1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

103 291 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu cấp thiết hiện nay là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận các quy định của pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi;

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thi ̣ Viê ̣t Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐI ̣NH HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 8

1.1 Những khái niệm có liên quan 8

1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi 8

1.1.2 Khái niệm người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i 10

1.1.3 Khái niệm quyết định hình phạt tù 10

1.1.4 Khái niệm quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 14

1.2 Quy định chung về quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 15

1.2.1 Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 15

1.2.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi 21

1.3 Quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam về Quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 24

1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 24

1.3.2 Giai đoạn từ 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 2015 26

1.4 Pháp luật hình sự một số nước về Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi 29

1.4.1 Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi trong luâ ̣t pháp quốc tế 29

Trang 5

1.4.2 Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi trong pháp luâ ̣t

hình sự của một số quốc gia 31

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT

ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 36 2.1 Quy định của Luật hình sự về quyết định hình phạt tù đối với

người dưới 18 tuổi 36

2.1.1 Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi 36 2.1.2 Hình phạt tù được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi 42 2.1.3 Quyết định hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm

một tội 45 2.1.4 Quyết định hình phạt khi tổng hợp hình phạt trong trường hợp

người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội 47

2.2 Thực tiễn áp dụng luật hình sự về Quyết định hình phạt tù

đối với người dưới 18 tuổi tại tỉnh Phú Thọ 50

2.2.1 Tình hình chung về người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh

Phú Thọ 50 2.2.2 Những kết quả đạt được trong quyết định hình phạt tù đối với

người dưới 18 tuổi 55 2.2.3 Những thiếu sót, tồn tại và nguyên nhân gây nên những thiếu sót,

tồn tại trong Quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 56

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT ĐỊNH

HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 63 3.1 Các giải pháp hoàn thiện luật hình sự 63

3.1.1 Những nội dung mới về Quyết định hình phạt tù đối với người dưới

18 tuổi trong Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999 63 3.1.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự về quyết định hình

phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 70

Trang 6

3.1.3 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quyết định hình

phạt tù đối với người dưới 18 tuổi theo Bộ luật hình sự 2015 78

3.2 Các giải pháp khác 83

3.2.1 Bồi dưỡng kiến thức pháp luật hình sự về quyết định hình phạt tù

đối với người dưới 18 tuổi đối với cán bộ Tòa án 83 3.2.2 Tuyên truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân về quyết định

hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi 87

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLĐTBXH: Bô ̣ Lao đô ̣ng Thương binh và Xã hô ̣i BLHS: Bô ̣ luâ ̣t Hình sự

BLTT: Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng

BLTTHS: Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng Hình sự

BTP: Bô ̣ Tư pháp

CHXHCN: Cô ̣ng hòa Xã hô ̣i chủ nghĩa

LHQ: Liên hiê ̣p quốc

NCTN: Người chưa thành niên

QĐHP: Quyết đi ̣nh hình pha ̣t

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

TNHS: Trách nhiệm hình sự

TTHS: Tố tu ̣ng hình sự

UBND: Ủy ban nhân dân

VKS: Viê ̣n kiểm sát

VKSTC: Viê ̣n kiểm sát tối cao

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê các vụ án hình sự do người chưa thành niên

thực hiện đã được xét xử trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ

Bảng 2.2: Thống kê các tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện

đã được thụ lý và giải quyết trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣

Bảng 2.3: Thống kê người dưới 18 tuổi phạm tội th eo nhóm tuổi

trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ năm 2010 đến năm 2016 53 Bảng 2.4: Cơ cấu hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, độ tuổi người chưa thành niên là dưới 18 tuổi, được xác định thống nhất trong Hiến pháp và các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t khác Là nhóm tuổi thường chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm - sinh lý và trình độ nhận thức Người dưới 18 tuổi là đối tượng thường sốc nổi, khả năng tự kiềm chế có hạn, thiếu bản lĩnh tự lập, thiếu kinh nghiệm sống [47, tr 317-318] Đồng thời

họ cũng là người hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn , dễ bị dụ dỗ , kích động, muốn được khẳng định mình… Những đặc điểm trên khiến cho những người dưới 18 tuổi dễ có nguy cơ thực hiện tội phạm nếu sống trong môi trường xã hội không lành mạnh, tỷ lệ tội phạm cao Thực tiễn ở nước ta nhữ ng năm gần đây cho thấy, số lượng người dưới 18 tuổi phạm tội đang có chiều hướng gia tăng cả về

số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng, tính chất liều lĩnh của hành vi phạm tội Do

vâ ̣y, viê ̣c quyết định hình pha ̣t đối với người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i sao cho vừa đảm bảo quyền trẻ em , vừa phù hợp với hiê ̣u quả giáo du ̣c , cải tạo, vừa nâng cao tính thượng tôn pháp luâ ̣t luôn là ưu tiên hàng đầu trong hê ̣ thống pháp luâ ̣t nước ta nói chung và pháp luâ ̣t hình sự nói riêng

Bô ̣ luâ ̣t Hình sự hiê ̣n hành đã áp du ̣ng các biê ̣n pháp xử lý người dưới

18 tuổi phạm tội nhằm mục đích phòng ngừa , cải tạo , giáo dục những đối tượng này trở thành công dân có ích cho xã hội Tuy nhiên để đạt được mục đích đó thì vấn đề cần thiết là phải xác định được hệ thống các chế tài có tính chất đồng bộ và tổng hợp Một trong những chế tài có hiệu quả đó là hình phạt tù Tuy nhiên, nhìn nhận từ góc độ xây dựng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng hình phạt này đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn bộc lộ những hạn chế và bất cập nhất định, đặc biệt là trong điều kiện ở nước ta hiện nay Trong đó, nổi bâ ̣t là vấn đề đảm bảo quyền của người dưới 18 tuổi khi quyết định hình phạt tù Bên cạnh đó, việc quyết định hình phạt đối với người

Trang 10

dưới 18 tuổi phạm tội trên thực tế còn gặp nhiều bất cập do sự khác biệt trong nhận thức và vận dụng không thống nhất các quy định như: căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội , quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt dẫn tới làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm dưới 18 tuổi

Nhu cầu cấp thiết hiện nay là nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt

lý luận các quy định của pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi; tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đưa ra được những căn cứ khoa học nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự ở nước ta Do đó, việc

nghiên cứu đề tài “Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới

18 tuổi theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ)” là rất cấp thiết, có ý nghĩa lớn về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyết đi ̣nh hình pha ̣t tù áp dụng vớ i người dưới 18 tuổi là một vấn đề phức tạp Trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu

về quyết đi ̣nh hình phạt tù nói chung và quyết đi ̣nh hình phạt tù áp dụng vớ i người dưới 18 tuổi nói riêng Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở hai dạng chính:

