1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ phi tuyến lạm phát và tăng trưởng ở các nước đang phát triển

74 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Bài viết nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ở các nước đang phát triển thông qua mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen 1999.. Sử dụng dữ liệu của 74 nước đ

Trang 1



HUỲNH CHÂU NGỌC TUYẾT

MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN

LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG

Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM



HUỲNH CHÂU NGỌC TUYẾT

MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN

LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG

Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VŨ VIỆT QUẢNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào

Huỳnh Châu Ngọc Tuyết

Trang 4

Mục Lục

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 2

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5

2.1 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 5

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 10

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU / DỮ LIỆU 21

3.1 Phương pháp nghiên cứu 21

3.1.1 Mô hình ngưỡng của Hansen (1999) 21

3.1.2 Mô hình mở rộng của mô hình Hansen (1999) 26

3.1.3 Mô hình áp dụng: 28

3.2 Dữ liệu: 29

CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Kết quả nghiên cứu 38

4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 43

CHƯƠNG 5 - LIÊN HỆ VIỆT NAM 47

5.1 Áp dụng mô hình ngưỡng lạm phát tại Việt Nam 47

Trang 5

CHƯƠNG 6 - KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC A

PHỤ LỤC B

Trang 6

Bảng 3.1: Danh sách các biến được bao gồm trong mô hình áp dụng 30

Bảng 3.2: Thống kê của dữ liệu của 74 nước đang phát triển trong giai đoạn 1993-2012 37

Bảng 4.1: Kết quả nghiên cứu 38

Bảng 5.1: Thống kê dữ liệu lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1993-2013 53

Bảng 5.2: Kết quả kiểm định ngưỡng ở Việt Nam 48

Trang 7

1993-2012 32

Đồ thị 3.2: Phân phối lạm phát trước khi được chuyển đổi theo hàm semi-log của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 32

Đồ thị 3.3: Phân phối lạm phát sau khi được chuyển đổi theo hàm semi-log của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 33

Đồ thị 3.4: Phân phối tổng mức đầu tư (%GDP) của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 33

Đồ thị 3.5: Phân phối tăng trưởng dân số của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 34

Đồ thị 3.6: Phân phối thu nhập ban đầu trên đầu người của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 34

Đồ thị 3.7: Phân phối tỷ lệ tăng trưởng của tỷ lệ mậu dịch của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 35

Đồ thị 3.8: Phân phối độ lệch chuẩn của tỷ lệ mậu dịch của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 35

Đồ thị 3.9: Phân phối dộ mở cửa thương mại của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 36

Đồ thị 3.10: Phân phối độ lệch chuẩn của độ mở cửa thương mại của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012 36

Đồ thị 4.1: Cấu trúc khoảng tin cậy trong mô hình (1) 40

Đồ thị 4.2: Cấu trúc khoảng tin cậy trong mô hình (2) 41

Đồ thị 5.1: Chỉ số lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1993-2013 53

Đồ thị 5.2: Cấu trúc khoảng tin cậy trong mô hình (3) 50

Đồ thị 5.3: Cấu trúc khoảng tin cậy trong mô hình (4) 51

Trang 9

TÓM TẮT

Bài viết nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ở các nước đang phát triển thông qua mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) Sử dụng dữ liệu của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012, bài viết xác định tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng tại các nước đang phát triển Áp dụng mô hình tương tự cho dữ liệu ở Việt Nam giai đoạn 1993 –

2012, bài viết tìm thấy ngưỡng lạm phát tại Việt Nam Kết quả này đóng góp quan trọng trong việc hoạch định chính sách kiểm soát lạm phát tại từng thời kỳ

Trang 10

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai trong những mục tiêu chính của chính sách kinh tế vĩ mô.Theo đó, các quốc gia thường có xu hướng kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định nền kinh tế Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu việc kiềm chế lạm phát ở mức thấp có luôn tạo ra tác động tích cực đến tăng trưởng đối với tất cả các nền kinh tế tại bất kỳ thời điểm nào hay không Hay là tồn tại một số điều kiện nhất định để việc áp dụng chính sách kiềm chế lạm phát ở mức thấp là phù hợp

Theo các nghiên cứu thực nghiệm gần đây, lạm phát và tăng trưởng kinh tế

có mối quan hệ phi tuyến Theo đó, bắt đầu từ Fischer (1993), hàng loạt các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ra đời Các nhà kinh tế học áp dụng các mô hình khác nhau đối với mẫu dữ liệu đa quốc gia để tìm ra mức ngưỡng lạm phát phù hợp, chia mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng thành hai ‘chế độ’ – ‘chế độ’ lạm phát tác động tăng trưởng kinh tế khi ở dưới ngưỡng và

‘chế độ’ lạm phát tác động tăng trưởng khi ở trên mức ngưỡng Kết quả các bài nghiên cứu cho thấy lạm phát ở dưới mức ngưỡng có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong khi lạm phát trên mức ngưỡng lại có tác động kìm hãm tăng trưởng Drukker (2005) và Bick (2010) áp dụng mô hình ngưỡng của Hansen để tìm mức ngưỡng phù hợp đối với các nước đang phát triển Mức ngưỡng được tìm thấy lần lượt tại hai bài nghiên cứu là 19,2% và 12%

Tại Việt Nam, có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Các bài nghiên cứu này đã xác định sự tồn tại của mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng Tuy nhiên, hầu hết các bài nghiên cứu này chưa xem xét tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng

và chưa đo lường mức ngưỡng lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp định lượng Do đó, bài viết đặt ra câu hỏi về sự tồn tại ngưỡng lạm phát ở Việt Nam nói riêng và tại các nước đang phát triển nói chung Từ đó, xem xét sự phù hợp của

Trang 11

chính sách kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô ở các nước đang phát triển

Để nghiên cứu về vấn đề này, bài viết áp dụng mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) của tác giả Alexander Bick tại bài nghiên cứu “Threshold effects of inflation on economic growth in developing countries” (2010) Sử dụng

dữ liệu của 74 nước đang phát triển giai đoạn 1993-2012, bài viết xác định ngưỡng lạm phát tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tiếp theo đó, sau khi xác định sự tồn tại của ngưỡng lạm phát tại các quốc gia đang phát triển, bài viết kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam bằng việc áp dụng phương pháp nghiên cứu tương tự Từ đó, bài viết tìm giá trị ngưỡng lạm phát tại Việt Nam và ý nghĩa của ngưỡng lạm phát trong việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô

Chương 2 của bài viết sẽ nêu lại các lý thuyết mối quan hệ giữa tăng trưởng

và lạm phát theo các trường phái khác nhau Tiếp theo đó, bài viết sơ lược qua các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng trong thời gian gần đây

Chương 3 của bài viết nêu ra các phương pháp áp nghiên cứu áp dụng trong bài viết: các mô hình áp dụng, cách thức ước lượng mô hình; và, dữ liệu được sử dụng trong mô hình (phạm vi của dữ liệu, các biến cụ thể trong mô hình và bảng thống kê dữ liệu)

Chương 4 đưa ra kết quả nghiên cứu đạt được và thảo luận các kết quả nghiên cứu đối với các quốc gia đang phát triển

