Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học nói chung và ở bộ môn Ngữ Văn nói riêng là nội dung quan trọng được các cấp của ngành giáo dục triển khai tạo nên luồng sinh khí mới cho sự sáng tạo trong hoạt động chuyên môn của người thầy giáo dạy văn. Với vai trò tích cực hoá các hoạt động tạo hứng thú, phát huy tối đa khả năng tư duy,cảm thụ, sử dụng SĐTD trong dạy học văn là vấn đề tâm điểm, có tầm quan trọng trong việc thực thi phương pháp đổi mới lấy học sinh làm trung tâm, giúp giảm tải chương trình, góp phần xây dựng phong trào “Trường học thân thiện học sinh tích cực”.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH QUA VIỆC
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY - HỌC NGỮ VĂN 9
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ
1/TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ
Năm học 2011-2012 là năm thực hiện “giảm tải chương trình”, “đổi mới kiểm tra đánh giá” và hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện với chủ đề là “Tiếp tục đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng dạy học”, thực hiện triển khai
“Xây dựng mô hình trường THCS tổ chức hoạt động đổi mới phương pháp dạy học” Ngữ văn là một môn học có vai trò rất lớn trong việc bồi dưỡng giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm, kĩ năng sống, phát triển tư duy cho học sinh Điều đó đặt
ra yêu cầu trong phương pháp dạy học tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết,gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động củacuộc sống
Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học nói chung và ở bộ môn Ngữ Vănnói riêng là nội dung quan trọng được các cấp của ngành giáo dục triển khai tạo nênluồng sinh khí mới cho sự sáng tạo trong hoạt động chuyên môn của người thầygiáo dạy văn Với vai trò tích cực hoá các hoạt động tạo hứng thú, phát huy tối đakhả năng tư duy,cảm thụ, sử dụng SĐTD trong dạy học văn là vấn đề tâm điểm, cótầm quan trọng trong việc thực thi phương pháp đổi mới lấy học sinh làm trung
tâm, giúp giảm tải chương trình, góp phần xây dựng phong trào “Trường học thân thiện học sinh tích cực”
2 /THỰC TRẠNG LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ:
Những năm gần đây, một thực trạng đáng lo ngại là tâm lý thờ ơ với việc họcvăn ở học sinh Với phân môn Văn thì các em cho là nặng nề mất nhiều thời gian,
phân môn Tiếng Việt thì “khó, khô, khổ”, kĩ năng làm Tập làm văn ở nhiều học sinh
còn rất yếu Và học sinh (HS) chưa thật sự phát huy hết tính tính cực, chủ động,chưa thật sự hứng thú trong việc học môn Ngữ Văn Điều đáng buồn nhất đối vớithầy giáo dạy văn là đa số học sinh có năng khiếu văn lại không muốn tham gia độituyển văn mà lại “nỗ lực” với các môn Toán, lí, hóa, Anh
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Một phần là do người dạy vớiphương pháp dạy học chưa đáp ứng được nhu cầu học văn của học sinh trong tìnhhình xã hội hiện đại Vấn đề đặt ra là người thầy phải tích cực đổi mới phương phápdạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các emphương pháp học văn hiệu quả nhất
3/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mớiphương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngữ văn trong các nhàtrường phổ thông Qua hơn 1 năm được tập huấn về 7 module phần mềm dạy họctôi nhận thấy việc sử dụng phần mềm Mindmap để soạn SĐTD rất có tính khả thi.Thực ra từ lâu tôi đã luôn có ý thức sơ đồ hóa mọi kiến thức trong giảng dạy Ngữvăn để học sinh vừa có cái nhìn tổng thể về một nội dung lớn của kiến thức chương,phần và vừa nắm vững cả mối quan hệ nội tại rất chi tiết của từng vấn đề nhỏ Cách
Trang 2tôi cho học sinh ghi vở bao giờ cũng cô đọng chắt lọc SĐTD đối với tôi như mộtluồng ánh sáng mới soi vào những trang giáo án để các hoạt động dạy-học phát huytối đa hiệu quả
Đầu năm học 2011 – 2012, chương trình VVOB tổ chức Hội thi “Biên soạn
Kế hoạch bài dạy có ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”, tôi tham gia với
sản phẩm dự thi là Tiết 73- Ôn tập Tiếng Việt 9 với hai hoạt động sử dụng SĐTD(Kiểm tra bài cũ và phần Củng cố) Được dự lễ tổng kết và xem phần trình bày cácbài soạn đạt giải nhất, đặc biệt là bài Ánh trăng của thầy Nguyễn Tăng DungTrường THCS Nguyễn Duy Hiệu, tôi được học hỏi thêm ở nhiều về việc sử dụngSĐTD trong dạy Ngữ văn Tôi được tiếp tục học lớp tập huấn về SĐTD do phònggiáo dục Phú Ninh tổ chức lần 2 và càng hiểu sâu sắc hơn về bản chất, vai trò, cáchứng dụng SĐTD trong dạy học nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng
Bằng sự cố gắng tìm tòi học hỏi, bản thân tôi đã thành công trong nhiều tiếtdạy sử dụng SĐTD.Từ đó tôi thai nghén ý tưởng mở rộng nội dung nghiên cứutrong năm học này và lên kế hoạch thực thi và đã đúc kết thành đề tài sáng kiến
