1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tác động của WTO đến các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật việt nam

12 301 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 37,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tác động của wto đến các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật việt nam 1. Đặt vấn đề Việc gia nhập WTO ảnh hưởng đến pháp luật Việt Nam trên nhiều lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, lao động, sở hữu trí tuệ… Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc gia nhập WTO đã tác động một cách một cách sâu rộng đến hệ thống quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Ở đây, em sẽ phân tích các quy định liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ vì đây là lĩnh vực mà quy định của TRIPS tác động rất mạnh đến pháp luật Việt Nam. 2. Giới thiệu về Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là Hiệp định TRIPS) Hiệp định TRIPS chính thức được ký kết vào 1541994 và có hiệu lực 111995. Cho đến thời điểm hiện nay, Hiệp định TRIPS được coi là Hiệp định đầy đủ và toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ vì TRIPS đã khẳng định lại các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ bởi các điều ước quốc tế trước đó đồng thời mở rộng sự bảo hộ đối với các đối tượng mới với những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên phải đảm bảo trong pháp luật của mình. Mặc dù không phải là Điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ, nhưng Hiệp định TRIPS là Điều ước quốc tế đầu tiên quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và qui định một hệ thống giải quyết tranh chấp “gắn với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và cơ chế rà soát chính sách thương mại”. Điều đặc biệt quan trọng là bên cạnh Hiệp định WTO, TRIPS phải được tất cả các nước thành viên WTO tuân thủ và thi hành. Các nước thành viên WTO muốn được hưởng những quyền lợi từ các nước thành viên khác thì trước hết phải thực hiện các nghĩa vụ của TRIPS. Chính vì vậy Hiệp định TRIPS đã tác động rất lớn đến pháp luật sở hữu trí tuệ các nước, đã mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, được coi là những tiêu chuẩn thế giới mới trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ . 3. Tác động của TRIPS trong thực thi Quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Bên cạnh các quy định về nội dung, TRIPS cũng có quy định về các biện pháp nhằm đảm bảo cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại lãnh thổ của mỗi quốc gia thành viên (phần III) . Thực thi quyền sở hữu trí tuệ là một yếu tố tối cần thiết, bởi vì sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu các điều luật chỉ tồn tại trên giấy . Mục đích của việc đưa ra các quy định này trong TRIPS là nhằm chống lại một cách hiệu quả việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Những biện pháp bảo đảm này bao gồm: các biện pháp khẩn cấp tạm thời; các chế tài dân sự, hình sự và hành chính nhằm để ngăn ngừa xâm phạm; các biện pháp tại biên giới. Gia nhập vào WTO, Việt Nam đã có những sửa đổi, bổ sung trong pháp luật để phù hợp với Hiệp định TRIPS. Thông qua so sánh các quy định trong pháp luật Việt Nam với các nội dung trong Hiệp định chúng ta có thể thấy được tác động của WTO đối với các quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật Việt Nam. 3.1 Quy định chung Việc áp dụng các biện pháp thực thi quyền SHTT cần phải thực hiện với các điều kiện chung (quy định tại Điều 41 Hiệp định TRIPS) như: Việc áp dụng các thủ tục thực thi quyền không được cản trở hoạt động thương mại và phải có biện pháp để chống sự lạm quyền. Các thủ tục thực thi phải đúng đắn, công bằng, không quá phức tạp, tốn kém và không có những giới hạn bất hợp lý về thời gian hoặc có sự chậm trễ không chính đáng. Các quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự, hành chính phải bảo đảm các điều kiện như: Bằng văn bản, nêu rõ lý do ra quyết định; Chỉ dựa trên chứng cứ mà các bên đã có cơ hội trình bày; Bảo đảm cho các bên trong vụ kiện có cơ hội đề nghị cơ quan tư pháp xem xét lại các quyết định hành chính cuối cùng và xem xét lại các quyết định xét xử ở cấp sơ thẩm. … Các điều kiện chung này đã được đảm bảo trong pháp luật Việt Nam. Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ: “Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tại Điều 15 quy định nguyên tắc “Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai”; Điều 17 quy định “Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm”… 3.2 Quy định cụ thể Bên cạnh những yêu cầu chung, đối với từng biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ, TRIPS cũng đã có quy định cụ thể với những nội dung chính là: a. Các yêu cầu về thủ tục và chế tài về tố tụng dân sự, hành chính Đối với yêu cầu này, tại Mục 2 Hiệp định TRIPS đưa ra những điều kiện tối thiểu mà pháp luật của mỗi nước phải quy định: Đảm bảo cho bị đơn có quyền được thông báo kịp thời, đầy đủ về các chi tiết, cơ sở khiếu kiện bằng văn bản; Các bên trong vụ kiện có quyền chứng minh yêu cầu của mình và đưa ra chứng cứ; Khi thực thi phải có biện pháp để xác định, bảo vệ thông tin bí mật. … Bên cạnh đó, Hiệp định cũng yêu cầu pháp luật của mỗi quốc gia phải quy định trong pháp luật để có thể cho phép cơ quan tư pháp của mình có quyền: Yêu cầu các bên trong vụ kiện buộc một bên trong vụ kiện đưa ra chứng cứ và tuân theo các điều kiện bảo vệ thông tin bí mật; Căn cứ vào chứng cứ đã được đưa ra để đưa ra kết luận sơ bộ và cuối cùng nhằm khẳng định hoặc phủ định yêu cầu của các bên Buộc một bên chấm dứt hành vi xâm phạm; Buộc người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thoả đáng cho người có quyền kể cả những lợi nhuận thu được từ hành vi xâm phạm, cả chi phí hợp lý thuê luật sư; … Phù hợp với Hiệp định TRIPS, pháp luật Việt Nam quy định các thủ tục và chế tài dân sự. Tòa án Nhân dân (Tòa Dân sự) cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử các tranh chấp về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Toà án Nhân dân có quyền xét xử các vụ việc liên quan đến lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp, các tranh chấp liên quan đến giá chuyển giao