Chương 5 xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam những năm gần đây Áp dụng mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) lên dữ liệu Việt Nam giai đoạn 1993-2012 để kiểm định việc tồn tại ngưỡng lạm phát ở Việt Nam

Trang 12

Và cuối cùng, bài viết tổng kết các kết quả nghiên cứu đạt được và nêu lên các hạn chế còn tồn tại trong quá trình nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Chương 2 của bài viết sẽ sơ lược lại các lý thuyết và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trên thế giới và xem xét lại các bài nghiên cứu thực nghiệm tại trường hợp Việt Nam đã được thực hiện gần đây Cuối cùng là phần câu hỏi nghiên cứu đặt ra sau khi tìm hiểu các bài nghiên cứu về quan hệ lạm phát và tăng trưởng

2.1 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Các lý thuyết cổ điển, tân cổ điển, Keynes, tân Keynes và lý thuyêt trọng tiền đều có đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng

Theo lý thuyết cổ điển, trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế và lạm phát không có tồn tại mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Cụ thể, theo phương trình của Fischer: P=M*V/T và phương trình Pigou: M=P*k*Y (trong đó M là khối lượng tiền tệ trong lưu thông, V là tốc độ lưu thông tiền tệ, T là tổng khối lượng các hàng hóa và dịch vụ được đem ra giao dịch, P là mặt bằng giá chung, Y là thu nhập quốc gia tính theo giá cố định và k là tham số quan hệ), tăng trưởng kinh tế được xác định từ các nhân tố thực (đã loại trừ yếu tố giá) trong khi giá cả được xác định từ khối lượng tiền trong lưu thông Do đó, trong ngắn hạn, không tồn tại mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Tuy nhiên, các phương trình cổ điển nêu trên vẫn chỉ ra một quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở tầm dài hạn, tức là khi các nhân tố sản xuất sẽ thay đổi theo đà phát triển của lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ Các phương trình cổ điển trên thể hiện quan điểm của lý thuyết cổ điển cho rằng về dài hạn, nếu cung tiền và tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, một sự tăng lên của sản xuất do các nhân tố ngoại sinh sẽ làm giảm mặt bằng giá, và ngược lại

Theo lý thuyết tân cổ điển, các nhà kinh tế khẳng định tính trung lập của tiền

tệ đối với tăng trưởng kinh tế và nguyên tắc phân tích tách rời khu vực thực khỏi

Trang 14

khu vực tiền tệ của lý thuyết cổ điển Các giả thuyết chính của mô hình tăng trưởng tân cổ điển gắn với lạm phát gồm : (i) Tiền tệ do Chính phủ chủ động phát hành; do đó cung tiền tệ là biến ngoại sinh ; (ii) Cầu tiền tệ chỉ để đảm bảo quá trình lưu thông hàng hóa và dịch vụ diễn ra thuận lợi Cân bằng giữa cung và cầu tiền tệ được thực hiện thông qua điều chỉnh mặt bằng giá Theo đó, các nhà kinh tế học đã phát triển phương trình thể hiện giá cả như sau : M = k * Y * P hay P = M / (k*Y) Theo phương trình này, tương ứng với một thu nhập đã biết và một thói quen thanh toán đã có, mặt bằng giá chung sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng tiền tệ trong lưu thông Như vậy, cách xác định giá ở đây cũng tương tự như trong lý thuyết cổ điển; tức là ở tầm ngắn hạn, giá cả hoàn toàn phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ, đồng thời không tồn tại quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát Tuy nhiên, phương trình trên cũng cho thấy ở tầm dài hạn, giá cả có quan hệ

âm với tăng trưởng kinh tế Một sự tăng lên của sản xuất sẽ kéo theo hiện tượng giảm giá nếu tổng cung tiền tệ không đổi; và ngược lại khi sản xuất giảm sút thì giá cả tăng lên Lý thuyết tân cổ điển cho rằng chiều nhân quả đi từ tổng cầu tới giá; tức là giá được điều chỉnh liên tục cho đến khi đạt được cân đối cung cầu trên thị trường hàng hóa và dịch vụ

Theo lý thuyết Keynes, lạm phát và tăng trưởng không có quan hệ với nhau trong ngắn hạn và có quan hệ tương quan dương trong dài hạn Theo đó, Keynes

sử dụng phân tích cận biên của lý thuyết tân cổ điển, song bổ sung thêm hai biến ngoại sinh là tiền lương danh nghĩa và khối lượng tiền tệ trong lưu thông Trong đó, tiền lương danh nghĩa thường cố định và bị công đoàn gây áp lực phải đảm bảo căn cứ vào nhu cầu thực tế của người lao động và mức độ căng thẳng trên thị trường lao động và khối lượng tiền tệ trong lưu thông do các nhà lãnh đạo tiền tệ quyết định Từ các giả thuyết ban đầu, Keynes xây dựng ba hàm quan hệ kinh tế vĩ

mô, gồm hàm tiêu dùng, hàm đầu tư và hàm cân bằng tiền tệ; sau đó xây dựng thành một hệ mô hình để xác định đồng thời khối lượng sản xuất (tăng trưởng kinh tế) và mặt bằng giá chung (lạm phát) Tất cả các mô hình kinh tế vĩ mô của lý

Trang 15

thuyết Keynes truyền thống đều xem tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư và đầu tư là nhân tố quyết định quá trình sản xuất dài hạn

Ở tầm ngắn hạn, cấu trúc của hệ thống sản xuất và kỹ thuật sản xuất có thể được giả định là không đổi; nên sản xuất là hàm của số lượng việc làm, trong khi

số lượng việc làm là biến ngoại sinh Điều này có nghĩa là số lượng việc làm càng tăng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao Mặt khác, lý thuyết Keynes cho rằng không phải tiền lương danh nghĩa mà chính là nhu cầu đặt hàng mà các doanh nghiệp mong chờ, hy vọng mới là nhân tố chính xác định số lượng việc làm Trên thực tế, chính vì nhu cầu đặt hàng không đủ như các doanh nghiệp mong chờ nên mới có hiện tượng thất nghiệp Vì vậy, việc hạ thấp tiền lương cũng không phải là phương thuốc giải quyết khó khăn này vì nó sẽ làm cho tổng cầu giảm đi; hậu quả

là các doanh nghiệp sẽ dự báo nhu cầu đặt hàng tiếp tục giảm hơn, qua đó sẽ phải tiếp tục áp dụng biện pháp giảm tiếp số việc làm Tình trạng thất nghiệp sẽ lại gia tăng Theo Keynes, chủ doanh nghiệp luôn luôn tìm cách trả lương (W) theo năng suất lao động (dY/dN) vì điều đó cho phép họ cực đại hóa lợi nhuận của mình Do vậy, phương trình xác định tiền lương danh nghĩa trong lý thuyết Keynes như sau: P=W/((dY/dN)) Từ đây chúng ta thấy ở tầm ngắn hạn, mặt bằng giá được xác định từ tiền lương danh nghĩa; trong khi tiền lương danh nghĩa đã được xác định

từ trước, bên ngoài hệ thống cân bằng kinh tế vĩ mô Vì Y=Y(N), nên chúng ta có P=P(N), tức là tương ứng với mỗi trình độ việc làm và một mức tiền lương danh nghĩa đã cho, mặt bằng giá đều đã được xác định Do vậy, mặt bằng giá ở tầm ngắn hạn là một đại lượng đã xác định được trước, không phải sinh ra từ các cân bằng kinh tế vĩ mô.Vì ở tầm ngắn hạn, giá và tiền lương danh nghĩa được xem là các nhân tố đã biết (tức là trở thành các tham số) nên trong các mô hình xây dựng theo

lý thuyết Keynes, quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có chiều từ lạm phát đến tăng trưởng Nếu chính phủ chủ động thực hiện các biện pháp làm hạ thấp mặt bằng giá, tiền lương thực tế sẽ tăng lên, kéo theo việc các doanh nghiệp giảm bớt lao động; hậu quả là tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại hoặc giảm sút

