Luận văn nghiên cứu tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ số đánh giá như: chỉ số tiếng nói và tính giải trình, chỉ số tính ổn định chính trị, ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THU SƯƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THU SƯƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CÔNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, rõ ràng và cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Học viên
Nguyễn Thu Sương
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Dữ liệu 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những phát hiện mới của luận văn 4
6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 - TỔNG QUAN 5
1.1 Dẫn nhập 5
1.2 Định nghĩa thể chế công 5
1.3 Sự khác biệt về chính trị và thể chế của một số nước 8
1.4 Mô hình tăng trưởng nội sinh và vai trò của Chính phủ 11
1.5 Lý thuyết về thể chế và hoạt động kinh tế 14
1.6 Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm 15
Chương 2 - MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Mô hình nghiên cứu 28
Trang 52.2 Dữ liệu nghiên cứu 38
2.2.1 Dữ liệu về thể chế công 41
2.2.2 Dữ liệu về các biến giải thích khác 44
2.3 Phương pháp nghiên cứu 46
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 Kết quả kiểm định bằng phương pháp random effect (REM) 49
3.2 Kết quả kiểm định bằng phương pháp fixed effect (FEM) 51
3.3 Kiểm định để lựa chọn mô hình thích hợp 53
3.3.1 Kiểm định Hausman 53
3.3.2 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 53
Chương 4 - KẾT LUẬN 59 Tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AFDB: Ngân hàng phát triển Châu Phi
CCI: Chỉ số kiểm soát tham nhũng
DPR: Tỷ lệ người phụ thuộc
EIU: Economist Intelligence Unit Riskwire & Democracy Index
FDI: Đầu tư trực tiếp mước ngoài
FEM: Mô hình tác động cố định
FRH: Freedom House
GCS: World Economic Forum Global Competitiveness Report
GDP: GDP thực bình quân đầu người
GEI: Chỉ số hiệu quả Chính phủ
GFC: Tổng nguồn vốn cố định
GLS: Phương pháp bình phương tổng quát
HER: Heritage Foundation Index of Economic Freedom
HHC: Chi tiêu thực bình quân đầu người của hộ gia đình
HUM: Cingranelli Richards Human Rights Database and Political Terror Scale
PRS: Political Risk Services International Country Risk Guide
PSI: Chỉ số bất ổn chính trị và không có bạo lực
REM: Mô hình tác động ngẫu nhiên
RLI: Chỉ số quy định của pháp luật
RQI: Chỉ số chất lượng điều tiết
SCH: Tỷ lệ số học sinh đến trường
TEL: Số điện thoại cố định/100 dân
TRD: Thương mại
VAI: Chỉ số tiếng nói và trách nhiệm giải trình
WGI: The Worldwide Governance Indicators
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kỳ vọng dấu các biến giải thích 38
Bảng 2.2 Mô tả các biến giải thích và thống kê 44
Bảng 2.3 Ma trận tương quan giữa các biến 46
Bảng 3.1 Kết quả ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 50
Bảng 3.2 Kết quả ước lượng mô hình tác động cố định (FEM) 52
Bảng 3.3 Kết quả kiểm định Hausman 53
Bảng 3.4 Kết quả kiểm định Breusch – Pagan Lagrangian Multiplier 54
Bảng 3.5 Kết quả ước lượng mô hình FGLS 58
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đến nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng Các nghiên cứu này xem xét tác động của nhiều nguồn khác nhau đến tăng trưởng như: phân cấp tài khóa, lạm phát, yếu tố lao động, thương mại, viện trợ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), yếu tố địa lý và hàng loạt các yếu tố khác tác động đến tăng trưởng kinh tế trong khuôn khổ của mô hình tân cổ điển Cho đến đầu những năm 90, vấn đề chất lượng thể chế đã trở thành một khái niệm quan trọng trong các cuộc tranh luận quốc tế về phát triển và chính sách
Việc nhấn mạnh yếu tố chất lượng thể chế được đặt nền tảng dựa trên các lý thuyết về mối liên hệ giữa thể chế và tăng trưởng, khủng hoảng kinh tế do Acemoglu et
al (2002), Rodrik et al (2002), Fukuyama (1995), Sen (1999), Johnson et al (2000) trình bày cũng như lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymmetric information) trong thị trường tài chính của Mishkin (1996, 2001) Đây chỉ là những tác giả tiêu biểu trong số rất nhiều tác giả Fukuyama (1995) cũng cho rằng sự tin tưởng lẫn nhau trong xã hội (trust) sẽ làm giảm chi phí quản lý, tăng cường tầm cỡ và hiệu quả của chính phủ, qua
đó ngăn ngừa được khủng hoảng và đóng góp tốt cho tăng trưởng kinh tế Lòng tin là yếu tố quan trọng trong thị trường tài chính, nếu thực sự có lòng tin thì thị trường sẽ hoạt động ổn định và ít đổ vỡ diện rộng
Acemoglu et al (2002) gợi ý rằng các nước có các chính sách kinh tế vĩ mô kém hoặc không nhất quán thường có thể chế yếu, không có các ràng buộc quyền lực đối với các chính trị gia, bảo vệ quyền sở hữu kém và tham nhũng ở mức độ cao Các chính sách kinh tế không nhất quán là triệu chứng của thể chế yếu kém chứ không phải
là nguyên nhân của khủng hoảng Trong khi Mishkin (1996, 2001) dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng tìm hiểu nguyên nhân khủng hoảng (ví dụ như hiện tượng tâm
Trang 9lý ỷ lại - moral hazard) và từ đó đề nghị các chính sách ngăn ngừa bằng luật lệ và quy định chặt chẽ cho thị trường tài chính, đặc biệt là sự cam kết trách nhiệm của chính phủ
và tính minh bạch thông tin trong các thị trường và chính sách
Trong lịch sử, đa phần các quốc gia trong khu vực ASEAN đều trải qua thời kỳ bị thống trị bởi những cường quốc, do đó về mặt văn hóa, chính trị, thể chế công cũng bị ảnh hưởng và có sự pha trộn từ nhiều nguồn khác nhau Các nước này đã phải trải qua một quá trình khôi phục, chỉnh đốn và hiện nay đã dần đi vào ổn định Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vấn đề thể chế công đã trở thành vấn đề quan tâm cấp bách của nhiều quốc gia
Khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, các hoạt động kinh tế, xã hội càng tinh
vi, nếu năng lực thể chế không theo kịp sẽ dẫn đến sự suy thoái của nền kinh tế Tuy nhiên, nhận định trên chỉ mang tính lý thuyết, trực giác Nhưng nếu xét về mặt thực tiễn thì chất lượng thể chế công có ảnh hưởng không và nếu có sẽ ảnh hưởng như thế
nào đến tăng trưởng Để giải quyết câu hỏi đặt ra đó, tác giả đã chọn đề tài “Tác động
của chất lượng thể chế công đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN”
để nghiên cứu và thực hiện luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu này là để phân tích cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm tác động của chất lượng thể chế công đến tăng trưởng bằng cách xem xét các khía cạnh khác nhau của khái niệm về thể chế công
Luận văn nghiên cứu tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế thông qua các chỉ số đánh giá như: chỉ số tiếng nói và tính giải trình, chỉ số tính ổn định chính trị, chỉ số hiệu quả của chính phủ, chỉ số chất lượng điều tiết, chỉ số quy định của pháp luật
và chỉ số kiểm soát tham nhũng
Thông qua nghiên cứu, tác giả muốn làm rõ những câu hỏi nghiên cứu như: chất lượng thể chế công có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không? Và nếu có, tác
Trang 10động sẽ như thế nào? Từ đó, tác giả có hướng đề xuất những giải pháp, chính sách thúc đẩy tăng trưởng bền vững, ổn định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu tác động của chất lượng thể chế công đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia khu vực ASEAN giai đoạn 1996 – 2012
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động chất lượng thể chế đến tăng trưởng kinh tế 8 quốc gia
khu vực ASEAN giai đoạn 1996 – 2012 thông qua 6 biến chính VAI - chỉ số tiếng nói
và trách nhiệm giải trình, PSI - chỉ số tính ổn định chính trị, GEI - chỉ số hiệu quả của chính phủ, RQI - chỉ số chất lượng điều tiết, RLI - chỉ số quy định của pháp luật và CCI - chỉ số kiểm soát tham nhũng Ngoài 6 biến trên, tác giả còn sử dụng thêm một
biến như mô hình (1) đã nêu
4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Dữ liệu
Dữ liệu về thể chế và nền kinh tế của các quốc gia khu vực ASEAN được thu thập giai đoạn 1996 – 2012 từ WDI (World Bank Development Indicators)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở xây dựng các dữ liệu để tiến hành kiểm định tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế thông qua phương pháp bình phương bé nhất (OLS), mô hình tác động cố định (fixed effect model), mô hình tác động ngẫu nhiên (random effect model)
và một số kiểm định cần thiết khác để lựa chọn mô hình thích hợp nhất Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục những khuyết điểm của OLS
Mô hình nghiên cứu được thực hiện cụ thể như sau:
