa vào các số liệu kế toán Nếu các số liệu kế toán không mang đến các thông tin mới, thì lợi nhuận không có giá trị Điểm khác biệt thứ hai liên quan đến sức mạnh của các cổ đông ở
xa khi thực hiện một quyết định Họ có thể không có sự lựa chọn đúng đắn bởi họ không đủ quyền hạn để thực hiện Quan điểm này ngụ ý cho rằng, ngay cả khi số
liệu kế toán đưa ra các thông tin hữu ích, nhưng có thể vẫn không quan trọng bởi vì
họ không có những cơ hội kinh tế
Cách tiếp cận về hợp đồng chi phí giả định có đầy đủ kiến thức cũng như là quyền lực Sự khác biệt chính với hai cách tiếp cận còn lại là, phương pháp ra quyết định và phương pháp tiếp cận pháp lý chính trị, là sẽ thông qua quan điểm mới, mà nguyên lý cơ bản là sự tồn tại của thông tin bất cân xứng giữa quản lý và các bên liên quan khác, với việc quản lý thông tin tốt hơn
Sự khác biệt giữa phương pháp ra quyết định và phương pháp tiếp cận pháp
lý chính trị nằm trong giả định của họ về các cổ đông Sau này, các cổ đông có sự giám sát vấn đề chặt chẽ hơn, bởi vì họ vừa không có đủ kiến thức cũng như yêu cầu
về quyền lực cho nhiệm vụ này
2.1.4 Định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận:
BCTC hỗ trợ cho các bên liên quan trong quá trình ra quyết định về đầu tư
và phân bổ nguồn lực tài chính, do đó, các nhà quản lư thường xuyên chịu áp lực rất
lớn từ các cá nhân và tổ chức từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Trong hoàn
cảnh đó, nhà quản lý đôi khi phải sử dụng đến các biện pháp nhằm quản trị các số
liệu kế toán
Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quy trình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế
Trang 20toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân Tương tự vậy,theo Healy and Wahlen (1999), hành vi quản trị lợi nhuận là việc nhà
quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập và công bố BCTC và quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi BCTC nhằm đánh
lừa các bên có liên quan nhất định, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán
Theo Levitt (1998), quản lý thu nhập là hành động nhằm làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản lý, chứ không phải là hoạt động tài chính
cơ bản của công ty Parfet (2000) cho rằng, quản trị lợi nhuận được thực hiện để che
giấu hoạt động tài chính thực bằng cách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực
hoặc làm các dự toán không hợp lý
Dechow và Skinner (2000), chỉ ra rằng Ủy ban chứng khoán và trao đổi SEC (Securities and Exchange Commission – Ủy ban chứng khoán) có cái nhìn rộng hơn khi nói về quản trị lợi nhuận Đặc biệt, khi lựa chọn BCTC vi phạm các nguyên tắc
kế toán GAAP (Generally Accepted Accouting Principles) thì có thể tạo ra cả gian
lận và quản trị lợi nhuận, nó cũng thể hiện rằng sự lựa chọn một cách có hệ thống theo GAAP cũng tạo ra một sự quản trị về lợi nhuận Dechow và Skinner cũng đưa
ra sự phân biệt giữa gian lận và quản trị lợi nhuận Theo đó, phân biệt giữa sự lựa
chọn mang tính chất gian lận, và những lựa chọn tích cực, nhưng có thể chấp nhận được, theo cách mà nhà quản lý có thể thực hiện theo quyết định kế toán của họ Điểm chính ở đây là có sự phân biệt rõ ràng các khái niệm giữa hành vi gian lận kế toán (chứng minh rõ ràng ý định lừa dối), và những phán đoán, hay ước tính theo tiêu chuẩn GAAP mà có thể bao gồm quản trị lợi nhuận phụ thuộc vào mục đích
quản lý
McKee (2005) cho rằng, quản trị lợi nhuận như là một quyết định phải đối
mặt với thông tin kế toán để đạt được thông tin chi tiết, cụ thể, thậm chí là duy trì sự
Trang 21ổn định không thực tế và dự đoán kết quả tài chính Ewert và Wagenhofer (2005) đề
cập đến hành vi này có thể được phát triển trong trường hợp thay đổi thời gian ghi
nhận các hàng hóa cụ thể trong kế toán hoặc trong cơ cấu hoạt động nhằm mục đích làm thay đổi kết quả tài chính
Ngược lại với những quan điểm trên, Beneish (2001) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có cân nhắc nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích, trung
thực về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và các bên có liên quan, nhằm giúp họ đưa ra các quyết định tài chính liên quan đến doanh nghiệp Cùng với quan điểm này, Scott (1997) cho rằng, sự cho phép linh hoạt trong
việc lập và trình bày BCTC là cần thiết đối với nhà quản trị, bởi vì họ đang nắm giữ
vị trí tốt nhất để lựa chọn phương pháp kế toán trong việc lập và trình bày BCTC hướng đến lợi ích của các cổ đông Hơn nữa, quản trị lợi nhuận là một phương tiện