Trang 16

Ở tầm dài hạn, vì năng suất lao động dY/dN có xu hướng giảm dần khi số lượng việc làm tăng lên nên người ta đã cho rằng mặt bằng giá chung sẽ có xu hướng tăng lên để đảm bảo tiền lương danh nghĩa không đổi Điều này có nghĩa là khi số lượng việc làm tăng lên làm cho sản xuất tăng lên thì cũng kèm theo tăng giá Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát trong lý thuyết Keynes truyền thống có thể hiểu là dương, tức là tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ đi kèm hiện tượng lạm phát

Theo lý thuyết tân Keynes, lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tương quan dương trong cả ngắn hạn và dài hạn Các nhà kinh tế học hậu Keynes tập trung nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế dài hạn với mục tiêu chính là duy trì được sự năng động của các nền kinh tế trong điều kiện liên tục có các điểm phi cân bằng vĩ mô Khi phân tích mô hình Keynes truyền thống, các nhà kinh tế hậu Keynes nhận thấy Keynes đã giả định thị trường tiền tệ độc lập với các thị trường khác; do đó sẽ tạo ra nhiều khó khăn khi giải thích hiện tượng tăng trưởng kinh tế

và lạm phát Vì vậy, trường phái hậu Keynes đã bổ sung thị trường lao động vào các phương trình phân tích tiền tệ và lạm phát Trong lý thuyết Keynes, quan hệ C + I < C + S có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó cho phép giải thích hiện tượng thất nghiệp có nguồn gốc từ tỷ lệ đầu tư thấp hơn tỷ lệ tiết kiệm Tuy nhiên, trường phái hậu Keynes đã biến đổi quan hệ này thành quan hệ C + I > C + S Quan hệ mới này đã mở ra một mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát, theo đó các điểm phi cân bằng kinh tế vĩ mô chỉ có thể xuất hiện trong trường hợp các nhà sản xuất đầu tư nhiều hơn khả năng tiết kiệm của dân cư Đầu tư cao dẫn tới tăng trưởng kinh tế nhanh, song cũng làm cho tỷ lệ lạm phát tăng lên Khi rơi vào trường hợp này, cần phải khuyến khích tiết kiệm, kìm hãm đầu tư và hạ dần tốc độ tăng trưởng kinh tế để giảm dần tỷ lệ lạm phát Đây là quan điểm chủ đạo của lý thuyết phi cân bằng lạm phát (inflationnist gap), một nhánh của trường phái hậu Keynes có xu hướng giải thích lạm phát do cầu kéo

Trang 17

Theo Thuyết trọng tiền, lạm phát và tăng trưởng không có mối quan hệ trong dài hạn và có thể có mối quan hệ cùng chiều trong ngắn hạn Lý thuyết này có 3 nguyên lý gồm: (i) Lạm phát là một hiện tượng hoàn toàn tiền tệ; một sự thay đổi 10% khối lượng tiền tệ chắc chắn sẽ kéo theo một sự thay đổi 10% của mặt bằng giá chung mặc dù việc thay đổi mặt bằng giá chung có thể không diễn ra ngay lập tức; (ii) Ở tầm ngắn hạn, thay đổi tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ, nhất là khi không được

dự báo, sẽ làm thay đổi mức sản xuất, đồng thời giá cả cũng tự động được điều chỉnh; và chính sự không ổn định tiền tệ này là nhân tố cơ bản tạo ra các chu kỳ tăng trưởng ngắn hạn gồm tăng trưởng, bùng nổ, khủng hoảng, suy thoái, tăng trưởng trở lại (iii) Ở tầm dài hạn, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoàn toàn độc lập

với tốc độ tăng trưởng tiền tệ M Friedman khẳng định: “Theo quan điểm dài hạn, không tồn tại quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế hay tỷ lệ thất nghiệp Toàn dụng lao động có thể xảy ra trong khi tỷ lệ lạm phát bằng không;

và cũng có thể xảy ra với tỷ lệ lạm phát 10% mỗi năm và kéo dài" Như vậy, tăng

trưởng kinh tế và lạm phát là hai hiện tượng kinh tế độc lập với nhau xét trên góc

độ dài hạn Các nhà kinh tế trọng tiền cũng công nhận ở tầm ngắn hạn, có thể vẫn tồn tại quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và lạm phát, nhất là quan hệ ngược chiều giữa những biến động của tiền lương danh nghĩa và tỷ lệ thất nghiệp Theo họ, chính sách tiền tệ có thể tác động lên việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng đỡ tăng trưởng kinh tế trong thời gian ngắn song không thể kéo dài Quan điểm này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn là mở rộng tiền tệ có thể kích thích đầu tư; đầu tư tăng thêm sẽ tạo ra việc làm mới và kích thích tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, người ta còn nhận thấy khi tỷ lệ lạm phát thực tế cao hơn tỷ lệ lạm phát

dự đoán của người lao động thì người lao động cho rằng tiền lương thực tế mà họ nhận được cao hơn mức dự kiến; do đó họ sẽ làm việc có trách nhiệm hơn, làm cho quá trình tăng trưởng kinh tế nói chung tăng lên Như vậy, về thực chất, lạm phát

đã tạo ra ảo tưởng tiền lương đối với người lao động trong thời kỳ ngắn hạn để kích thích kinh tế Ngoài những lập luận trên, các nhà kinh tế trọng tiền còn sử dụng nhiều mô hình thực nghiệm để chứng minh quan điểm của mình Tuy nhiên,

Trang 18

các nhà kinh tế trọng tiền luôn luôn nhấn mạnh tác động tích cực trên chỉ có tính chất tạm thời

Tóm tại, tùy từng quan điểm kinh tế tại từng giai đoạn khác nhau mà có những lý thuyết khác nhau về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Những lý thuyết này vừa đối nghịch nhau, vừa bổ sung cho nhau Theo đó, bài viết tóm tắt sơ bộ quan điểm của các lý thuyết tại Bảng 2.1