Trang 11GDPit = α + β1GFCit + β2SCHit + β3TRDit + β4AIDit + β5FDIit + β6HHCit + β7DPRit + β8TELit + β9GGit + ε it(1)
Các biến của mô hình sẽ được mô tả chi tiết ở chương 3
5 Những phát hiện mới của luận văn
Thông qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn chỉ ra rằng chất lượng thể chế công có tác động đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia khu vực ASEAN, những quốc gia có chất lượng thể chế công tốt sẽ thúc đẩy tăng trưởng ổn định, và ngược lại,
ở những nước có thể chế công kém sẽ kéo theo tăng trưởng chậm
Ngoài ra, luận văn còn đóng góp một phần quan trọng vào nghiên cứu về thể chế công Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt trong thể chế công ở những quốc gia sẽ khác nhau, và mỗi dẫn xuất khác nhau của thể chế công sẽ có tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả xem như một nghiên cứu mới để nhìn nhận một cách khách quan về thực trạng và chất lượng thể chế công của các quốc gia khu vực ASEAN Qua đó, tác giả cung cấp một số đề xuất cần thiết cho hoạch định chính sách
6 Kết cấu của luận văn
Phần còn lại của luận văn được tổ chức như sau: Chương 1 cung cấp một định nghĩa thể chế công dựa trên các định nghĩa được sử dụng trong các nghiên cứu trước
đó và xem xét ngắn gọn các tài liệu về thể chế công và hiệu quả kinh tế Trong Chương
2 sẽ phát triển một mô hình lý thuyết đơn giản liên kết thể chế công và tăng trưởng kinh tế, mô tả các phương pháp ước lượng thực nghiệm và dữ liệu nghiên cứu Chương
3 trình bày và thảo luận về kết quả thực nghiệm Chương 4 kết luận của luận văn và đề xuất hoạch định chính sách
Trang 12Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Dẫn nhập
Hơn 15 năm qua, các lý thuyết về thể chế công và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế từng bước được thực hiện Lý thuyết này được thúc đẩy bởi mối tương quan rõ ràng giữa chất lượng thể chế công và sự khác biệt về mức sống giữa các quốc gia Vì vậy, chương này sẽ cung cấp một cuộc khảo sát một vài phát hiện chính bắt nguồn từ một số nghiên cứu trước đó Chương này cũng sẽ thảo luận về các biện pháp thể chế công được sử dụng trong các nghiên cứu và làm nổi bật một số khó khăn trong việc đánh giá tác động kinh tế của thể chế công cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm Ngoài ra, luận văn sẽ xem xét một số các nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân của sự khác biệt về thể chế giữa các nước
Cơ cấu chương 1 như sau: phần đầu tiên tóm tắt, xem xét các định nghĩa khác nhau về thể chế công đã được đưa ra từ các nhà nghiên cứu trước trong lĩnh vực này Trong phần thứ hai sẽ thảo luận về những nguyên nhân của sự khác biệt về chất lượng của thể chế Trong phần thứ ba sẽ xem xét các liên kết giữa lý thuyết chất lượng thể chế công và hiệu quả kinh tế như đã được thiết lập trong các nghiên cứu Cuối cùng, trong phần thứ tư sẽ làm nổi bật những nghiên cứu thực nghiệm về thể chế công, các phương pháp khác nhau của thể chế công được sử dụng trong các nghiên cứu khác nhau và các vấn đề gặp phải trong nghiên cứu thực nghiệm tác động của thể chế công
đến các biện pháp quản lý hoạt động kinh tế
1.2 Định nghĩa thể chế công
Việc định nghĩa những yếu tố cấu thành thể chế công đã phát triển trong những năm qua Schneider (1999) định nghĩa chất lượng thể chế công như là việc thi hành thẩm quyền hoặc kiểm soát để quản lý hoạt động và tài nguyên của một quốc gia Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID, 2002) theo khía cạnh khác đã định nghĩa thể chế công là một hệ thống phức tạp của sự tương tác giữa các cấu trúc, truyền thống,
Trang 13chức năng và quy trình đặc trưng bởi giá trị của trách nhiệm giải trình, tính minh bạch
và sự tham gia UNDP (2002) định nghĩa thể chế công là phấn đấu vì quy định của pháp luật, tính minh bạch, công bằng, hiệu quả, trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược trong việc thực thi quyền lực chính trị, kinh tế và hành chính
Trong khi các tài liệu không cung cấp bất kỳ định nghĩa chính xác duy nhất nào
về thuật ngữ thể chế công, nhưng dường như có một sự thống nhất về các khía cạnh của nó “Thể chế công liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý
và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục vụ” Jreisat (2002) Các khía cạnh này bao gồm các tổ chức của hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị, phân bổ các nguồn lực công cho các thành viên của xã hội, việc thu hồi và thực thi quyền lực chính trị, tất cả đều quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội bất kỳ
Như đã thảo luận bởi Keefer (2004), thuật ngữ thể chế công “rất đàn hồi và đa chiều” Tuy nhiên, Keefer (2004) cũng chỉ ra rằng hầu hết các định nghĩa đều liên quan đến “mức độ mà các chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt lõi nhất định, chẳng hạn như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân”
Vì bản chất đa chiều của thể chế công, một số định nghĩa đã xuất hiện trong các tài liệu Ngân hàng Thế giới định nghĩa thể chế công là “thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của một quốc gia” Ngân hàng Phát triển châu Phi (1999) mở rộng định nghĩa của Ngân hàng Thế giới để thích ứng với nền kinh tế toàn cầu thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa AfDB định nghĩa thể chế công là “một quá trình đề cập đến cách thức mà quyền lực được thực thi trong việc quản lý vấn đề công của một quốc gia và mối quan hệ với các quốc gia khác”
Điều quan trọng cần lưu ý là các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới và AfDB dường như chú trọng nhiều hơn về hiệu quả của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ
Trang 14cho các thành viên trong xã hội của họ Tuy nhiên, như được thảo luận bởi Keefer (2004), khái niệm rộng hơn về thể chế công nên bao gồm các cơ chế khuyến khích chi phối các hành động của các tác nhân chính trị Đây là vấn đề của hệ thống chính trị và kinh tế
Những nghiên cứu trước đây về phát triển kinh tế ngầm giả định rằng các chính trị gia sẽ đưa ra quyết định tối đa hóa phúc lợi xã hội Dethier (1999) đã đưa ra quan điểm rằng “chính phủ không phải là nhà độc tài nhân từ mà là những người tìm kiếm cách để tối đa hóa phúc lợi xã hội, nhưng cấu trúc thể chế phức tạp đặc trưng bởi các mối quan hệ đại diện”.Sử dụng hiệu quả các nguồn lực công không chỉ phụ thuộc vào thể chế (hạn hẹp như là cấu trúc tổ chức), mà còn phụ thuộc vào các chương trình ưu đãi trong các tổ chức công Dethier (1999)
Một định nghĩa rộng hơn về thể chế được cung cấp bởi North (1990) là “những quy tắc của những trò chơi trong xã hội hoặc chính thức hơn là “những trở ngại mà con người đặt ra để hình thành sự giao tiếp giữa con người với nhau trong xã hội” Định nghĩa rộng hơn này quy định cơ chế khuyến khích trong cơ chế ra quyết định Một định nghĩa khác ám chỉ tới cái nhìn toàn diện hơn về thể chế này được cung cấp bởi Kaufman và Kraay (2002)
Kaufmann và Kraay (2002) định nghĩa thể chế công là “truyền thống và các tổ chức mà chính quyền được thực thi trong một quốc gia” Theo các tác giả, điều này bao gồm quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; khả năng của chính phủ để thiết lập và thực thi chính sách; sự tôn trọng của người dân và nhà nước đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội Đặc biệt, quá trình mà các chính phủ được tuyển chọn và giám sát tác động rất lớn đến cơ chế khuyến khích trong các tổ chức chính phủ
Tóm lại, hiệu quả của các chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân của họ rõ ràng không phải là ngoại sinh - nó phụ thuộc vào cơ chế khuyến khích, do đó phụ thuộc vào việc lựa chọn và giám sát chính trị và những nhà hoạch định chính sách
Trang 15khác Phần sau của chương này sẽ thảo luận về các khía cạnh của thể chế đặt ra những thách thức nghiêm trọng cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm trong nghiên cứu tác động của thể chế đến tăng trưởng kinh tế
1.3 Sự khác biệt về chính trị và thể chế của một số nước
Cuộc điều tra trong nỗ lực tìm hiểu tác động kinh tế của thể chế công đã đưa ra phát hiện quan trọng là nên tập trung vào những nguyên nhân của sự khác biệt về thể chế giữa các nước Nói cách khác, tại sao một số quốc gia có thể chế tương đối kém hiệu quả thì việc cung cấp các dịch vụ cho công dân của họ lại kém hơn so với các nước khác? Tại sao tham nhũng tràn lan ở một số nước mà không có ở những nước khác? Tại sao chúng ta quan sát sự khác biệt trong quan liêu, bảo vệ quyền sở hữu…giữa các quốc gia? Những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực phát triển kinh tế đã nỗ lực để trả lời một số trong các câu hỏi trên Phần này cung cấp một đánh giá ngắn gọn của một vài nghiên cứu