- Nhóm nghiên cứu thứ nhất là các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các

đề tài nghiên cứu khoa học và sách chuyên khảo liên quan đến vấn đề quyết

đi ̣nh hình pha ̣t tù đối với người dưới 18 tuổi Nhóm này bao gồm các nghiên cứu về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên pha ̣m tô ̣i, điển hình như các

nghiên cứu của Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của người chưa

thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội; Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản (2007), Những

đặc thù về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Giáo

Trang 11

trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; Nguyễn

Kim Hiền (2009), Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm

tội trong luật hình sự Việt Nam - Những vẫn đề lý luận và thực tiễn xét xử,

Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ Luâ ̣t ho ̣c, Trường đại học Quốc Gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu

Hiền (2010), Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên

phạm tội, Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ, Trường đại học Quốc Gia Hà Nội; Lưu Ngọc Cảnh

(2010), Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành

niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học; Nguyễn Tiến Hoàn

(2013), Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật hình

sự Việt Nam, Khoa Luật - Trường đại học Quốc Hà Nội, 2013 Cũng đã có một

số nghiên cứu chuyên sâu hơn về quyết đi ̣nh hình pha ̣t tù đối với người dưới 18

tuổi pha ̣m tô ̣i như các nghiên cứu của Đào Thị Nga (1997), Quyết định hình

phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn Thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội; Dương Tuyết Miên (2003), Quyết định hình phạt

trong luật hình sự Việt Nam, Hà Nội; Nguyễn Minh Khuê (2007), Quyết đi ̣nh hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam,

Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ, Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i; Trịnh Thị Yến (2014), Quyết định

hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam, Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ luâ ̣t ho ̣c;

- Nhóm nghiên cứu thứ hai về vấn đề quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi được đăng trên các ta ̣p chí chuyên ngành , bao gồm :

Nghiên cứu của Trịnh Đình Thể (1997), Một số ý kiến về áp dụng hình phạt tù

đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số

10/1997; Hoàng Thị Liên (2000), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành

niên phạm tội, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2000; Trần Văn Luyện (2000), Những điểm mới về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp

Trang 12

chí Tòa án nhân dân, số 12/2000; Trần Văn Dũng (2000), Quyết định hình

phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số

5/2000; Nguyễn Mai Bộ (2001), Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với

người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999, Tạp chí Nhà

nước và pháp luật, số 4/2001; Đinh Văn Quế (2001), Quyết định hình phạt đối

với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2001;

Dương Tuyết Miên (2002), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành

niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; Trương Minh Mạnh (2002), Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002; Lê Văn Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình

sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tạp chí Tòa án nhân

dân, số 20-10/2004; Đặng Thanh Sơn (2008), Pháp luật Việt Nam về tư pháp

người chưa thành niên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20 (136), tháng

12/2008; Đoàn Tấn Minh (2008), Bàn về phạm vi sử dụng thuật ngữ "người

chưa thành niên phạm tội", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9(5)/2008; Nguyễn

Minh Hải (2009), Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn

bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đối với người chưa thành niên phạm tội,

Tạp chí tòa án nhân dân, số 16; Trương Quang Vinh (2010), Thực trạng quy

định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp: Thực tiễn áp dụng và một số đề xuất, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2010; Nguyễn Khắc

Quang (2012), Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên

chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, Tạp chí Kiểm sát, số Tân Xuân năm

2012; Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên

phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7 năm 2012; Dương Tuyết Miên

(2012), Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí

Luật học, số 4/2012;v.v…

Trang 13

Mặc dù , việc nghiên cứu của các công trình trên đây diễn ra ở nhiều cấp độ và bình diện khác nhau nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về quyết đi ̣nh hình phạt tù áp d ụng đối với người dưới 18 tuổi, đặc biệt là ở cấp độ luận văn thạc sĩ

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyết đi ̣nh hình phạt tù áp dụng đ ối với người dưới 18 tuổi trên cả hai phương diện là luật thực định và thực trạng

áp dụng hình phạt này

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nói trên luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, mục đích, điều kiện áp dụng quyết đi ̣nh hình phạt tù đối với người dưới

18 tuổi theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay; thực tiễn quyết đi ̣nh hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi thông qua số liệu của các Tòa án và các Bản án của Tòa án trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ từ năm

2010 đến 2016 Từ đó nêu lên thực trạng áp dụng hình phạt này trong thực tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này trong thực tiễn

Trang 14

6 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp

cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như : Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp chuyên gia ; phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình ; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự

và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu lý luận đầu tiên đề cập

đến việc làm sáng tỏ một cách toàn diện và hệ thống về quyết đi ̣nh hình phạt

tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; làm rõ một số vấn đề chung

về người dưới 18 tuổi phạm tội, phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi và thực tiễn áp dụng hình phạt này ở đi ̣a phương Trên cơ sở đó luận văn đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trên khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn

Về thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng với tính chất làm tài liệu

tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo bậc Đại học về chuyên ngành luật và các viện nghiên cứu về khoa học pháp lý Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để tham khảo

Trang 15

trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng , chống tội phạm và giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi ở nước ta hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luâ ̣n và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , nô ̣i dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về quyết đi ̣nh hình pha ̣t tù đối với

người dưới 18 tuổi

Chương 2: Quy đi ̣nh của luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam về quyết đi ̣nh hình pha ̣t

tù đối với người dưới 18 tuổi và thực tiễn áp du ̣ng trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt tù đối

với người dưới 18 tuổi

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐI ̣NH HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

1.1 Những khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi

Tuổi là mô ̣t hình thức xác đi ̣nh khoảng cách thời gian của mô ̣t sự vâ ̣t tính từ lúc hình thành đến một thời điểm nhất định Trong khoa ho ̣c xã hô ̣i - nhân văn và khoa ho ̣c pháp lý, tuổi của con người được xác đi ̣nh từ ngày sinh đến thời điểm

cần tính toán Theo Đa ̣i từ điển tiếng Viê ̣t của Nguyễn Như Ý, tuổi là "thời gian

đã qua kể từ khi sinh tính bằng năm đến một thời điểm nào đó" [60, tr 1343]

Về khái niê ̣m "năm" theo quy ước hiê ̣n nay trong khoa ho ̣c pháp lý của Viê ̣t Nam là "năm dương li ̣ch" (tính theo lịch Gregory) Lịch Gregory chia một

năm thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm 1 ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận

Như vâ ̣y, người dưới 18 tuổi được xác định là người tính từ ngày sinh

đến thời điểm cần tính chưa đủ 18 năm dương li ̣ch Chẳng ha ̣n, mô ̣t người

sinh ngày 01/01/1999 thì từ ngày 01/01/1999 đến hết ngày 31/12/2017 được xác định là người dưới 18 tuổi Trong quá trình giải quyết một vụ việc mang tính hình sự hoặc một vụ án hình sự, việc xác định chính xác tuổi của bị can,

bị cáo, người bị hại hoặc những đối tượng liên quan có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, áp dụng biện pháp ngăn chặn, xác định các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Theo quy luâ ̣t phát triển , không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà là kết quả

Trang 17

trong một thời gian nhất định Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của con người đạt đến được giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa

vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình đã thực hiện [17, tr 250-259] Ở Việt Nam, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên; người dưới 18 tuổi - hay còn gọi là

người chưa thành niên là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với

đầy đủ các quyền và nghĩa vụ” Điều này được ghi nhận thống nhất trong

Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động,

Bộ luật Dân sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác

Khái niệm người dưới 18 tuổi trong các văn bản pháp luâ ̣t ở Viê ̣t Nam

hiê ̣n nay là sự cu ̣ thể hóa các khái niệm tổng quát “người chưa thành niên ”,

“trẻ vị thành niên ” hay “trẻ em” ở nhiều quốc gia cũng như các công ước

quốc tế Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc

thông qua ngày 20/11/1989 tại quy định như sau: “Trong phạm vi của Công

ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [56, tr 176] Như vậy,

độ tuổi của trẻ em được pháp luật quốc tế quy định là “người dưới 18 tuổi”

Bên cạnh, Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice/Beijing Rules) do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/11/1985 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em, thông qua các quy định cũng giúp chúng

ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi [56, tr 202] Như vậy, tại Việt Nam,

người dưới 18 tuổi là người chưa đủ 18 tuổi

Trang 18

1.1.2 Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội

Thuâ ̣t ngữ "người dưới 18 tuổi phạm tội" được xác đi ̣nh dựa trên khái

niê ̣m tô ̣i pha ̣m nói chung và tuổi chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự trong pháp luật hình sự Như đã phân tích ở trên, tùy theo mỗi quốc gia với những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau mà pháp luật của quốc gia đó quy định độ tuổi cũng như tên go ̣i của nhóm đối tượng chưa thành niên khác nhau

Ở Việt Nam , người dưới 18 tuổi được gọi là người chưa thành niên (NCTN) được các nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm vừa là chủ thể thực hiện tội phạm Với tư cách là chủ thể thực hiện tội phạm, NCTNPT là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn

có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc Bộ luật hình sự năm 1999 quy định NCTN

là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện Còn NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, còn NCTN từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS 1999)

Như vâ ̣y, có thể đưa ra khái niệm về người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i như

sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18

tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm”

1.1.3 Khái niệm quyết định hình phạt tù

Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật Vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, thần học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học Luật hình sự [46, tr 143-156]

Trang 19

Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, quan điểm về hình pha ̣t được các

nhà khoa học trong và ngoài nước chia thành ba loại [46, tr 143-156]: Quan

điểm thứ nhất, coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù của Nhà nước dựa

theo học thuyết trừng trị hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối do I

Kant và F Hegel, là những triết gia người Đức chủ trương [49, tr 151] Quan

niệm thứ hai, coi hình phạt là công cụ phòng ngừa tội phạm Học thuyết về

phòng ngừa tội phạm của hình phạt hay còn gọi là học thuyết hình phạt tương đối do Cesare Beccaria, một luật gia người Italia khởi xướng [46, tr 143-156]

Quan niệm thứ ba, coi hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có

mục đích phòng ngừa tội phạm Những người đại diện cho quan niệm này là A

Merkel; R.V.Hippel; H L A Hart Theo Từ điển Luật hình sự của Association

Henri Capitant (1995):

Hình phạt là sự trừng trị được luật quy định để phòng ngừa và trấn áp hành vi cấu thành tội phạm gây tổn hại đến trật tự xã hội ; sự trừng trị buộc người phạm tội phải chịu trong lĩnh vực hình sự thuộc quyền của thẩm phán hình sự, chiểu theo quy định của pháp luật

Hoă ̣c, theo Giáo trình Luật hình sự Phần chung của Jescheck, Weigend

Ở Việt Nam , khoa học luật hình sự và luật hình sự không thừa nhận quan điểm coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội vì tội phạm mà họ

đã thực hiện [42, tr 27]; không thừa nhận hình phạt có mục đích làm cho người phạm tội khiếp sợ, hành hạ thể xác, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của

Trang 20

là con người có thể giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định,

do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm

Hình phạt tù là loại hình phạt có lịch sử lâu đời và được quy định hầu hết trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, hình phạt tù được áp dụng phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội Sự hạn chế tự do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ yếu của loại hình phạt này, là hình phạt phổ biến nhất trong các loại hình phạt của bất cứ quốc gia nào Tù có thời hạn vẫn có ý nghĩa xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta, ý nghĩa đó thể hiện ở chỗ nó cho phép xã hội cách ly những người có mức độ nguy hiểm lớn đối với xã hội, nó vừa đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa riêng lại vừa đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa chung [47, tr 231-234]

Xét về mặt bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại của nó Một mặt nó giữ người phạm tội không thể gây nguy hại cho đối tượng mà luật hình sự bảo vệ nhưng lại gây ra yếu tố tiêu cực đối với người bị kết án, mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn có đối với công dân của mình Nhà nước cần phải thấy trong người vi phạm pháp luật một phần con người, một phần tế bào sống của Nhà nước, một thành viên của công xã đang thực hiện bổn phận xã hội, một người chủ gia đình mà sự tồn tại

là thiêng liêng và cuối cùng, là điều cơ bản nhất, đó là một công dân của đất nước [4, tr 211] Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết

án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong một môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hình phạt tù bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân

Trong hai hình thức hình pha ̣t tù (tù có thời hạn và tù chung thân ) thì

Trang 21

hình phạt tù có thời hạn là hình phạt tù duy nhất mà người phạm tội dưới 18 tuổi phải chấp hành

Quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình

sự, do Toà án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của luâ ̣t hình sự [46, tr 143-156]

Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều nhà nghiên cứu về luật hình sự đưa ra các khái niệm khác nhau về khái niê ̣m quyết đi ̣nh hình pha ̣t Theo Nguyễn Ngọc Chí (2001), quyết đi ̣nh hình pha ̣t là việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) mức hình phạt cụ thể áp dụng cho cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy

định của Bộ luật hình sự [12, tr 317] Theo Đinh Văn Quế (2001), “Quyết định

hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu phải tuân thủ theo những quy định của Bộ luật hình sự” [35, tr 5-9] Dưới góc độ của

luật tố tụng hình sự, tác giả Chu Thị Trang Vân (2012) cho rằng:

Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét

xử của Tòa án nhân dân, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt

cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể

Trang 22

Tóm lại, phần lớn các tác giả hiê ̣n nay đều có chung quan điểm cho rằng: QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho người phạm tội Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn và nội dung cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong quá trình

áp dụng pháp luật hình sự và Tòa án là cơ quan có quyền QĐHP Điều này

được quy định tại Điều 26 của Bộ luật hình sự: “Hình phạt được quy định

trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” Như vậy, hình phạt là biện

pháp cưỡng chế của Nhà nước do TAND nhân danh Nhà nước quyết định áp dụng đối với người phạm tội, không một cơ quan khác nào ngoài Tòa án nhân dân có quyền áp dụng hình phạt Từ các định nghĩa khoa học pháp lý nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: quyết đi ̣nh hình phạt

tù là một giai đoạn, một nội dung của viê ̣c áp dụng pháp luật hình sự thể hiện

ở việc Tòa án buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam, trại tạm giam trong bản án buộc tội

1.1.4 Khái niệm quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi

Quyết đi ̣nh hình pha ̣t tù đối với người dưới 18 tuổi không chỉ là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với họ là đủ Bởi vì người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương với nhiều thay đổi

về tâm sinh lý Do vậy, việc áp dụng hình phạt đối với họ chỉ trong trường hợp thật sự cần thiết Nếu dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án có thể áp dụng biện pháp tư pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa, không phải

Trang 23

là hình phạt cũng đủ tính răn đe và giáo dục Việc xem xét trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi luôn phải đặt trong mối quan hệ với trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội cũng như điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Trong quy định của Bộ luật hình sự, chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi chủ yếu là giáo dục, tạo điều kiện để họ nhanh chóng cải tạo bản thân, nhận thức được hành vi nào đúng, hành vi nào là pháp luật cấm , sửa chữa lỗi lầm, để họ trở thành công dân có ích cho xã hội

Trình tự quy định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi cũng nằm trong trình tự quyết định hình phạt nói chung đối với người phạm tội Tuy nhiên, do đối tượng bị đưa ra xét xử là người dưới 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt tù cần xem xét kỹ về độ tuổi, trình độ phát triển về thể chất

và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của họ, điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân

và điều kiện phạm tội và những tình tiết khác của vụ án Chỉ áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi khi nhận thấy nếu để họ ngoài xã hội thì không có khả năng giáo dục họ trở thành người tốt cho xã hội

Từ các khái niê ̣m ở trên , có thể thấy : "quyết đi ̣nh hình phạt tù đối với

người dưới 18 tuổi là một giai đoạn, một nội dung của viê ̣c áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án buộc người người dưới 18 tuổi phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam trong Bản án buộc tội"

1.2 Quy định chung về quyết định hình phạt tù đối với người dưới

18 tuổi

1.2.1 Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi

Căn cứ quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phải tuân thủ những quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội nói chung, nhưng có thể những tình tiết có liên quan đến người dưới 18 tuổi

Trang 24

Để quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội nói chung dù họ thực hiện một tội phạm hay thực hiện nhiều tội phạm, khi áp dụng các chế tài luật hình sự , tòa án phải tuân theo những căn cứ nhất định Đây là những tư tưởng chỉ đạo, kim chỉ nam cho hoạt động của tòa án khi chọn và quyết định loại và mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề, là điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo người bị kết án được tốt, góp phần vào việc phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung Các căn cứ quyết định hình phạt là một trong những nội dung quan trọng của chế định quyết định hình phạt, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các căn cứ quyết định hình phạt tạo tiền đề thuận lợi để quyết định hình phạt đúng pháp luật Nếu nhận thức không đúng các căn cứ quyết định hình phạt sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng các quy phạm pháp luật hình sự dẫn đến việc quyết định hình phạt sai

Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có, buộc Tòa

án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm Đối với người dưới 18 tuổi, việc quyết định hình phạt tù cũng phải tuân theo quy định này Theo khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự, viê ̣c quyết đi ̣nh hình pha ̣t phải dựa trên các căn cứ sau:

- Các quy định của luật hình sự:

Khi quyết định hình phạt thì các quy định của luật hình sự bao giờ cũng

là tiêu chuẩn pháp lý cao nhất để đảm bảo cho tòa án quyết định được một hình phạt đúng, tạo khả năng lớn nhất để đạt được mục đích của hình phạt Do

vâ ̣y, đây là một căn cứ có tính bao trùm, căn cứ này bảo đảm cho việc thực hiện các nguyên tắc pháp chế trong hoạt động xét xử của tòa án

Như vậy, khi quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi, Tòa

án cần phải căn cứ vào tất cả các quy định của bộ luật hình sự ở dạng thống

Trang 25

nhất, tổng thể của chúng và phải cân nhắc chỉ rõ trong Bản án những quy định của Bộ luật hình sự có liên quan trực tiếp đến việc quyết định một hình phạt

cụ thể đối với một bị cáo cụ thể

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Để quyết đi ̣nh hình pha ̣t T òa án phải cân nhắc tính chất , mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội , từ đó có thể quyết định được loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép Tính chất nguy hiểm cho

xã hội của tội phạm, trước hết được quyết định bởi ý nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội do tội phạm đó xâm hại - khách thể bị xâm hại Bên cạnh khách thể bị xâm hại, tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn phụ thuộc vào các dấu hiệu khác về mặt khách quan, về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể

Mức độ nguy hiểm cho xã hội có thể khác nhau mă ̣c dù được thực hiê ̣n bới những tội phạm giống nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm Nếu tính chất của tội phạm là đặc tính về chất, thì mức độ nguy hiểm của nó là đặc tính về lượng của mỗi tội phạm cụ thể Như vâ ̣y, hai khái niệm tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại cùng nhau, bổ sung cho nhau và xâm nhập vào nhau [42, tr 30-31] Do vâ ̣y, khi quyết định hình phạt, tòa án phải chỉ ra trong bản án những tình tiết cụ thể chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể

mà tòa án dựa vào đó và cùng với các tình tiết khác để chọn loại và mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo khi xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể đã được thực hiện

Các tình tiết khách quan ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và do đó ảnh hưởng đến việc

Trang 26

quyết định hình phạt Trong một số trường hợp các tình tiết như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, hậu quả, phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm được nhà làm luật quy định là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có vai trò quyết định trong việc định tội danh và ở một mức độ nhất định nào đó, cũng ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt Trong một số trường hợp khác, những tình tiết trên không được các nhà làm luật quy định là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì chúng không có ý nghĩa đối với việc định tội danh, nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc quyết định hình phạt đối với bị cáo đă ̣c biê ̣t là nguyên t ắc cá thể hóa hình phạt Bởi vậy, trong mọi trường hợp, cần phải xác định và cân nhắc các tình tiết đó để có căn cứ đầy đủ cho việc quyết định hình phạt đối với bị cáo