mà nhờ nó, những thông tin nội bộ có thể truyền tải đến thị trường, do đó giúp các bên tham gia thị trường ra quyết định hiệu quả hơn Jiraporn (2008) cho rằng, quản
trị lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị thông tin để cung
cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính
Tổng hợp lại các quan điểm trên, Ronen và Yaari (2008) đã phân loại định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận thành 3 nhóm: trắng, xám và đen Màu trắng tượng trưng cho việc quản trị thu nhập theo hướng tăng cường tính minh bạch của các báo cáo, màu đen liên quan đến việc trình bày sai lệch hoàn toàn và có gian lận, màu xám là thao túng số liệu trên BCTC nhưng vẫn tuân thủ theo các tiêu chuẩn kế toán
Quản trị lợi nhuận
là sử dụng các thủ thuật nhằm làm xuyên
tạc hoặc làm giảm
Trang 22đưa ra những thông tin
của nhà quản lý về dòng
tiền trong tương lai
hóa lợi ích trong quá trình quản lý), hoặc đạt được hiệu quả cao trong kinh tế
tính minh bạch của BCTC
Từ đó, Ronen và Yaari đã đưa ra một định nghĩa khác về quản trị lợi nhuận Theo họ, quản trị lợi nhuận là tập hợp các quyết định quản lý mà kết quả sẽ dẫn đến không phản ánh đúng lợi nhuận thực trong ngắn hạn, có tính chất tối đa hóa giá trị
của doanh nghiệp mà nhà quản lý đã biết về chúng Hành vi quản trị lợi nhuận có
thể mang lại lợi ích (cung cấp tín hiệu về giá trị trong dài hạn), nguy hại (che giấu giá trị ngắn hạn hoặc dài hạn), hoặc trung tính (cho thấy hiệu suất thực trong ngắn
hạn) Như vậy, định nghĩa này không chỉ bao gồm hành vi quản trị lợi nhuận, mà còn bao gồm quyết định quản lý khác, nhằm mục đích trình bày lợi nhuận khác với
lợi nhuận thực sự theo hiểu biết của nhà quản lý Đồng thời định nghĩa này cũng bao
gồm cả hành vi quản trị lợi nhuận nhằm mục đích gây hiểu nhầm khi cung cấp thông tin có giá trị cho người sử dụng BCTC
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi quản trị lợi nhuận, tuy nhiên, có thể thấy rằng sự khác nhau giữa các quan điểm trên được thể hiện ở cách nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm cũng như cách thức thực hiện hành vi quản
trị lợi nhuận Đặc biệt, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch mà chúng cùng
bổ sung cho nhau giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về hành vi quản trị lợi nhuận Một số vấn đề chung về quản trị lợi nhuận có thể rút ra như sau:
Thứ nhất, quản trị lợi nhuận là hành vi của nhà quản lý, sử dụng các phương pháp kế toán, hay các xét đoán chủ quan, làm thay đổi một số thông tin tài chính
nhằm đạt được một mục đích riêng nào đó
Thứ hai, xét chung về hành vi quản trị lợi nhuận, ta có thể nhận thấy nó cũng có những mặt tốt đem lại lợi íchcho doanh nghiệp và nhà đầu tư Quản trị lợi
Trang 23nhuận dùng để làm đẹp hơn lợi nhuận dựa trên cơ sở dồn tích hàng năm, để đưa ra
một phương pháp đo lường lợi nhuận của nhiều năm một cách hữu ích hơn Biện pháp này giúp nhà đầu tư dự đoán tốt hơn hiệu suất của công ty trong tương lai, đó
là mục tiêu chính của báo cáo tài chính
Thứ ba, quản trị lợi nhuận cũng đồng thời tồn tại những mặt xấu mà nhà đầu
tư cần xem xét trước khi ra quyết định Nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi ích của họ Theo Healy, nhà quản lý hoạt động dựa trên
lợi ích cá nhân khi tiền thưởng của họ gắn liền với lợi nhuận ròng Tuy nhiên, nhà
quản lý quản trị lợi nhuận không những vì lợi ích cá nhân mà còn vì các hợp đồng
hiệu quả Healy phát hiện ra rằng, nhà quản lý sử dụng những thông tin như vậy
nhằm tối đa hóa tài sản của họ vì mục tiêu tiền thưởng, mà họ có thể quản trị lợi nhuận để bảo vệ tiền thưởng Đây là hợp đồng giữa doanh nghiệp và nhà quản lý Khi vì mục đích cá nhân, thì thông tin tài chính bị sai lệch, từ đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định của các bên liên quan khi sử dụng thông tin trên BCTC
Ở đây, theo quan điểm nghiên cứu của tác giả, nhà quản lý được quyền vận
dụng các xét đoán chủ quan của mình trong việc lựa chọn chính sách và thực hiện các ước tính để phản ánh bản chất kinh tế của thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận là nhằm thu được
những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp hoặc cho nhà quản lý Và do bản chất của
sự việc thường là mang tính cá nhân nên sẽ gây tác động tiêu cực đến nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan đến doanh nghiệp Trường hợp phổ biến là người sử
dụng thông tin BCTC của doanh nghiệp có thể dẫn đến quyết định không tối ưu Trong một số trường hợp khác, việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp có thể là nhằm bảo đảm các hợp đồng mà có các điều khoản ràng buộc, ví
dụ, trong hợp đồng vay vốn mà doanh nghiệp ký kết với ngân hàng