La Porta et al (1999) đã đề cập đến vai trò của nguồn gốc thuộc địa trong việc giải thích sự khác biệt về thể chế hiện hành Các tác giả nhận thấy rằng những nước mà trước đây là thuộc địa của Anh có thể chế tốt hơn trong việc bảo vệ quyền sở hữu so với các nước trước đây là thuộc địa của Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha Phát hiện của họ được hỗ trợ bởi các tác giả khác, những người đã nhận thấy rằng thuộc địa của Anh đã áp dụng hệ thống pháp lý luật phổ biến (trái ngược với luật dân sự được mã hóa của Pháp) thì có thể chế kinh tế tốt hơn (Landes, 1998)
Acemoglu et al (2001) sử dụng một biến thể của mối liên hệ giữa thực dân và các thể chế hiện hành hoặc chất lượng thể chế Họ nhìn vào “điều kiện ở các thuộc địa” chứ không phải ở các nước thực dân Tranh luận rằng các thể chế hiện tại là kết quả của loại hình thực dân định cư so với thực dân khai thác Thực dân định cư là những người thực dân Châu Âu thành lập các khu định cư như Úc, Canada, Hoa Kỳ và New Zealand Mặt khác, các thuộc địa khai thác là những nước mà các cường quốc thực dân khai thác nguyên vật liệu mà không cần thiết lập các khu định cư vĩnh viễn
Trang 16Acemoglu et al (2001) cho rằng sự lựa chọn loại hình chủ nghĩa thực dân với các điều kiện ở các thuộc địa có thể được quan sát thấy từ tỷ lệ người châu Âu định cư tử vong Ở những nơi mà tỷ lệ người định cư tử vong cao thì loại hình thuộc địa khai thác được thành lập Vì vậy, các thể chế về bảo vệ quyền sở hữu không được đưa ra Mặt khác, các thuộc địa định cư được đặc trưng bởi thể chế nhằm bảo vệ quyền sở hữu Các tác giả còn cho rằng điều này giải thích sự khác biệt trong thể chế hiện hành vì chất lượng thể chế có xu hướng tồn tại
Ndulu và O’Connell (1999) cũng chỉ ra những nguyên nhân lịch sử như một lời giải thích chính đáng cho các thể chế chính trị kém của khu vực châu Phi hạ Sahara Ngoài chế độ thực dân, họ thảo luận về thời đại hậu thuộc địa được đặc trưng bởi chế
độ độc tài dân sự trong những năm 60 và 70 Tiếp theo đó là chế độ độc tài quân sự trong những năm 80 Họ cũng cho rằng tác động tiêu cực của những sự kiện chính trị liên tiếp được khuếch đại bởi tác động của chiến tranh lạnh mà kết quả rơi vào “một cuộc chiến để kiểm soát tư tưởng của các cường quốc lớn trong chiến tranh” - Hoa Kỳ và Liên Xô Điều này có thể hoặc ít nhất một phần giải thích hiện trạng phát triển thể chế ở các nước này, do đó giải thích mức độ hoạt động kinh tế
Ý nghĩa của các sự kiện chính trị hậu thuộc địa tại khu vực châu Phi hạ Sahara và châu Mỹ La tinh đặc trưng bởi quy luật chủ nghĩa thuộc về nhà thờ, có thể liên quan đến việc “điểm xung đột xã hội” được đưa ra bởi Acemoglu et al (2004) Theo quan điểm này, các thể chế được lựa chọn bởi những người kiểm soát quyền lực chính trị
Do đó, các thể chế được lựa chọn sẽ là tối đa hóa lợi ích của các nhóm quyền lực chính trị chứ không phải là lợi ích xã hội
Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý rằng, trong bối cảnh các cuộc thảo luận về quy luật hậu thuộc địa tại khu vực Châu phi hạ Sahara và châu Mỹ La tinh, sự xuất hiện của quy luật thuộc về chủ nghĩa nhà thờ được cho là kết quả trực tiếp của thể chế thuộc địa thiết lập để tối đa hóa lợi ích của chủ nghĩa thực dân - một hình thức của “điểm xung đột xã hội” Acemoglu et al (2004) cũng đề cập một số lý do chính đáng khác cho sự khác
Trang 17biệt về thể chế giữa các nước Một trong những lý do mà họ gọi là “điểm hệ tư tưởng”,
ở đó tác nhân chính trị thiện chí không đồng ý về những thể chế tốt cho xã hội của họ
Do sự không chắc chắn này, “những xã hội lần lượt được chỉnh đốn sau đó là những xã hội phát triển thịnh vượng”
Một số tác giả khác đã liên kết chất lượng thể chế với một biến khác như ngôn ngữ dân tộc La Porta et al (1999), Mauro (1995) Theo nghiên cứu thực nghiệm, phân mảnh ngôn ngữ dân tộc thường được đo bằng khả năng mà bất kỳ hai công dân chọn ngẫu nhiên thuộc các nhóm dân tộc khác nhau Giả thuyết ở đây là xã hội bị chia cắt nhiều sẽ có thể chế yếu kém Lý do cho giả thuyết này là gì? Một câu trả lời xác đáng cho câu hỏi này là xã hội như thế rất ít khả năng để thống nhất về bất kỳ một tập hợp các thể chế nào so với các xã hội đồng nhất hơn Một cách giải thích thứ hai cho quan sát này là mâu thuẫn xã hội gia tăng rất lớn trong các xã hội dân tộc bị chia cắt và các nhóm mạnh về chính trị sẽ thiết lập thể chế để tối đa hóa phúc lợi của nhóm mình Hơn nữa, La Porta et al (1999) tìm thấy rằng các nước nghèo hoặc có một tỷ lệ cao người Công giáo hoặc Hồi giáo thì chính phủ sẽ hoạt động kém hiệu quả hơn những nước khác Họ đo lường hiệu quả của chính phủ trong việc sử dụng các biện pháp can thiệp của chính phủ (bảo vệ quyền sở hữu, điều lệ thương nghiệp và thuế), hiệu quả của chính phủ (trì hoãn quan liêu, tham nhũng…) sản lượng hàng hóa công và quy mô của khu vực công Họ lập luận rằng các tác động tiêu cực của Công giáo và Hồi giáo có thể là kết quả của “việc sử dụng tôn giáo cho mục đích chính trị tại các quốc gia Hồi giáo và Công giáo và sự cạnh tranh phá hoại giữa giáo hội và nhà nước ở các quốc gia Công giáo nói riêng” Cạnh tranh như vậy có thể dẫn đến những chính sách không có lợi cho thị trường hoạt động hiệu quả
Vấn đề Địa lý (độ cao và khí hậu) cũng liên quan đến chất lượng của thể chế Một lần nữa, La Porta et al (1999) cho thấy rằng các quốc gia gần đường xích đạo thì chính phủ hoạt động kém hiệu quả hơn Một lập luận cho mối quan hệ này được trình bày bởi Hall (1999), liên quan đến vĩ độ “Ảnh hưởng phương Tây”, dẫn đến thể chế tốt hơn
Trang 18Tuy nhiên, nhược điểm trong lập luận này đó là vị trí địa lý (được đo lường khoảng cách gần với đường xích đạo) có thể có một tác động trực tiếp lên thu nhập bình quân đầu người, do đó tác động đến chất lượng thể chế (Acemoglu, Johnson và Robinson (2001), Bloom et al (1998)) Khí hậu ấm áp có thể có liên quan đến năng suất thấp hơn và do đó làm cho thu nhập thấp Bởi vì xã hội thịnh vượng có liên quan đến thể chế tốt hơn, ảnh hưởng của địa lý về chất lượng thể chế có thể thực sự được truyền đi thông qua thu nhập thay vì khoảng cách so với “Ảnh hưởng phương Tây” như lập luận của Hall và Jones (1999)
Cuối cùng, Knack (2000) nghiên cứu tác động của sự phụ thuộc vào viện trợ của chất lượng thể chế Ông thấy rằng “sự lệ thuộc viện trợ sẽ làm suy yếu chất lượng thể chế vì nó làm yếu đi trách nhiệm, khuyến khích tìm kiếm đặc lợi và tham nhũng, kích động xung đột quyền kiểm soát các quỹ viện trợ, bòn rút tài năng khan hiếm từ bộ máy quan liêu và giảm áp lực cải cách chính sách và thể chế hiệu quả” Mặc dù những phát hiện này là đáng tin cậy, những điều này có thể có vấn đề lựa chọn mẫu theo ý nghĩa là nước phụ thuộc viện trợ thường người nghèo và có thể chế kém hơn Knack (2000) đã khắc phục những vấn đề này bằng cách sử dụng biến tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh vào năm
1980 và GDP bình quân đầu người ban đầu
1.4 Mô hình tăng trưởng nội sinh và vai trò của Chính phủ
Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là mô hình chuẩn đầu tiên, hội tụ được khá nhiều các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn Thế nhưng, mô hình tăng trưởng tân cổ điển vừa là một thành công lớn, lại vừa là một thất bại lớn Một hạn chế lớn nhất của mô hình tăng trưởng tân cổ điển là trong dài hạn, nguồn tác động đến tốc
độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người duy nhất trong mô hình này là tốc độ tăng hiệu quả lao động lại được xác định một cách ngoại sinh
Những hạn chế của mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã thúc đẩy nhiều hướng nghiên cứu mở rộng mô hình để phù hợp hơn với thực tế của các nước đang phát triển và đã đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh Gọi là mô hình tăng
Trang 19trưởng nội sinh là bởi các mô hình tăng trưởng mới này cố gắng nội hoá sự tăng trưởng, nghĩa là giải thích tăng trưởng bên trong một mô hình của nền kinh tế
Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, tăng năng suất có được từ tích luỹ vốn con người hay các hoạt động phát minh sáng chế là yếu tố tạo nên tăng trưởng dài hạn của thu nhập bình quân đầu người Do đó, tăng năng suất - “làm việc thông minh hơn” chứ không phải là “làm việc chăm chỉ hơn” - là yếu tố thiết yếu của tăng trưởng kinh tế nói chung