4/ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :
Trong điều kiện cho phép, đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin được trìnhbày trong giới hạn:
- Nội dung nghiên cứu: phát huy tính tích cực của học sinh trong việc sử dụngBĐTD; bộ môn: Ngữ Văn ; khối lớp: 9
- Kế hoạch thực hiện: Nghiên cứu lí luận, điều tra thực trạng, thực hiện cácbiện pháp, đánh giá kết quả thực tiễn, rút bài học kinh nghiệm
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Những vấn đề cơ bản của lý thuyết Bản đồ tư duy mà Tony Buzan đã tạodựng cùng với những chứng cứ khoa học đã chứng minh những ưu điểm, tính năngSĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực SĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức
và phát triển tư duy giúp người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thôngtin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo vàhiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên
phạm vi sâu rộng Tính chất ưu điểm của SĐTD thể hiện ở các mặt: sự hình dung,
sự liên tưởng, tưởng tượng, làm nổi bật sự việc
Theo Tiến sĩ Trần Ðình Châu, Vụ trưởng, Giám đốc Dự án phát triển giáo
dục THCS cũng đã khẳng định rằng: “Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra Vì vậy, việc sử dụng SÐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não; giúp cho mỗi người phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục mầu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa học, lô-gích, dễ hiểu Sử dụng SÐTD góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức phù hợp với từng đối tượng khác nhau” Vậy những cơ sở lí luận trên cho thấy, việc sử
dụng SĐTD vào việc dạy học Ngữ văn giúp giáo viên(GV) thực hiện tốt vai trò địnhhướng, tổ chức hoạt động dạy-học của mình, tạo điều kiện cho học sinh làm chủ quátrình học tập và sáng tạo không ngừng
Trang 3III/ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
Thực hiện các công văn của Sở giáo dục đào tạo Quảng Nam, Phòng giáo dụchuyện Phú Ninh, trường tôi chỉ đạo việc tập huấn và ứng dụng SĐTD vào công tácquản lí,soạn giảng Ban giám hiệu nhà trường đã có sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát chohoạt động chuyên môn này.Với tôi, việc dạy học bằng SĐTD đã được thực thi ngay
từ đầu năm Để xây dựng sáng kiến, ngay từ những tuần đầu,tôi tiến hành điều trakhảo sát 30 phút môn Ngữ Văn (kiến thức học kì II lớp 8 và tuần đầu ) ở hai lớp tôitrực tiếp giảng dạy và thống kê nắm tình hình chất lượng
SLHS
Lớp
Tôi nhận thấy chất lượng bài kiểm tra rất thấp Tỉ lệ học sinh đạt TB trở lên
chỉ có 64,37 % trong đó tỉ tệ đạt khá, giỏi là 13,8 % Điều đó đã phần nào phản ánh
tinh thần, thái độ học tập môn Ngữ văn của học sinh chưa tốt,chưa đáp ứng yêu cầucủa môn học.Vậy làm sao để khơi dậy ở các em tinh thần ham học văn? Và tôi thiếtnghĩ phải làm sao cho mỗi giờ học phải là một sự tìm hiểu, khám phá, nắm vữngkiến thức, cảm thụ trong sự tích cực, chủ động, hứng thú với tâm thế nhẹ nhàng,thoải mái.Vậy việc sử dụng SĐTD có góp phần vào sự thay đổi tình hình trênkhông? Từ băn khoăn đó, để tìm hiểu thực tế tính khả thi của việc sử dụng bản đồ tưduy, tôi dùng phiếu thăm dò tìm hiểu mức độ thích học các giờ dạy văn có dùngSĐTD.Kết quả như sau:
Số liệu về mức độ nắm kiến thức, hiểu bài, hứng thú
của học sinh qua tiết học văn bản
Số
SửdụngSĐTD
Hiểu, nắm kiến thứchoàn toàn
Hiểu cácnội dungchính
Hiểu các ý chính nhưngchưa đầy đủ
Hứng thúhọc
40 hs
9/2
Tuyên bố thế giới về quyền
30 hs(75.0%) (10,0 %)4 hs 36 hs(90,0 %)
Những con số trên đã cho thấy cùng một bài dạy có sử dụng SĐTD, tỉ lệ họcsinh hiểu bài, nắm vững, kiến thức trọng tâm, hứng thú học cao hơn so với tiết dạy
Trang 4không sử dụng Kết quả bản đầu là cơ sở thực tiễn chứng minh tính khả thi của việc
sử dụng SĐTD và đã đem đền cho tôi niềm tin để tiếp tục nghiên cứu lí luận, tiếnhành các biện pháp cụ thể
IV/ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1/ NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA B ĐTD TRONG VIỆC HỌC NGỮ VĂN.
Việc sử dụng sơ đồ trong dạy học là phương pháp tích cực được giáo viên sửdụng từ lâu trong dạy Ngữ văn Song trong phương pháp này, sử dụng Bản đồ tưduy là vấn đề có tính mới Để học sinh thực hiện tốt việc vận dụng BĐTD, trước hếttôi tranh thủ khoảng thời gian 15 phút truy bài gặp 2 lớp trực tiếp giảng dạy giớithiệu về đặc điểm, vai trò, cách thức sử dụng SĐTD trong việc học Ngữ Văn.Những nội dung tôi trình bày với các em được lấy từ nguồn tài liệu trong các đợttập huấn do sở giáo dục Quảng Nam tổ chức
a/ Đặc điểm của SĐTD.
Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy, … là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay mộtmạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêucầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗihọc sinh vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khácnhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theomột cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo củamỗi học sinh
b/Vai trò của BĐTD trong việc học Ngữ Văn.
BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực.
Thực tế cho thấy, một số học sinh có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặcngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ.Các em thường học gì ghi bài nấy, học phần sau không biết liên hệ với phần trước,không biết hệ thống kiến thức, liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiếnthức đã học trước vào bài học sau Việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy họcNgữ văn sẽ giúp học sinh học được phương pháp học nắm kiến thức nhanh và chắc,tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
SĐTD giúp học sinh học tập tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ
não Việc vẽ SĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh, các em
được tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng,cong ), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi SĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trìnhbày kiến thức Ngữ văn của từng học sinh và SĐTD do các em tự thiết kế nên các
em sẽ yêu quý, trân trọng “tác phẩm” của mình
SĐTD giúp HS ghi chép rất hiệu quả Do đặc điểm của SĐTD nên người
thiết kế SĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cầnthiết nhất và lôgic.Vận dụng SĐTD học sinh có thói quen tự tay ghi chép hay tổngkết một vấn đề, một chủ đề đã đọc, đã học theo cách hiểu của mình duy đồng thời
Trang 5giúp học sinh rèn luyện kỹ năng và tư duy khoa học, đặc biệt ghi nhớ được sâu sắc
mà không sa vào lối học vẹt, thuộc lòng máy móc
c/ Hướng dẫn học sinh sử dụng, phát huy vai trò của SĐTD
SĐTD có thể sử dụng thuận lợi ở bất kì điều kiện học tập nào Có thể thíêt
kế SĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc trên phần mềm Mindmap (học sinh trực
tiếp làm việc với máy tính)
- Làm cho bản đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tự hoặc
dàn ý để bao quát các nhánh của bản đồ
- Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin Những từ dư thừa chỉ làm
sơ đồ lộn xộn
Từ những hiểu biết ban đầu về vai trò cũng như cách sử dụng học sinh có mộttâm thế chủ động trong việc sử dụng để tìm hiểu kiến thức, rèn các kĩ năng của mônhọc
2 COI TRỌNG KHÂU CHUẨN BỊ CHO TIẾT DẠY-HỌC NGỮ VĂN
a Học sinh: Đầy đủ sách vở dụng cụ
- Sách giáo khoa Ngữ văn 9, sách bài tập ngữ văn 9 (2 tập)
- Vở: Vở học, vở soạn, vở bài tập, vở vẽ sơ đồ tư duy
- Bảng phụ (4 em có một bảng phụ), phấn màu hoặc bút lông màu
- Bút 6 màu viết vẽ trên vở
- Có kĩ năng hoạt động nhóm, tự tin mạnh dạn khi phát biểu bài
- Hướng dẫn học sinh cách vẽ BĐTD trong bảng phụ, trong vở
- Nắm vững nội dung các phương pháp dạy học tích cực
- Xây dựng đề kiểm tra sử dụng BĐTD (một phần nhỏ)
3/ SỬ DỤNG BĐTD NHẰM TÍCH CỰC HÓA GIỜ DẠY–HỌC NGỮ VĂN 9
a/ Dùng S ĐTD nhằm tích cực hóa giờ dạy –học văn ( phân môn Văn) :
Cơ chế hoạt động của SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (Các nhánh)- SĐTD là công cụ đồ hoạ nối các hình ảnh đường nét
có liên hệ với nhau, vì vậy SĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép vănhiệu quả Có thể sử dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, giúp học sinhnắm vững kiến thức về tác giả, chiếm lĩnh, cảm thụ tác phẩm văn học Song đặc
Trang 6điểm của ngôn ngữ văn học là mang tính hình tượng, sử dụng chủ yếu là phươngpháp gợi tìm, giảng bình, nêu vấn đề chứ không phải là phương pháp sơ đồ, bảngbiểu nên không phải lúc nào cũng sử dụng thành công sơ đồ tư duy
Đối với những tiết kiến thức nhiều, không nặng về rèn luyện kĩ năng cảm thụ
thì giáo viên có thể sử dụng SĐTD cho toàn bài như dạy tiết giới thiệu về tác giả
Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều hay văn bản nhật dụng: Tuyên bố thê giới vềquyền sống còn, bảo vệ phát triển của trẻ em, Đấu tranh cho một thế giới hòa bình Còn đối với những văn bản nghệ thuật thơ, truyện giáo viên có thể sử dụng tronghoạt động tổng kết về nội dung, nghệ thuật hoặc cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy ở nhà