Trang 242.2 Các v ấn đề cơ bản về hành vi quản trị lợi nhuận:
2.2.1 Động lực của hành vi quản trị lợi nhuận:
Hành vi quản trị lợi nhuận không phải là hoạt động có tính rủi ro cao
Những rủi ro của các giám đốc là ảnh hưởng đến danh tiếng của họ và liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận Do đó, các công ty chỉ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi ích mang lại sẽ cao hơn những rủi ro và các chi phí có liên quan
Theo S.Verbruggen, J.Christaens, and K.Milis (2008), có 5 động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận: thị trường chứng khoán, tiết lộ/che giấu các thông tin, chi phí liên quan đến pháp luật, làm cho giám đốc điều hành có cái nhìn tốt, và những động cơ bên trong
a Động cơ về thị trường chứng khoán
Có một số động cơ liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, một trong số đó
là thị trường chứng khoán Sự tương tác giữa các số liệu kế toán và thị trường chứng khoán có thể thúc đẩy việc quản lý theo hướng quản trị lợi nhuận Mặc dù tập trung vào các công ty niêm yết có vẻ hợp lý và tự nhiên, chúng ta phải nhớ rằng phần lớn các nghiên cứu quản trị lợi nhuận được công bố trên tạp chí đã được xem xét, dựa trên dữ liệu của Mỹ Các nền kinh tế Mỹ được biết đến với sở hữu rộng rãi của nó
và thị trường chứng khoán lỏng và hiệu quả (Cormier et al., 2000) Trong một số
quốc gia khác, có những công ty ít niêm yết và các công ty thuộc sở hữu tư nhân thiết lập các mức độ Chúng ta phải xem xét thực tế là trong những quốc gia, có thể
có lý do quan trọng khác để quản trị lợi nhuận (như tránh đánh thuế) mà không được dưới sự chú ý của các nhà nghiên cứu khác nhiều
Đầu tư vào các cổ phiếu có thể là một hoạt động kinh doanh mạo hiểm Đó
là lý do tại sao các nhà đầu tư thường dựa trên các quan điểm, dự báo của các nhà phân tích thị trường chứng khoán để đặt một danh mục đầu tư có khả năng thành công Một số bài báo nghiên cứu được dành riêng để tìm ra lý do tại sao các nhà
Trang 25quản lý cố gắng để đáp ứng hoặc vượt ngoài mong đợi cũng như để tìm kiếm bằng
chứng phù hợp với quản trị lợi nhuận
Để đáp ứng, hay vượt mức dự báo, nhà quản lý thường thực hiện quản trị lợi nhuận Payne và Robb (2000) kết luận rằng, càng được nhiều sự đồng tình từ các nhà phân tích, thì động lực để đáp ứng mức dự báo càng mạnh mẽ hơn Nếu kết quả
lợi nhuận dưới mức dự báo thì nhà quản lý sẽ thực hiện quản trị lợi nhuận tăng lên
Nếu kết quả lợi nhuận trên mức dự báo thì nhà quản lý có thể lựa chọn giữa việc
quản trị làm giảm lợi nhuận (nhằm tiết kiệm cho những hoạt đọng khác), hoặc sẽ không thực hiện quản trị lợi nhuận
Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy rằng, hành vi quản trị lợi nhuận được
thực hiện trong một số tình huống trong thị trường chứng khoán cụ thể, chẳng hạn như khi bán cổ phiếu ra công chúng (Ducharme et al., 2001), và khi phát hành thêm
cổ phiếu (Shivakumar, 2000) Ngược lại với hành vi phát hành cổ phiếu, thì hành vi mua lại cổ phiếu cũng là cách để quản trị lợi nhuận Vafeas et al (2003) tìm thấy
bằng chứng cho rằng các nhà quản lý làm cho lợi nhuận giảm thông qua các khoản trích trước trước khi mua lại cổ phiếu Bens et al (2003), cho rằng giám đốc điều hành của công ty sử dụng mua lại cổ phiếu như một công cụ quản trị lợi nhuận khi
lợi nhuận dưới mức cần thiết để đạt được sự tăng trưởng mong muốn trên mỗi cổ phiếu
b Tiết lộ/che giấu thông tin Rosner (2003) đã kiểm tra liệu các công ty không tham gia vào quản trị lợi nhuận và thay đổi tài khoản hàng năm của họ để che giấu cuộc đấu tranh tài chính
của họ hay không Nếu không có ngay lập tức đo lường kết quả về giá cổ phiếu hoặc
mức lương CEO, Rosner đã cho thấy sự tồn tại của quản trị lợi nhuận có thể chỉ đơn
giản là che giấu thông tin Đôi khi thật sự khó khăn cho các doanh nghiệp để đưa ra
những mục tiêu trong hoạt động kế toán của mình để tham gia thị trường Shane và Stock (2006) tìm thấy bằng chứng về thực tế là các nhà phân tích không nhận ra sự thay đổi trong lợi nhuận như một kế hoạch thuế tối ưu Khi thị trường không nhìn
Trang 26thấy thông qua hình thức quản trị lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể bị xử phạt cho
kế hoạch thuế của họ
Tucker và Zarowin (2006) cũng làm sáng tỏ về các cuộc thảo luận xem liệu
rằng các nhà quản lý quản trị lợi nhuận của họ cho lợi ích riêng hay để cải thiện thông tin “Chúng tôi nghiên cứu thực nghiệm cho rằng một ảnh hưởng quan trọng
của các nhà quản lý khi sử dụng báo cáo tài chính là để tiết lộ thêm thông tin về thu
nhập trong tương lai của các công ty và lưu chuyển tiền tệ.”
c Chi phí liên quan đến pháp luật:
Tiếp theo việc thay đổi báo cáo tài chính để ảnh hưởng đến ý kiến và quyết định của cổ đông, công ty cũng có thể quản trị lợi nhuận để đáp ứng nhu cầu cho các bên liên quan khác khi sử dụng báo cáo tài chính Các quy định và pháp luật thuế
của Chính phủ, khi họ sử dụng các báo cáo tài chính, như là yếu tố để được phân tích như là nguồn gốc của hành vi quản trị lợi nhuận
Động cơ này có giá trị cho công ty có lợi nhuận nhiều hơn / ít hơn để thoát
khỏi sự can thiệp của chính phủ Haw et al (2005) đã nghiên cứu quản trị lợi nhuận ngày càng tăng ở Trung Quốc như là một phản ứng với quy định của chính phủ yêu
cầu tối thiểu là 10% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho các công ty muốn phát hành trái phiếu hay chào bán cổ phiếu Johnston và Rock (2005) đã nghiên cứu hành vi
quản trị làm giảm lợi nhuận ở các doanh nghiệp bị đe dọa bởi các luật Superfund Khi số liệu kế toán được dùng làm các căn cứ tính thuế, thì biện pháp quản trị lợi nhuận càng áp dụng nhiều hơn nhằm tránh số tiền thuế (Monem, 2003)
d Tạo cái nhìn tốt về giám đốc
Có 2 bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận khi có
sự thay đổi của CEO (Godfrey et al., 2003) hoặc khi các CEO về nghỉ hưu (Reitenga and Tearny, 2003) Một giám đốc điều hành mới có thể thực hiện nhằm giảm lợi nhuận trong năm của sự thay đổi và quản trị lợi nhuận tăng lên trong những năm
Trang 27tiếp theo Những CEO nghỉ hưu thì cố gắng quản trị làm tăng lợi nhuận giúp tạo danh tiếng cho họ
e Những động cơ trong nội bộ
Cuối cùng, chúng ta tổng hợp các động cơ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận mà không ảnh hưởng đến các đối tượng bên ngoài (như cổ đông, chính phủ, hay công đoàn), mà trong nội bộ công ty Trong một công ty, quản trị lợi nhuận giúp thay đổi báo cáo tài chính, hoặc để cấu trúc lại các giao dịch nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về hoạt động
Leone và Rock (2002) đã nghiên cứu phương pháp dồn tích của một số đơn
vị kinh doanh trong các bộ phận của một công ty đa quốc gia lớn ở Bắc Mỹ để nghiên cứu tác động của tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông đối với quản trị lợi nhuận
Bằng chứng của họ là phù hợp với tỉ lệ này, có nghĩa là ‘ngân sách thay đổi phản ứng lại với sự thay đổi của năm trước về ngân sách, và sự thay đổi lớn hơn phương sai' Họ thử nghiệm này trong một môi trường lợi nhuận tạm thời và vĩnh viễn Giả thuyết rằng dưới ảnh hưởng của tỷ lệ vốn cổ phần, nhà quản lý sẽ chọn sử dụng phương pháp dồn tích bất ngờ làm lợi nhuận giảm xuống khi động cơ quản trị lợi nhuận tạm thời được hỗ trợ bởi bằng chứng thực nghiệm của họ
Murphy (2001) đã kiểm tra mối quan hệ giữa bản chất của các tiêu chuẩn năng suất trong hợp đồng quản trị lợi nhuận Ông kết luận rằng các công ty sử dụng các tiêu chuẩn xác định bên ngoài (tức là không bị ảnh hưởng bởi những người tham gia như các tiêu chuẩn của nhóm đồng đẳng, tiêu chuẩn cố định hoặc chi phí vốn) là
ít có khả năng quản trị lợi nhuận hơn so với những công ty sử dụng các tiêu chuẩn
nội bộ (mục tiêu ngân sách, năm trước, các tiêu chuẩn chủ quan)
Trang 282.2.2 Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận–cơ sở dồn tích:
a K ế toán theo cơ sở tiền:
Đây là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở thực thu – thực chi tiền Theo phương pháp này, doanh thu và chi phí được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi
tiền
Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao
dịch này phát sinh bằng tiền Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận
và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ (đặc biệt
là theo phương pháp trưc tiếp)
Kế toán theo cơ sở tiền có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bày thông tin trong BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số tiền và ngày thu-chi tiền được xác định chính xác, cụ thể, không phụ thuộc vào ư muốn chủ quan của nhà quản lư doanh nghiệp
b K ế toán theo cơ sở dồn tích:
Ngược lại với kế toán theo cơ sở tiền, kế toán theo cơ sở dồn tích là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở dự thu – dự chi Đây là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Theo định nghĩa của Chuẩn mực kế toán (VAS 01): “mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, hoặc thực tế chi tiền, hoặc tương đương tiền”
Theo Dự thảo Chuẩn mực chung,kế toán dồn tích phản ánh các giao dịch,
sự kiện về các nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ nợ tại kỳ phát sinh ngay cả khi là các khoản thu và các khoản chi phát sinh trong một kỳ khác Việc phản ánh này là quan trọng vì các thông tin và sự thay đổi về các nguồn lực kinh tế và các nghĩa vụ
nợ của đơn vị báo cáo giúp việc đánh giá kết quả của đơn vị báo cáo tốt hơn là
Trang 29những thông tin chỉ về các khoản thu và chi tiền trong kỳ đó.Thông tin về kết quả kinh doanh của đơn vị báo cáo trong kỳ hữu ích cho việc đánh giá khả năng tạo