hoặc tiền đền bù, khiếu kiện về quyền đăng ký và về quyền tác giả, và các tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu hoặc hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Khi đưa ra yêu cầu hoặc khởi kiện trước Tòa, nguyên đơn, hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải cung cấp chứng cứ về quyền sở hữu trí tuệ của mình cũng như chứng cứ về hành vi xâm phạm quyền (Điều 203 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Bị đơn có quyền bác bỏ chứng cứ và lý lẽ của nguyên đơn trước Toà. Theo yêu cầu của bất kỳ bên nào hoặc tự mình, Toà án có quyền yêu cầu cung cấp thêm chứng cứ hoặc tài liệu và chủ động thu thập chứng cứ nếu cần thiết (Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015). Theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các tài liệu phải nộp để chứng minh quyền sở hữu trí tuệ có thể bao gồm bản sao hợp pháp Văn bằng bảo hộ, bản trích lục, Đăng bạ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, đối với những quyền đã được đăng ký. Đối với những quyền chưa được đăng ký, bất kỳ tài liệu nào chứng minh sự tồn tại quyền tác giả, các quyền liên quan hoặc nhãn hiệu nổi tiếng… có thể được chấp nhận. Tòa án có thể buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, thừa nhận các quyền hợp pháp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xác lập quyền, và buộc bồi thường thiệt hại. Tiền bồi thường được xác định dựa trên cơ sở “thiệt hại vật chất thực tế” hoặc lợi nhuận thu được một cách bất hợp pháp của bên xâm phạm, và “thiệt hại về tinh thần”. Việc tính “thiệt hại vật chất thực tế” phải tính đến cả tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn hoặc giảm thiểu thiệt hại, và giảm sút về thu nhập (Khoản 2 Điều 307 của Bộ luật Dân sự năm 2005). “Thiệt hại về tinh thần” bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và uy tín của nạn nhân (Điểm b Khoản 1 Điều 204) của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Bên cạnh các biện pháp dân sự, Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định các thủ tục và chế tài hành chính tại Điều 201. b. Cam kết về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời Để đảm bảo cho các cơ quan tư pháp có đủ các điều kiện cần thiết nhằm thực thi một cách hữu hiệu việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Mục 3 Hiệp định TRIPS yêu cầu các Bên phải cho phép cơ quan tư pháp của mình được ban hành lệnh áp dụng các biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ các chứng cứ liên quan đến hành vi xâm phạm. Khi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cơ quan tư pháp có quyền: Buộc người nộp đơn yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phải cung cấp các chứng cần thiết liên quan đến việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và phải nộp một khoản bảo chứng hoặc khoản bảo đảm tương đương, đủ để bảo vệ lợi ích của bị đơn và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu… Pháp luật Việt Nam có các điều khoản cụ thể được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo Khoản 1 Điều 207 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các biện pháp tạm thời bao gồm việc thu giữ, kê biên hoặc niêm phong hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu hoặc phương tiện dùng để sản xuất hoặc buôn bán các hàng hoá này; cấm thay đổi hoặc dịch chuyển các hàng hoá và nguyên liệu này; và cấm chuyển giao quyền sở hữu đối với các hàng hoá và nguyên liệu này. Các biện pháp tạm thời có thể được đình chỉ nếu các cơ quan có thẩm quyền áp dụng xét thấy không còn cần thiết. c. Cam kết về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới Mục 4 Hiệp định TRIPS quy định cho phép người có quyền nộp đơn đến cơ quan hành chính hoặc cơ quan tư pháp có thẩm quyền yêu cầu cơ quan hải quan đình chỉ việc thông quan đưa hàng hoá vi phạm vào lưu thông tự do, nếu có cơ sở chứng minh có hoạt động nhập khẩu hàng giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc bản sao trái phép các tác phẩm được bảo hộ. Trong TRIPS, các quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cơ quan hải quan cũng đã được quy rất cụ thể. Pháp luật Việt Nam trao cho cơ quan hải quan có thẩm quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu theo yêu cầu của chủ thể quyền. Theo Điều 217 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá phải nộp cho cơ quan hải quan nơi hàng hóa được nhập khẩu hoặc xuất khẩu kèm theo chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, và chứng cứ về hành vi xâm phạm. Chủ thể quyền cũng phải nộp khoản tiền bảo đảm tương đương với 20% giá trị lô hàng hoặc ít nhất 20 triệu đồng trong trường hợp không xác định được giá trị lô hàng, hoặc nộp chứng từ bảo lãnh nhằm bảo đảm bồi thường thiệt hại cho chủ lô hàng trong trường hợp yêu cầu sai ( Khoản 2 Điều 217 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005)… Ngoài ra, việc kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ được quy định cụ thể tại Mục 2 Chương XVIII Luật Sở hữu trí tuệ 2005 d. Cam kết về các thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt Bên cạnh các chế tài về dân sự và hành chính, Mục 5 Hiệp định TRIPS cũng có quy định yêu cầu các Bên cần có chế tài về hình sự trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Phù hợp với Hiệp định, được các thủ tục hình sự do Toà án Nhân dân ở cấp huyện và tỉnh có thẩm quyền xét xử các tội phạm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được bổ sung năm 2009 vào Bộ luật hình sự. Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131), tội sản xuất và kinh doanh hàng giả (Điều 156), tội lừa đảo (Điều 162), tội quảng cáo sai (Điều 168), và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171). 4. Kết luận Có thể kết luận việc gia nhập WTO đã tác động rất lớn đến pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam nói chung và quy định liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói riêng chính vì các quy định của pháp luật hiện hành về thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã phù hợp với yêu cầu của WTO, đảm bảo cơ sở pháp lý để Việt Nam thực hiện đầy đủ ngay những cam kết về sở hữu trí tuệ trong WTO mà không cần bất kỳ một giai đoạn chuyển tiếp nào.