Nếu như lực lượng chính của tăng trưởng kinh tế không phải là sự tích luỹ vốn hữu hình (như quan điểm truyền thống) mà là tiến bộ công nghệ (được hiểu theo nghĩa rộng là tổng năng suất), thì cho dù các nước nghèo có khả năng tiết kiệm thấp vẫn có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nếu có thể nhập khẩu công nghệ từ các nền kinh tế tiên tiến Khi đó, việc đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và phát triển (hỗ trợ hoạt động cải tiến ở các doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả nhập khẩu công nghệ nước ngoài) sẽ mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao hơn là việc chỉ cố gắng gia tăng lượng vốn hữu hình
Các mô hình tăng trưởng nội sinh, đặc biệt là các mô hình xét đến vốn con người đã góp phần giải thích đáng kể sự chênh lệch về thu nhập giữa các quốc gia Các mô hình này cho thấy không có xu hướng các nước nghèo (ít vốn) có thể đuổi kịp các nước giàu về mức thu nhập bình quân, cho dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm
Nguyên nhân bắt nguồn từ sự chênh lệch không chỉ ở lượng vốn vật chất (có thể
bù đắp nhờ đầu tư và viện trợ nước ngoài) mà quan trọng hơn là ở vốn con người Bởi thế, ý nghĩa to lớn của các mô hình tăng trưởng nội sinh là: tốc độ tăng trưởng dài hạn
có thể phụ thuộc vào hành động chính sách của chính phủ (đánh thuế, cung ứng cơ sở
hạ tầng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, cung cấp các dịch vụ công liên quan đến giáo dục, y tế…), vì các chính sách này có thể tác động tới các hoạt động sáng chế, phát minh và tích lũy vốn con người
Trang 20Tuy nhiên, các mô hình tăng trưởng nội sinh còn bỏ qua những yếu tố như sự yếu kém về cấu trúc hạ tầng, cấu trúc thể chế ở các nước đang phát triển, mà đây cũng là những yếu tố kìm hãm tăng trưởng, giống như mức tiết kiệm và tích luỹ vốn con người thấp Từ lâu người ta đã nhận ra rằng các nhân tố phi kinh tế có mối tương tác với quá trình tăng trưởng Tuy nhiên, trong các mô hình tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh, lịch sử và thể chế không có vai trò gì
Các kỹ thuật tính toán tăng trưởng đo tầm quan trọng tương đối của mức vốn, lao động và công nghệ trong quá trình tăng trưởng kinh tế chỉ thực hiện trong khuôn khổ một hàm sản xuất kinh tế vĩ mô Thế nhưng các nhà kinh tế thể chế hiện đại lập luận rằng thể chế là cấu trúc mang tính thúc đẩy của một xã hội, do đó các luật lệ, quy tắc…tạo nên nền tảng thể chế của một xã hội sẽ chi phối sự phân bổ các nguồn lực của xã hội và nền kinh tế, và do vậy có ảnh hưởng lớn đến năng suất
Nếu như các mô hình kinh tế về tích tụ các yếu tố sản xuất thay đổi công nghệ nội sinh chỉ cung cấp những lời giải thích gần đúng cho tăng trưởng kinh tế tương đối, thì những mô hình nào đưa ra lời giải thích đáng tin cậy hơn cả? Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng thể chế mới là yếu tố cơ bản quyết định cho tăng trưởng kinh tế Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết thể chế và các thể chế kinh tế, để có các đánh giá khách quan hơn, cần xem xét tới vai trò cũng như hoạt động của chính phủ.Mô hình nội sinh nêu lên những hạn chế về khả năng rượt đuổi của các nước đang phát triển bởi
sự hạn chế về khả năng vốn con người Giải pháp để những nước này thoát nghèo và đuổi kịp các nước phát triển chỉ có thể là đầu tư và phát triển nguồn nhân lực Muốn việc đầu tư và phát triển nguồn nhân lực đạt hiệu quả cao thì Chính phủ có vai trò chính yếu nhất
Dường như, việc xem xét và mô hình hoá tác động của các nhân tố phi kinh tế nói chung, và yếu tố thể chế nói riêng, sẽ trở thành một hướng đi mới, một bước tiến mới trong con đường tìm tòi và khám phá “các nguồn tăng trưởng kinh tế” trong tương lai phù hợp với các quốc gia khu vực ASEAN
Trang 211.5 Lý thuyết về thể chế và hoạt động kinh tế
Mặc dù nghiên cứu chi tiết về vai trò của thể chế công đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển là tương đối mới, tầm quan trọng của thể chế công tốt đã được công nhận từ thế kỷ trước được thể hiện trong các nghiên cứu sau đây được lấy từ một trong những bài giảng của Adam Smith: “điều kiện tiên quyết để thực hiện một nhà nước thịnh vượng cao nhất từ một nhà nước có sự man rợ thấp nhất là hòa bình, thuế và một chính quyền của công lý được chấp nhận: tất cả các phần còn lại được mang đến từ tiến trình tự nhiên của sự vật (1755)”
Liên kết được công nhận lâu đời này không có giai đoạn trung tâm trong việc nghiên cứu phát triển kinh tế cho đến khoảng mời lăm năm trước đây, khi mối tương quan giữa chất lượng thể chế và hoạt động kinh tế trở nên rõ ràng hơn được thể hiện trong nghiên cứu khu vực Châu phi hạ Sahara của Ndulu và O’Connell (1999) Họ nhận thấy rằng độc tài gắn liền với nền kinh tế yếu kém Thể chế tốt cho phép công dân tham gia vào hoạt động chính trị và các hoạt động chung của vấn đề công có thể liên quan đến sự trao quyền, do đó có thể nâng cao hiệu quả hoạt động
Trong nghiên cứu đạt giải Nobel của mình, James Buchanan (1986) lập luận rằng các nhà kinh tế nên nhìn vào “Hiến pháp của chính thể kinh tế để kiểm tra các quy định
và những hạn chế mà trong đó các tác nhân chính trị hành động” Ông ngầm cho thấy rằng thể chế không phát triển khi lợi ích vượt quá chi phí từ điểm “lợi ích chung” Trong một nỗ lực để trả lời câu hỏi tại sao một số quốc gia có thể chế kém có xu hướng làm chậm tăng trưởng kinh tế, một số lượng lớn các tác giả đã xem xét mối liên
hệ giữa cấu trúc chính trị hay thể chế, thể chế kinh tế và hiệu quả kinh tế Lý thuyết chính trị cho rằng thể chế được hình thành bởi những người cầm quyền để chuyển nguồn lực cho chính họ (Acemoglu, Johnson, và Robinson, 2004; La Porta et al, 1999) Acemoglu et al (2004) lập luận rằng các nhóm có lợi ích khác nhau sẽ thích thể chế khác nhau và các nhóm có quyền lực chính trị mạnh hơn cuối cùng sẽ quyết định những thể chế nào ưu tiên thực hiện Câu hỏi đặt ra trong phần này là thể chế tác động
Trang 22như thế nào đến hoạt động kinh tế Một trong những câu trả lời cho câu hỏi đó là tìm kiếm đặc lợi và giả thuyết nắm bắt trạng thái Theo giả thuyết này, các tầng lớp quyền lực chính trị có lợi ích mâu thuẫn với lợi ích của công chúng nói chung sẽ tham gia vào các hoạt động tìm kiếm đặc lợi Như vậy, họ sẽ không sẵn sàng để thay đổi hiện trạng Đặc lợi và nhiệm vụ bảo vệ đặc lợi trong tương lai có thể dẫn đến phân bổ không hiệu quả các nguồn lực theo khía cạnh phúc lợi xã hội Hơn nữa, các nguồn lực được dành cho các hoạt động tìm kiếm đặc lợi lãng phí thay vì hoạt động sản xuất (Kimenyi
và Tollison, 1999)
Dethier (1999) cho rằng “hiệu quả sử dụng các nguồn lực công phụ thuộc vào các chương trình khuyến khích của các tổ chức công và cải cách nên tập trung vào việc thiết kế các chương trình đảm bảo cam kết và thực hiện chính sách tối đa hóa phúc lợi
xã hội đáng tin cậy Thể chế tốt cải thiện nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên, do đó nâng cao tăng trưởng kinh tế (Dethier 1999) Các thể chế chính trị thiết lập hệ thống pháp luật quy định các quy tắc kiểm soát biến động Trong một tiến trình chính trị, các nhóm lợi ích khác nhau cạnh tranh quyền lực chính trị, đặc lợi kinh tế trong khuôn khổ các quy tắc được xác định bởi hệ thống pháp luật Nếu không có một cơ chế khuyến khích thích hợp trong các thể chế chính trị, các quy tắc có thể được thiết lập để đem lại lợi ích cho những nhóm đặc biệt có lợi thế chính trị
Nếu không có sự bảo vệ pháp lý cơ bản - nói về quyền sở hữu và chống lại tước quyền sở hữu của chính phủ - sở hữu tư nhân, tốc độ tăng trưởng đầu tư tư nhân bị sụt giảm, do đó sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Đầu tư tư nhân, đặc biệt là đầu tư nước ngoài cũng không được khuyến khích vì quan liêu Điều này sẽ làm chậm tăng trưởng kinh tế
1.6 Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm
Như đã đề cập trong phần trước, những nghiên cứu mang tính lý thuyết không đưa ra câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi liệu thể chế tốt sẽ dẫn đến kết quả kinh tế tốt hơn
Trang 23Trường hợp cụ thể được nêu trên liên quan đến vai trò của thể chế dân chủ đối với phát triển kinh tế Lý thuyết cung cấp bằng chứng cho thấy nền dân chủ cũng như chế độ độc tài có thể tạo áp lực từ các nhóm lợi ích trục lợi Trong cả hai trường hợp, tìm kiếm đặc lợi cản trở phân bổ hiệu quả các nguồn lực và có thể làm chậm tăng trưởng như tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực sản xuất cho các hoạt động trục lợi
Hơn nữa, như đã chỉ ra trước đó, thể chế công là một khái niệm đa chiều trong đó bao gồm cả việc tổ chức hệ thống xã hội, kinh tế và chính trị Vì lý do này, sẽ là hợp lý