Bảng 2.1: Tổng hợp quan điểm của một số lý thuyết kinh tế về mối quan hệ lạm

phát- tăng trưởng

Quan hệ ngắn hạn Quan hệ dài hạn

Lý thuyết Keynes Không hoặc dương yếu Dương

Lý thuyết trọng tiền Không hoặc dương yếu Không

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Từ đầu những năm 80 đến nay, đã có rất nhiều bài nghiên cứu về mối quan

hệ của lạm phát và tăng trưởng Hầu hết các nghiên cứu này đều xoay quanh 3 vấn

đề chính: Thứ nhất, sự tồn tại của mối quan hệ của lạm phát và tăng trưởng và tính chất của mối quan hệ này Thứ hai, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến Nếu lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ phi tuyến, giá trị ngưỡng của lạm phát là bao nhiêu Liệu giá trị này có khác nhau đối với những quốc gia khác nhau

Theo đó, đã có rất nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu và chứng minh được mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng Kết quả các nghiên cứu cho

Trang 19

thấy rằng giữa lạm phát và tăng trưởng tồn tại mối quan hệ nhân quả, tác động lẫn nhau và mối quan hệ này không đơn thuần là tuyến tính

Tại bài nghiên cứu của mình, dựa trên kết quả hồi quy 101 nước trong giai đoạn 1960-1989, Fischer (1993) đã xác định mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát

và tăng trưởng Theo bài nghiên cứu của ông, khi lạm phát ở mức thấp, mối quan

hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không tồn tại hoặc thậm chí lạm phát thúc đẩy tăng trưởng Trong khi lạm phát ở mức cao có tác động tiêu cực đến tăng trưởng

thông qua tác động giảm đầu tư và tỷ lệ tăng trưởng năng suất

Sarel (1996) sử dụng dữ liệu hàng năm cho 87 quốc gia trong giai đoạn 1970-1990, đã kết luận rằng, ở mức lạm phát dưới 8%, lạm phát và tăng trưởng có tương quan thuận nhưng khi lạm phát trên mức đó, lạm phát và tăng trưởng có tương quan âm

Song song đó, sử dụng mảng dữ liệu của 145 nước thành viên của Quỹ Tiền

tệ quốc tế (IMF) trong khoảng thời gian 1960-1996, kết quả nghiên cứu của Ghosh

và Philips (1998) cho thấy rằng mặc dù lạm phát và tăng trưởng tương quan thuận tại một tỷ lệ lạm phát rất thấp (khoảng 2-3% một năm), mối quan hệ sẽ đảo ngược

ở mức tỷ lệ cao hơn Hơn nữa, mối quan hệ là lồi, do đó, sự suy giảm trong tăng trưởng liên quan đến sự gia tăng lạm phát từ 10% đến 20% là lớn hơn nhiều so với

Trang 20

chẳng hạn như việc có loại trừ đi những số liệu quan sát lạm phát cao hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần

Li (2006) kiểm nghiệm mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng phương trình tăng trưởng chi tiêu Y=C+I+G+NX và phương trình tăng trưởng kế toán, trên dữ liệu của 90 nước đang phát triển và 25 nước phát triển từ năm 1961 đến năm 2004 Kết quả là, bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng, nhưng hình thức mối quan hệ phi tuyến này thì khác nhau đối với các nhóm quốc gia khác nhau Theo đó, các nước đang phát triển có 2 mức ngưỡng lạm phát: 14% và 38% Cơ chế phi tuyến mà 2 mức ngưỡng này hoạt động được miêu tả như sau: Khi tỷ lệ lạm phát ở dưới mức ngưỡng đầu tiên (14%), tác động của lạm phát đến tăng trưởng không đáng kể và thậm chí là tích cực Khi tỷ lệ lạm phát nằm giữa hai mức ngưỡng, lạm phát sẽ tác động mạnh mẽ và tiêu cực đến tăng trưởng Khi lạm phát quá cao- vượt qua mức ngưỡng thứ 2, tác động biên của lạm phát lên tăng trưởng giảm dần nhưng vẫn mang ý nghĩa tiêu cực Đối với các nước đang phát triển, chỉ có một ngưỡng lạm phát được phát hiện, ước tính khoảng 24%

Drukker (2005) áp dụng mô hình hồi quy ngưỡng nội sinh mới của Hansen (1999) trên dữ liệu của 138 nước trong giai đoạn 1950-2000 để ước lượng ngưỡng lạm phát Kết quả cho thấy tồn tại hai ngưỡng lạm phát tại các nước phát triển là 2,6% và 12,6% và duy nhất một ngưỡng tại các nước đang phát triển là 19,2% Đối với các nước phát triển, lạm phát dưới ngưỡng thúc đẩy tăng trưởng trong khi lạm phát trên ngưỡng kìm hãm tăng trưởng Đối với các nước đang phát triển, lạm phát trên ngưỡng kìm hãm tăng trưởng trong khi lạm phát dưới ngưỡng không có mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế

Bằng cách áp dụng mô hình chuyển tiếp trơn LSTR lên bảng số liệu của

165 nước trong giai đoạn 1960-2007, Prasad và cộng sự (2010) ước tính rằng đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi, lạm phát trên ngưỡng khoảng 10% , nhanh

Trang 21

chóng trở nên có hại cho tăng trưởng, điều này cho thấy sự cần thiết của một chính sách đối phó lạm phát tại hoặc ở trên ngưỡng đó kịp thời Đối với các nền kinh tế phát triển, ngưỡng thấp hơn rất nhiều Đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ, ước tính ngưỡng khoảng 10% Ảnh hưởng của lạm phát cao cho các nước xuất khẩu dầu cũng mạnh hơn cho các nước còn lại

Trong bài nghiên cứu của Villavicencio và Mignon (2011), các mô hình PSTR của González et al (2005) và Fok et al (2005) được áp dụng cho mẫu dữ lệu bao gồm 44 quốc gia trong giai đoạn 1961-2004 Phát hiện của bài viết cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng lạm phát tác động phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế

Cụ thể hơn, có tồn tại một ngưỡng mà khi lạm phát trên ngưỡng này, nó tác động tiêu cực đến tăng trưởng Giá trị ngưỡng lạm phát này đối với các nước tiên tiến rất khác so với các nước đang phát triển, ước tính là 2,7% đối với các nền kinh tế công nghiệp hóa và 17,5% cho nền kinh tế mới nổi Hơn nữa, đối với tỷ lệ đối với các nền kinh tế phát triển, trong khi ở mức lạm phát dưới 17,5%, liên kết giữa chúng là không đáng kể đối với các nước đang phát triển Sự khác biệt trong các giá trị ngưỡng giữa những nhóm quốc gia thu được từ phương pháp PSTR minh họa một mức chịu đựng lạm phát cao hơn đối với các nước mới nổi, có thể được giải thích bởi các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như tác động Balassa-Samuelson, việc sử dụng các hệ thống chỉ số, chính sách tỷ giá hối đoái và mức lạm phát cao của các nước đó Những kết quả này là mạnh mẽ đối với phương pháp chặn do kết quả tương tự đã thu được bằng cách sử dụng các ước tính GMM trên phương trình tăng trưởng bao gồm các hệ số tương tác bậc hai Căn cứ vào việc tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thay đổi của cung tiền tương quan chặt chẽ với nhau, thực tế rằng lạm phát ảnh hưởng phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế có thể có ý nghĩa quan trọng về chính sách tiền tệ Thật vậy, tốc độ tăng trưởng cung tiền là công cụ chính của ngân hàng trung ương cho chính sách tiền tệ, sự tồn tại của một mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng sản lượng cho thấy rằng chính sách tiền tệ có thể có hiệu