để soạn bài trước khi đế lớp hoặc để củng cố lại toàn bộ kiến thức bài học
Nếu sử dụng cho toàn bài, giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức củabài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em đểcác em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện SĐTD.Qua SĐTD đóhọc sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng
Ví dụ 1: Dạy bài Truyện Kiều (tiết tìm hiểu chung về tác giả tác phẩm)
- Hoạt động 1: HS lập BĐTD với từ khóa và hoạt động nhóm:
Nhóm 1, 2, 3, 4 tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du
Nhóm 5, 6, 7, 8 tìm hiểu về tác phẩm Truyện Kiều theo câu hỏi gợi tìm củagiáo viên
- Hoạt động 2: HS hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
- Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTDvề kiến
thức của phần tìm hiểu tác giả tác phẩm GV là người cố vấn, là trọng tài giúp HShoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
- Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn kết
nối cả hai sơ đồ thành sơ đồ tư duy của học sinh ở hai nội dung (tác giả Nguyễn Du
và tác phẩm Truyện Kiều) thành sơ đồ tổng hợp, giới thiệu cho học sinh
Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
- Tác giả Nguyễn Du bao gồm các yếu tố :
+ Giá trị của Truyện Kiều: giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
Bằng phương pháp vấn đáp,hệ thống câu hỏi gợi mở, giáo viên là người cóvai trò định hướng cho học sinh khai thác kiến thức của bài học.Trên cơ sở đó hìnhthành và củng cố toàn bộ kiến thức về tác giả, tác phẩm truyện kiều cho HS bằngSĐTD
Trang 7
Nguyễn Du là thiên tài văn học,là danh nhân văn hóa,nhà nhân đạo chủ nghĩa có những đóng góp to lớn đối với
sự nghiệp văn học VN
Truy
Truy ện Kiều là kiệt tác văn học kết tinh những giá trị nhân đạo,hiện thực và thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân tộc
Ví dụ 2: Dạy văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn quyền được bảo vệ phát triển của trẻ em
Sau khi cho học sinh tìm hiểu chung GV cho HS tìm hiểu chi tiết văn bản,
GV vẽ từ khóa trọng tâm và cho học sinh tìm hiểu bố cục (3 phần: thách thức, cơhội, nhiệm vụ) và chia lớp thành 4 nhóm Nhóm 1 tìm hiểu phần thách thức chốt ýcác luận cứ bằng một nhánh của sơ đồ.Tương tự nhóm 2 hiểu phần cơ hội; nhóm 3,
4 phần nhiệm vụ
Từ hệ thống luận cứ trên các nhánh của bản đồ tư duy mà giáo viên tổng hợpcho học sinh tham khảo.GV hỏi thêm về cách thức thể hiện các luận điểm,luận cứcủa từng phần cho học sinh trả lời để tổng hợp về giá trị nghệ thuật-hình thức (ở vănbản nhật dụng này, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng gọi cách thể hiện của văn bản làhình thức)
Như vậy giáo viên vừa sử dụng phương pháp phát vấn, gợi tìm, phân tích kếthợp với phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sử dụng sơ đồ (phương phápdạy học tích cực ) đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung một văn bản văn bảnnhật dụng có hệ thống luận điểm luận cứ tương đối nhiều một cách nhanh gọn, pháthuy được tính hợp tác và tích cực của học sinh Sơ đồ được hình thành giúp họcsinh có một cái nhìn tổng thể và dễ khắc sâu kiến thức hơn cách dạy thông thường
Sơ đồ tư duy : Khái quát bài Truyện Kiều
Trang 8
Ví dụ 3: Dạy bài Mùa xuân nho nhỏ
Ở phần hoạt động hướng dẫn học sinh tổng kết văn bản giáo viên cho thảoluận nhóm với hệ thống câu hỏi sau
- Bài thơ thể hiện những tình cảm, cảm xúc gì? (Nhóm 1, 2)
- Có người cho rằng nhan đề bài thơ rất độc đáo, ý em thế nào? (Nhóm 3, 4)
- Những cảm nghĩ, suy ngẫm nào trong em được gợi lên từ bài thơ ? (Nhóm 5,6)
- Vẽ sơ đồ tư duy những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ ? (Nhóm 7, 8)
Sau khi thảo luận nhóm ghi vào bảng phụ, đại diện 3 nhóm (trong các nhóm
1, 2, 3, 4, 5, 6) trình bày tìm hiểu nội dung tư tưởng bài thơ, nhan đề Riêng 1nhóm (trong 2 nhóm 7, 8) vẽ trên bảng phụ bằng phấn màu hoặc bút màu trến giấyA2 và thuyết trình về những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.Nhóm khác góp ý bổ sung Sau đây là hình ảnh một sơ đồ do một nhóm học sinh vẽ
9 (thấy sơ đồ hơi lạ,chữ lại viết vòng,khó xem, tôi đã hỏi ý tưởng nào mà nhóm em
vẽ như thế, các em bảo là “bình hoa với chùm hoa như bóng bay đủ màu tượngtrưng cho những nét đẹp của xuân đó cũng là những nét đặc sắc nghệ thuật của bàithơ”)
Sơ đồ tư duy: Nội dung bản “ Tuyên bố thê giới
về quyền sống còn,được bảo vệ và phát triển của trẻ em”
Trang 9Sau đó ,giáo viên chốt ý cơ bản và giới thiệu SĐTD gợi ý.