để nghi ngờ rằng khía cạnh khác nhau của thể chế có thể có tác động khác nhau đến phát triển kinh tế Những hạn chế của phân tích lý thuyết được bổ sung từ những phân tích thực nghiệm Vì vậy, trong phần sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện trong lĩnh vực này và những hạn chế hoặc các vấn đề thường gặp trong nghiên cứu này và những nghiên cứu tương tự
Một trở ngại lớn thường gặp phải trong bất kỳ một nghiên cứu thực nghiệm nào
để kiểm tra tác động của thể chế công đã được lượng hóa Thật vậy, không có một biện pháp đo lường chất lượng thể chế nào hoàn hảo Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng các chỉ số chủ quan khác nhau của thể chế công dựa trên những quan niệm khác nhau Trong một số trường hợp, các dẫn xuất khách quan (như số lượng các cuộc cách mạng, các vụ ám sát chính trị, bầu cử dân chủ ) đã được sử dụng Một phần trong các tài liệu liên quan đã tập trung vào nghiên cứu các tác động của biến chính trị và thể chế đến mức GDP bình quân đầu người thực tế, một số nghiên cứu khác thì sử dụng tăng trưởng kinh tế
Câu hỏi thường xuyên nhất được nghiên cứu là vai trò của dân chủ trong phát triển kinh tế Hầu hết các nghiên cứu gần đây đã sử dụng các chỉ số về quyền chính trị
và tự do công dân được biên soạn bởi Freedom House để đo lường mức độ dân chủ Các tác giả khác như Barro (1991) đã sử dụng chỉ số bất ổn chính trị và bạo lực chính trị để nghiên cứu tác động của các biến chính trị đến tăng trưởng kinh tế Những dẫn
Trang 24xuất đó bao gồm số lượng các cuộc cách mạng và cuộc đảo chính quân sự và số lượng các vụ ám sát chính trị
Một số tác giả khác đã tập trung vào việc đo lường chính sách bất ổn khách quan Những đo lường này được dựa trên độ lệch chuẩn của các biến như thuế suất, biến tiền
tệ và bóp méo thương mại như là các dẫn xuất cho một khuôn khổ chính sách không chắc chắn (Kormedi và Meguire, 1985)
Những nguồn về thể chế khác thường được sử dụng như the International Country Risk Guide (ICRG) (Cục Hướng dẫn rủi ro quốc gia quốc tế) được tổng hợp bởi nhóm Political Risk Services (PRS) Nhóm PRS là một dịch vụ thương mại cung cấp đánh giá rủi ro tài chính, kinh tế và chính trị cho các nhà đầu tư Các dữ liệu bao gồm các chỉ số về nguy cơ thoái thác các hợp đồng của chính phủ, nguy cơ tước quyền sở hữu của đầu tư tư nhân, tham nhũng trong chính phủ, quy định của pháp luật, chất lượng của bộ máy quan liêu và căng thẳng sắc tộc (Acemoglu, Johnson và Robinson, 2001; Knack
và Keefer, 1995)
Kaufmann và Kraay (2002) tính toán sáu chỉ số tổng hợp về thể chế công từ các chỉ số khác nhau dựa trên khía cạnh khác nhau của thể chế công Các chỉ số tổng hợp
là: (1)Tiếng nói và trách nhiệm: đo lường mức độ mà công dân của một quốc gia có thể
tham gia trong việc lựa chọn chính phủ của họ, cũng như tự do ngôn luận, tự do lập hội
và tự do báo chí (2) Tính ổn định chính trị và không có bạo lực hoặc khủng bố: đo
lường các biện pháp và khả năng chính phủ sẽ bị bất ổn hoặc bị lật đổ bằng phương
tiện tinh vi hoặc bạo lực, bao gồm cả bạo lực chính trị và khủng bố (3) Hiệu quả của
chính phủ: đo lường chất lượng dịch vụ công, chất lượng của các dịch vụ dân sự và
mức độ độc lập khỏi những áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực hiện chính
sách và độ tin cậy của sự cam kết của chính phủ về chính sách đó (4) Chất lượng điều
tiết: đo lường khả năng của chính phủ để xây dựng và thực hiện chính sách, các quy
định cho phép và thúc đẩy phát triển kinh tế ở khu vực tư nhân (5) Quy định của pháp
luật: đo lường mức độ tuân thủ các quy tắc của xã hội, đặc biệt là chất lượng của việc
Trang 25thực thi quyền sở hữu, cảnh sát, tòa án, cũng như khả năng của tội phạm và bạo lực (6)
Kiểm soát tham nhũng: đo lường nhận thức về tham nhũng - được định nghĩa là thực
hiện quyền lực công cho lợi ích cá nhân
Các nghiên cứu khác đã sử dụng các chỉ số riêng khác nhau về chất lượng thể chế công La Porta et al (1999) đo lường hiệu suất hoạt động của chính phủ bằng cách sử dụng các chỉ số của chính phủ can thiệp vào thị trường, trong đó bao gồm các chỉ số quyền tài sản (mức độ pháp luật bảo vệ tài sản cá nhân) và chỉ số điều lệ thương nghiệp (quy định liên quan đến việc mở một doanh nghiệp và duy trì nó hoạt động); hiệu quả hoạt động của chính phủ, trong đó bao gồm các biện pháp phòng chống tham nhũng, quan liêu, tuân thủ thuế và tỷ lệ tiền lương trung bình khu vực công so với GDP bình quân đầu người; sản lượng hàng hóa công được đo bằng tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, trình
độ học vấn, tỷ lệ biết chữ và chất lượng của cơ sở hạ tầng; quy mô của khu vực công, trong đó bao gồm các biện pháp của chính phủ trong trợ cấp và chuyển nhượng, tiêu thụ của khu vực công và một chỉ số của các doanh nghiệp nhà nước
Những phương pháp mang tính chủ quan và dựa trên quan niệm thì không hoàn hảo Những phương pháp đó có thể mắc phải lỗi bị chệch, do đó làm cho việc so sánh giữa những thời kỳ chỉ có ý nghĩa khi các phương pháp khảo sát cùng thời gian Một số biện pháp đo lường chất lượng thể chế công được sử dụng trong nghiên cứu của La Porta et al (1999) có thể gây hiểu lầm như là có thể được đo lường chất lượng của các chính sách cụ thể chứ không phải là chất lượng thể chế công theo nghĩa rộng Ví dụ như trường hợp ở Cuba, với một tỷ lệ người dân biết chữ cao và một hệ thống thể chế công thiếu dân chủ Điều này có thể do một số chính sách cụ thể, đặc biệt chứ không phải do tổng thể chất lượng thể chế công
Biết rằng chất lượng thể chế công là không thể đo lường được, các nhà nghiên cứu thực nghiệm không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng các chỉ số thay cho đo lường thực tế Tuy nhiên, các chỉ số dễ mắc phải lỗi bị chệch, do đó có thể dẫn
Trang 26đến các ước lượng thực nghiệm bị chệch (Dethier, 1999) Như vậy, kết quả từ bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm nào như vậy cần phải được giải thích nhược điểm này
Ngay cả khi giả định rằng các chỉ số được sử dụng là những đo lường chính xác của chất lượng thể chế công, vẫn còn những vấn đề thực nghiệm khác mà một nhà nghiên cứu có gặp phải Đầu tiên, như đã trình bày bởi Dethier (1999), có thể không chắc chắn rằng đo lường ảnh hưởng của thể chế đến hoạt động kinh tế là ảnh hưởng đầu tiên trực tiếp hay là ảnh hưởng thứ hai hoặc thứ ba Điều này đòi hỏi một cuộc kiểm tra sâu hơn các kênh tiềm năng mà thông qua đó chất lượng thể chế tác động đến hoạt động kinh tế
(Isham, Kaufmann và Pritchett, 1997) sử dụng dữ liệu từ Vụ đánh giá hoạt động của Ngân hàng Thế giới (OED) dựa vào hiệu quả của các dự án Chính phủ Họ kết luận rằng tăng tiếng nói và trách nhiệm công dân (tăng cường quyền tự do công dân và dân chủ) tạo nên hiệu quả lớn hơn trong hoạt động công
Ngoài ra, những nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu các tác động kinh tế của thể chế công có thể phải đối mặt với các vấn đề nội sinh Nói cách khác, những yếu tố không quan sát được sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế có thể liên quan với các chỉ số thể chế công Những cú sốc ngẫu nhiên không quan sát được như các cuộc đảo chính quân sự bất ngờ có thể ảnh hưởng đến cả hiệu quả kinh tế và chất lượng thể chế công Nhiều nghiên cứu khác nhau đã sử dụng những biến công cụ (IV) để giải quyết vấn đề này (Acemoglu, Johnson, Robinson, 2001; Barro, 1997; Levin và Renelt, 1992) Tuy nhiên, thách thức lớn đối với những biến ước lượng công cụ này là việc thu thập những giá trị của chất lượng thể chế công Một trong những biến công cụ được sử dụng cho các yếu tố thể chế là đo lường phân mảnh ngôn ngữ dân tộc (Mauro, 1995) để làm công cụ đo lường tham nhũng Tuy nhiên, nếu phân mảnh ngôn ngữ dân tộc có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh tế, nó không phải là một công cụ có giá trị cho các yếu tố thể chế trong phương trình tăng trưởng
Trang 27Như đã đề cập trước đó, Hall và Jones (1999) đã sử dụng khoảng cách tính từ xích đạo để làm biến công cụ đo lường cơ sở hạ tầng xã hội, cho rằng các vĩ độ gần với
“ảnh hưởng phía tây” thì có thể chế tốt hơn Acemoglu et al (2001) lập luận rằng những biến công cụ này thì không hợp lệ do tác động trực tiếp của chúng đến hoạt động kinh tế Vì vậy, để nghiên cứu tác động của các yếu tố thể chế đến GDP bình quân đầu người, họ sử dụng tỷ lệ tử vong người định cư Châu Âu trong suốt thời kỳ thuộc địa như một biến công cụ cho chất lượng thể chế Họ cho rằng bản chất của các thể chế được chế thiết lập bởi thực dân phụ thuộc vào việc họ có thể định cư ở các thuộc địa hay không Quyết định định cư phụ thuộc vào các điều kiện tại các thuộc địa