Trang 22

ứng khác nhau đối với GDP phụ thuộc vào mức lạm phát Kết quả là, điều này gợi lên nghi vấn về tính trung lập lâu dài của tiền tệ

Trong bài nghiên cứu của Bick (2010), tác giả mở rộng mô hình ngưỡng của Hansen (1999) thông qua các hệ số chặn (regime intercepts) và áp dụng mô hình này trên mảng số liệu của 40 nước đang phát triển giai đoạn 1960-2004 và sử dụng

số liệu trung bình 5 năm Kết quả cho thấy giả thuyết giá trị ngưỡng không tồn tại

bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% Việc tính các hệ số chặn chế độ làm giảm ước tính ngưỡng từ 19% xuống 12% và giới hạn dưới từ 11,8% đến 5,3%, với khoảng tin cậy 95% Điểm nổi bật nhất là nếu không có hệ số chặn chế độ, tỷ lệ lạm phát dưới ngưỡng 19% có tác động tích cực đáng kể (0,407) lên tăng trưởng với mức ý nghĩa 10%, trong khi các tác động tiêu cực (-0,232) cho tỷ lệ lạm phát trên 19% không

có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nếu có hệ số chặn chế độ, độ lớn các tác động tăng gấp đôi (0,785 -0,531) và thiết lập tại mức ý nghĩa ít nhất 5 % Chính các hệ

số chặn chế độ δ1 có ý nghĩa tại mức 5% Như vậy, việc lựa chọn các mô hình chính xác, tức là kiểm soát chênh lệch hệ số chặn chế độ, có những ngụ ý quan trọng Đầu tiên, ước tính điểm và giới hạn dưới của khoảng tin cậy mà lạm phát gây hại đến tăng trưởng đều thấp hơn đáng kể Thứ hai, độ lớn của tác động bất lợi của tỷ lệ lạm phát trên ngưỡng tăng gấp đôi Thứ ba, giữ lạm phát dưới ngưỡng rõ

ràng là có lợi hơn

Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát

và tăng trưởng Cụ thể, Nguyễn Trung Chính (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 1995- 2008 dựa trên phương pháp hồi quy đồng liên kết, mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và mô hình VAR Kết quả cho thấy tăng trưởng và lạm phát có mối quan hệ đồng liên kết với ước lượng hệ số đồng liên kết

là 0.5883 có ý nghĩa ở mức 1% Hệ số phù hợp R2 cho thấy lạm phát có ảnh hưởng khá lớn đến tăng trưởng Kiểm định đồng liên kết Johansen cũng cho kết quả tương tự với số véc tơ đồng liên kết là 2 Đồng thời, kết quả thu được khi sử dụng

mô hình ECM cho thấy trong ngắn hạn, lạm phát tăng thì tăng trưởng cũng tăng

Trang 23

Trong dài hạn, khi lạm phát và tăng trưởng chệch khỏi điểm cân bằng thì xuất hiện

sự điều chỉnh khiến tăng trưởng thay đổi theo xu hướng đưa các yếu tố của nền kinh tế về vị trí cân bằng Song song đó, lạm phát và tăng trưởng thời kỳ trước đều

có ảnh hưởng đến sự thay đổi của tăng trưởng tại thời điểm hiện tại Kết quả mô hình VAR cho thấy sự thay đổi lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng nhiều hơn sự ảnh hưởng trở lại của tăng trưởng đến lạm phát Như vậy, từ kết quả phân tích, tăng trưởng và lạm phát có mối quan hệ dương (đồng biến) trong cả dài hạn và ngắn hạn và sự thay đổi của tăng trưởng nhanh hơn sự thay đổi của lạm phát trong

cả hai trường hợp Từ đó, tác giả kết luận trong giai đoạn phân tích, lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng và chưa vượt quá ngưỡng kiểm soát

Theo nghiên cứu của Phùng Duy Quang và cộng sự (2013), giữa lạm phát

và tăng trưởng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Bằng việc áp dụng mô hình đồng liên kết, mô hình ECM, mô hình VAR trên dữ liệu Việt Nam giai đoạn 2008-2012, nhóm tác giả khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Theo kết quả mô hình đồng liên kết, mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát dài hạn là quan hệ đồng biến, tức là lạm phát tăng 1 đơn vị thì tăng trưởng khoảng 0,586278 đơn vị Hệ số xác định R2 ước lượng được là 86,546% cho thấy rằng lạm phát có ảnh hưởng khá lớn đến tăng trưởng Đồng thời, kết quả kiểm định đồng kiên kết bằng phương pháp kiểm định Johansen cho thấy lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan hệ đồng liên kết với nhau với số véc tơ đồng liên kết r=2 Tiếp theo đó, nhóm tác giả dùng mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) để nghiên cứu sự biến động trong ngắn hạn của tăng trưởng và lạm phát Theo đó, kết quả cho thấy trong ngắn hạn lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan

hệ đồng biến Trong dài hạn khi lạm phát và tăng trưởng lệch khỏi vị trí cân bằng thì sẽ có sự điều chỉnh đưa các yếu tố kinh tế trở về điểm cân bằng Song song đó, lạm phát và tăng trưởng thời kỳ trước có tác động đến tăng trưởng thời kỳ hiện tại Kết quả mô hình VAR cho thấy 92,568% sự biến động của tăng trưởng được giải thích bởi biến động của lạm phát và tăng trưởng trong quá khứ và 90,5683% biến

Trang 24

động của lạm phát được giải thích bởi biến động của lạm phát và tăng trưởng trong quá khứ Chi tiết hơn, kết quả phân tích phương sai trong 12 thời kỳ cho thấy lạm phát và tăng trưởng không những tác động qua lại lẫn nhau mà còn chịu tác dộng của bản thân nó trong quá khứ Trong ngắn hạn, sự thay đỏi của lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng nhiều hơn sự ảnh hưởng trở lại của tăng trưởng đến lạm phát