Quyết đi ̣nh hình pha ̣t cũng phu ̣ thuô ̣c rất lớn vào hậu quả do tội phạm gây ra Các hậu quả không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc quyết định hình phạt Trong những trường hợp việc gây ra hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm thì chúng không được coi là dấu hiệu tăng nặng

Các hình thức, các loại và mức độ của lỗi có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và việc quyết định hình phạt Thông thường, trong những trường hợp gây ra hậu quả giống nhau, các tội phạm được thực hiện do cố ý được nhà làm luật đánh giá có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn các tội phạm được thực hiện do vô ý và quy định hình phạt nghiêm khắc hơn Để quyết định một hình phạt công bằng, hợp lý, phù hợp với lỗi của người phạm tội, ngoài việc xác định đúng hình thức lỗi, việc xác định rõ từng loại lỗi trong mỗi hình thức cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định mức

độ hình phạt Quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi cũng phải dựa vào căn cứ quan trọng này

Trang 27

- Nhân thân người phạm tội:

Nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ [42, tr 31] Dưới góc

độ khoa học luật hình sự, nhân thân người phạm tội được nghiên cứu với tính chất là một căn cứ khi quyết định hình phạt Việc cân nhắc nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt được thể hiện rõ trong luật hình sự nước ta và được thực tiễn xét xử ghi nhận và áp dụng [55, tr 107] Cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt không có nghĩa là chỉ cân nhắc nhân thân nói chung mà cân nhắc những đặc điểm nhất định liên quan đến mục đích hình phạt [50, tr 80-81] Cụ thể, để xác định những đặc điểm nào thuộc về nhân thân người phạm tội, khi xem xét, cân nhắc để quyết định hình phạt, cần phải dựa vào các tiêu chí cơ bản sau [16, tr 171-172]

Thứ nhất, những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội dưới 18

tuổi có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là những đặc điểm mà khi có ở người phạm tội thì làm tăng hoặc giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tòa án phải cân nhắc những tình tiết thuộc nhóm này khi quyết định hình phạt

Thứ hai, những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội dưới 18

tuổi phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội Đây là đặc điểm có liên quan đến việc đạt được mục đích của hình phạt Cân nhắc những đặc điểm này đảm bảo cho tòa án lựa chọn được hình phạt cụ thể cho người phạm tội dưới 18 tuổi sao cho tạo khả năng lớn nhất để đạt được mục đích của hình phạt Những đặc điểm này bao gồm: thành phần xã hội, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, hoàn cảnh gia đình, thái độ tự thú hoặc hối cải; lập công chuộc tội hay có thái độ ngoan cố…

Trang 28

Thứ ba, những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh

hoàn cảnh đặc biệt của họ Cân nhắc những đặc điểm này để quyết định hình phạt giúp cho tòa án lựa chọn được loại hình phạt cụ thể sao cho loại hình phạt

đó có tính thực tế, tính khả thi, phù hợp với các quy định của luật hình sự và tạo điều kiện, khả năng lớn nhất để đạt được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội Những đặc điểm này bao gồm: nguyên nhân và điều kiện phạm tội của người dưới 18 tuổi; có hay không người thành niên xúi giục họ phạm tội

Thứ tư , những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có liên

quan đến các đối tượng thuộc các chính sách ưu đãi của xã hội của Đảng và Nhà nước Việc cân nhắc những đặc điểm thuộc nhóm này khi quyết định hình phạt giúp cho tòa án lựa chọn được loại và mức hình phạt cụ thể, chính xác và cũng không ngoài mục đích nhằm đạt được các mục đích của hình phạt Những đặc điểm này bao gồm: người phạm tội dưới 18 tuổi thuộc dân tộc thiểu số ít người; người thuộc gia đình thương binh, liệt sĩ; gia đình có công với cách mạng, những người có chức sắc trong tôn giáo…[55, tr 55]

- Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là những tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội giảm đi hoặc tăng lên so với trường hợp bình thường và do đó, là căn cứ để giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS đồng thời cũng là một trong bốn căn cứ để tòa án cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội [42, tr 32-33] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác nhau về tội phạm đã thực hiện, về nhân thân người phạm tội được quy định cụ thể trong luật hoặc quy định cụ thể trong luật nhưng được tòa án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội Khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi, Tòa án

Trang 29

phải tuân thủ nghiêm túc quy định có tính nguyên tắc rằng các tình tiết tăng nặng chỉ là những tình tiết được quy định trong luật, còn các tình tiết giảm nhẹ

có thể là những tình tiết được quy định trong luật, cũng có thể là những tình tiết không được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ và cần phải nói rõ lý do và ghi rõ trong bản án [59, tr 420-421]

Như vậy, các căn cứ quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý được quy định trong bộ luật hình sự mà tòa án phái tuân thủ khi quyết định hình phạt cho người phạm tội, bao gồm: các quy định của Bộ luật hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

1.2.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi

Phạm nhiều tội là một biểu hiện của chế định nhiều tội phạm trong luật

hình sự Theo Từ điển luật học, “Chủ thể có nhiều hành vi phạm tội độc lập

hoặc chỉ có một hành vi mà hành vi đã thực hiê ̣n đó thỏa mãn cấu t hành tội phạm khác nhau thì phạm nhiều tội” [53, tr 600] Theo nghĩa he ̣p , phạm

nhiều tô ̣i gắn v ới hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt và là một trường hợp đă ̣c biê ̣t của quyết đi ̣nh hình pha ̣t Trong Giáo trình Luâ ̣t Hình sự

Viê ̣t Nam, “Phạm nhiều tội là người có nhiều hành vi phạm tội hoặc chỉ có

một hành vi phạm tội nhưng thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau và

bị đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó” [46, tr 285] Như vâ ̣y, quyết

định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo đã phạm từ hai tội trở lên mà các tội đó chưa được đưa ra xét

xử và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong trường hợp này, Tòa án quyết định cho mỗi tội một hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung nếu có, sau đó Tòa án

sẽ tổng hợp các hình phạt này theo quy định của luâ ̣t hình sự Khi quyết định

Trang 30

hình phạt đối với từng tội, Tòa án phải tuân thủ các quy định đặc thù áp dụng riêng đối với trường hợp phạm nhiều tội [46, tr 285-286]