Kể từ khi thể chế tồn tại, họ lập luận rằng thuộc địa định cư có thể chế tốt hơn Họ kết luận rằng “một khi chất lượng thể chế được kiểm soát, các nước gần đường xích đạo không có thu nhập thấp hơn”
Barro (1997) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm xuyên quốc gia trên các yếu tố quyết định tăng trưởng Hai yếu tố về thể chế - một chỉ số của dân chủ và một chỉ số của các quy định của pháp luật được sử dụng trong nghiên cứu của Barro (1997) Chỉ số dân chủ sử dụng là chỉ số quyền chính trị được lấy từ “Freedom House” Các chỉ số
đo lường phạm vi mà người dân có thể tham gia vào trong quá trình chính trị Nghiên cứu kết luận rằng có một mối quan hệ nhân quả phi tuyến đi từ dân chủ đến tăng trưởng kinh tế Điều này cho thấy “dân chủ làm tăng tốc độ tăng trưởng khi tự do chính trị rất thấp, nhưng làm giảm tăng trưởng sau khi một mức tối ưu nhất định của tự do được đạt tới” Chỉ số quy định của pháp luật được sử dụng trong nghiên cứu của Barro (1997) được lấy từ Political Risk Services (PRS) và International Country Risk Guide (ICRG) Chỉ số quy định của pháp luật được tìm thấy có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng
Một vấn đề thực nghiệm khác liên quan đến nội sinh của các biến thể chế, đặc biệt là trong phương trình hồi quy tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người cũng như hồi quy mức tăng GDP bình quân đầu người là tương đồng Nhiều nghiên cứu khác đã
Trang 28tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả nghịch giữa hiệu quả kinh tế và thể chế như dân chủ và pháp quyền (Chong và Calderon, 2000; Kaufman và Kraay, 2002b) Đặc biệt, Kaufman và Kraay (2002b) tìm thấy một mối tương quan mạnh mẽ và tích cực giữa thu nhập bình quân đầu người và chất lượng thể chế công Phân tích thực nghiệm của họ phá vỡ mối tương quan này: 1) tác động nhân quả tích cực mạnh mẽ từ thể chế tốt hơn với thu nhập bình quân đầu người cao hơn và 2) một mối quan hệ nhân quả yếu kém và tiêu cực từ thu nhập bình quân đầu người đến thể chế Họ gán quan hệ nhân quả tiêu cực từ thu nhập bình quân đầu người đến thể chế để “ảnh hưởng sâu sắc
và nắm bắt trạng thái trở nên phổ biến hơn khi đất nước phát triển” Kaufmann và Kraay (2002b) đã xem mức thu nhập bình quân đối lập với tăng trưởng Những đo lường của họ về thể chế là các chỉ số thể chế tổng hợp được biên soạn bởi các tác giả Trong khi đó, Chong và Calderon (2000) cho thấy tăng trưởng kinh tế làm nâng cao chất lượng thể chế bằng cách cung cấp thêm nguồn lực để cải thiện thể chế hiện hành và hiệu quả của chúng Burkhart và Lewis-Beck (1994) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian cho 131 quốc gia trong giai đoạn 1972-1989 Kiểm tra quan hệ nhân quả Granger và chỉ ra rằng “phát triển kinh tế” tạo ra dân chủ nhưng dân chủ không tạo ra phát triển kinh tế Kết quả này trái ngược với kết luận của Barro (1997) và Rivera-Batiz (2002), những người đã tìm thấy một số tác động tăng trưởng tích cực của nền dân chủ
Rivera-Batiz (2002) lập luận rằng thể chế cải thiện dân chủ làm tăng tăng trưởng thông qua các hành động hạn chế quan chức tham nhũng, từ đó kích thích sự thay đổi công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu thực nghiệm xuyên quốc gia của ông cho thấy rằng dân chủ là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng từ năm 1960 đến năm 1990
Một số nghiên cứu đã tập trung vào tham nhũng như là một dẫn xuất cho chất lượng thể chế “Tham nhũng, được xem xét trong một khuôn khổ thể chế rộng hơn, phát triển mạnh khi nhà nước không thể chế ngự được quan liêu, để bảo vệ tài sản và
Trang 29quyền lợi của nhà nước hoặc cung cấp thể chế đó thực thi các quy định của pháp luật” (Hellman et al, 2000)
Những nghiên cứu trước đó về vấn đề tham nhũng và tăng trưởng kinh tế dường như ủng hộ quan điểm tham nhũng có thể thúc đẩy tăng trưởng Quan điểm này dựa trên lập luận rằng tham nhũng sẽ giúp loại bỏ chính phủ áp dụng những quy định cứng nhắc Các nghiên cứu gần đây trên phương diện khác đã cung cấp bằng chứng về tác động tăng trưởng âm của tham nhũng (Murphy, Shleifer và Vishny, 1991)
Những nghiên cứu này cho rằng tham nhũng làm tăng thâm hụt ngân sách và hạn chế chính phủ áp đặt kiểm soát những quy định thích hợp là nhằm mục đích điều chỉnh thất bại của thị trường Hơn nữa, tham nhũng làm biến dạng ưu đãi theo nghĩa là cá nhân dành nhiều thời gian và nguồn lực của họ để tìm kiếm những đặc lợi và các hoạt động tham nhũng trái ngược với hoạt động sản xuất
Hầu hết các nghiên cứu trên đều thiết lập một mối liên kết trực tiếp và tích cực giữa thể chế và tăng trưởng Mối quan hệ nhân quả tích cực giữa thể chế và tăng trưởng kinh tế có thể là do những quy định và hạn chế dựa trên các hành động của các quan chức tham nhũng, sự trao quyền và sự tham gia được cho là làm gia tăng năng suất Tuy nhiên, có một sự khác nhau đáng kể từ kết luận của những nghiên cứu khác nhau này Theo Barro (1997) mối quan hệ giữa thể chế và tăng trưởng kinh tế có thể là phi tuyến
Luận văn sử dụng các chỉ số khác nhau về thể chế và sẽ phân tích tác động của thể chế đến tăng trưởng như phân tích của Kaufmann và Kraay (2002b) Ngoài những tác động trực tiếp của thể chế đến tăng trưởng kinh tế, một số nghiên cứu đã cố gắng để kiểm tra tác động gián tiếp Có ý kiến cho rằng các yếu tố thể chế tác động đến tăng trưởng gián tiếp thông qua các biến số khác như các dòng vốn, quyết định đầu tư kinh doanh và chính sách thương mại
Batra et al (2003) đã sử dụng một tập hợp các dữ liệu doanh nghiệp dựa trên một cuộc khảo sát của hơn 10.000 công ty để kết luận rằng, “chất lượng thể chế có ý nghĩa
Trang 30đáng kể trong việc giải thích hiệu quả hoạt động của một công ty và hành vi đầu tư của họ” Phát hiện này tương đồng với phát hiện của Oliva và Rivera-Batiz (2002), người đã tìm thấy tác động tăng trưởng gián tiếp của một số biến thể chế Dựa trên dữ liệu trên 119 nước đang phát triển cho giai đoạn 1970 đến năm 1994, họ ước tính một hệ thống tăng trưởng, FDI và giáo dục Kết quả từ giai đoạn thứ ba trong ước lượng của phương pháp bình phương tối thiểu (3SLS) cho thấy rằng các quy định của pháp luật tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc thu hút FDI và dân chủ tác động đến tăng trưởng thông qua khuyến khích giáo dục
Nhiều nghiên cứu về tác động của thể chế công đến tăng trưởng kinh tế đã được tiến hành Hầu hết trong các nghiên cứu đó đã cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa chúng Một trong số đó là nghiên cứu của Kaufmann và Kraay (2002) đã chứng minh rằng thể chế công tốt sẽ đưa đến thu nhập bình quân đầu người cao hơn Hơn nữa Grindle (2004) nhấn mạnh rằng khái niệm về thể chế công không phải là quá đơn giản hoặc đơn giản trong mối liên hệ với tăng trưởng Mục đích cơ bản của thể chế công tốt là xóa đóa giảm nghèo, chống tham nhũng và những trở ngại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Ngoài ra, Campos và Nugent (2000) sử dụng GDP như biến phụ thuộc và phát triển những biện pháp riêng của họ để xác định mức độ quy định của pháp luật và ổn định chính trị bằng cách sử dụng các chỉ số Họ kết luận rằng, quy định của pháp luật
và ổn định chính trị là cần thiết để đảm bảo hệ thống pháp lý trong sạch và vững mạnh
để loại bỏ những trở ngại trong việc đầu tư nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào tăng trưởng kinh tế (Goldsmith, 1987) Theo Morita và Zaelke (2007), quy định của pháp luật là một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng Xây dựng
hệ thống pháp luật và đảm bảo pháp luật được thực hiện sẽ tạo môi trường pháp lý vững mạnh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng Luật pháp không chỉ là điều kiện tiên quyết để
có thể chế công tốt, thay vì đòi hỏi tính minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình trong các lĩnh vực khác nhau dưới sự kiểm soát của chính phủ Tăng cường kiểm soát
Trang 31về nguồn vốn tài chính và nguồn vốn con người là yếu tố quan trọng để đảm bảo thể chế công tốt Lane (2010) phân chia quy định của pháp luật thành hai phần, đầu tiên là
tư pháp độc lập và thứ hai là dân chủ lập hiến Sau đó, ông liên kết với quy định của pháp luật nói chung, kết hợp hai loại nêu trên Nghiên cứu này kết luận rằng về mặt pháp lý và hiến pháp quyền sở hữu được bảo vệ là chìa khóa cho thị trường hoạt động tối ưu, khi pháp lý được bảo vệ thì sẽ tạo được nhiều điều kiện để khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp đầu tư và đóng góp
Xét về biến bất ổn chính trị, Zureiqat (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hai biến là hoạt động kinh tế và bất ổn chính trị Sử dụng dữ liệu hai mươi năm của năm quốc gia để nghiên cứu, ông đã kết luận rằng có mối tương quan âm giữa hai biến nói trên Tương tự như vậy, Gyimah et al (1999) tìm hiểu mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất ổn chính trị ở các nước đang phát triển thấp (LDC) Kỹ thuật định lượng được sử dụng để nghiên cứu các mối quan hệ trên tại các nước châu Phi cận Sahara Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và bất ổn chính trị Nhìn từ một góc độ khác, Kirmanoglu (2003) đã kiểm tra mối liên hệ giữa sự bất ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng kỹ thuật kiểm định quan hệ nhân quả Granger Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 14 trong số 19 quốc gia được khảo sát và sử dụng biến GDP bình quân đầu người và chỉ số tự do chính trị làm cốt lõi để nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 2 trong số 14 quốc gia được nghiên cứu cho kết quả như mong muốn, các quốc gia còn lại cho kết quả không có ý nghĩa thống kê
Xét về biến kiểm soát tham nhũng, Mauro (1995) đã lấy mẫu của 67 quốc gia khác nhau và phát hiện ra tồn tại một mối quan hệ gián tiếp giữa chỉ số tham nhũng và các chỉ số tăng trưởng kinh tế Ahlin và Pang (2008) lấy mẫu của 71 quốc gia và tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa mức độ tham nhũng và tăng trưởng kinh tế Mo (2001) sử dụng một mẫu của 46 quốc gia và kết luận rằng nếu tăng 1% mức độ tham nhũng thì dẫn đến sự sụt giảm 0,72% trong tăng trưởng kinh tế Ngược lại, một số
Trang 32nghiên cứu của những tác giả khác lại cho kết quả trước ngược với những nghiên cứu trên Li et al (2000) đã lấy mẫu của 46 quốc gia và họ chỉ ra rằng khi tham nhũng gia tăng thì dẫn đến nền kinh tế bị suy giảm nhưng chỉ giới hạn trong một vài mô hình hồi quy Tương tự như vậy, Mendez và Sepulveda (2006) cũng tiến hành nghiên cứu về chủ đề này, họ kết luận rằng tham nhũng ở mức thấp có lợi cho tăng trưởng kinh tế, nhưng tham nhũng ở quy mô lớn sẽ gây hại cho nền kinh tế Cuối cùng, Glaeser và Saks (2006) trong một nỗ lực để tìm hiểu mối quan hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ đã kết luận rằng một mối quan hệ tiêu cực yếu giữa hai biến đã có mặt
Riêng biến tiếng nói và trách nhiệm giải trình thì có ít nghiên cứu hơn Henry et
al (1985) đã khám phá mối liên hệ giữa các biến này Họ đã sử dụng mô hình tương quan để kiểm tra giả thuyết và kết luận có mối quan hệ tích cực vừa phải có ý nghĩa thống kê giữa tiếng nói và trách nhiệm đến tăng trưởng kinh tế
Trang 33Tổng hợp các công trình thực nghiệm về các yếu tố của thể chế công tác động đến tăng trưởng kinh tế
- Bất ổn chính trị không tốt cho tăng trưởng
Có mối liên hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và bất ổn chính trị
- Tác động của bất ổn chính trị đến tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa về mặt thống
- Tham nhũng ở mức thấp có lợi cho tăng trưởng kinh tế, nhưng tham nhũng ở quy mô lớn sẽ gây hại cho nền kinh tế
Tăng tiếng nói và trách nhiệm công dân (tăng cường quyền tự do công dân và dân chủ) tạo nên hiệu quả lớn trong hoạt động công, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 34A F Alesina et al
2003)
Sự phân mảng ngôn ngữ sắc tộc
Phân mảng là không tốt cho chính sách, thể chế và tăng trưởng
A.Alesina and
Rodrik (1994)
Forbes (2000)
Bất bình đẳng
- Bất bình đẳng là không tốt cho tăng trưởng
- Bất bình đẳng là tốt cho tăng trưởng
Barro và Lee (1994) Chiến tranh Chiến tranh kéo dài không tốt cho tăng trưởng
Hall and Jone
Dân chủ làm tăng tốc độ tăng trưởng khi tự do chính trị rất thấp, nhưng làm giảm tăng trưởng khi tự do chính trị đạt mức tối ưu nhất định Quy định pháp luật có tác động tích cực và có
ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng
Kaufman và Krayy
(2002b)
Các chỉ số đo lường thể chế
công
Có mối quan hệ nhân quả giữa thể chế công và thu nhập bình quân đầu người Thể chế công tốt làm tăng thu nhập bình quân đầu người Nhưng thu nhập bình quân đầu người cao làm giảm chất lượng thể chế công (xem thu nhập bình quân đầu người đối lập với tăng trưởng Burkhart và Lewis-
- Dân chủ là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng, dân chủ hạn chế quan chức tham nhũng, từ đó kích thích sự thay đổi công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 35Chương 2 - MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mô hình nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là kiểm tra xem liệu thể chế công tốt có tác động đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia khu vực ASEAN hay không, qua đó có thể giải thích sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này Nghiên cứu đi vào xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế như đầu tư vào nguồn vốn vật chất và con người, độ mở của thương mại, đầu tư nước ngoài và hỗ trợ phát triển chính thức Luận văn sử dụng sáu chỉ số khác nhau làm dẫn xuất cho thể chế để phân tích tác động của thể chế đến tăng trưởng kinh tế như phân tích của Kaufmann và Kraay (2002):
GDPit = α + β1GFCit + β2SCHit + β3TRDit + β4AIDit + β5FDIit + β6HHCit + β7DPRit + β8TELit + β9GGit +ε it (1)
Trong đó α là hệ số ước lượng, i và t biểu thị đất nước i và khoảng thời gia t tương ứng Biến phụ thuộc GDP it là biến biểu thị log của GDP thực bình quân đầu
người và các biến độc lập, SCH it là biến thể hiện tổng số học sinh đến trường (bậc trung học và đại học) so với tổng số người trong độ tuổi đi học và được sử dụng như
đầu tư vào nguồn vốn con người (nguồn nhân lực), AID it biểu thị sự hỗ trợ phát triển
chính thức và viện trợ nước ngoài trong hiện tại (%GNI), FDI it là log của đầu tư trực
tiếp nước ngoài (%GDP), GFC it là log của tổng nguồn vốn cố định với dẫn xuất là đầu
tư vào nguồn vốn hữu hình, đo lường mức đầu tư vào hạ tầng, từ đó xác định tiềm năng
tăng trưởng tương lai của một nền kinh tế, HHC it là chi tiêu thực bình quân đầu người
của hộ gia đình, TRD it là log của thương mại (%GDP) cho mỗi quốc gia được xem xét
để nắm bắt tác động của độ mở nền kinh tế đến tăng trưởng kinh tế, DPR it là log của số
người sống phụ thuộc trên tổng số người trong độ tuổi lao động, TEL it biểu thị log của
số điện thoại cố định trên 1.00 dân và biến GG it biểu thị 6 chỉ số chất lượng thể chế của chính phủ và các chỉ số tổng hợp về chất lượng thể chế:
Trang 36(1) VAI - chỉ số tiếng nói và trách nhiệm giải trình: Về mặt khái niệm, sự tham
gia của người dân đóng vai trò hết sức quan trọng trong thể chế công Người dân, với
tư cách là đối tượng thụ hưởng và thực thi chính sách, tham gia vào quy trình hoạch định chính sách, nêu lên ý kiến để tác động đến quan điểm và mục tiêu của chính sách, sao cho các chính sách khi được ban hành sẽ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ
Tiếng nói đề cập đến khả năng bày tỏ quan điểm và lợi ích của công dân một nước Tiếng nói của người nghèo bày tỏ quan điểm và lợi ích của họ trong một nỗ lực
để ảnh hưởng đến các ưu tiên của chính phủ và các quy trình quản lý
Trách nhiệm giải trình tồn tại khi những nhà thiết lập và thực hiện các quy tắc của
xã hội - chính trị gia và công chức - chịu trách nhiệm trước những người tuân theo các quy tắc Đề tài tập trung vào mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của mình, mức độ mà nhà nước có trách nhiệm với công dân của mình
Tiếng nói và trách nhiệm giải trình là khái niệm riêng biệt nhưng có liên quan với nhau Trong một số hoàn cảnh, tiếng nói có thể dẫn đến trách nhiệm lớn hơn Trong hầu hết các trường hợp, thiếu tiếng nói sẽ dẫn đến sự thiếu trách nhiệm
Có những cấp độ khác nhau về các hình thức trách nhiệm giải trình Trong những năm gần đây, mức độ phức tạp đã tăng lên với sự gia tăng thành viên tham gia vào cuộc đấu tranh trách nhiệm, sự xuất hiện của các đấu trường mới hoặc khu vực pháp lý cho cuộc đấu tranh như vậy Trong ngắn hạn, tiếng nói và trách nhiệm giải trình thay đổi phức tạp hơn tùy thuộc vào ngữ cảnh
Tác động của tiếng nói và vấn đề trách nhiệm giải trình đến tăng trưởng được đưa
ra bởi hai lý do Đầu tiên, không có tiếng nói và thiếu trách nhiệm giải trình là cấu thành của nghèo đói Như vậy, tăng cường tiếng nói và trách nhiệm có thể giảm nghèo Thứ hai, tiếng nói và trách nhiệm giải trình có thể dẫn đến kết cục khác như quyền sở hữu lớn hơn và các chính sách hỗ trợ người nghèo có thể dẫn đến việc giảm nghèo Trách nhiệm giải trình với người dân là một trong những thuộc tính quan trọng của công tác quản trị và hành chính công Nó đóng vai trò hết sức đặc biệt trong công