Trương Minh Tuấn (2013) áp dụng phương pháp phân tích phương sai dựa trên mô hình VAR và mô hình sai số hiệu chỉnh ECM để kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong ngắn hạn lẫn dài hạn Theo đó, tác giả sử dụng

mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát dựa trên việc phân tích chuỗi thời gian và tìm hiểu tác động của các cú sốc vào trong chỉ số giá Trong mô hình, chỉ số giá của một thời kỳ chịu tác động của cú sốc cầu, cú sốc cung, cú sốc tiền tệ, cú sốc tỷ giá hối đoái được đại diện lần lượt bởi các biến như giá dầu thế giới, tỷ lệ tăng trưởng thực, mưc cung tiền và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương Kết quả phân tích cho thấy giữa tăng trưởng kinh

tế và lạm phát có mối quan hệ nghịch biến trong cả dài hạn và ngắn hạn Trong dài hạn, sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế chậm hơn sự thay đổi trong lạm phát Tuy nhiên, trong ngắn hạn, sự thay đổi của lạm phát lại ảnh hưởng đến sự thay đổi của tăng trưởng và mức thay đổi trong lạm phát cao hơn mức thay đổi trong tăng trưởng kinh tế Trong dài hạn, dựa vào kết quả ước lượng mô hình ECM và kết quả kiểm định Engle-Granger (EG) hay Augmented Engle-Granger (AEG), lạm phát và tăng trưởng kinh tế đồng liên kết với nhau theo quan hệ nghịch biến Cụ thể, khi tăng trưởng tăng 1% thì lạm phát giảm 0,037% và ngược lại Trong ngắn hạn, dựa vào kết quả ước lượng mô hình VAR và kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác động của tăng trưởng kinh tế đến lạm phát không có ý nghĩa thống kê trong khi tăng trưởng kinh tế lại chịu tác động của lạm phát theo quan hệ nghịch biến

Trang 25

Tại bài nghiên cứu của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2013), nhóm tác giả phân tích hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trên dữ liệu thời gian 1987-2012 Kết quả cho thấy, hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng

là âm (r=-0,382) Điều này ngụ ý là lạm phát tăng 1% sẽ làm giảm tăng trưởng 0,382% Tuy nhiên, quan sát dãy số liệu của Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy có

2 năm Việt Nam rơi vào tình trạng siêu lạm phát Do đó, nhóm tác giả loại trừ các

số liệu tại hai năm này và xem xét lại hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng Kết quả cho thấy, sau khi loại trừ các cú sốc lạm phát, hệ số tương quan giữa tăng trưởng vẫn âm (r=-0,357) Từ đó, nhóm tác giả kết luận rằng xét trong một giai đoạn dài, cho dù có xảy ra cú sốc lạm phát hay không thì lạm phát vẫn tác động tiêu cực ở mức trung bình tới tăng trưởng kinh tế Lạm phát tăng cao sẽ đẩy tăng trưởng kinh tế chậm lại Kết quả này giống kết quả nghiên cứu giai đoạn sau khủng hoảng dầu hỏa 1973 - 1974 của Fischer (1993), Bruno và Easterly (1995) và Barro (1998) khi tìm thấy quan hệ âm giữa lạm phát và tăng trưởng Tiếp theo đó, nhóm tác giả tách dãy dữ liệu ra hai thời kỳ 1989-2000 và 2001-2012 để xem xét quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát trong ngắn hạn Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 1989-2000, lạm phát tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế (r=-0,46) Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001-2012, lạm phát có tác động tiêu cực yếu đến tăng trưởng kinh tế (r=-0,124) Theo đó, tác giả kết luận rằng trong cả hai giai đoạn ngắn, lạm phát hoặc tác động tiêu cực thấp tới tăng trưởng kinh tế hoặc không thể kết luận được mối quan hệ giữa hai biến Quan sát bảng dữ liệu, nhóm tác giả cho rằng ngưỡng lạm phát ở Việt Nam khoảng 5 – 7% Khi lạm phát dưới mức 5%, lạm phát ảnh hưởng tích cực mạnh đến tăng trưởng (r=0,809) Khi lạm phát trên 7%/năm sẽ có mối quan hệ ngược chiều ở mức cao tới tăng trưởng (r=-0,596) Theo đó, nếu chọn ngưỡng lạm phát Việt Nam là 5-7% thì phù hoewjp với khảo sát của nhóm nghiên cứu khi có đến 65,4% người được hỏi cho rằng mức lạm phát 6,6% năm 2006 là mức bình thường Cũng như vậy, năm 2009, với mức lạm phát 6,52%/năm thì có đến 59,6% cho rằng đây là mức lạm phát trung bình Từ đó, nhóm tác giả kết luận rằng xét ở thời kỳ dài 24 – 26 năm, lạm phát ảnh hưởng tiêu

Trang 26

cực yếu đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng là tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào mức lạm phát sử dụng để xác định mối tương quan này Nếu khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 1989 -

2012, lạm phát đóng góp 14.6% vào sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế Còn trong khoảng thời gian 20 năm từ 1990 – 2009, lạm phát chỉ đóng góp 12.8% vào sự thay đổi của tốc độ tăng trưởng kinh tế đo bằng tốc độ tăng GDP Như vậy, nếu chỉ

sử dụng hệ số tương quan giữa CPI và tốc độ tăng GDP ở trên để đưa ra các con số

dự báo về tỷ lệ lạm phát khi muốn đạt tốc độ tăng trưởng nhất định hoặc ngược lại, đưa ra con số dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát ở một mức nhất định là không chính xác Bởi lạm phát chỉ là một yếu tố, dù quan trọng, trong vô vàn các yếu tố khác tác động tới tăng trưởng kinh tế Đồng thời, ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là 5% – 7% Ở mức này thì lạm phát lại ảnh hưởng tích cực mạnh đến tăng trưởng kinh tế Ở khoảng này, lạm phát có thể giải

thích được xấp xỉ 65% sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế

Các câu hỏi nghiên cứu

Các bài nghiên cứu trên tập trung chủ yếu tìm hiểu về mối quan hệ lạm phát- tăng trưởng, sự tồn tại của 1 ngưỡng lạm phát và giá trị của nó đối với toàn thế giới hoặc những nhóm quốc gia riêng biệt Theo đó, nhiều mô hình kinh tế đã khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Tiếp theo đó, bắt đầu

từ Fischer (1993), hàng loạt các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ra đời Các nhà kinh tế học áp dụng các mô hình khác nhau đối với mẫu dữ liệu đa quốc gia đẻ tìm ra mức ngưỡng lạm phát phù hợp, chia mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng thành hai ‘chế độ’ – ‘chế độ’ lạm phát thúc đẩy tăng trưởng khi ở dưới ngưỡng và ‘chế độ’ lạm phát kìm hãm tăng trưởng khi

ở trên mức ngưỡng Mức ngưỡng lạm phát ứng với các nhóm quốc gia quóc gia khác nhau thì khác nhau Đối với mẫu dữ liệu các nước phát triển, mức ngưỡng lạm phát tìm được tương đối thấp – từ 1-3% Theo đó, lạm phát ở dưới mức ngưỡng này có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong khi lạm phát trên mức ngưỡng

Trang 27

này lại có tác động kìm hãm tăng trưởng Đối với các nước đang phát triển, kết quả

từ các bài nghiên cứu cho thấy tồn tại mức ngưỡng tương đối cao Lạm phát ở dưới mức ngưỡng thì thúc đẩy hoặc không có tác động đến tăng trưởng kinh tế trong khi lạm phát trên ngưỡng có tác động kìm hãm tăng trưởng Các kết quả này được trình bày tóm tắt trong Bảng 2.2