tiền trong quá khứ và tương lai của đơn vị Các thông tin đó thể hiện sự gia tăng trong các nguồn lực kinh tế và khả năng tạo tiền thuần thông qua các hoạt động
của đơn vị báo cáo mà không phải là việc bổ sung trực tiếp các nguồn lực từ các nhà đầu tư và chủ nợ
Bên cạnh những ưu điểm, kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quan trong kế toán Ghi nhận các khoản thu và chi không dựa vào dòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra, mà dựa vào thời điểm phát sinh giao
dịch, số liệu trên BCTC thể hiện một phần ý kiến chủ quan của người kế toán
Như vậy, do khoản thu và chi có thể được ghi nhận khi chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề quan trọng luôn cần phải xem xét, đó là doanh thu và chi phí đã
thực sự phát sinh chưa, và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa Việc ghi
nhận doanh thu chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh hưởng của quyết định
chủ quan của nhà quản lý Đây chính là cơ hội cho nhà quản lý muốn thực hiện hành
vi quản trị lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được các
mục tiêu nào đó
2.2.3 Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận
Theo Verbruggen at al (2008), trong khi phần lớn các nghiên sử dụng phương pháp dồn tích không điều chỉnh (bằng cách sử dụng mô hình Jones (1991), hoặc một thủ tục tương tự để ước tính các khoản dồn tích dự kiến, so sánh với những phương pháp dồn tích thực tế và sử dụng sự khác biệt như là một đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận), thì một số nghiên cứu khác xác định một cách thức khác để phát hiện hành vi trên
Verbruggen cho rằng có 4 kỹ thuật gồm: (1) quản trị lợi nhuận thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể (liên quan đến một tình huống cụ thể, một ngành công nghiệp cụ thể hay một chuẩn mực kế toán cụ thể), (2) quản trị lợi nhuận thông qua
Trang 30phân bổ chi phí hay doanh thu, (3) quản trị lợi nhuận thông qua công bố thông tin, (4) quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế
a Quản trị lợi nhuận thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể Việc sử dụng phýõng pháp dồn tích cụ thể để quản lý các khoản lợi nhuận thýờng gắn với một tình huống cụ thể, một ngành công nghiệp cụ thể hoặc một chuẩn mực kế toán cụ thể Những nhà nghiên cứu hýớng sự chú ý của họ cho một khoản dồn tích cụ thể mà có thể đýợc quản lý bởi vì có một số khoản để lựa chọn chính sách kế toán và trích trước là đủ quan trọng để quản trị lợi nhuận trên mức xác định
Marquardt và Wiedman (2004) nghiên cứu dồn tích cụ thể đýợc sử dụng trong các tình huống cụ thể (bán cổ phần, vụ mua lại và giảm lợi nhuận) Trong số các tài khoản cụ thể điều tra cũng là chi phí thuế (Dhaliwal et al., 2004) và các chi phí tái cõ cấu (Moehrle, 2002) Trong số các ngành công nghiệp cụ thể đýợc nghiên cứu là các ngân hàng (Capalbo (2003) và Gray và Clarke (2004)), bảo hiểm (Beaver
et al., 2003) và các công ty bất động sản đầu tý (Dietrich et al., 2001) Trong mỗi ngành đều có sự quản lý các khoản dồn tích, phụ cấp týõng ứng cho các khoản, kế toán lýõng hýu, và xác định giá trị tài sản Khi nhà quản lý không áp dụng các tiêu chuẩn kế toán trong việc giải thích hoặc áp dụng sự lựa chọn, quản trị lợi nhuận cũng có thể xảy ra Điều này đã được điều tra trong SFAS 89 (Picconi, 2006) và SFAS 109(Schrand và Wong, 2003)
b Quản trị lợi nhuận thông qua phân bổ chi phí hay doanh thu Các công ty có thể cố gắng để quản trị lợi nhuận bằng cách phân bổ chi phí chung cho những hoạt động được đánh giá cao của công chúng, bằng cách chuyển chi phí xuống những mục khác hoặc bằng cách chuyển chi phí / doanh thu đến / từ các công ty con khác đang nằm trong khu vực có thuế hoặc chế độ kế toán khác Ngay cả trong các tổ chức từ thiện, nguyên nhân và phương pháp quản trị lợi nhuận
có thể được tìm thấy Jones và Roberts (2006) cho thấy rằng tổ chức từ thiện sử
Trang 31dụng việc phân bổ các chi phí chung để làm đẹp tỷ lệ chương trình, một chỉ số thường được sử dụng đo lường hiệu quả từ thiện
Hầu hết các báo cáo lợi nhuận tách các chi phí cốt lõi và doanh thu từ chi phí tài chính và doanh thu và các mục đặc biệt Bởi vì sự chú ý của người sử dụng báo cáo tài chính đi ra ngoài để các dữ liệu tài chính cốt lõi, nó có thể có ích cho các công ty chuyển chi từ "chi phí cốt lõi 'thành' mục đặc biệt ' Jaggi và Baydoun (2001) đã nghiên cứu này tại Hồng Kông (trýớc SSAP2) và McVay (2006) tìm thấy bằng chứng của thực tiễn như vậy ở Mỹ Beatty và Harris (2001) và Krull (2004) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy lợi nhuận chuyển từ một công ty con khác đýợc sử dụng để tối ưu hóa thuế và báo cáo lợi nhuận, sử dụng để đạt được khoản lợi nhuận tái đầu tư vĩnh viễn
c Quản trị lợi nhuận thông qua công bố thông tin Balsam et al (2003) tìm thấy bằng chứng phù hợp với các công ty quản lý các chi phí chứng khoán, dýới SFAS No 123 Tiêu chuẩn này khuyến khích các doanh nghiệp để chi phí ýớc tính giá trị hợp lý của lựa chọn cổ phiếu của nhân viên Hầu nhý không có doanh nghiệp đã làm nhý vậy trýớc năm 2002, nhýng thay vì chọn để báo cáo tác động các khoản tài trợ lựa chọn cổ phiếu Ngay cả khi các chi phí đýợc tiết lộ thay vì đýợc công nhận, các doanh nghiệp dýờng nhý để quản lý chi phí này khi bồi thýờng và giá trị của các khoản tài trợ lựa chọn cổ phiếu CEO của
họ là týõng đối cao để giảm bớt sự chỉ trích của công chúng về các hoạt động bồi thýờng
Schrand và Walther (2000) cho rằng nhà quản lý chiến lýợc chọn khoản lợi nhuận thời gian trước đó nhý một chuẩn mực để đánh giá lợi nhuận trong thời gian hiện tại trong báo cáo lợi nhuậ hàng quý Mặc dù điều này có thể đýợc định nghĩa là quản trị nhận thức, chứ không phải là quản trị lợi nhuận, nhưng tác giả vẫn muốn đề cập đến các kết quả của nghiên cứu này trong nhận quản trị lợi nhuận Cả hai hoạt động quản lý đýợc rõ ràng liên quan đến nhau và thýờng sẽ phục vụ cùng một mục đích
Trang 32d Quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế Thay vì sử dụng dồn tích số liệu kế toán để thay đổi báo cáo tài chính, các công ty cũng có thể chuyển sang các hoạt động thực tế để quản trị các khoản thu nhập tăng hoặc giảm Họ cũng có thể cấu trúc giao dịch của họ trong một cách mà một tiêu chuẩn kế toán nhất định có hoặc không áp dụng kết quả trong một báo cáo lợi nhuận hoặc bảng cân đối Trong số các ‘quản trị lợi nhuận hoạt động thực tế 'nghiên cứu là: cắt giảm giá bán, cắt giảm ngân sách R & D
Quản trị lợi nhuận các hoạt động thực tế được định nghĩa là hoạt động quản
lý mà đi chệch từ hoạt động kinh doanh bình thường, được định nghĩa bởi Roychowdhury (2006) trong một bài báo gần đây về hành vi quản trị lợi nhuận Ông
đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các công ty cung cấp cho giảm giá để tăng doanh
số bán hàng, tham gia vào sản xuất quá mức để giảm giá vốn hàng bán và giữ một thắt chặt chi tiêu tùy ý để nâng cao lợi nhuận
Kinney và WEMPE (2004) ghi nhận rằng quyết định áp dụng chỉ trong thời gian Just-in-time (JIT) - một quyết định hoạt động cõ bản bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ của công ty áp dụng LIFO với nhiều hành vi quản trị lợi nhuận, giao ước nợ
và thuế
Mande et al (2000) ghi nhận sự sụt giảm đáng kể trong chi phí R & D-chi phí trong các công ty Nhật Bản trong thời gian suy thoái của năm 1990 Những doanh nghiệp này đã có uy tín trong chiến lược về R&D , cho thấy tín hiệu của hành
vi làm giảm lợi nhuận Các bằng chứng cho thấy rằng những cắt giảm chi phí là một sản phẩm của quản trị lợi nhuận thay vì những quyết định kinh doanh tối ưu
Hribar et al (2006) đã điều tra việc mua lại cổ phiếu như một công cụ để tăng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Trong khi nghiên cứu quản trị lợi nhuận tập trung vào tử số (lợi nhuận), các nhà nghiên cứu đã điều tra xem liệu các nhà quản lý tăng EPS bằng cách giảm các mẫu số (số cổ phần) Họ tìm thấy một số lượng lớn bất ngờ mua lại cổ phiếu của các công ty mà có thể đã bỏ lỡ EPS-dự báo mà không mua lại
Trang 33Một cách khác để quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực sự, hơn
cả quyết định kế toán là thời gian của việc thu tiền Các công ty tặng tiền cho một tổ chức, trong đó, lần lýợt, tài trợ cho một tổ chức từ thiện Điều này khoảng cách thời gian giữa thu tiền và trả tiền tạo ra khả năng quản lý các khoản lợi nhuận Petrovits (2006) ghi nhận rằng các công ty có độ nhạy cao và giá cổ phiếu tăng nhỏ trong thu nhập làm nền tảng nhất lựa chọn tài trợ thu nhập ngày càng tăng Các doanh nghiệp
có thu nhập ngày càng tăng mặc dù các lựa chọn giảm lợi nhuận trong năm nay có nhiều khả năng tăng lợi nhuận trong giai đoạn tiếp theo, phù hợp với việc sử dụng hành vi quản trị lợi nhuận
Barton (2001) cho thấy, các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được sử dụng
như là công cụ quản trị lợi nhuận Ông nói rằng các nhà quản lý có thể quản trị lợi nhuận bằng cách làm đẹp dòng tiền (thông qua bảo hiểm rủi ro) và bằng cách tăng / giảm các khoản dồn tích Kết quả thực nghiệm của ông cho thấy rằng 'các công ty đang nắm giữ danh mục đầu tý phái sinh với số lượng lớn cũng có mức độ dồn tích
có thể điều chỉnh thấp, cho rằng khoản dồn tích tùy ý và phái sinh có thể thay thế một phần cho quản trị lợi nhuận'
Sau Nelson et al (2003) thấy rằng các công ty sẽ sử dụng cơ cấu giao dịch khi quy định kế toán rất chính xác và thông qua sự phán xét khi quy định này có thể được giải thích, Marquardt và Wiedman (2005) cho thấy rằng các công ty sử dụng trái phiếu chuyển ðổi (của COCO) để tăng EPS pha loãng Công ty sử dụng của COCO vì, dýới SFAS No 128, các trái phiếu này không phải là một phần của các mẫu số của EPS pha loãng
2.2.4 Hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận
Doanh nghiệp thay đổi thời gian hoặc cấu trúc của hoạt động kinh tế nhằm