Theo lý luận chung của khoa ho ̣c luâ ̣t hình sự , việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo nguyên tắc chung và các nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội Các nguyên tắc chung ở đây bao gồm các nguyên tắc Pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo; nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng Các nguyên tắc đặc thù bao gồm các nguyên tắc: nguyên tắc cộng toàn bộ (hình phạt chung bằng tổng các hình phạt đã tuyên); nguyên tắc cộng một phần (hình phạt chung bằng hình phạt cao nhất cộng với một phần của hình phạt còn lại); nguyên tắc thu hút (hình phạt chung là hình phạt nặng nhất trong các hình phạt đã tuyên) và nguyên tắc cùng tồn tại

Để thực hiện việc quyết định hình phạt một cách chính xác cần phân biệt rõ rõ quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm nhiều tội với các trường hợp khác như quyết định xử phạt trong trường hợp phạm tội nhiều lần hay trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều Bản án

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội phải tuân theo một trình tự nhất định, các hình phạt đối với từng tội danh phải được xác định riêng rồi sau đó mới được tổng hợp lại với nhau thành một hình phạt chung

Đối với người dưới 18 tuổi pha ̣m nhiều tô ̣i c ũng có những quy định khác biệt so với trường hợp phạm nhiều tội thông thường Ngay đối với người dưới 18 tuổi pha ̣m nhiều tô ̣i mà các tội thực hiện ở các thời điểm khác nhau cũng có những điểm khác nhau nhất định Việc tổng hợp hình phạt với trường hợp này cũng cần căn cứ vào các thời điểm phạm tội khác nhau của người dưới 18 tuổi pha ̣m nhiều tô ̣i để đưa ra quyết định hình phạt chính xác

Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một Bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì về nguyên tắc, Tòa án quyết

Trang 31

định hình phạt đối với tội đang bị xét xử , sau đó quyết định hình phạt chung như quy đi ̣nh với viê ̣c xét xử cùng mô ̣t lần đối với một người phạm nhiều tội Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung Bên ca ̣nh đó, khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định với viê ̣c xét xử cùng mô ̣t lần đối với một người phạm nhiều tội Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, người đứng đầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo các nguyên tắc nêu trên [46, tr 287]

Do người dưới 18 tuổi phạm tội, nhưng đến thời điểm xét xử thì có thể

họ đã vượt quá 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt cần chú ý những tình tiết như: Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng theo từng tình huống cụ thể: Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 BLHS (Đối với người

từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần từ mức phạt tù mà điều luật quy định;

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định) Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội

Trang 32

1.3 Quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam về Quyết định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi

1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985

Sau Cách mạng tháng Tám, để duy trì sự ổn định của các quan hệ xã hội, chính quyền cách mạng chủ trương tiếp tục áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ, đồng thời tích cực ban hành nhiều văn bản mới trong lĩnh vực luật hình sự Từ năm 1945 đến năm 1959, nước ta vẫn sử dụng các văn bản pháp luật được ban hành trong chế độ thuộc địa trước năm 1945 Trong Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt

Nam tại Điều 1 quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy

nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam

bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này” Cần lưu ý là Sắc lệnh ngày

10/10/1945 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa chỉ cho phép áp dụng văn bản pháp luật của chế độ cũ chứ không thừa nhận các án lệ cũ

Cùng với việc duy trì pháp luật của chế độ cũ như một giải pháp cấp thiết, chính quyền cách mạng đã khẩn trương xây dựng pháp luật của chế độ mới nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nước Nguồn luật hình sự chủ yếu là các Sắc lệnh với số lượng tương đối lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, văn hoá xã hội Giai đoạn 1945 - 1959

có sự xuất hiện và phát triển của hệ thống Án lệ mới

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc được giải phóng, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp 1959 Từ đó không được sử dụng các văn bản pháp luật ban hành dưới chế độ cũ Vào ngày 30/6/1955, Bộ Tư pháp có

Thông tư số 19-VHH/HS thông báo đến các Toà án yêu cầu “không nên áp

dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến nữa” Nếu trong giai đoạn trước, Sắc

lệnh là hình thức văn bản pháp luật hình sự phổ biến thì giai đoạn 1959 -

Trang 33

1985, các Pháp lệnh và Sắc luật lại giữ vai trò quan trọng hơn trong việc điều chỉnh quan hệ pháp luật hình sự

Trong giai đoạn này chưa có bất cứ văn bản nào quy định về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi (hoă ̣c người chưa thành niên , vị thành niên), các văn bản pháp luật chỉ quy định về TNHS của một loại tội phạm cụ thể như: tội tống tiền, ăn cướp, bắt cóc, ám sát, bắt giam người trái phép, nhũng nhiễu dân chúng hoặc lưu hành giấy bạc giả, hối lộ và biển thủ tiền công quỹ, phá huỷ công sản v v Khái niệm người phạm tội dưới 18 tuổi chưa được đề cập trong bất cứ văn bản nào trong giai đoạn này Trong các văn bản pháp luật trong giai đoạn này nhằm chỉ đối tượng người phạm tội dưới 18 tuổi Nhà nước ta sử dụng từ trẻ em và thanh thiếu niên Trong pháp lệnh số: 160-LCT ngày 14/11/1979 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì quy định độ

tuổi trẻ em gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi (Điều 1) Nội dung của pháp lệnh là “Mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, không phân biệt

gái, trai, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội của các em và địa vị xã hội của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng” [51, Điều 3] chính sách pháp luật dành cho

trẻ “Cha mẹ phải chịu trách nhiệm dân sự về những hành vi của con mình ở tuổi

trẻ em đã gây thiệt hại cho người khác và những người lôi kéo, tổ chức, xúi giục trẻ em phạm pháp thì tuỳ mực độ nhẹ, nặng sẽ bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy tố và phạt về hình sự” [51, Điều 26] Còn tại Thông tư của

thủ tướng chỉnh phủ số 8-TTg/VG ngày 13/7/1964 về việc thành lập trường giáo dục thanh thiếu niên hư, chủ trương của thông tư này có nghĩa là nhằm giáo dục thiếu niên nhi đồng, kém kỷ luật, lêu lổng, phạm trộm cắp, phạm pháp luật nhiều lần, thông tư cũng xác định nguyên nhân là do những thiếu sót trong việc giáo dục của gia đình và nhà trường, do ảnh hưởng của những thói hư tật xấu còn sót lại của xã hội cũ, do ảnh hưởng của những phần tử xấu Từ việc xác định nguyên nhân trẻ hư hỏng thấy được chính sách hình sự của Nhà nước

Trang 34

ta trong giai đoạn này thừa nhận sự thiếu sót của gia đình, nhà trường và xã hội

cũ Việc đưa các em vào trường giáo dục cũng căn cứ vào lứa tuổi và mức độ phạm pháp của các em, tổ chức thành 2 loại trường: loại trường cho các em từ