Bảng 2.2: Bảng tóm tắt quan hệ lạm phát và tăng trưởng theo các nghiên cứu thực

nghiệm gần đây trên thế giới

Tỷ lệ lạm phát Tương quan với tăng trưởng

kinh tế Đối với các nước công nghiệp

Khi tỷ lệ lạm phát thấp, tức là dưới 1-3%/năm Dương

Khi tỷ lệ lạm phát ôn hoà (trên 1-3%) Âm

Đối với các nước đang phát triển

Tại Việt Nam, có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Các bài nghiên cứu này đã xác định sự tồn tại của mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng Tuy nhiên, hầu hết các bài nghiên cứu này chưa xem xét tính phi tuyến trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng

và chưa đo lường mức ngưỡng lạm phát tại Việt Nam bằng phương pháp định lượng Từ đó, bài viết đặt ra câu hỏi về sự tồn tại ngưỡng lạm phát ở Việt Nam và

sự phù hợp của chính sách kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất trong việc điều tiết kinh tế vĩ mô của các cơ quan chức năng trong thời gian qua Theo đó, để nghiên cứu về vấn đề này, bài viết áp dụng phương pháp nghiên cứu của Bick (2010) để tìm giá trị ngưỡng đối với các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) và đối với Việt Nam giai đoạn 1993-2012 Từ đó, bài viết tìm hiểu ý nghĩa về giá trị

Trang 28

của ngưỡng này đối với việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 29

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU / DỮ LIỆU

Trong chương này, bài viết nêu ra cụ thể phương pháp nghiên cứu và miêu tả

dữ liệu được áp dụng trong bài nghiên cứu Cụ thể, bài viết giới thiệu mô hình ngưỡng của Hansen (1999), cách thức đo lường mô hình mà Hansen (1999) đã áp dụng và phương pháp kiểm định sự tồn tại của ngưỡng lạm phát mà mô hình ước tính Tiếp theo đó, bài viết đưa ra mô hình ngưỡng mở rộng của mô hình Hansen (1999) mà Bick (2010) đã giới thiệu trong bài nghiên cứu của mình Từ đó, bài viết xác định mô hình áp dụng trong bài nghiên cứu Đối với mẫu dữ liệu áp dụng trong bài nghiên cứu, bài viết giới thiệu tổng quan về giai đoạn thời gian nghiên cứu và danh sách các quốc gia trong mảng dữ liệu Bài viết cũng giới thiệu nguồn dữ liệu, miêu tả các biến hồi quy và thống kê sơ bộ dữ liệu

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu mối quan hệ của lạm phát và tăng trưởng tại các nước đang phát triển, bài viết sử dụng mô hình ngưỡng mở rộng của Hansen (1999) bằng cách đưa thêm hệ số chặn tương tự nghiên cứu của Bick (2010)

Đầu tiên, ta xem xét cách thức mô hình ngưỡng của Hasen (1999) hoạt động

và cách ước tính hệ số hồi quy của mô hình:

3.1.1 Mô hình ngưỡng của Hansen (1999)

3.1.1.1 Mô hình:

Sử dụng dữ liệu bảng cân đối (balanced panel) bao gồm các quan sát

hướng, và nhân tố hồi quy là một vec-tơ k hướng Công thức cấu trúc được xác định như sau:

Trang 30

Với I (.) là hàm đặc trưng Có thể biểu diễn công thức (1) dưới dạng sau:

Hoặc Công thức (1) được thể hiện dưới dạng:

Và , do đó công thức (1) tương đương:

(2) Các biến quan sát được chia thành hai ‘chế độ’ tùy thuộc vào biến ngưỡng lớn hơn hay nhỏ hơn ngưỡng γ Các chế độ được phân biệt bởi hệ số dốc hồi quy, và Để xác định và , đòi hỏi không là nhân tố bất biến theo thời gian Biến ngưỡng cũng không là nhân tố bất biến theo thời gian Sai số phân phối độc lập và được phân phối (iid) với giá trị trung bình 0 và phương sai hữu hạn Giả thuyết iid loại trừ các biến phụ thuộc trễ khỏi

3.1.1.2 Đo lường:

- Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất:

Một trong các phương pháp truyền thống để kiểm soát bỏ tác động riêng lẻ

μi là loại bỏ các giá trị trung bình riêng lẻ xác định Việc xử lý này ở các mô hình tuyến tính thì khá dễ dàng trong khi ở các mô hình phi tuyến đòi hỏi xử lý cẩn thận hơn nhiều Trung bình của công thức (1) theo thời gian là:

(3)

Trang 31

Lấy hiệu hai phương trình (2) và (3) ta có :

cho dữ liệu chéo và sai số của một nhân tố, với một khoảng thời gian bị loại

bỏ Sau đó, đặt Y*, X* và e* cho dữ liệu chéo của tất cả các nhân tố, ví dụ:

Theo đó, phương trình (4) được chuyển thành :

Trang 32

(5) Với một ngưỡng cho trước, hệ số có thể được ước tính bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS Tức là :

(6) Vec-tơ của phần dư là

(7)

Và tổng phương sai là

= Theo đó, ước lượng bình phương nhỏ nhất của ngưỡng là

(8)

Ngưỡng được chọn với rất ít quan sát trong một hay một vài chế độ thì không được mong đợi Hiện tượng này có thể được loại bỏ bằng cách đặt ra giới hạn việc ước tính trong phương trình (8) với tỷ lệ quan sát ít nhất trong mỗi chế

độ (ví dụ 1% hay 5%)

Với ngưỡng được xác định, ước tính hệ số dốc = Vec-tơ phần dư

và phương sai phần dư:

Trang 33

3.1.1.3 Kiểm định sự tồn tại của ngưỡng:

Việc xác định tác động của ngưỡng có ý nghĩa thống kê là rất quan trọng Giả thiết không tồn tại ngưỡng trong công thức (1) có thể được thể hiện bằng ràng buộc tuyến tính sau

H0

Dưới giả thiết H0 ngưỡng không xác định, do đó các kiểm định cổ điển có phân phối không chuẩn Vấn đề này được gọi là ‘Davies’ Problem’ và đã được nghiên cứu bởi Andrews và Ploberger (1994) và Hansen (1996) Công thức hiệu ứng cố định (4) được Hansen (1996) đề xuất sử dụng phương pháp bootstrap để tái tạo phân phối tiệm cận của kiểm định chỉ số likelihood

Dưới giả thiết vô hiệu của việc không tồn tại ngưỡng, mô hình là

(10) Sau khi chuyển đổi hiệu ứng cố định, chúng ta có

( 11)

Hệ số hồi quy được ước tính bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS, thông qua ước tính , phần dư và tổng sai số bình phương S0= Kiểm định likelihood của giả thiết H0 căn cứ F1= (S0 - )/

Phân phối tiệm cận của F1 thì không chuẩn, và chia phối phân phối Không may, sự xuất hiện của nó thông thường phụ thuộc vào các moment của mẫu

và do đó giá trị giới hạn không được lập bảng Hansen (1996) chỉ ra rằng quy trình bootstrap đạt được phân phối tiệm cận bậc một, do đó p-value được xây dựng từ bootstrap có hiệu lực một cách tiệm cận Với tính chất mảng của dữ liệu, tác giả khuyến khích thực hiện bootstrap theo phương thức sau Xử lý nhân tố hồi quy