Trang 1

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO TỚI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

Ths Lê Thị Nam Giang

1 Đặt vấn đề

1.1 Cam kết của Việt Nam về sở hữu trí tuệ

Khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đưa ra bốn cam kết chính về sở hữu trí tuệ,:

Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết nhằm tuân thủ

đầy đủ tất cả các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ từ ngày gia nhập WTO mà không viện dẫn đến bất kỳ thời hạn chuyển tiếp nào.[1]

Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cam kết ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp yêu

cầu các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp và không vi phạm quyền tác giả của những phần mềm này, quy định việc mua và quản lý tất cả các phần mềm do các cơ quan Chính phủ sử dụng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép tới khách hàng của họ.[2]

Thứ ba, ban hành văn bản pháp luật quy định tất cả các hành vi giả mạo nhãn hiệu và sao chép

lậu với quy mô thương mại đều có thể bị truy tố hình sự và các cơ quan có thẩm quyền có thể tịch thu và tiêu hủy trong các vụ án hình sự.[3]

Thứ tư, tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm phát sóng, bản ghi âm, ghi hình đã công bố để thực

hiện chương trình phát sóng không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan.[4]

1.2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt

là Hiệp định TRIPS) chính thức được ký kết vào 15/4/1994 và có hiệu lực 1/1/1995 Cho đến thời điểm hiện nay, Hiệp định TRIPS được coi là Hiệp định đầy đủ và toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ vì TRIPS đã khẳng định lại các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ bởi các điều ước quốc tế trước đó đồng thời mở rộng sự bảo hộ đối với các đối tượng mới với những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên phải đảm bảo trong pháp luật của mình Mặc dù không phải là Điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ, nhưng Hiệpđịnh TRIPS là Điều ước quốc tế đầu tiên quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí

tuệ và qui định một hệ thống giải quyết tranh chấp “gắn với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và cơ chế rà soát chính sách thương mại”.[5] Điều đặc biệt quan trọng là bên cạnh Hiệp định WTO, TRIPS phải được tất cả các nước thành viên WTO tuân thủ và thi hành Các nước thành viên WTO muốn được hưởng những quyền lợi từ các nước thành viên khác thì trước hết phải thực hiện các nghĩa vụ của TRIPS.[6] Chính vì vậy Hiệp định TRIPS đã tác động rất lớn đến pháp luật sở hữu trí tuệ các nước, đã mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, được coi là những tiêu chuẩn thế giới mới trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

2 Tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO tới pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Ngày 1/1/1995 Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO Một trong những điều kiện cho việc gia nhập thành công WTO là phải đáp ứng các quy định rất cao và tương đối toàn diện của WTO về sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định TRIPS Chính vì vậy, chúng ta đã xây dựng một chương trình đầy tham vọng về sở hữu trí tuệ mà mục tiêu tổng quát là làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp hoàn toàn với Hiệp định TRIPS

Trong chương trình này vấn đề xây dựng hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam mới được triển khai từ những năm 80 của thế kỷ

XX , do đó tại thời điểm Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam còn rất nhiều điểm chưa đáp ứng được các quy định của WTO, cả góc độ “chưa đầy đủ” đến “thiếu hiệu quả”

Trang 2

Cụ thể, các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ còn tản mạn, thiếu đồng bộ và mới dừng lại ở các văn bản dưới luật Về đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chúng ta mới chỉ bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa Riêng về tên gọi xuất xứ hàng hóa, do chưa có văn bản hướng dẫn nên trên thực tế việc bảo hộ đối tượng này chưa được triển khai So với yêu cầu của Hiệp định Trips, chúng

ta chưa bảo hộ chỉ dẫn địa lý (chúng ta mới chỉ bảo hộ một dạng của chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hóa), thiết kế bố trí mạch tích hợp, giống cây trồng, thông tin bí mật, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp Đối với nhãn hiệu hàng hóa, chúng ta chưa bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu tập thể, nhãn chứng nhận… Tiêu chuẩn bảo hộ đối với từng đối tượng sở hữu trí tuệ cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của TRIPS Ví dụ, thời hạn bảo hộ sáng chế theo Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là 15 năm tính từ ngày ưu tiên.[8]

Để đáp ứng các yêu cầu của WTO về sở hữu trí tuệ, từ thời điểm tháng 1 năm 1995 đến nay, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có một bước phát triển vượt bậc mà bước khởi đầu quan

trọng là việc ban hành Bộ luật dân sự 1995 trong đó dành phần VI quy định về sở hữu trí tuệ và chuyển

giao công nghệ Với sự ra đời của Bộ luật dân sự chúng ta đã hoàn thành một bước cơ bản của quá trình pháp điển hóa các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đưa các quy định cơ bản của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ vào một văn bản pháp luật có hiệu lực cao Các nội dung của Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả về cơ bản vẫn được giữ nguyên Trong thời điểm này chúng ta chưa có điều kiện để mở rộng sự bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ mơi Tuy nhiên, có một số thay đổi quan trọng trong việc bảo hộ theo hướng nhằm làm cho hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế Mặc dù chưa phải là thành viên của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật nhưng quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự 1995 về cơ bản được xây dựng dựa trên quy định của Berne và của Hiệp định Trips có tính đến điều kiện thực tiễn của Việt nam Bộ luật dân sự đã quy định một cách tách bạch quyền của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, quy định một cách tách bạch các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Bộ luật dân sự quy định lại tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới và cũng là lĩnh vực rất phức tạp, hơn nữa với thói quen của các nhà lập pháp Việt Nam, các quy định của Bộ luật dân sự chỉ dừng lại ở mức

độ là những nguyên tắc chung, cần phải cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật

Chính vì vậy, ngày 29/11/1996 Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các quy

định về quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật dân sự.Cụ thể, trong lĩnh vực quyền tác giả, ngày 29/11/1996 Chính phủ đã ban hànhNghị định số 76/CP hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả trong Bộ luật dân sự Ngày 10/5/2001 Bộ văn hóa thông tin ban hành Thông tư số 27 hướng dẫn thi hành Nghị định trên Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, ngày 24/10/1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp Nghị định này một mặt cụ thể hóa các quy

định của Bộ luật dân sự về sở hữu công nghiệp, mặt khác quy định những thủ tục, trình tự hành chính như thủ tục đăng ký quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp theo hướng đơn giản hóa tạo

thuận lợi hơn cho người nộp đơn Ngày 31/12/1996, Bộ KHCNMT đã ban hành Thông tư số 3055/TT-SHCN hướng dẫn thi hành thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại Bộ luật dân sự

và Nghị định 63/CP

Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ngày

16/3/1999 Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Đây được coi là một bước phát triển đột phá trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp vì lần

đầu tiên chúng ta đã ban hành một văn bản về xử phạt hành chính trong lĩnh vực này Ngày 3/5/2000 Bộ

KHCNMT đã ban hành Thông tư 825/TT hướng dẫn thi hành nghị định 12/CP, thông tư này được sửa đổi bởi Thông tư 49 ngày14/9/2001 Trong lĩnh vực quyền tác giả ngày 26.6.2001 Chính phủ ban hành

Nghị định số 31/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thông tin

Trang 3

Ngày 13/7/2000 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được ký kết Để đáp ứng các quy định của chương 2 Hiệp định này[9] và cũng là các yêu cầu của Hiệp định TRIPS,[10] ngày 3/10/2000

Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2000/NĐ- CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp Đồng thời trong thời gian này, Nghị định 06 sửa đổi Nghị

định 63/CP cũng mở rộng việc bảo hộ tại Việt Nam đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, nhãn hiệu liên

kết Quyền đối với giống cây trồng mới được bảo hộ theo Nghị định 13/CP ngày 20/4/2001 Ngày 02/5/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 42/CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với thiết kế bố

trí mạch tích hợp bán dẫn Với sự ra đời của các Nghị định trên, các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã được mở rộng và được coi là đã đáp ứng yêu cầu của Hiệp định TRIPS về các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ cũng như yêu cầu của

Hiệp định TRIPS về các biện pháp kiểm soát tại biên giới Luật Hải quan được ban hành ngày 12/7/2001 đã

dành riêng một mục với 3 điều khoản quy định về việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Theo đó, về nguyên tắc chủ sở hữu quyền SHTT đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan hải quan tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu mà chủ sở hữu có căn cứ cho rằng có sự vi phạm quyền sở hữu trí

tuệ Ngày 31/12/2001 Chính phủ ban hành Nghị định 101/CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật

hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan Điều 14 nghị định này quy định về thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan trong trường hợp có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ Ngày 29/12/1994 Bộ tài

chính, Bộ khoa học công nghệ đã ban hành Thông tư liên tịch số 129 hướng dẫn thi hành các biện pháp

kiểm soát biên giới về sở hữu công nghiệp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp về quyền tác giả tại TAND, ngày 5.12.2001 TANDTC, VKSNDTC, BVHTT đã ban hành Thông tư liên tịch hướng số 01 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tác giả tại tòa án nhân dân Đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp, một thông tư tương tự cũng được soạn thảo nhưng qua rất nhiều lần dự thảo mà cuối cùng vẩn không được ban hành Thời điểm này Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn hiệu lực nhưng đã bộc lộ rất nhiều điểm bất cập, không phù hợp

với thực tiễn Năm 2004 Bộ luật tố tụng dân sự đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho

việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, các tranh chấp sở hữu trí tuệ nói riêng

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua các chế tài hình sự đã được ghi nhận tại BLHS 1985 Điều 126 BLHS 1985 quy định tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh với mức phạt là cảnh cáo, phạt tiền đến 5 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm Điều

167 BLHS 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả với mức phạt là phạt tù ở khung hình phạt thấp nhất là từ 1 đến 7 năm; cao nhất là từ 12-20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Trước yêu cầu của Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, của Hiệp định TRIPS về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua thủ tục tố tụng hình sự, trước tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng tại Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự, BLHS năm 1999 đã dành 6 điều

để quy định các tội danh liên quan đến sở hữu trí tuệ.[11] Với Điều 170 và 171, lần đầu tiên BLHS 1999 đã quy định các tội danh về quyền SHCN và thể hiện quan điểm mới khi quy định về hình phạt: hình phạt chính được

áp dụng là hình phạt tiền bên cạnh hình phạt tù Tội sản xuất buôn bán hàng giả đã được tách ra thành 3 tội danh độc lập So sánh với Điều 167 của BLHS 1985 thì các Điều 156, 157, 158 của BLHS 1999 đã quy định khung hình phạt cụ thể hơn, thuận lợi hơn cho việc áp dụng trên thực tế Các hình phạt cũng được mở rộng hơn Bên cạnh 2 hình thức chế tài chính là phạt tiền và phạt tù còn áp dụng các hình thức phạt bổ sung như tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

từ 1 đến 5 năm

Bên cạnh đó, trong thời điểm trước năm 2005, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn được quy định trong hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính;

Trang 4

Luật thương mại 1997; Luật khuyến khích đầu tư trong nước; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Luật khoa học và công nghệ năm 2000…

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và đã làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng được yêu cầu về tính “đầy đủ” của WTO Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Bộ luật dân sự

và hơn 40 văn bản quy phạm pháp luật khác nhau đã làm cho pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ còn tản mạn, thiếu đồng bộ, hiệu lực thi hành không cao Đơn cử như đối với đối tượng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo Nghị định 54/CP nhưng nếu bảo hộ dưới dạng tên gọi xuất xứ hàng hóa thì sẽ được bảo hộ theo BLDS, cơ chế bảo hộ theo hai văn bản pháp luật này là khác nhau Ngoài ra, các quy định pháp luật điều chỉnh sở hữu trí tuệ thiên về khía cạnh dân sự mà chưa chú trọng đúng mức tới đặc thù kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của các quan hệ sở hữu trí tuệ

Thực tế đó đòi hỏi chúng ta chúng ta cần phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống quy phạm pháp luật

về sở hữu trí tuệ Bộ luật dân sự năm 1995 đã được sửa đổi, các quy định về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong phần thứ VI đã được tách ra, chỉ giư lại những nguyên tắc dân sự cơ bản của

quyền sở hữu trí tuệ Đồng thời ngày 29/11/2005 Chính phủ đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ Hai văn

bản này đã tạo thành một hệ thống các quy định tương đối hoàn chỉnh và thống nhất về quyền sở hữu trí tuệ Trong tháng 9 năm 2006 Chính phủ Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về sở hữu trí tuệ và Luật sở hữu trí tuệ Cụ thể ngày 21/9/2006 Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 về quyền tác giả và quyền liên quan Ngày 22/9/2006 Chính phủ ban hành Nghị định 103/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 về sở hữu công nghiệp; Nghị định 105/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định 106/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Ngày 14/2/2007 chúng ta đã ban hành thông tư 01 hướng dẫn thi hành Nghị định 103/CP trong đó quy định chi tiết về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thủ tục bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, đại diện SHCN…, thông tư 01 hướng dẫn việc cấp, thu hồi Thẻ giám định viên SHCN và giấy chứng nhận tổ chức đủ đđiều kiện hoạt đđộng giám đđịnh SHCN

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, trong thới gian này Việt Nam cũng gia nhập một loạt các Điều ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của Hiệp định Trips như Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật,[12] Công ước về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng;[13] Công ước về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép bản ghi âm của họ,[14] Công ước về sự phổ biến các chương trình mang tín hiệu truyền qua vệ tinh,[15] Nghị định thư liên quan đến thỏa ước MADRID[16]

3 Kết luận

3.1 Phân tích trên cho thấy việc Việt Nam gia nhập WTO đã tác động một cách một cách sâu rộng đến

hệ thống quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Sự phát triển của hệ thống quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam diễn ra trong cả một quá trình, có những bước chuyển tiếp cho phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam Tuy nhiên cần nhấn mạnh, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam

về sở hữu trí tuệ không chỉ xuất phát từ những yêu cầu của WTO mà còn xuất phát từ yêu cầu nội tại của đất nước

3.2 Với việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005, với việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cho tới thời điểm hiện nay có thể khẳng định, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về tính “đầy đủ” của WTO và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đáp ứng yêu cầu của WTO về tính “hiệu quả” Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp tục phải xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này Nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam, chúng ta cần ban hành các văn bản quy định các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp

và không vi phạm quyền tác giả của những phần mềm này, quy định việc mua và quản lý tất cả các phần mềm do các cơ quan Chính phủ sử dụng Chúng ta cũng cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép tới khách

Trang 5

hàng của họ Ngoài ra, chúng ta cũng cần sớm ban hành các thông tư quy định về bảo hộ một số đối tượng đặc thù như phần mềm máy tính…

3.3 Với các cam kết của Chính phủ Việt Nam về sở hữu trí tuệ, thách thức lớn nhất đối với chúng ta không còn là vấn đề lập pháp mà là vấn đề thực thi pháp luật Tính hiệu quả của hệ thống bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ không chỉ đòi hỏi ở khung pháp lý mà còn đòi hỏi rất nhiều ở hệ thống cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ở ý thức và nỗ lực của chủ sở hữu trí tuệ và toàn xã hội Chính vì vậy, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế, nâng cao năng lực của các

cơ quan thực thi quyền, đặc biệt nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ tại tòa án, nâng cao ý thức tôn trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Phụ lục: Bản so sánh tóm tắt các quy định của Hiệp định Trips và quy định của pháp luật Việt

Nam [17]

Quy định của

Trips

Quy định của PLVN vào thời điểm nộp đơn

WTO [18]

Quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam Quy định

của pháp luật

Đáp ứng

Chưa đáp ứng

Mỗi thành viên

phải dành cho

công dân của các

thành viên khác sự

đối xử không kém

thuận lợi hơn so

với sự đối xử của

thành viên đó đối

với công dân nước

mình trong việc

bảo hộ sở hữu trí

tuệ

Chưa quy định Được quy

định tại trong Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối

xử quốc gia trong thương mại quốc tế

và Điều 774,

775 Bộ luật dân sự

X

Đối với việc bảo hộ

sở hữu trí tuệ, bất

kỳ một sự ưu tiên,

chiếu cố, đặc

quyền hoặc sự

miễn trừ nào được

một thành viên

dành cho công dân

của bất kỳ nước

nào khác cũng

phải được lập tức

và vô điều kiện

dành cho công dân

của tất cả các

thành viên khác

Chưa quy định Được quy

định trong Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối

xử quốc gia trong thương mại quốc tế

X

Các nước thành

viên phải tuân thủ

các quy định từ

Về cơ bản đã quy định, tuy nhiên các quy

Việt Nam đã

là thành viên của Công

X

Trang 6

Điều 1- Điều 21 và

phụ lục của Công

ước Berne 1971,

trừ Điều 6bis

định rất chung chung, chưa có điều khoản quy định tách bạch giữa quyền nhân thân và quyền tài sản, chưa tách bạch quyền của tác giả với chủ sở hữu tác phẩm

ước Berne do

đó các quy định trên đã được nội luật hoá trong Luật sở hữu trí tuệ 2005

và Nghị định 100/CP

Bảo hộ chương

trình máy tính như

tác phẩm văn học

theo Công ước

Berne 1971, và

bảo hộ các bộ sưu

tập dữ liệu hoặc tư

liệu mà việc tuyển

chọn hay sắp xếp

nội dung chính là

thành quả của hoạt

động trí tuệ

Đã quy định về bảo hộ phần mềm máy tính, tuy nhiên trên thực tế vấn đề trên chưa được quy định cụ thể

khoản 1 Điều

22 Luật sở hữu trí tuệ

X

Đối với chương

trình máy tính và

tác phẩm điện ảnh,

phải dành cho tác

giả hoặc người

thừa kế hợp pháp

của họ quyền cho

phép hoặc cấm

cho thuê bản gốc

hoặc bản sao tác

phẩm nhằm mục

đích thương mại

Chưa được quy định cụ thể Điều 20 Luậtsở hữu trí tuệ,

Điều 23 Nghị định 100/CP

X

Thời hạn bảo hộ:

tác phẩm không

được tính trên cơ

sở đời người tối

thiểu là 50 năm kể

từ khi kết thúc năm

dương lịch mà tác

phẩm được công

bố một cách hợp

pháp, hoặc 50 năm

tính từ khi kết thúc

năm dương lịch

mà tác phẩm được

tạo ra nếu tác

phẩm không được

công bố hợp pháp

Không có quy định về cách tính thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm không tính trên cơ sở đời người của tác giả

Điều 27 Luật

sở hữu trí tuệ;

Điều 26 Nghị định 100/CP

X

Trang 7

trong 50 năm kể từ

ngày tạo ra

(Không áp dụng

đối với tác phẩm

nhiếp ảnh và tác

phẩm nghệ thuật

ứng dụng)

Các quy định về

bảo hộ quyền liên

quan tại Điều 14

của Hiệp định Trips

Được quy định tại phần thứ 2 Luật sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/CP

X

Tuân thủ từ Điều 1

đến Điều 12 và

Điều 19 Công ước

Paris 1883 về sở

hữu công nghiệp

Việt Nam đã là thành viên Công ước này từ năm

1949 nên các nội dung trên đã được nội luật hoá trong pháp luật Việt Nam

Tuy nhiên còn một số điểm chưa được quy định rõ ràng hoặc chưa đáp ứng như chúng

ta chưa bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp

Được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ năm

2005 và các

hướng dẫn thi hành

X

Nhãn hiệu hàng

hóa

bảo hộ "bất kỳ một

dấu hiệu nào, hoặc

sự kết hợp các dấu

hiệu có khả năng

phân biệt hàng

hóa hoặc dịch vụ

của một doanh

nghiệp với hàng

hóa hoặc dịch vụ

của doanh nghiệp

khác có khả năng

Chưa có điều kiện bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết…

Đã mở rộng nhãn hiệu được bảo hộ đến nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu liên kết Tuy nhiên chúng

ta chưa bảo

hộ các dấu hiệu có khả

X

Trang 8

cấu tạo nên nhãn

hiệu hàng hóa."

-Thời hạn bảo

hộcho lần đăng ký

đầu tiên và mỗi lần

gia hạn đăng ký

không được dưới 7

năm việc đăng ký

nhãn hiệu hàng

hóa được gia hạn

một cách không

hạn chế

- Chủ sở hữu

nhãn hiệu hàng

hóa có độc quyền

ngăn cản tất cả

các bên thứ ba sử

dụng mà không

được phép của

chủ sở hữu nhãn

hiệu hàng hóa

trong quá trình

thương mại các

dấu hiệu trùng

hoặc tương tự cho

các hàng hóa, dịch

vụ trùng hoặc

tương tự với hàng

hóa hoặc dịch vụ

mà nhãn hiệu hàng

hóa được đăng ký

để sử dụng, nếu

việc sử dụng đó có

thể dẫn đến khả

năng nhầm lẫn

- Tuân thủ điều

6bis Công ước

Paris cho nhãn

hiệu dịch vụ

Thời hạn bảo

hộ cho lần đăng

ký đầu tiên và mỗi lần gia hạn đăng ký là 10 năm

Chủ văn bằng bảo hộcó quyền

sở hữu, có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cho chủ thể khác

- Chưa quy định

năng phân biệt bằng thính giác, vị

nhãn hiệu âm thanh, nhãn hiệu mùi vị

Thời hạn bảo

hộ cho lần

đăng ký đầu tiên và mỗi lần gia hạn đăng ký là 10 năm

Được quy

chương IX Luật sở hữu trí tuệ

Được quy định tại Luật

sở hữu trí tuệ

X

X

X

Sáng chế phải

được cấp cho tất

cả các sáng chế,

Chưa có quy

Trang 9

bất kể là sản phẩm

hay quy trình, trong

tất cả các lĩnh vực

công nghệ

- Tiêu chuẩn sáng

chế: mới, có trình

độ sáng tạo và có

khả năng áp dụng

công nghiệp

- Thời hạn bảo

hộ sáng chế tối

thiểu là 20 năm kể

từ ngày nộp đơn

- Chủ sở hữu

sáng chế có độc

quyền cấm bên thứ

ba thực hiện các

hành vi chế tạo, sử

dụng, chào bán,

bán hoặc nhập

khẩu sản phẩm mà

không được phép

của chủ sở hữu

Chủ sở hữu có

quyền chuyển

nhượng, để thừa

kế và ký kết các

hợp đồng lixăng

- Tiêu chuẩn sáng chế: mới,

có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội

- Thời hạn bảo hộ sáng

chế là 15 năm

kể từ ngày ưu tiên

bảo hộcó quyền

sở hữu, có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cho chủ thể khác

- Tiêu chuẩn sáng chế:

mới, có trình

độ sáng tạo

và có khả năng áp dụng công nghiệp

- Thời hạn bảo hộ sáng

chế là 20 năm

kể từ ngày nộp đơn

- Được quy

chương IX, X Luật sở hữu trí tuệ và các

hướng dẫn

X

X

X

- Phải bảo hộ kiểu

dáng công nghiệp

được tạo ra một

cách độc lập mà là

mới hoặc nguyên

gốc

- Đối với hàng

dệt, các thành viên

được bảo hộ thông

qua Luật kiểu dáng

công nghiệp hoặc

Luật bản quyền

Tiêu chuẩn bảo hộ: mới,

có trình độ sáng tạo và

có khả năng

áp dụng công nghiệp

X

Trang 10

- Thời hạn bảo

hộ kiểu dáng công

nghiệp kéo dài ít

nhất là 10 năm

- Chủ sở hữu có

quyền cấm những

người khác không

được sự đồng ý

của chủ sở hữu

mà sản xuất, bán

hoặc nhập khẩu

những sản phẩm

mang hoặc thể

hiện một kiểu dáng

sao chép hoặc cơ

bản là một bản sao

chép của kiểu

dáng đang được

bảo hộ, khi các

hành vi đó được

thực hiện nhằm

mục đích thương

mại

-Văn bằng bảo

hộ có hiệu lực 5

năm, được gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm

bảo hộcó quyền

sở hữu, có độc quyền sử dụng, chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng cho chủ thể khác

Văn bằng bảo hộ có

hiệu lực 5 năm, được gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần 5 năm

Được quy

chương IX, X Luật sở hữu trí tuệ và các

hướng dẫn

X

Phải bảo hộ chỉ

dẫn địa lý Các

quốc gia thành

viên phải có

những biện pháp

pháp lý để ngăn

ngừa việc sử dụng

bất kỳ phương tiện

nào để đánh dấu

hoặc giới thiệu

hàng hóa, gây sự

nhầm lẫn về nơi

xuất xứ của hàng

hóa cho người sử

dụng những hàng

hóa, sản phẩm đó

- Ngoài việc bảo hộ

các chỉ dẫn địa lý

cho các hàng hóa

sản phẩm thông

thường khác, các

thành viên phải

bảo hộ chỉ dẫn địa

lý đối với rượu

Mới chỉ quy định bảo hộ một dạng của chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hóa

Được quy định tại Bộ luật dân sự luật sở hữu trí tuệ và các

hướng dẫn thi hành

X

Ngày đăng: 10/01/2018, 18:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w