9 đến 13 tuổi và loại trường cho các em từ trên 13 đến 17 tuổi Nhà nước sử dụng chính sách khoan hồng trong việc không áp dụng hình phạt tù đối với trẻ

hư hỏng mà đưa các em vào các trường giáo dục

1.3.2 Giai đoạn từ 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 2015

Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên và cũng là Bộ luật đầu tiên của chúng ta được ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 là sự kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ở nước ta từ năm 1945 đến thời điểm Bộ luật được ban hành Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm

1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 BLHS năm 1985 ra đời có vị trí rất quan trọng, nó trở thành công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa tội phạm Bộ luật bao gồm 12 chương với 280 Điều luật Về chính sách hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, Bô ̣ luâ ̣t Hình sự 1985 gọi đối

tượng này là "người chưa thành niên"; và dành riêng một chương: Chương VII

- “Những quy định đối với NCTN phạm tội” với 11 điều từ Điều 57 đến Điều

67, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta đối với người dưới

18 tuổi Cụ thể tại BLHS năm 1985 quy định: “Việc xử lý hành vi phạm tội

của NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội…” [36, Điều 59] Điều

này đã thể hiện việc xử lý hình phạt tù đối với NCTN không phải nhằm để trừng phạt họ mà chủ yếu là cải tạo, giúp đỡ họ nhận ra những sai lầm, từ đó

Trang 35

sửa chữa hoàn thiện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội Đồng

thời, bộ luật cũng quy định “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình

NCTN phạm tội Khi phạt tù có thời hạn Tòa án cho NCTN phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên” [36,

Điều 59, khoản 4] BLHS năm 1985 thể hiện tinh thần chủ động trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm; đồng thời thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước xử lý người phạm tội không chỉ nhằm trừng trị mà còn nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa và lòng tin vào khả năng cải tạo con người dưới chế độ xã hội chủ nghĩa

Ngoài BLHS năm 1985 thì còn có nhiều văn bản khác do Chính phủ ban hành như: Nghị định số 141/HĐBT ngày 13/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ buộc phải chịu thử thách của NCTN phạm tội Nghị định

này xác định độ tuổi của NCTN là “từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” (Điều 1);

Chỉ thị số 135/ CT ngày 14/5/1989 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng về tăng cường công tác bảo vệ trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới; Nghị định số 149/HĐBT ngày 05/5/1992 của hội đồng bộ trưởng ban hành về chế độ tạm giữ, tạm giam; Nghị định số 60/CP ngày 16/9/1993 của Chính phủ ban hành quy chế trại giam; Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm ngày 31/7/1998, chương trình quốc gia phòng chống ma tuý giai đoạn 1998 – 2000

và 2001 – 2005, v v

Trước yêu cầu của tình hình mới trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, BLHS năm 1999 ra đời trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985 qua bốn lần sửa đổi, bổ sung và các văn bản pháp luật trên So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi

cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình

sự Việt Nam BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 với việc bổ sung nguyên tắc xử lí tội phạm:

Trang 36

Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật…, theo đó, việc xử lí tội phạm không bị ảnh hưởng bởi giới tính, bởi dân tộc, bởi tín ngưỡng, tôn giáo, bởi thành phần, địa vị xã hội của người có hành

vi phạm tội Mọi công dân đều bình đẳng trong việc phải chịu TNHS

về hành vi phạm tội đã thực hiện của mình [37, Điều 3]

Nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó vừa thể hiện thái độ không khoan nhượng trong xử lý tội phạm mà chủ thể thực hiện là người có chức vụ, quyền hạn; nó vừa khẳng định việc xử lý về hình sự chỉ được đặt ra cho người có hành vi phạm tội được quy định trong luật mà không thể được đặt ra vì lý do khác BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên cách go ̣i đối tượng dưới

18 tuổi là người chưa thành niên BLHS năm 1999 có nhiều điểm mới trong chính sách xử lý tội phạm đối với NCTN phạm tội, đó là sự thu hẹp phạm vi NCTN phải chịu trách nhiệm hình sự theo đúng xu hướng chung của thế giới,

nhất là Công ước về quyền Trẻ em của Liên hợp quốc, Điều 37 “không được

áp dụng hình phạt tử hình hay tù chung thân không có khả năng phóng thích đối với những hành vi phạm pháp luật do người dưới 18 tuổi gây ra” Chính sách

này còn được thể hiện qua quy định mới về chính sách hình sự đối với NCTN

“NCTN phạm tội có thể được miễn TNHS, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (Điều 69 BLHS);

và quy định về độ tuổi chịu hình phạt tù “… người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

khi phạm tội… thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù… người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi khi phạm tội… thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù…” (Điều 74 BLHS) So với

BLHS năm 1985, quy định tại Điều 74 BLHS năm 1999 đã giảm mức hình phạt từ 20 năm tù xuống còn 18 năm tù đối với NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới

18 tuổi và giảm mức hình phạt từ 15 năm tù xuống còn 12 năm tù đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Trang 37

1.4 Pháp luật hình sự một số nước về Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi

1.4.1 Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi trong luật pháp quốc tế

Quyết định hình phạt nói chung và hình pha ̣t tù nói riêng với người dưới

18 tuổi luôn được sự quan tâm đă ̣c biê ̣t trong pháp luâ ̣t quốc tế Công ước quốc

tế về quyền Trẻ em (Unite Nations Convention on the rights of the Child) năm

1989 đã quy đi ̣nh các chuẩn mực quốc tế về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi

và những hướng dẫn cụ thể về các hệ thống tư pháp đối với người dưới 18 tuổi Trong số những văn bản chủ đạo liên quan đến hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) như: Công ước quyền Trẻ em, Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn Riyadh, Quy tắc Havana và Hướng dẫn Vienna, các quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện những quy định của Công ước quyền Trẻ em, bởi vì đó

là một văn bản ký kết có tính ràng buộc

Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ

em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên

Công ước quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: "Trẻ em có nghĩa là người

dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [15, Điều 1] Trong một số văn bản, khái niệm trẻ em

được gọi là người chưa thành niên hoặc thanh, thiếu niên Tuy nhiên, trong quan hệ với pháp luật và thực thi pháp luật, trẻ em thường được gọi là người chưa thành niên:

- Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ

thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người

ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" (Quy tắc số 2.2 mục a)

Trang 38

- Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên

bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa

thành niên là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" (Quy tắc 2.1 mục a)