Trang 34

và biến ngưỡng như cũ, giữ giá trị của chúng cố định trong vòng lặp bootstrap Tính giá trị phần dư hồi quy , và xếp chung lại thành nhóm theo đặc điểm:

Xử lý mẫu như phân phối thực nghiệm được dùng để bootstrap Rút (với thay thế) một mẫu size n từ phân phối thực nghiệm và

sử dụng các sai số này để tạo mẫu bootstrap dưới giả thiết (Lưu ý là thống kê kiểm định F1 không phụ thuộc chỉ số dưới giả thiết , do đó bất cứ giá trị nào của cũng có thể được sử dụng) Sử dụng mẫu bootstrap, ước tính mô hình dưới giả thiết vô hiệu (11) và công thức (4) và tính giá trị bootstrap của thống kê tỉ

số likelihood F1 (12) Lặp lại quy trình này nhiều lần và tính tỷ lệ các điểm thống

kê mô phỏng vượt quá thực tế Đây là ước lượng bootstrap cho giá trị p-value tiệm cận dưới giả thiết H0 Giả thiết vô hiệu của việc không có ngưỡng tác động bị bác

bỏ nếu p-value nhỏ hơn giá trị giới hạn

3.1.2 Mô hình mở rộng của mô hình Hansen (1999)

3.1.2.1 Mô hình

Mô hình này áp dụng các hệ số chặn chế độ thường được sử dụng trong các

mô hình ngưỡng cho các mẫu dữ liệu chéo hoặc chuỗi thời gian Ngay cả khi xuất hiện các hiệu ứng cố định, mô hình này có thể kiểm soát sự khác biệt của những hệ

số chặn chế độ bằng cách bao gồm tất cả trong một chế độ như mô hình mở rộng

sau đây:

Tầm quan trọng của hệ số chặn : Đối với bất kỳ ngưỡng γ nhất định, các hệ

số độ dốc β1 và β2 có thể ước tính bởi phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) bằng cách sử dụng các dữ liệu sau khi chuyển đổi hiệu ứng cố định Trong trường hợp có hệ số chặn chế độ, như mô hình (2), độ dốc ước tính cho mỗi chế độ đồng nhất đối với các ước tính hồi quy sử dụng những quan sát tương ứng

Trang 35

các chế độ phản ánh tính trực giao của nhân tố hồi qui (x i ≤ x m)và (x i >x m) Sự

bỏ sót bất kỳ biến tương quan với ít nhất một nhân tố hồi qui và biến phụ thuộc sẽ gây ra ước tính sai lệch, nhưng các hệ số chặn chế độ là một trường hợp đặc biệt Đầu tiên, sai lệch có thể được giải thích rõ ràng Ước tính mô hình ngưỡng của Hansen (1999) với hệ số chặn chế độ trong dữ liệu tạo ra kết quả sai lệch tương ứng với δ1 vì tính trực giao của nhân tố hồi qui không được duy trì nữa Thứ hai, xem hệ số chặn chế độ là một nhân tố hồi qui không phải là một vấn đề vì chúng

dễ dàng được xây dựng như các nhân tố hồi qui ngoại sinh tùy thuộc vào chế độ cho một ngưỡng cho trước

Phương thức ước tính ngưỡng được thực hiện như phương thức ước tính các

hệ số hồi quy của mô hình Hansen (1999) đã nêu ở trên Theo đó, ước tính ngưỡng được thực hiện bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất:

(3)

Với S1(y) là tổng của phần dư bình phương từ phương trình (2) cho một γ

ngưỡng cho trước

3.1.2.2 Đo lường

Không mất tính tổng quát, giả định T=1; vô hướng

ngưỡng mở rộng được rút gọn lại thành:

Ước tính hệ số cho công thức trên như sau

Trang 36

Về hệ số chặn trong mô hình ngưỡng:

Thiết lập trong mô hình Hansen (1999) được mở rộng cho phép hệ số chặn như trong mô hình trên Đầu tiên, giả thiết vô hiệu để kiểm định sự tồn tại của ngưỡng được thực hiện với Thứ hai, đạo hàm phân phối tiệm cận của ngưỡng ước tính dựa trên giả định kỹ thuật bổ sung là N Điều này ngụ ý sự khác biệt giữa các hệ số chặn của các hệ số chặn thì ‘nhỏ’ tùy thuộc kích

cỡ mẫu hoàn toàn tương tự với giả thiết về các hệ số dốc, (

3.1.3 Mô hình áp dụng:

Là mô hình ngưỡng duy nhất đã bao gồm hệ số chặn

- Biến phụ thuộc (dgdp) là tỷ lệ tăng trưởng GDP trên đầu người

- Các biến lạm phát có vai trò như nhân tố hồi qui phụ thuộc vào chế độ

và biến ngưỡng và là một biến đổi bán-logarit của lạm phát với it = it-l, nếu

it<1 và it= ln it, nếu it ≥ 1 Sử dụng mức độ lạm phát trong hồi quy tăng trưởng ngụ ý rằng tác động biên của lạm phát lên tăng trưởng kinh tế độc lập với

Trang 37

mức trung bình của lạm phát, nhưng trái lại, mô hình logarit hợp lý hơn khi ngụ ý rằng tác dụng của những cú sốc gây ra bởi bội số lạm phát thì giống hệt nhau

- wit bao hàm các biến kiểm soát có quan hệ tương quan đến tăng trưởng kinh tế Dựa vào các nghiên cứu trước đây, bài viết xác định các biến kiểm soát bao gồm:

(i) Thu nhập ban đầu tính bằng hàm logarit GDP trên đầu người thời kỳ trước, được sử dụng để kiểm soát độ hội tụ có điều kiện Ký hiệu : initial

(ii) Tổng đầu tư trong nước (tỷ lệ phần trăm với GDP) Ký hiệu: igdp (iii) Tăng trưởng dân số hàng năm Ký hiệu: pop

(iv) Thay đỏi tỷ lệ mậu dịch (term of trade) hàng năm và độ lệch chuẩn của

tỷ lệ mậu dịch Ký hiệu : dtot (term of trade) và sdtot (độ lệch chuẩn của tỷ lệ mậu dịch)

(v) Mở cửa thương mại (openess) - tính theo tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu theo tỷ lệ phần trăm GDP và độ lệch chuẩn của nó Ký hiệu: open (openess) và sdopen (độ lệch chuẩn của mở cửa thương mại)

Tuy nhiên, theo bài nghiên cứu của tác giả Bick (2010), độ mở cửa thương mại và độ lệch chuẩn của nó không được bao gồm trong mô hình kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Do đó, bài viết thực hiện kiểm định mối quan hệ lạm phát và tăng trưởng qua hai mô hình, mô hình thứ nhất không bao gồm biến độ mở cửa thương mại (open) và độ lệch chuẩn độ mở cửa thương mại (sdopen) và mô hình thứ hai bao gồm hai biến này

3.2 Dữ liệu:

- Mẫu dữ liệu: gồm 296 quan sát của 74 nước đang phát triển trong giai đoạn 1993-2012, bao gồm: Algeria, Angola, Antigua and Barbuda, Bahamas,

Ngày đăng: 11/01/2018, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm