Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện [17] Hoạt động lựa chọn thuốc là 1 quá trình mà trong đó các nhân viện y tế của một tổ chức làm việc thông qu
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HẢI
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
HÀ NỘI – 2017
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HẢI
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2016
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP 1
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Thanh Bình
Thời gian thực hiện: 5/2017 – 9/2017
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức bổ ích trong thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, ông bà và người thân trong gia đình tôi đã nuôi dạy tôi trưởng thành, luôn nâng đỡ và cho tôi nhiều bài học quý giá trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 2017 Học viên
Nguyễn Thanh Hải
Trang 4Trang
1.2 Các phương pháp phân tích hoạt động sử dụng thuốc 9
1.3.6 Thực trạng sử dụng các thuốc kháng sinh, vitamin và các chất hỗ
1.4 Vài nét về Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 18
Chương 2 – Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
Trang 52.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 26
3.1 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng trong năm 2016 29
3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân loại thuốc tân dược và thuốc có
3.1.4 Cơ cấu nhóm thuốc tân dược theo nhóm thuốc biệt dược gốc và
3.1.5 Cơ cấu nhóm thuốc tân dược theo nhóm thuốc đơn thành phần và
3.2 Phân tích danh mục thuốc bệnh viện theo phương pháp ABC/VEN 37
4.1 Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng trong năm 2016 43
4.2 Phân tích danh mục thuốc bệnh viện theo phương pháp ABC-VEN 50
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 7Tên Nội dung Trang
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 21
Bảng 3.3 Tỷ lệ tiền thuốc của Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa
Bảng 3.4 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ của
Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016 29
Bảng 3.5
Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm thuốc tân dược và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu của Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016
Cơ cấu nhóm thuốc tân dược theo thuốc đơn thành phần
và đa thành phần được Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa sử dụng trong năm 2016
32
Bảng 3.8 Cơ cấu danh mục thuốc theo một số dạng bào chế của
Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016 32
Bảng 3.9 Tỷ lệ thuốc tân dược được Bảo hiểm y tế chi trả của Bệnh
viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016 33
Bảng 3.11 Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh được Bệnh viện đa khoa
huyện Định Hóa sử dụng trong năm 2016 36
Bảng 3.12 Cơ cấu danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa huyện
Định Hóa trong năm 2016 theo phân tích ABC 37
Trang 8Định Hóa năm 2016 theo nhóm tác dụng dược lý
Bảng 3.14 Cơ cấu danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa huyện
Định Hóa trong năm 2016 theo phân tích VEN 40
Bảng 3.15
Cơ cấu danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa trong năm 2016 theo phân tích ma trận ABC- VEN
41
Trang 9Tên Nội dung Trang
Hình 1.1 Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng danh mục thuốc sử
Hình 2.2 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 25
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành dược thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 20 của thế kỷ trước Qua nhiều thập kỷ phát triển đã có hàng nghìn hoạt chất và hàng vạn loại thuốc được phát minh, bào chế Sự phát triển rộng khắp của các kênh phân phối thuốc
và các công ty, tập đoàn dược đa quốc gia trên toàn thế giới đã và đang góp phần tạo nên một thị trường thuốc đa dạng, đầy đủ chủng loại để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân loại
Trong những năm qua, nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc cung ứng thuốc phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nhân dân Chính sách quốc gia về thuốc đã đưa ra hai mục tiêu đó là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đầy đủ các thuốc có chất lượng đến tay người bệnh và đảm bảo sử thuốc an toàn, hợp lý
và hiệu quả [3] Thị trường thuốc Việt Nam nhìn chung đã đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân Xã hội càng phát triển thì ý thức về việc bảo vệ sức khỏe của bản thân mỗi người cũng được nâng cao, thể hiện phần nào bằng chi phí bình quân đầu người cho thuốc được nâng lên đáng kể qua từng năm Tại Việt Nam, chi phí bình quân đầu người cho thuốc tăng từ 19,77 USD năm 2009 lên 34,48 USD năm 2014 [6], [8]
Tình hình cung ứng, quản lý và sử dụng thuốc trong điều trị ngày càng được nâng cao Công tác dược bệnh viện đã có những bước phát triển cơ bản về mọi mặt góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện đã và đang là điều đáng lo ngại, là một trong những nguyên nhân làm tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các cơ sở khám chữa bệnh Hơn nữa còn ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả cho người bệnh
Trong công tác bệnh viện, cung ứng thuốc đóng vai trò lớn trong hiệu quả điều trị Để đạt mục đích cung cấp cho người bệnh thuốc có chất lượng tốt với
Trang 11giá cả phù hợp, việc đầu tiên là phải lựa chọn được những thuốc phù hợp vào danh mục thuốc của bệnh viện Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên là một bệnh viện đa khoa hạng II trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên Trong khoảng 10 năm trở lại đây chưa có một đề tài nào nghiên cứu hoạt động
sử dụng thuốc tại bệnh viện nhằm mục tiêu đánh giá hoạt động cung ứng và sử dụng thuốc tại bệnh viện đã thực sự an toàn và hợp lý hay chưa Nhằm mang lại một số số liệu về thuốc và góp phần đánh giá thực trạng cung ứng thuốc tại bệnh
viện, đề tài ‘‘Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa
huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2016’’ được thực hiện với 2 mục tiêu:
- Mô tả danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016
- Phân tích ABC/VEN danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh viện, đảm bảo việc cung ứng và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả
Trang 12Chương 1 – TỔNG QUAN 1.1 DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN
1.1.1 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện,
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện,
- Đáp ứng với các phương pháp và kỹ thuật mới trong điều trị,
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
Bộ Y tế ban hành,
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước
1.1.2 Quy trình xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện
Tiêu chí đánh giá, lựa chọn thuốc trong danh mục:
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện,
- Chất lượng, hiệu quả và an toàn trong điều trị của thuốc,
- Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
- Căn cứ và chi phí của thuốc và tính chi phí – hiệu quả,
- Điều kiện trang thiết bị chuyên môn và nhân lực
Danh mục thuốc bệnh viện là danh mục bao gồm những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với mô hình bệnh tật, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng chi trả của người bệnh Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, không gian, trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất kỳ lúc nào, với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp và có giá cả phải chăng
Trang 13Hình 1.1 Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng danh mục thuốc
sử dụng trong bệnh viện [17]
Hoạt động lựa chọn thuốc là 1 quá trình mà trong đó các nhân viện y tế của một tổ chức làm việc thông qua Hội đồng thuốc và điều trị, từ rất nhiều các sản phẩm thuốc có sẵn, đánh giá và lựa chọn ra những thuốc được coi là hiệu quả nhất, an toàn nhất và có chi phí hợp lý nhất Kết quả của quá trình lựa chọn thuốc là một danh mục thuốc có chứa tất cả các loại thuốc đã được phê duyệt cho mua sắm và sử dụng trong các cơ sở y tế nhất định
Căn cứ để lựa chọn thuốc
đưa vào Danh mục thuốc
4 Nguồn kinh phí bệnh viện
5 Ý kiến của các khoa phòng
6 Ý kiến của Hội đồng thuốc
và điều trị
6 DM thuốc sử dụng năm
trước
7 Phân tuyến kỹ thuật
8 Thông tin về thuốc và các
văn bản pháp quy khác
Khoa Dược xây dựng dự thảo DMT bệnh viện
và hướng dẫn thực hành DMT
Hội đồng thuốc
và điều trị thông
qua
Giám đốc bệnh viện xem xét và
ký duyệt
Danh mục thuốc bệnh viện theo hoạt chất
Danh mục thuốc đấu thầu
Danh mục thuốc
sử dụng theo tên biệt dược
Làm cơ sở xây dựng DMT kỳ sau
Trang 14a) Mô hình bệnh tật
Mô hình bệnh tật là số liệu thống kê về bệnh tật trong khoảng thời gian nhất định (thường theo từng năm) về số bệnh nhân đến khám và điều trị Để nghiên cứu mô hình bệnh tật, WHO đã ban hành phân loại quốc tế về bệnh tật ICD Bảng phân loại này đã qua 9 lần sửa đổi và phiên bản ICD 10 gồm 21 chương với 10.000 bệnh trong đó mỗi chương có 1 hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của bệnh đó [2]
Mô hình bệnh tật của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện không chỉ xây dựng danh mục thuốc phù hợp mà còn là cơ sở để bệnh viện hoạch định, phát triển toàn diện trong tương lai Mỗi bệnh viện được xây dựng trên địa bàn khác nhau, ứng với mỗi đặc trưng nhất định về cấu trúc dân cư, địa
lý, yếu tố môi trường, văn hóa, kinh tế - xã hội cũng như sự phân công chức năng nhiệm vụ theo tuyến Từ đó dẫn đến mỗi mô hình bệnh tật của mỗi bệnh viện là khác nhau, chủ yếu được phân thành 2 loại là mô hình bệnh tật của bệnh viện đa khoa và của bệnh viện chuyên khoa [40]
b) Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị hay hướng dẫn điều trị chuẩn là những văn bản có tính chất pháp lý, được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn và được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị bệnh Một hướng dẫn thực hành điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị khác nhau Theo WHO, một hướng dẫn điều trị chuẩn cần thỏa mãn đầy đủ 4 tiêu chí sau:
- Hợp lý: đúng thuốc, đúng chủng loại, phối hợp đúng, còn hạn dùng
- An toàn: không gây tai biến, không có tương tác thuốc
- Hiệu quả: dễ dàng khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu
- Kinh tế: có chi phí điều trị thấp nhất
Trang 15Phác đồ điều trị là căn cứ để bệnh viện xây dựng danh mục thuốc Không
có các phác đồ điều trị chuẩn thì khó có thể xây dựng danh mục thuốc một cách khoa học [40]
c) Nguồn kinh phí của bệnh viện
Nguồn kinh phí để chi trả cho các hoạt động của bệnh viện đến từ nhiều nguồn như sự đầu tư của nhà nước, nguồn thu của bệnh viện thông qua các hoạt động như khám chữa bệnh, nguồn quỹ Bảo hiểm y tế hoặc nguồn tài trợ của các đơn vị trong và ngoài nước Đây là căn cứ quan trọng để bệnh viện có thể ra quyết định và lựa chọn thuốc để sử dụng sao cho thật hợp lý
d) Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia và Danh mục thuốc chủ yếu tại các
cơ sở khám chữa bệnh được Bảo hiểm y tế chi trả
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần
thứ 6, là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến các thuốc phòng và chữa bệnh cho người dân Các thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu được lựa chọn với nhiều tiêu chí như có giá cả hợp lý, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho người sử
dụng, đa số là đơn chất … [1] Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia cũng là cơ sở
để xây dựng Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám chữa bệnh
Bên cạnh Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, Bộ Y tế cũng ban hành
Danh mục thuốc chủ yếu bao gồm 845 hoạt chất, 1064 thuốc tân dược và 57
thuốc phòng xạ làm tiền đề cho các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn và đảm bảo nhu cầu điều trị cũng như thanh toán chi phí cho người bệnh, nhất là những bệnh nhân có sử dụng Bảo hiểm y tế [7] Với xu hướng phát triển bao phủ Bảo hiểm y
tế toàn dân trong tương lai, danh mục các thuốc được bảo hiểm y tế chi trả là một nguồn tài liệu đáng giá cho bệnh viện tham khảo để lựa chọn danh mục thuốc sao cho vừa thỏa mãn nhu cầu điều trị của mình, vừa đảm bảo đồng bộ với các đơn vị khám chữa bệnh khác cũng như của các cơ quan quản lý cấp trên
Trang 16e) Trình độ chuyên môn, kỹ thuật
Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến khả năng lựa chọn cũng như hiệu quả của việc sử dụng thuốc Bệnh viện cần căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật của mình để đưa ra những thuốc có thể sử dụng phù hợp nhất bởi nếu trình độ chuyên môn kỹ thuật không tốt thì nhiều khi có những thuốc bệnh viện nhập về cũng không sử dụng được, qua đó mà gây lãng phí nguồn kinh phí bệnh viện
f) Hội đồng thuốc và điều trị
Lựa chọn thuốc là việc xác định chủng loại và số lượng thuốc để cung ứng Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua danh mục thuốc bệnh viện và việc lựa chọn và xây dựng danh mục này là công việc đầu tiên của quy trình cung ứng thuốc Danh mục thuốc là cơ sở để đảm bảo cho việc cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch hợp lý, an toàn, hiệu quả và có tác động trực tiếp đến kết quả điều trị với người bệnh Mỗi bệnh viện tùy theo chức năng, nhiệm
vụ, cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn của mình mà xây dựng danh mục thuốc sao cho phù hợp Theo quy định của Thông tư 21/2013/TT-BYT thì Hội đồng thuốc và điều trị là đơn vị có nhiệm vụ xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện [5], [39]
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các quy định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế), Hội đồng thuốc và điều trị có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện theo nguyên tắc:
Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn thành phần, thuốc sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt GMP
Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, kịp thời và có kế hoạch nhằm phục vụ nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm theo định
Trang 17kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục trong các kỳ họp của Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện
Quy trình lựa chọn một số thuốc mới
- Chỉ có bác sĩ, dược sĩ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một dược phẩm,
- Bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của Hội đồng thuốc và điều trị,
- Thành viên Hội đồng thuốc và điều trị đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong y văn và chuẩn bị một bản báo cáo,
- Đưa ra những ý kiến đề xuất cho danh mục,
- Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của Hội đồng thuốc và điều trị,
- Hội đồng thuốc và điều trị chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên (việc đưa ra quyết định phải minh bạch và quy định nhất quán)
- Phổ biến quyết định của Hội đồng thuốc và điều trị đến tất cả các cá nhân liên quan
Duy trì một danh mục
- Đánh giá những yêu cầu cần bổ sung mới và loại bỏ thuốc hiện có trong danh mục một cách thường xuyên,
- Đánh giá hệ thống theo nhóm, phân nhóm điều trị
Quản lý thuốc ngoài danh mục
- Hạn chế số lượng thuốc ngoài danh mục,
- Hạn chế tiếp cận,
- Lưu trữ hồ sơ yêu cầu đối với thuốc không nằm trong danh mục (tên thuốc, số lượng, chỉ định),
Trang 18- Thường xuyên rà soát và thảo luận tại các cuộc họp của Hội đồng thuốc
và điều trị
Thuốc hạn chế sử dụng
- Thuốc do bác sĩ chuyên khoa sâu chỉ định hoặc chỉ dung trong những tình trạng bệnh cụ thể,
- Do Hội đồng thuốc và điều trị xác định và thực thi,
- Kiểm soát những thuốc dùng trong chuyên khoa sâu là thực sự cần thiết,
- Theo dõi sát sao đảm bảo sử dụng hợp lý
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC
Sử dụng thuốc không hợp lý đã và đang là vấn đề được quan tâm trên toàn cầu vì những hậu quả nghiêm trọng mà nó mang lại như làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra các ADR của thuốc Trong các bệnh viện, sự có mặt của Hội đồng thuốc
và điều trị với nhiệm vụ tư vấn cho giám đốc bệnh viện về việc sử dụng thuốc nhằm mục đích đảm bảo thuốc được sử dụng một cách hiệu quả, an toàn, hợp lý
và kinh tế Để quản lý được việc sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp thông tin về thuốc Từ những kết quả thu được, Hội đồng thuốc và điều trị sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm quản lý và phát hiện ra các vấn đề về sử dụng thuốc Để phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, có 3 phương pháp thường được sử dụng bao gồm: phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị và phân tích VEN
1.2.1 Phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện
Trang 19Phương pháp này dùng để xác định và so sánh chi phí y tế trong hệ thống danh mục thuốc, qua đó sẽ cung cấp thông tin cơ bản để giảm thiểu chi phí và phân tích chi phí – hiệu quả Phân tích ABC cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường Thông tin thu được sau khi phân tích có thể được sử dụng để:
- (1) lựa chọn hoặc thay thế các thuốc có chi phí thấp hơn,
- (2) tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế,
- (3) thương lượng với nhà cung ứng hoặc đấu thầu thuốc để mua được thuốc với giá thấp hơn,
- (4) lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng để từ đó phát hiện những điểm chưa hợp lý trong sử dụng thuốc bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
Phân tích ABC có thể sử dụng số liệu về thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Sau khi phân tích, các thuốc (nhất là thuốc thuộc nhóm A) cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng có chi phí thấp hơn Ưu điểm chính của phân tích ABC là giúp xác định xem phần lớn nguồn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào Thông thường thuốc nhóm A chiếm khoảng 10 - 25% tổng số thuốc, thuốc nhóm
B chiếm khoảng 10 - 20% tổng số thuốc và khoảng 60 - 80% còn lại là thuốc nhóm C [39]
1.2.2 Phân tích nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và có chi phí nhiều nhất
- Xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý trên cơ sở những thông tin về bệnh tật
Trang 20- Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức sử dụng không mạng tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể như sốt rét hay sốt xuất huyết
- Giúp Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí - hiệu quả cao [39]
- Thuốc V (Vital drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám, chữa bệnh của bệnh viện
- Thuốc E (Essential drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Thuốc N (Non-essential drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [5]
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu về sử dụng thuốc trong bệnh viện cũng kết hợp giữa các phương pháp phân tích, nhất là ma trận ABC-VEN để phân tích cụ thể hơn nữa thực trạng sử dụng thuốc trong bệnh viện
Trang 211.3 THỰC TRẠNG CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN
1.3.1 Kinh phí sử dụng thuốc
Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với kinh phí bệnh viện Theo Báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009 – 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc của bệnh viện chiếm 47,9% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm đối với năm 2009 và 58,7% đối với năm 2010 [11], [12]
Một nghiên cứu vào năm 2012 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cho thấy rằng kinh phí mua thuốc chiếm hơn 50% tổng chi tiêu thường xuyên trong năm của bệnh viện [35] Trong khi đó, kinh phí mua thuốc của Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2012 chiếm 43% tổng kinh phí [27] Giá trị tiền thuốc
sử dụng chiếm 47,33% tổng kinh phí bệnh viện Trung ương Huế năm 2012 còn tại bệnh viện đa khoa Bà Rịa là 31,75% [23], [30] Nghiên cứu năm 2009 tại bệnh viện E cho thấy kinh phí mua thuốc chiếm 50% chi tiêu thường xuyên của bệnh viện trong khi tại bệnh viện Hữu Nghị, kinh phí mua thuốc cho cả giai đoạn 2007 – 2010 là khoảng 29,4 - 41,2% [18], [26]
1.3.2 Về nguồn gốc xuất xứ của thuốc
Khảo sát năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh cho 900 bệnh viện ở
cả 3 tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện về tình hình nguồn gốc xuất
xứ của thuốc cho kết quả như sau: Đối với tuyến trung ương, giá trị của thuốc nhập khẩu chiếm tới 88,1% tổng chi tiêu tiền thuốc trong khi thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 11,9% Đối với tuyến tỉnh, thuốc nhập khẩu chiếm 66,8%
và thuốc sản xuất trong nước chiếm 33,2% tổng chi tiêu tiền thuốc còn đối với tuyến huyện, thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 48,5% tổng giá trị trong khi thuốc sản xuất trong nước chiếm 51,5% Như vậy, nhìn chung có thể thấy ở tuyến càng cao thì giá trị thuốc nhập khẩu càng cao và những tuyến thấp hơn thì thuốc sản xuất trong nước được sử dụng nhiều hơn [4]
Trang 22Nghiên cứu năm 2014 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa cho thấy rằng về số lượng thuốc sản xuất trong nước được sử dụng tại bệnh viện chiếm 36% và giá trị sử dụng tương ứng chiếm 30% [36] Trong khi đó tại Bệnh viện
đa khoa Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2015, thuốc sản xuất trong nước chiếm 23% về
số khoản mục và chỉ chiếm 19% về giá trị sử dụng [23] Như vậy ta có thể thấy rằng trong những năm gần đây, một số bệnh viện vẫn đang sử dụng khá nhiều thuốc nhập khẩu hơn thuốc sản xuất trong nước về cả số lượng lẫn giá trị sử dụng
Nguyên nhân một phần là do các công ty trong nước mới chỉ sản xuất được những thuốc điều trị thông thường, dạng bào chế đơn giản, chưa sản xuất được các thuốc chuyên khoa có giá trị lớn – các thuốc mà được dùng chủ yếu ở tuyến trung ương, nơi tập trung nhiều bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nặng Hơn nữa thì hiện nay người dân và thầy thuốc ở các tuyến cao đang có thói quen dùng thuốc ngoại đắt tiền do thu nhập bình quân của người dân cũng tăng lên nhiều, nhu cầu và ý thức trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân tăng cao
so với trước Theo thống kê của Bộ Y tế, bác sĩ chỉ kê khoảng 20 – 30% thuốc sản xuất trong nước trong tổng số thuốc được kê đơn cho bệnh nhân
Trong các thuốc nhập khẩu, các bệnh viện sử dụng nhiều thuốc nhập khẩu
từ Ấn Độ và Hàn Quốc Năm 2008, thuốc thành phẩm được nhập khẩu từ 2 quốc gia nói trên chiếm trên 20% tổng kim ngạch nhập khẩu thuốc thành phẩm vào thị trường Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu là các nhóm thuốc kháng khuẩn, nhóm tiêu hóa và chuyển hóa mà nhiều doanh nghiệp trong nước đang tiến hành sản xuất
1.3.3 Thực trạng sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Thuốc biệt dược gốc chiếm tỷ lệ cao trong danh mục thuốc bệnh viện là một vấn đề hiện có tại một số bệnh viện trên toàn quốc, tuy nhiên tỷ lệ phần trăm thuốc biệt dược gốc trong danh mục thuốc bệnh viện trong những năm gần đây có xu hướng giảm Việc ưu tiên sử dụng các thuốc generic là một trong
Trang 23những biện pháp hiệu quả nhằm giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân và đây là một trong những tiêu chí mà Bộ Y tế đã đưa ra trong việc lựa chọn danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện
Nghiên cứu năm 2012 tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội cho thấy rằng số thuốc biệt dược gốc chiếm 83,03%, tại bệnh viện đa khoa Đông Anh là 54,21%, Bệnh viện Trung ương Huế năm 2012 chiếm 12,2% về số lượng và 10% về giá trị sử dụng [30] Tại Bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang, trong năm 2015, bệnh viện đã sử dụng 268 thuốc generic (chiếm khoảng 85% số khoản mục thuốc), với chi phí gần 7,4 tỷ đồng, tương ứng hơn 80% tổng kinh phí về thuốc trong năm của bệnh viện [22]
1.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc theo dạng bào chế
Hiện nay, các bệnh viện đang sử dụng chủ yếu dạng bào chế thuốc dùng đường uồng và dạng bào chế thuốc tiêm – tiêm truyền
Tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, trong năm
2015, bệnh viện sử dụng hơn 51% số khoản mục thuốc là thuốc dùng đường uống với kinh phí lên đến 11,6 tỷ đồng, chiếm 53,5% tổng giá trị sử dụng Thuốc tiêm và tiêm truyền cũng chiếm đến 41% số khoản mục thuốc và chiếm 44% tổng chi tiền thuốc trong năm của bệnh viện [23] Tại Bệnh viện đa khoa
Gò Quao tỉnh Kiên Giang, trong năm 2015 bệnh viện sử dụng 223 thuốc đường uống (tương ứng 70,5% số khoản mục thuốc), với kinh phí lên đến 7,4 tỷ đồng (chiếm 79,4% tổng giá trị sử dụng) [22]
1.3.5 Cơ cấu thuốc được sử dụng tại bệnh viện theo nhóm tác dụng dược lý
Mỗi bệnh viện có một danh mục thuốc riêng, với số lượng và chủng loại thuốc khác nhau tùy nhu cầu sử dụng, mô hình bệnh tật cũng như quy mô của bệnh viện Số lượng các thuốc trong danh mục thuốc của các bệnh viện rất khác nhau Ví dụ như danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm
2014 có 629 thuốc trong khi tại Bệnh viện đa khoa Cao su Dầu Tiếng – Bình Dương chỉ có 284 khoản mục thuốc [10], [36]
Trang 24Khi phân chia các thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện thành các nhóm tác dụng dược lý, nhìn chung nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất về cả số khoản mục lẫn giá trị sử dụng Ngoài ra, một số nhóm có giá trị sử dụng cao như nhóm thuốc tim mạch, NSAIDs, thuốc tác động vào hệ nội tiết
Trong năm 2015, Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã sử dụng 51 thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, chiếm 22,5% số khoản mục thuốc và tổng chi phí cho nhóm thuốc này chiếm 38,4% tổng giá trị sử dụng Ngoài ra, nhóm hormone và các thuốc tác động vào hệ nội tiết, nhóm thuốc tim mạch cũng là những nhóm có giá trị sử dụng lớn ở bệnh viện này [14] Cũng trong năm 2015, Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An
đã chi tới 6,3 tỷ tiền thuốc, tương đương 29% tổng giá trị sử dụng cho nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn [37] Trong khi đó, tại Bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang, bệnh viện cũng chi nhiều kinh phí nhất cho nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn, với 3,05 tỷ đồng trong năm 2015 Ngoài ra, nhóm thuốc đường tiêu hóa, nhóm NSAIDs cũng là các nhóm có giá trị sử dụng lớn tại bệnh viện nói trên [22]
1.3.6 Thực trạng sử dụng các thuốc kháng sinh, vitamin và các chất hỗ trợ trong điều trị
Báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy rằng kháng sinh là nhóm thuốc chiếm tới 36% tổng chi phí cho thuốc và hóa chất Trong số 100 bệnh viện được khảo sát, các bệnh viện tuyến trung ương chi khoảng 26% tổng kinh phí về thuốc nói chung cho kháng sinh trong đó, Bệnh viện nhi thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 89% và Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương chiếm tới 35% [16]
Một nghiên cứu năm 2008 cho 38 bệnh viện đa khoa đại diện cho 6 khu vực địa lý trên toàn quốc cho thấy rằng tỷ lệ tiền thuốc cho nhóm kháng sinh trung bình tất cả các tuyến chiếm khoảng 32,5% trong đó tuyến huyện cao nhất
Trang 25chiếm 43,1% và tuyến trung ương thấp nhất với 25,7% [26] Theo thống kê của
Bộ Y tế về tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện trong năm 2009, tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh trung bình của 21 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương là 28%, 15 bệnh viện chuyên khoa tuyến huyện là 34% và 52 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 43%
Nghiên cứu năm 2013 tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển cho thấy rằng chi phí của nhóm kháng sinh là cao nhất với 21,94% tổng giá trị sử dụng [34] Thông số này vào năm 2014 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa là 22,6% và Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình là 26,7% [13], [36] Bên cạnh đó, một nghiên cứu về thực trạng thanh toán thuốc BHYT toàn quốc năm 2010 cho thấy rằng: trong số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán nhiều nhất, có đến 10 hoạt chất
là kháng sinh [29] Việc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền thuốc sử dụng tại các bệnh viện hiện nay là một thực trạng đáng lo ngại vì hiện nay đã
xuất hiện những ca bệnh do nhiễm khuẩn E coli và loại vi khuẩn này đã kháng
cả colistin – loại kháng sinh gần như là mạnh nhất hiện nay và chỉ được sử dụng khi các kháng sinh khác điều trị thất bại
Vitamin cũng là một loại hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng vì sử dụng quá liều được khuyến cáo Một khảo sát năm 2009 tại 38 bệnh viện trên toàn quốc cho thấy rằng vitamin là một trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất tại các tuyến bệnh viện [26] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014, nhóm vitamin chiếm khoảng 1,6% tổng giá trị sử dụng, xếp ở vị trí thứ 7 trong tất cả các nhóm thuốc [36] Bên cạnh đó, tại Bệnh viện Hợp Lực tỉnh Thanh Hóa năm 2014, nhóm vitamin chiếm 6,53% tổng giá trị sử dụng, cũng xếp ở vị trí thứ 7 [24]
Một số thuốc có tác dụng hỗ trợ nhưng hiệu quả điều trị còn chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng khá phổ biến tại các bệnh viện Kết quả nghiên cứu thực trạng thanh toán thuốc BHYT trong cả nước năm 2010 cho thấy rằng trong
Trang 26tổng 30 hoạt chất có giá trị thanh toán cao nhất, có một số thuốc như L-Ornithin L-aspartat, Ginkgo biloba và Arginin trong đó L-Ornithin nằm trong top 5
1.3.7 Phân tích danh mục thuốc bệnh viện theo phương pháp ABC
Trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện, các thuốc nhóm A chiếm tỷ
lệ khá cao về số khoản mục Đây là nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhưng lại chiếm tỷ trọng nhỏ về số khoản mục trong cả danh mục thuốc bệnh viện Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa năm 2014, các thuốc nhóm A chiếm 20,83%
số khoản mục [36] còn tại Bệnh viện đa khoa Cao su Dầu Tiếng – Bình Dương năm 2015 là 10,2% [10], tại Bệnh viện đa khoa thành phố Thái Bình năm 2014
là 16,4% [13], tại Bệnh viện đa khoa Bà Rịa là 18,84% [23]
Phân tích riêng các thuốc nhóm A thì tại Bệnh viện Quân Y 7B tỉnh Đồng Nai, 1/3 số thuốc nhóm A là thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, chiếm 44,5% tổng chi phí về thuốc nhóm A Nhóm NSAIDs và các thuốc điều trị bệnh xương khớp cũng là một nhóm thuốc có chi phí cao thuộc nhóm A tại bệnh viện này Hơn nữa, 51% số khoản mục thuốc nhóm A là thuốc sản xuất trong nước, chiếm 46% tổng giá trị sử dụng thuốc nhóm A [25] Tại Bệnh viện
đa khoa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn cũng là nhóm thuốc chiếm phần lớn giá trị sử dụng trong nhóm A (với 32%), nhóm thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, y học cổ truyền chiếm 26% [14] Tại Bệnh viện đa khoa Gò Quao tỉnh Kiên Giang, có 86% số thuốc nhóm A là thuốc sản xuất trong nước, chiếm 79% tổng chi tiêu tiền thuốc nhóm A của bệnh viện [22]
1.3.8 Phân tích danh mục thuốc bệnh viện theo phương pháp VEN
Số lượng cũng như tỷ trọng của các khoản mục thuốc và giá trị sử dụng của ba nhóm V, E, N tại các bệnh viện là khác nhau Tuy nhiên, các bệnh viện cần chú ý cân nhắc những thuốc nhóm N trong khi sử dụng
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Quân Y 7B, 10,4% số khoản mục thuốc là thuốc nhóm V, chiếm 17,1% tổng giá trị sử dụng; 77% số
Trang 27khoản mục thuốc là thuốc nhóm E, chiếm 72,4% tổng giá trị sử dụng và 13% là thuốc nhóm N, chiếm 10,4% tổng giá trị sử dụng [25] Tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, 52,5% số khoản mục thuốc bệnh viện sử dụng trong năm 2015 là thuốc nhóm V, chiếm 58% tổng giá trị sử dụng trong khi thuốc nhóm N chỉ chiếm 20,2% số khoản mục thuốc (37 thuốc), tương ứng 18,2% tổng giá trị sử dụng [37]
1.3.9 Ma trận ABC/VEN
Khi phân tích ma trận ABC/VEN, phân nhóm thuốc A-N là phân nhóm cần được xem xét khi sử dụng nhất vì các thuốc thuộc phân nhóm này không những không thật sự thiết yếu mà lại còn có chi phí cao, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn chi tiêu tiền thuốc bệnh viện
Tại Bệnh viện Quân y 7B tỉnh Đồng Nai, năm 2015 bệnh viện có 3 thuốc được xếp vào phân nhóm A-N với tổng kinh phí lên đến 830 triệu đồng Các thuốc nhóm A-N của bệnh viện đều là các vitamin và khoáng chất [25] Tại Trung tâm Y tế thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước, bệnh viện sử dụng 4 thuốc A-N với tổng kinh phí là 358 triệu đồng trong năm 2015, chủ yếu là vitamin và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu [33] Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An cũng có 6 thuốc được sử dụng trong năm 2015 thuộc phân nhóm A-N với tổng kinh phí lên đến 2,7 tỷ đồng, chủ yếu là các chế phẩm y học cổ truyền [37]
1.4 VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
Bệnh viện đa khoa huyện Định Hoá là đơn vị trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên Bệnh viện hiện có 14 khoa, phòng chức năng, bao gồm: 06 khoa lâm sàng, 02 khoa cận lâm sàng, 06 phòng chức năng và 01 phòng khám đa khoa khu vực Trên thực tế, phòng khám đa khoa khu vực do nhiều nguyên nhân nên thực tế hoạt động lồng ghép với Trạm y tế xã Bình Yên
Trang 28Hiện tại, bệnh viện gồm có 125 cán bộ viên chức và hợp đồng, trong đó
có 22 bác sỹ, 12 cán bộ sau đại học; 20 cán bộ viên chức trình độ đại học, 10 cán
bộ trình độ cao đẳng, 43 cán bộ trình độ trung học và 18 cán bộ thuộc các đối tượng khác
Bệnh viện hoạt động với nhiều thuận lợi như được sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám đốc Sở Y tế Thái Nguyên cùng các phòng ban chức năng của Sở
đã giúp đỡ cũng như sự quan tâm chỉ đạo của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan ban ngành trong huyện đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho công tác khám chữa bệnh Ban Giám đốc bệnh viện có sự đoàn kết nhất trí cao, tập thể cán bộ nhân viên toàn bệnh viện thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện thật tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân các dân tộc trong huyện Bệnh viện cũng được người bệnh tin tưởng hợp tác, luôn đóng góp những ý kiến thiết thực và bổ ích trong công tác phục vụ Cơ sở vật chất về hạ tầng, trang thiết bị y
tế đáp ứng tương đối cơ bản cho công tác chẩn đoán và điều trị
Bên cạnh đó, trong hoạt động khám chữa bệnh, bệnh viện cũng có nhiều khó khăn và đang từng bước cố gắng giải quyết và phấn đấu vươn lên Bệnh viện được giao chỉ tiêu 130 giường nhưng lưu lượng người bệnh đông, thường xuyên dao động ở mức 200-220, có những thời điểm trên 300 người bệnh Để nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế, đơn vị phải cử cán bộ đi đào tạo nâng cao các kỹ năng chuyên môn nên bệnh viện luôn trong tình trạng thiếu nhân lực nhất
là bác sỹ Lực lượng bác sỹ thiếu là một trở ngại lớn cho công tác điều trị, chăm sóc và cải tiến chất lượng các dịch vụ Mô hình bệnh tật của cộng đồng dân cư huyện những năm trở lại đây càng trở nên phức tạp; thông tuyến huyện trong khám chữa bệnh BHYT nên lượng người bệnh đến khám và điều trị nội trú đông hơn Cơ số thuốc theo kết quả đấu thầu thuốc và vật tư y tế các nhà thầu cung ứng đôi lúc còn chậm, thậm chí một số nhà thầu từ chối cung ứng nên cũng là một khó khăn rất lớn cho đơn vị Thanh toán BHYT chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến kinh phí khám chữa bệnh
Trang 29Tuy nhiên với sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể của Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban Chấp hành Công đoàn cũng như sự quyết tâm cao của tập thể cán bộ nhân viên,
vì sức khoẻ nhân dân, hướng tới mục tiêu: Người bệnh là trung tâm, người bệnh
là khách hàng đặc biệt, không để sai sót chuyên môn xảy ra nên trong năm 2016 Bệnh viện đa khoa huyện Định Hoá đã đạt nhiều kết quả tốt Đánh giá việc thực hiện chi tiêu nhà nước năm 2016: tất cả các chỉ tiêu điều hoàn thành vượt mức
so với chỉ tiêu kế hoạch
Nhằm mục đích mang lại một số số liệu cho công tác quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện để bệnh viện ngày càng hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, nghiên cứu được thực hiện với
tên gọi: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện
Định Hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2016” bao gồm 2 mục tiêu chính:
- Mô tả danh mục thuốc sử dụng tại BVĐK huyện Định Hóa năm 2016
- Phân tích ABC/VEN danh mục thuốc sử dụng tại BVĐK huyện Định Hóa năm 2016
Từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất cho khoa Dược cũng như Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn các thuốc để đưa vào danh mục thuốc bệnh viện sao cho hợp lý và hiệu quả hơn
Trang 30Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên đã sử dụng trong năm 2016 (từ ngày 1/1/2016 đến hết ngày 31/12/2016)
Thời gian nghiên cứu: tháng 5/2017 đến tháng 9/2017
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
T
T Tên biến Khái niệm
Phân loại biến
Nguồn thu thập
Mục tiêu 1: Mô tả danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016
2
Cơ cấu danh mục
thuốc theo nguồn
gốc xuất xứ
Danh mục thuốc được phân thành hai nhóm là thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu, tính tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và kinh phí đã sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
Trang 313
Cơ cấu danh mục
thuốc theo nhóm
thuốc tân dược và
thuốc đông dược
Danh mục thuốc được phân thành hai nhóm là thuốc tân dược và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu – y học cổ truyền, tính tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và kinh phí đã sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
4
Cơ cấu của các
thuốc tân dược
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
đa thành phần (2 hoạt chất trở lên có tác dụng dược lý), tính
tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc
và kinh phí đã sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
số lượng thuốc và kinh phí đã
sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
Trang 327
Cơ cấu các thuốc
tân dược theo các
nhóm tác dụng
dược lý
Nhóm thuốc tân dược được phân thành các nhóm tác dụng dược lý theo thông tư 40/2014 TT-BYT, tính tỷ lệ phần trăm
số lượng thuốc và kinh phí đã
sử dụng cho mỗi nhóm của bệnh viện trong năm 2016
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
8
Cơ cấu các thuốc
số lượng thuốc và kinh phí đã
sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
Mục tiêu 2: Phân tích ABC/VEN danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Định Hóa năm 2016
10
Cơ cấu danh mục
thuốc theo phân
tích ABC
Danh mục thuốc được phân thành 3 nhóm theo phương pháp phân tích ABC, tính tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và kinh phí sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
Trang 33TT-Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
13
Cơ cấu danh mục
thuốc theo phân
tích VEN
Danh mục thuốc được phân thành 3 nhóm theo phương pháp phân tích VEN, tính tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và kinh phí đã sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc
và kinh phí đã sử dụng cho mỗi nhóm
Dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng trong năm
2016
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp hồi cứu mô tả, chủ yếu dựa trên danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện trong năm 2016
Trang 34Hồi cứu mô tả
Hình 2.2 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
Danh mục thuốc của Bệnh viện đa khoa Định Hóa tỉnh Thái Nguyên đã sử dụng trong năm 2016
Mục tiêu 1: Mô tả danh mục
thuốc sử dụng tại BVĐK huyện
- Cơ cấu danh mục thuốc theo
thuốc tân dược và thuốc có
nguồn gốc từ dược liệu
- Cơ cấu danh mục thuốc theo
dạng bào chế
- Cơ cấu nhóm thuốc tân dược
theo thuốc biệt dược gốc và
thuốc generic, thuốc đơn thành
phần và đa thành phần
- Cơ cấu nhóm thuốc tân dược
theo nhóm tác dụng dược lý
- Phân tích ABC + Cơ cấu nhóm thuốc A theo tác dụng dược lý
+ Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh trong nhóm A
- Phân tích VEN
- Ma trận ABC-VEN
Kết luận, đề xuất, kiến nghị
Trang 352.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập bằng mẫu thu thập thông tin tại Phụ lục 1
Thu thập các tài liệu sẵn có bao gồm:
- Báo cáo sử dụng thuốc của đơn vị năm 2016, Báo cáo nhập – xuất – tồn năm 2016 lưu tại Khoa Dược
- Kinh phí mua thuốc năm 2016 theo DMTBV lưu tại Phòng Tài chính –
cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2016 tại Bệnh viện theo các nội dung sau:
+ Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
+ Cơ cấu thuốc biệt dược - thuốc có nguồn gốc từ dược liệu
+ Cơ cấu thuốc biệt dược đơn thành phần - đa thành phần
+ Cơ cấu thuốc biệt dược gốc – thuốc generic
+ Cơ cấu thuốc theo dạng bào chế