Trang 10
Nếu dạy giáo án điện tử thì giáo viên tạo liên kết cho xuất hiện sơ đồ tùy lúc.Còn dạy phương tiện thông thường, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ trên giấy khổ to
và dùng nam châm đưa lên bảng lớn Như vậy, ở văn bản thơ này giáo viên sử dụngSĐTD trong việc kết hợp với phương pháp nêu vấn đề, phương pháp tích hợp (vớiđời sống), phương pháp thảo luận nhóm nhằm khơi gợi sự hứng thú tích cực của HSkhi tìm hiểu có tính khái quát, tổng hợp về nội dung nghệ thuật của tác phẩm thơ.Việc sử dụng SĐTD ở một phần của bài học (phần tổng kết) là có dụng ý vì để tiếtdạy thơ vẫn đảm bảo được việc sử dụng những phương pháp dạy học đặc trưng(phương pháp phân tích,giảng bình) Tiết dạy sử dụng hợp lí SĐTD vừa giúp họcsinh cảm thụ được đến từng giá trị nghệ thuật, nội dung trong cái nhìn hòa quyệnvới tổng thể giá trị tư tưởng của toàn bài một cách chủ động, hứng thú
Thời gian dạy 45 phút cho một tiết Đọc- hiểu văn bản thơ thường là được sửdụng tối đa cho nên có thể cho học sinh soạn bài ở nhà bằng cách vẽ sơ đồ tư duycho cả văn bản Phần củng cố giáo viên cần dùng sơ đồ đã thiết lập cho học sinhtham khảo (ví dụ : sơ đồ tư duy bài Đồng chí)
Ở ba phân môn đều có thể sử dụng SĐTD Tuy nhiên riêng phân môn giảngvăn (Đọc hiểu văn bản) thì cần xác định rõ mục tiêu sử dụng và tính khả thi hữuhiệu của nó Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng SĐTD hỗ trợ đọc hiểu các vănbản sẽ là thuận lợi Nhưng với văn bản thơ, truyện, muốn dùng SĐTD để biểu hiệnmột văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt ý).SĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong nghệthuật dùng ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, cấu trúc tác phẩm Vì vậy, sử dụng
Sơ đồ tư duy khái quát bài Đồng chí
Trang 11SĐTD trong dạy học Ngữ Văn là cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức độ sử dụngtrong việc dạy văn bản và cần tránh sự suy diễn khô khan dẫn làm đánh mất giá trịtác phẩm.
b/
Dùng BĐTD để tích cực hóa giờ dạy Tiếng Việt
Dạy Tiếng Việt cần chú trọng khâu thực hành luyện tập Để học sinh làm tốtdạng bài tập nhận biết, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn điều quan trọng đầu tiên làphải dạy cho học sinh nắm vững kiến thức lí thuyết SĐTD sẽ giúp học sinh có sự
hệ thống hóa kiến thức từng bài từng chương, phần nhất là ở sự so sánh, tích hợp,khắc sâu kiến thức và tiết kiệm được thời gian
Ví dụ 1: Bài Cách dẫn trực tiếp cách dẫn gián tiếp
Giáo viên có thể vẽ mô hình SĐTD lên bảng SĐTD gồm 2 nhánh chính: dẫntrực tiếp, dẫn gián tiếp Mỗi nhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vàonội dung khái niệm
Để có thể hoàn thiện được mô hình SĐTD của bài học, giáo viên sử dụng hệthống câu hỏi định hướng để HS tìm hiểu, khai thác kiến thức
Ví dụ 2: Bài Các phương châm hội thoại (PCHT)
Để hệ thống lại toàn bộ kiến thức về Các PCHT học, ở phần củng cồ (cuốitiết 2) của bài này, giáo viên cho học sinh hình thành sơ đồ về các PCHT và gợi chohọc sinh minh họa hình vẽ theo ý thích (vẽ trên giấy A0 theo nhóm Vì mỗi mộthình ảnh đều gợi nhớ đến nội dung của một câu ca dao hoặc tục ngữ hoặc câu thơ cóliên quan đến một PCHT đã học (Nội dung PCHT về lượng liên quan đến câu
chuyện: Bơi dưới nước, Lợn cưới áo mới, bài tập nói về loài chim có hai cánh Nội dung PC về chất liên quan đến câu chuyện: Quả bí khổng lồ, Con rắn vuông Nội dung PC quan hệ liên quan đến thành ngữ: Ông nói gà bà nói vịt, Câu chuyện
“Sóng” Nội dung PC cách thức liên quan đến thành ngữ: “Dây cà ra dây muống”,
“Lúng búng như ngậm hột thị”, câu chuyện: “Trâu cày không được làm thịt” Nội dung PC lịch sự liên quan đến câu ca dao: Vàng thì thử lửa thử than/ Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời thành ngữ: Nói như dùi đục chấm mắm cáy, Câu chuyện