mục đích thay đổi lợi nhuận Khi đó doanh nghiệp có thể vượt ra khỏi hoạt động bình thường và ảnh hưởng đến hoạt động tối ưu Để đạt được mức lợi nhuận mục tiêu, doanh nghiệp sẽ chi phối các hoạt động kinh tế mặc dù biết rằng chúng sẽ giảm giá trị dài hạn của doanh nghiệp Có nguy cơ giảm lợi nhuận, ROA ở kỳ kinh doanh
Trang 34tiếp theo Bởi vì khi sử dụng quản trị lợi nhuận thông qua các chính sách kế toán như tính toán thời gian thanh lý tài sản và tăng doanh thu cuối kỳ thông qua các điều
kiện nới lỏng thời gian thanh toán về thực chất không làm tăng thêm lợi nhuận của doanh nghiệp mà chỉ đơn thuần là chuyển lợi nhuận từ kỳ sau về kỳ hiện tại nhằm
tạo ra ảo tưởng rằng doanh nghiệp đang phát triển Và hậu quả tất yếu là lợi nhuận
giảm sút kéo theo các chỉ tiêu ROA, ROE giảm sút gây bất lợi rất lớn cho doanh nghiệp, không hút được vốn đầu tư thậm chí còn gây tâm lý hoang mang cho cổ đông hiện tại
Ảnh hưởng tiêu cực tới họat động đầu tư: Vào thời kỳ tiến hành hành vi
quản trị lợi nhuận, các công ty đầu tư vượt quá mức tối ưu, và sau thời kỳ này, các công ty lại đầu tư thấp hơn mức tối ưu (Cohen và Zarowin, 2008) Hoạt động đầu tư vượt mức tối ưu nghĩa là nhà quản trị đã lạm quyền ra quyết định của mình khi chấp
nhận các dự án không mang lại lợi nhuận hoặc vượt quá mức lợi nhuận tối ưu, chấp
nhận các dự án có NPV âm Khi đó tiền sẽ được sử dụng cho việc đầu tư vào các dự
án mạo hiểm thay vì chi trả cổ tức, hay nói các khác việc làm này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích của cổ đông Hoạt động đầu tư dưới mức tối ưu nghĩa là nhà quản
trị chỉ chấp nhận các dự án có mức lợi nhuận thấp hơn mức lợi nhuận tối ưu, loại bỏ các dự án được phân tích có giá trị NPV dương, khi đó doanh nghiệp chỉ chấp nhận các dự án có mức lợi nhuận kỳ vọng thấp Theo đó số tiền đầu tư của các cổ đông chưa được sử dụng hiệu quả và không mang lại một mức cổ tức thấp Như vậy cả
hoạt động đầu tư vượt mức tối ưu và đầu tư dưới mức tối ưu đều có ảnh hưởng tiêu
cực tới lợi ích của các cổ đông Cohen và Zarowin (2008) đã tiến hành so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô, hoạt động trong cùng mộ ngành công nghiệp và làm sang tỏ giữa mức độ quản trị lợi nhuận với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Kết
quả cho thấy như sau:
Trang 35Phương pháp quản
trị lợi nhuận Thời gian đo lường
Mức chênh lệch về tỷ lệ đầu tư trong tổng tài sản so với các doanh nghiệp không thực hiện quản trị lợi nhuận
Trên cơ sở dồn tích
Trong thời gian thực
hiện quản trị lợi nhuận +12%
Sau thời gian thực hiện
quản trị lợi nhuận -3%
Trang 36TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Đối với đa số người sử dụng BCTC, lợi nhuận là thông tin rất quan trọng, vì
đó là cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và năng lực điều hành của nhà quản lý Tuy nhiên, BCTC được lập bởi chính nhà quản lý nên đã phát sinh rủi ro, lợi nhuận sẽ bị họ tác động nhằm đạt được mục tiêu nào đó Chính vì thế, đã
có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về hành vi quản trị lợi nhuận Chương 2 đã nêu lên được các cách nhìn khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu khi định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận, nhưng tóm lại, dù hiểu theo hướng nào thì hành vi này cũng đều
có những mặt tốt và xấu, tùy theo mục đích sử dụng của nhà quản trị mà đem lại lợi ích hay tác hại cho người sử dụng BCTC Đồng thời, chương 2 cũng tìm hiểu về động cơ và cơ sở cho việc thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận, đó chính là thực hiện dựa trên cơ sở dồn tích
Trong chương này, bài nghiên cứu đã đưa ra một số phương pháp mà nhiều nhà quản trị thường vận dụng nhằm thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận Trong đó,
có thể phân loại thành 2 nhóm chính, đó là bằng các chính sách kế toán hay các ước tính kế toán Do đó, tùy theo mục tiêu lợi nhuận mà nhà quản trị cần đạt được, mà
họ có thể lựa chọn quản trị lợi nhuận theo phương pháp thích hợp hay bao gồm tổng hợp nhiều phương pháp trên Theo các quy định trong chuẩn mực kế toán, luôn có những khoảng không cho nhà quản trị lựa chọn và áp dụng, chính vì thế, luôn có những sự khác biệt trong số liệu trên BCTC
Chương tiếp theo sẽ nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận, thông qua việc nghiên cứu phân tích định lượng, đưa ra mô hình, giả thuyết nghiên cứu và kết luận dựa trên những số liệu thu thập được
Trang 37CHƯƠNG 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TẠI
Ở chương 2 đã trình bày những vấn đề lý thuyết chính liên quan đến hành vi
quản trị lợi nhuận, bao gồm định nghĩa, và các phương pháp thường được vận dụng trong việc quản trị lợi nhuận Đây chính là tiền đề giúp cho dễ dàng phân tích sâu hơn về các vấn đề liên quan khác Chương 3 sẽ tiếp tục nghiên cứu theo định hướng này Nội dung chính của chương này gồm có giới thiệu sơ lược về mẫu nghiên cứu,
tiếp theo là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định quản trị lợi nhuận, thông qua việc thiết kế mô hình, thiết lập giả thuyết nghiên cứu