Trang 37tác phòng chống chống tham nhũng, cũng như nâng cao tính hiệu quả và mở rộng độ bao phủ của dịch vụ công Trách nhiệm giải trình với người dân nhằm bảo đảm để người dân, nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước có cơ sở pháp lý và khả năng yêu cầu các cơ quan và cán bộ nhà nước phải có trách nhiệm giải trình về những việc họ đã làm hoặc chưa làm
Trong các báo cáo do tổ chức INTOSAI ban hành thì các văn bản hướng dẫn đối với hoạt động của các tổ chức công được thế giới đánh giá là khá quan trọng và mang tính cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô của một đất nước vì nó giúp quản
lý, kiểm tra những khoản có liên quan đến ngân sách nhà nước và đánh giá xem nó có thực hiện theo những chính sách của nhà nước sở tại hay không Trong những báo cáo này thì báo cáo về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đang nhận được nhiều sự chú ý của các tổ chức quốc tế Theo Tổ chức Minh bạch Thế giới thì họ cho rằng minh bạch và giải trình là hai đặc tính cần có cho nhau, củng cố lẫn nhau và hỗ trợ nhau Chúng cho phép công dân có tiếng nói về các vấn đề theo họ là quan trọng và một cơ hội cho việc ảnh hưởng ra quyết định và từ đó sẽ là cơ sở để tạo ra kết quả cho sự phát triển
Theo hướng dẫn của INTOSAI thì hai đặc tính trên được nêu ra với những nội dung như sau:
- Tính minh bạch là một tính chất của các chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân trong việc mở rộng, công bố các thông tin rõ ràng, cung cấp đầy
đủ các nội dung về nguyên tắc, kế hoạch, quy trình và những hành động khác nhau mà những đối tượng trên thực hiện Để đảm bảo tính minh bạch thì thông tin cần phải đạt được những yêu cầu về tính phù hợp, có thể truy cập để kiểm tra Điều này có nghĩa là thông tin cần phải đặt trong trạng thái sẵn sàng và có nhiều cách khác nhau có thể minh chứng Ngoài hai tính chất này, để có được minh bạch thì còn phải thỏa mãn về việc đúng thời điểm và chính xác những gì đã xảy ra
Trang 38Trách nhiệm giải trình được hiểu là đảm bảo cho các cơ quan có thẩm quyền trong khu vực công, các tổ chức thuộc khu vực tư, các khu vực tự do có thể trả lời, phản hồi với các hành động của họ, qua đó có thể khắc phục khi những nhiệm vụ hay các cam kết không được đáp ứng
Với những khái niệm mang tính chất tóm tắt và tổng hợp trên thì có thể cho thấy rằng bất kỳ quốc gia nào để đảm bảo sự phát triển bền vững thì việc minh bạch và giúp người dân có thể hiểu được cụ thể tình hình quốc gia, các doanh nghiệp hay các tổ chức của nhà nước là cần thiết Sự minh bạch chính là nền tảng cho mọi giải pháp và cho những thị trường còn rất thiếu sự tin cậy từ người dân trong và ngoài quốc gia đó
(2) PSI - chỉ số tính ổn định chính trị: đo lường các biện pháp và khả năng chính
phủ sẽ bị bất ổn hoặc bị lật đổ bằng phương tiện tinh vi hoặc bạo lực, bao gồm cả bạo lực chính trị và khủng bố
Bất ổn chính trị có khả năng làm giảm tầm nhìn của các nhà hoạch định chính sách trong việc tối ưu hóa các chính sách kinh tế vĩ mô Nó cũng có thể dẫn đến việc thay đổi thường xuyên hơn các chính sách, tạo ra biến động và từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế vĩ mô Các hiện tượng phổ biến của bất ổn chính trị ở một số nước theo thời gian và tác động tiêu cực của nó đối với hoạt động kinh tế đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế Bất ổn chính trị tác động tiêu cực lên hàng loạt các biến số kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng GDP, đầu tư tư nhân, thuế, đầu tư và chi tiêu công, nợ và lạm phát Brunetti (1997) khảo sát trên toàn diện và tóm tắt các biến chính trị ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và kết luận rằng, trong các biến số thì sự biến động chính trị và chủ quan trong chính sách tác động mạnh nhất đến tăng trưởng trong hồi quy xuyên quốc gia, trong khi đó biến dân chủ là ít tác động nhất Alesina et
al (1996) sử dụng dữ liệu trên 113 quốc gia 1950-1982 và kết luận rằng tăng trưởng GDP ở các nước có nguy cơ chính phủ sụp đổ thấp hơn đáng kể so với các quốc gia khác Chen và Feng (1996) cho thấy sự bất ổn định chế độ, phân cực chính trị và đàn
áp của chính phủ tất cả đều có một tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Trong
Trang 39một bài báo gần đây, Jong-a-Pin (2009) sử dụng phân tích nhân tố để kiểm tra những tác động của 25 chỉ số bất ổn chính trị và tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế và đưa ra phát hiện chính là mức độ cao của sự bất ổn chế độ chính trị sẽ dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế Liên quan đến đầu tư tư nhân, Alesina và Perotti (1996) cho thấy
sự bất ổn định chính trị sẽ tạo ra một môi trường kinh tế chính trị không chắc chắn, tăng rủi ro và giảm đầu tư
(3) GEI - chỉ số hiệu quả của chính phủ: Về vấn đề hiệu quả cung ứng dịch vụ
hành chính công, tài liệu nghiên cứu quốc tế thường nhấn mạnh tới những yếu tố như: mức độ thuận tiện, an ninh, tin cậy, công bằng của dịch vụ công và tinh thần trách nhiệm của người thừa hành công vụ
Kết quả của một hệ thống pháp lý có thể được đánh giá dựa trên những thước đo hiệu lực và hiệu quả Quy định hiệu quả đạt được các mục tiêu an sinh xã hội đặt ra bởi các chính phủ đối với các cơ quan quản lý Ở các nước phát triển, các mục tiêu an sinh
xã hội của quy định có thể sẽ không chỉ đơn giản là quan tâm đến việc theo đuổi hiệu quả kinh tế nhưng với mục tiêu rộng lớn hơn để thúc đẩy phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo
Quy định hiệu quả đạt được các mục tiêu an sinh xã hội với chi phí kinh tế tối thiểu Chi phí kinh tế của quy định có thể ở hai hình thức chính: (1) các chi phí trực tiếp điều hành hệ thống quản lý, phản ánh trong phân bổ ngân sách của cơ quan quản lý
và (2) các chi phí tuân thủ các quy định, chi phí bên ngoài các cơ quan quản lý và rơi vào người tiêu dùng và nhà sản xuất về các chi phí kinh tế hợp pháp trong thực hiện quy định (Guasch và Hahn, 1999)
(4) RQI - chỉ số chất lượng điều tiết: thể hiện khả năng của chính phủ để xây
dựng và thực hiện chính sách, các quy định cho phép và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân
Chất lượng điều tiết đang trở thành một yếu tố chính sách cốt lõi để giải thích những vướn mắc trong tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Trang 40Chất lượng điều tiết cũng có thể được đánh giá theo các tiêu chí trong thể chế Parker (1992) cho rằng một hệ thống quy định hoạt động tốt là một sự cân bằng giữa trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và nhất quán Trách nhiệm yêu cầu cơ quan điều tiết chịu trách nhiệm về những hậu quả do hoạt động của họ gây ra Minh bạch liên quan đến những quyết định được tiếp cận theo cách công khai các thông tin cho các bên liên quan Quyết định không phù hợp sẽ làm suy yếu niềm tin vào hệ thống điều tiết Không nhất quán sẽ dẫn đến không có sự chắc chắn cho các nhà đầu tư, điều này
có thể làm tăng chi phí vốn và gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các quyết định đầu tư Một nền kinh tế với một thể chế phát triển có nhiều khả năng thiết kế và thực thi những quy định hiệu quả để đóng góp vào việc cải thiện tăng trưởng kinh tế Những yếu kém trong năng lực thể chế có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế (World Bank, 2002)
(5) RLI - chỉ số quy định của pháp luật: thể hiện mức độ tuân thủ các quy tắc của
xã hội, đặc biệt là chất lượng của việc thực thi quyền sở hữu, cảnh sát, tòa án, cũng như khả năng của tội phạm và bạo lực
Định nghĩa quy định của pháp luật trong bài viết này tập trung vào vai trò của Tòa án Trước hết, đó là việc bảo vệ các quyền tự do của công dân để đảm bảo họ bình đẳng trước pháp luật, sau đó là giám sát pháp luật và việc điều hành của Chính phủ Nếu tòa án không bảo vệ quyền sở hữu tài sản, không đảm bảo hiệu lực thực hiện hợp đồng và không giải quyết tranh chấp trong thời gian tốt nhất sẽ làm giảm động cơ để thúc đẩy đầu tư và cải tiến Có nghĩa là các ưu đãi cho hoạt động sản xuất bị hạ xuống,
và những người tìm kiếm đặc lợi sẽ gia tăng Tương tự như vậy, nếu tham nhũng xảy ra
ở các tòa án, điều này sẽ chỉ ra rằng không phải tất cả công dân điều bình đẳng trước pháp luật Một hệ thống công lý có hiện tượng tham nhũng hoặc bị lệ thuộc về mặt chính trị có thể tạo điều kiện cho tham nhũng ở mức độ cao hơn và làm suy yếu cải cách, từ đó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (Feld và Voigt, 2003) Không tôn trọng các quy định của pháp luật sẽ dẫn đến niềm tin vào công lý của công dân bị sụp