“Người ăn xin” )
Sau đây là một sơ đồ tư duy về các PC của học sinh lớp 9/2 vẽ
Sơ đồ tư duy về cách dẫn lời nói, ý nghĩ
Trang 12
Đây là bài tập củng cố kiến thức một cách chắc chắn cho học sinh về nộidung Tiếng Việt này Như thế học sinh vẽ tùy thích khi chọn một hình ảnh cho mỗiphương châm Sự tích hợp giữa lí thuyết với bài tập liên quan giúp khắc sâu kiếnthức vừa học và phát huy được năng lục tư duy,sáng tạo của học sinh
Ví dụ 2: Dạy bài Tổng kết từ vựng (tượng thanh tượng hình và một số phép
Trang 13GV cho từ khóa và sơ đồ nhánh cấp 1 gồm 4 nhánh đều màu đen (để họcsinh khó đoán ngay) sau đó đưa các ghép nhánh con A, B, C, D cho tổ chức trò
chơi (sơ đồ tư duy bài tập ở trang 12) Trò chơi hoàn thành, sơ đồ được lắp ghép
toàn vẹn phù hợp
Nhờ hoạt động này mà học sinh có cái nhìn tổng thể về cả phần ôn tập tổng
kết từ vựng ở cả chương trình Tiếng Việt THCS một cách một cách nhẹ nhàng, tự
nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của HS
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thứctrọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ SĐTD Mỗi bài học được vẽkiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em
dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng
c/ Dùng BĐTD để tích cực hóa giờ dạy –học Tập làm văn :
Ở phân môn Tập làm văn cũng có thể sử dụng SĐTD ở những tiết lí thuyết cótính chất hướng dẫn học sinh qui nạp kiến thức về kiểu bài Song cần thấy rằng sơ
đồ tư duy sử dụng rất hữu hiệu cho việc rèn kĩ năng tìm hiểu đề tìm ý, lập dàn ý Đểhọc sinh không máy móc chép văn mẫu, bài mẫu, giáo viên cần cho học sinh nắmvững phương pháp thực hiện các kĩ năng Kĩ năng tìm ý lập dàn ý tương đối khó vàđòi hỏi nhiều thời gian làm bài khiến học sinh thường hay lúng túng Sử dụngSĐTD hướng dẫn học sinh kĩ năng này rất thuận lợi và nhanh chóng, hiệu quả bởicác em luôn có sự chủ động, tích cực trong việc nắm bắt hệ thống câu hỏi cơ bảntìm luận điểm, luận cứ cho mỗi dạng bài nghị luận
Ví dụ : Bài Cách làm bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống
Trang 14SGK cho học sinh tìm hiểu cách làm bài bằng hai bài tập đều là hiện tượngđáng khen: suy nghĩ về hiện tượng Phạm Văn Nghĩa và về hiện tượng nhân vậtNguyễn Hiền (Đề 4 trang 22-SGK Ngữ văn 9 tập 2) Để cho học sinh nắm phươngpháp làm kiểu nghị luận này, giáo viên cần tổ chức hoạt động vẽ SĐTD để học sinhtìm ý cho dàn ý bài về hiện tượng Phạm Văn Nghĩa.
GV cho từ khóa: Phạm Văn Nghĩa và cho học sinh thảo luận nhóm 8 vẽnhánh các yêu cầu theo các luận điểm cơ bản và vẽ nhánh cho các luận cứ Từ sơ đồcủa nhóm đại diện trình bày phần tìm ý GV tiếp tục nêu các câu hỏi rút ra cách làmnghị luận về sự việc hiện tượng nói chung và sự việc hiện tượng đáng khen nóiriêng SĐTD cho học sinh tìm ý được tôi xây dựng như sau
Phần luyện tập (sgk) suy nghĩ về nhân vật trạng nguyên Nguyễn Hiền cũng
là dạng nghị luận về hiện tượng đáng khen (trùng lại với dạng bài ở đề về hiệntượng Phạm Văn Nghĩa) nên cần cho làm ở nhà và dành thời gian để hình thành một
sơ đồ tư duy cho một đề bài về một đề bài nghị luận về hiện tượng đáng chê “Vứtrác bừa bãi” (Đề 4 trang 34 SGK Ngữ văn 9 tập 2 - Tiết bài viết số 5) để luyện thêm
về kĩ năng tìm ý, lập dàn ý cho học sinh
Giáo viên sử dụng từ khóa cho sơ đồ là vấn đề nghị luận “Hiện tượng vức rácbừa bãi” và lần lượt sử dụng hệ thống câu tìm hệ thống luận cứ (làm rõ luận điểmcủa bài văn) là:
- Biểu hiện gì? (đối tượng vứt rác là ai? Vứt ở đâu? Vứt khi nào? Cảnh tượng
ra sao?)
- Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng trên? (nguyên nhân khách quan (môitrường sống ? Thói quen cộng đồng? Những qui định pháp luật? nguyên nhân chủquan (Sự hiểu biết? tính cách? Lối sống?)
- Tác hại gì ? (về môi trường không khí ? môi trường nước? Tác hại đến sứckhỏe, kinh tế ?)
- Giải pháp ra sao? (cần dựa vào nguyên nhân để tìm giải pháp)
Trang 15GV sử dụng câu hỏi gợi tìm lần lượt cho nhiều đối tượng học sinh trả lời,quantâm đến cả những em không giơ tay phát biểu vì đề bài có tính gần gũi với cuộcsống, các em sẽ đưa ra được những ý kiến phong phú nếu giáo viên biết khơi gợi,phát huy những hiểu biết, khả năng đánh giá vốn tiềm tàng ở học sinh Sau đây là
SĐTD xây dựng cách tìm ý, lập dàn ý cho đề bài Hiện tượng vứt rác bừa bãi
Bố cục Hiện tượng đáng khen Hiện tượng đáng chê
Mở bài Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận
Thân bài
2.Đánh giá, nhận xét về biểuhiện
2.Phân tích nguyên nhân củanhững biểu hiện
3.Phân tích tác dụng, vai trò củahiện tượng
3.Phân tích tác hại của hiệntượng
Kết bài - Khẳng định ý nghĩa
- Liên hệ bản thân
-Nêu giải pháp khắc phục-Liên hệ bản thân
Vậy nhờ sử dụng SĐTD mà tiết dạy giúp HS chủ động tìm hiểu, qui nạpkiến thức để từ đó rèn kĩ năng, phương pháp tìm ý, lập dàn ý cho từng dạng của kiểu
Trang 16bài nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống một cách chủ động, tích cực Sau bàihọc này, tôi cho HS luyện tập về nhà bằng cách lập dàn ý cho hai đề bài vừa học
Một điều cần lưu ý là sử dụng SĐTD trong dạy Tập làm văn không nên quácực đoan cho rằng chỉ có sử dụng SĐTD mới có thể giúp người học sinh học đạtđược mục tiêu rèn kĩ năng cần hướng đến ở phân môn nói riêng và môn Ngữ vănnói chung Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ đồ hoá, người học cònphải biết thực hành ngôn ngữ bằng việc đọc, nói và viết Bản đồ tư duy nếu bị lạmdụng sẽ làm hạn chế kĩ năng viết câu, xây dựng đoạn, liên kết đoạn, viết bài tập làmvăn của học sinh
Sau đây là hình ảnh những sơ đồ tư duy dàn ý do các em vẽ ở nhà về dàn ýcho hai đề bài vừa học
SĐTD về hiện tượng Vứt rác bừa bãi của em Phạm Thị Thẩm lớp 9/2
Trang 17
d/ S ử dụng S Đ TD kết hợp với phương pháp dạy học tích cực
SĐTD về hiện tượng Vứt rác bừa bãi của em Nguyễn Thị Duyên lớp 9/1
SĐTD về hiện tượng Phạm Văn Nghĩa của em Nguyễn Thị Hoàn Hậu lớp 9/2
Trang 18Sử dụng SĐTD là nội dung có tính mới của việc vận dụng một phương phápdạy học tích cực: phương pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học Ngữ văn Phương phápnày không thể sử dụng độc lập mà cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn với các phươngpháp dạy học khác thì mới phát huy hết hiệu quả
Đối với những SĐTD mà giáo viên có chủ ý vừa hình thành vừa qui nạp hoặc
hệ thống hóa kiến thức có tính ổn định về mô hình cấu trúc thì giáo viên cho từ khóarồi sử dụng phương pháp gợi tìm, phương pháp phát vấn đàm thoại cho học sinh tìmnhánh con trả lời các nội dung cần bổ sung để hoàn thành sơ đồ tư duy
Đối với những sơ đồ củng cố kiến thức có liên quan đến hình ảnh và hình ảnh
sẽ có tác dụng tích cực trong việc tư duy của học sinh thì nên kết hợp với phươngpháp sử dụng tranh ảnh (sơ đồ Các phương châm hội thoại)
Với những sơ đồ đơn giản giáo viên có thể cho học sinh vẽ tại lớp kết hợp với
trò chơi Ai nhanh hơn hoặc Xem nhánh đoán từ khóa hoặc Lắp ghép nhánh sơ
đồ (phương pháp tổ chức trò chơi)
Có những nội dung kiến thức bài học có tính đa chiều cần sự hợp tác, chia sẻthì sử dụng SĐTD phối hợp với phương pháp thảo luận nhóm là rất cần thiết Nhưchúng ta đã biết, SĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới
để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình
tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của sơ đồ tư duy và tổngquan toàn bộ kết quả của nhóm ra sao Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việctrong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mìnhthuộc ý lớn nào và tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩtập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lan man và đilạc chủ đề Bởi mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng nên sơ
đồ tư duy của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đềuđược thể hiện trên sơ đồ tư duy
Sử dụng SĐTD kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm đã được thể hiệnqua một số ví dụ nêu trên và tôi xin được giới thiệu thêm một trường hợp sử dụng
có tính phát huy tối đa sự kết hợp này qua tiết luyện nói
Ví dụ : Bài Luyện nói nghị luận về đoạn thơ bài thơ
Đề bài: Bếp lửa sưởi ấm một đời – Bàn về bài thơ bếp lửa của Bằng Việt
Sau khi cho học sinh phân tích đề (Kiểu bài: Nghị luận về bài thơ Nội dung:Bếp lửa sưởi ấm một đời - Bếp lửa từ trong kỉ niệm của tuổi thơ luôn sưởi ấm tâmhồn, nâng đỡ con người trên chặng hành trình dài của cuộc đời), GV hướng dẫn họcsinh lập ý :
+ Theo yêu cầu đề bài, phần mở bài ta phải làm gì?
+ Phần thân bài, để nghị luận về vấn đề đó trong bài thơ, em cần xây dựng hệthống luận điểm như thế nào? Dùng những luận cứ, luận chứng nào?
+ Kết bài ra sao?
+ Hãy vẽ BĐTD theo ý tưởng dàn ý của mỗi nhóm (chia 4 nhóm)
Giáo viên chọn treo lên bảng hai BĐTD
+ Hãy cử đại diện trình bày dàn ý bài luyện nói thông qua bản đồ tư duy nhóm
em vẽ?
Trang 19Sau đây là một sơ đồ tư duy thảo luận nhóm học sinh lớp 92 về đề bài Bếplửa nêu trên
SĐTD sử dụng ở trường hợp này là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi
nó tối đa hoá được sáng tạo, sự hợp tác chia sẻ Mỗi học sinh trong nhóm đều rènluyện được khả năng tư duy, kỹ năng lập ý để thuyết trình Chỉ cần nhìn vào sơ đồ
tư duy, bất kỳ em nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài luyệnnói
4/ KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MINH HỌA CÓ SỬ DỤNG SƠ
ĐỒ TƯ DUY:
Tên bài dạy: ÔN TẬP VỀ TRUYỆN
A MỤC TIÊU: Giúp học sinh nắm
Kiến thức:
Trang 20- Nắm đặc trưng thể loại qua các yếu tố nhân vật, sự việc, cốt truyện
- Nắm khái quát hững nội dung, nghệ thuật cơ bản của các tác phẩm truyện hiện
đại Việt Nam
Kỹ năng :
Tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức về tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam
Thái độ, tình cảm :
- Tự hào về vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất con người Việt Nam
- Tình yêu gia đình, yêu con người, đất nước, tinh thần lạc quan
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ – Giới thiệu bài mới ( 5 phút)
Mục tiêu: Kiểm tra sự chẩn bị ôn tập nắm kiến thức cơ bản của học sinh Tạo
tâm thế vào bài mới
Phương pháp: phát vấn sử dụng sơ đồ, thuyết trình.
Kiểm tra bài
- Cho biết tác giả, năm sáng tác ?
- Vẽ và ghi tiếp vào sơ đồ tư duy ?
- Gọi học sinh trả lời
- Yêu cầu HS cả lớp nhận xét
- Trình chiếu tiếp các nhánh đểđến khi sơ đồ hoàn thiện
- Giới thiệu bài mới:
- HS được gọi tên
- Cả lớp tìm
hiểu nội dung câu hỏi
- HS được gọi tên trả lời
- HS nhận xét
- quan sát, lắng nghe
- HS cả lớp theo dõi
- Bảng trình chiếu:
+ Slide 4: câuhỏi kiểm tra
+ Slide 5: sơ
đồ minh họa
- Phần mềm Mindmap
Trang 21Họat động 2: Hướng dẫn học sinh thống kê các tác phẩm (10 phút)
Mục tiêu: Nắm tác giả, tác phẩm năm sáng tác, tóm tắt nội dung tác phẩm.
Phương pháp: Trực quan, phát vấn, sử dụng tranh ảnh, sơ đồ
I/ Thống kê
các tác phẩm
Hỏi 1(H1): Trò chơi: Đây là
ai? Từ thông tin gợi ý, em hãy quan sát tranh và cho biết đây là nhà văn nào (tác giả của những tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại mà em đã được học)?
Ông được mệnh danh là nhà văn của làng quê Việt Nam, tác phẩm của ông đã thể hiện những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng 8/1945
nghe, quan sát
- Lắng nghe,quan sát, trảlời
Bảng trình chiếu:
+ Slide 6:
giơí thiệu mục 1 của bàihọc và trò
chơi
+ Slide7, 8, 9,
10:Thông tin
và ảnh các tác giả, kết quả đáp án
Trang 22Ông là một nhà văn Nam Bộ,
rất am hiểu và gắn bó với
mảnh đất ấy Ông hầu như chỉ
viết về cuộc sống và con người
Nam Bộ trong chiến tranh và
sau hoà bình?
Một nhà văn nữ có sở trường
về truyện ngắn với ngòi bút
miêu tả tâm lí tinh tế.Trước
1975: viết về cuộc sống chiến
đsâu của những TNXP trên
chiến trường Trường Sơn.Sau
1975: Viết về những chuyển
biến xã hội và con người trên
tinh thần đổi mới
Những thiên truyện của ông
thể hiện một phong cách văn
xuôi nhẹ nhàng, tình cảm, giàu
chất thơ và mang nhiều ý
nghĩa sâu sắc về vẻ đẹp con
người
Ông được đánh giá là một
trong số những người “mở
đường tinh anh và tài năng”,
đã đi được xa nhất trong
chặng mở đầu của công cuộc
đổi mới văn học sau 1975
H: Hãy xếp lại nội dung tóm
tắt trong bảng thống kê
truyện cho phù hợp ?
- Lắng nghe, quan sát, trảlời
- Lắng nghe, quan sát, trảlời
- Lắng nghe, quan sát, trảlời
- Lắng nghe, quan sát, trảlời
Kim Lân
Nguyễn Quang Sáng
Lê Minh Khuê
Nguyễn Thành Long
Nguyễn Minh Châu
+Slide 12, 13:
Bảng tóm tắt nội dung tác phẩm