3.1 Gi ới thiệu các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành ph ố HCM
3.1.1 L ịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch chứng khoán Thành ph ố HCM
Thực hiện chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế thị trường, từ đầu
những thập niên 90, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu đề án xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam Ngày 11/07/1998, với Nghị định 48/CP về Chứng khoán và thị trường chứng khoán, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng ký quyết định số 127/1998/QĐ- TTg thành lập Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán TP HCM Hai năm sau, vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên
với 2 mã cổ phiếu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại trung tâm giao dịch
Trang 38chứng khoán TPHCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thị trường, đáp ứng quá trình đổi mới nền kinh tế, tái cơ cấu các doanh nghiệp, ngày 11/05/2007 Thủ tướng Chính
phủ đã ký quyết định số 599/QĐ chuyển Trung tâm thành Sở giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE), hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Một Thành viên (100% vốn chủ sở hữu thuộc Bộ tài chính) Việc chuyển đổi mô hình đã giúp HOSE
có một vị trí tương xứng với các Sở giao dịch khác trên thế giới trong mối quan hệ
và hợp tác quốc tế, từ đó nâng cao vị trí và tầm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam Trong năm 2011, HOSE đã nghiên cứu và xây dựng chỉ số VN30 bao gồm 30 cổ phiếu hàng đầu về giá trị vốn hóa, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa toàn thị trường, 60% về giá trị giao dịch Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường, HOSE cũng đã triển khai lệnh MP và đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng sản
phẩm EFT(Exchange Trade Fund) để đưa vào giao dịch
3.1.2 Phân ngành các công ty niêm y ết trên Sở giao dịch chứng khoán
chữ số (ACIC), đồng thời căn cứ trên tình hình thực tế sử dụng hệ thống ngành kinh
tế quốc dân và nhu cầu điều tra thống kê, hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được chi tiết đến 5 chữ số Quy định về nội dung các ngành kinh tế thuộc Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam đã được Bộ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư phê duyệt và ban hành tại Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10 tháng 4 năm 2007
Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM tiến hành phân ngành cho một công ty niêm yết tại Sở dựa trên hoạt động kinh doanh chính của công ty đó Doanh thu là tiêu chí được Sở GDCK Tp.HCM xem xét để quyết định hoạt động kinh doanh
Trang 39chính của công ty niêm yết Theo đó, hoạt động kinh doanh nào mang lại doanh thu
lớn nhất trong tổng doanh thu của một công ty niêm yết tại Sở sẽ được xem là hoạt động kinh doanh chính của công ty đó, thông tin thu thập dựa trên số liệu có được từ phiếu thu thập thông tin về doanh nghiệp, bản cáo bạch và các báo cáo tài chính
hằng năm của công ty niêm yết Đối với các công ty mới niêm yết, Sở GDCK Tp.HCM sẽ tiến hành thu thập thông tin trong ba năm trước đó để có cơ sở phân ngành Ngoài ra, khi phân ngành, Sở GDCK Tp.HCM sẽ áp dụng một số quy định chung trong việc phân ngành các công ty niêm yết có hoạt động hỗn hợp theo chiều
dọc và hỗn hợp theo chiều ngang được thống nhất cho các quốc gia sử dụng ISIC Rev.4 cũng như áp dụng các quy ước phân ngành một số hoạt động kinh tế cụ thể
của Việt Nam theo VSIC 2007 Như vậy, theo cách phân ngành trên, trong năm
2013 số lượng 300 công ty niêm yết trên sàn HOSE được chia thành 15 mã ngành
C - Công nghiệp chế biến, chế tạo 97 32.33%
D - Sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí 15 5.00%
E - Cung cấp nước; hoạt động quản lý và
xử lý rác thải, nước thải 2 0.67%
F - Xây dựng 32 10.67%
G - Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác 42 14.00%
Trang 40H - Vận tải kho bãi 25 8.33%
I - Dịch vụ lưu trú và ăn uống 3 1.00%
J - Thông tin và truyền thông 4 1.33%
K - Tài chính ngân hàng và bảo hiểm 17 5.67%
L - Hoạt động kinh doanh bất động sản 38 12.67%
M - Hoạt động chuyên môn khoa học và
3.2 Kh ảo sát thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị
l ợi nhuận của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP HCM:
3.2.1 M ục tiêu khảo sát:
Nhằm đánh giá thực trạng các công ty niêm yết thực hiện hành vi quản trị
lợi nhuận, đề tài tiến hành nghiên cứu thông tin tại các công ty niêm yết trong 4 năm tài chính 2010 – 2013 Sau đó, dựa vào số liệu phân tích được, sẽ giúp cho việc nhận xét, rút ra kết luận về hành vi quản trị lợi nhuận Cơ sở dữ liệu này được sử dụng để
kiểm tra các câu hỏi nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được xây
dựng
3.2.2 Gi ả thuyết nghiên cứu:
Trong phần này, các giả thuyết được nêu ra để kiểm nghiệm đều dựa trên
những lý thuyết hiện có, nhằm tạo cơ sở vững chắc cho các biến được xét đến Quan