Các văn bản quốc tế cũng khẳng định rõ việc cấm tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn tệ, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá đối với trẻ em, đồng thời nêu rõ là không được áp dụng hình phạt tử hình hay tù chung thân, hình phạt không có khả năng phóng thích đối với những hành vi phạm pháp luật do người chưa đủ 18 tuổi thực hiện Trong trường hợp người dưới 18 tuổi bị tước quyền tự do, viê ̣c quyết đi ̣nh hình pha ̣t và thực thi phải đảm bảo các yêu cầu:

(1) Trẻ em p hải được đối xử nhân đạo và tôn trọng phẩm giá của con người, đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt

(2) Trẻ em được giả định vô tội cho tới khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng minh rằng trẻ đã phạm tội theo luật pháp

(3) Trẻ được thông báo nhanh chóng và trực tiếp về những điều mà trẻ

bị buộc tội và trong trường hợp trẻ vi phạm pháp luật phải thông báo qua cha

mẹ hay người giám hộ pháp lý, được trợ giúp về mặt pháp lý để chuẩn bị và trình bày sự biện hộ cho trẻ

(4) Vấn đề trẻ có phạm tội hay không phải được xác định không trì hoãn cơ quan có thẩm quyền độc lập và vô tư trong một cuộc xét xử công bằng, minh bạch theo pháp luật

(5) Trẻ em không bị ép buộc phải làm chứng hoặc nhận tội, được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những người làm chứng chống lại mình, trẻ còn

có quyền được tham gia và thẩm vấn của những người làm chứng cho mình trong những điều kiện bình đẳng

(6) Nếu trẻ bị coi là đã vi phạm luật hình sự thì có quyền đòi hỏi quyết

Trang 39

định và những biện pháp thi hành theo quyết định, trẻ có quyền yêu cầu cơ quan tư pháp có thẩm quyền cao hơn xét xử lại theo hệ thống pháp luật

(7) Trong trường hợp trẻ không biết, không hiểu ngôn ngữ được sử dụng trong cơ quan tư pháp trẻ được giúp đỡ phiên dịch miễn phí

(8) Trong quá trình tham gia tố tụng và bị bắt giam mọi điều riêng tư của trẻ em được hoàn toàn tôn trọng

Tóm lại , trong pháp luâ ̣t quốc tế , trẻ em, người chưa thành niên hay người dưới 18 tuổi khi pha ̣m tô ̣i sẽ đối diê ̣n với quyết đi ̣nh hình pha ̣t theo hướng giảm nhe ̣ hơn so với người đã thành niên Điều này đã được chứng minh dựa trên các cơ sở khoa ho ̣c về tâm sinh lý của đô ̣ tuổi vi ̣ thành niên , được chấp nhâ ̣n rô ̣ng rãi ta ̣i hầu hết các quốc gia trên thế giới

1.4.2 Quyết định hình phạt tù với người dưới 18 tuổi trong pháp luật hình sự của một số quốc gia

Dựa trên những quy định của luật pháp quốc tế về người chưa thành niên, các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các quy định về quyết định hình phạt

tù với người chưa thành niên phạm tội , các chế tài xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp với điều kiện kinh tế- văn hoá – xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của mỗi nước Chẳng hạn như:

a) Ở Thái Lan

Ngày 28-1-1952, Thái Lan đã thành lập Toà án người chưa thành niên trung ương Mục đích của việc thành lập Toà án này là dành cho trẻ em và những người chưa thành niên dưới 18 tuổi một biện pháp xử lý đặc biệt khi họ

vi phạm pháp luật hình sự Tuy nhiên, thẩm quyền của Toà án người chưa thành niên còn được phép giải quyết một số trường hợp tranh chấp gia đình liên quan tới hạnh phúc và lợi ích của trẻ em và người chưa thành niên

Theo Điều 72 BLHS Thái Lan, thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị

Trang 40

áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định Trẻ em từ 7 đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Toà án sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan nào mà Toà án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó (Điều 74 BLHS Thái Lan) Người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi có thể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt Trong trường hợp ở độ tuổi này, trước khi xét xử, tuyên án, Toà

án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trường của người đó (Điều 75 BLHS Thái Lan) Người chưa thành niên bị bắt phải được đưa ngay tới trại giam giữ trong vòng 24 giờ và trong vòng 30 ngày tạm giữ, công tố viên phải hoàn thành thủ tục và đưa ra xét xử tại Toà án người chưa thành niên (Điều 50 và 51 Luật tổ chức Toà án người chưa thành niên và gia đình 1991) Trong quá trình giam giữ người chưa thành niên vẫn được chăm sóc và bảo vệ tốt Hội đồng xét xử người chưa thành niên phạm tội gồm 2 thẩm phán chuyên nghiệp, 2 hội thẩm nhân dân và bắt buộc một trong hai hội thẩm phải có 1 là

nữ Phiên toà xét xử người chưa thành niên phải được xử kín, trong đó phải có mặt người bào chữa, cha mẹ hoặc người giám hộ Thủ tục tố tụng của Toà án người chưa thành niên cũng đòi hỏi phải có cán bộ chuyên sâu hơn như các nhà tâm lý, y tế, giám sát, công tác xã hội Mục đích tố tụng với người chưa thành niên là tạo cho họ một cơ hội để sửa chữa, thay đổi hành vi và mong muốn sau cùng là giúp họ trở thành những công dân tốt cho xã hội chứ không nhằm vào mục đích xử phạt các em như xử phạt người lớn

b) Ở Nhật Bản

Nhâ ̣t Bản có Luật người chưa thành niên, nhưng phân toà người chưa thành niên của Toà án gia đình giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi Mục đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt

những người chưa thành niên phạm tội mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến

Ngày đăng: 10/01/2018, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2005
2. Bộ Tư pháp (1995), Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. Nguyễn Mai Bộ (2001), “Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Năm: 2001
4. C. Mác – Ph.Ăngghen (1984), Tuyển tập, Tập 1, tr 211, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, Tập 1
Tác giả: C. Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
5. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, tập III
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
6. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật Hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật Hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo sau đại học
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Lê Cảm (2009), Hệ thống tư pháp Hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước Pháp Quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp Hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước Pháp Quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
8. Lê Cảm (2012), Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Sách chuyên khảo, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Sách chuyên khảo
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
9. Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), “Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng
Năm: 2004
10. Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản (2007), Những đặc thù về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc thù về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Lưu Ngọc Cảnh (2010), Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội)
Tác giả: Lưu Ngọc Cảnh
Năm: 2010
12. Nguyễn Ngọc Chí (2001), Các giai đoạn phạm tội, (chương XII, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần chung), tr 317, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giai đoạn phạm tội, (chương XII, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần chung)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Trần Văn Dũng (2000), “Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2000
14. Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2003
16. Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, tr 171-172, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
17. Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn (1991), Tâm lí học, tr 250-259, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1991
18. Nguyễn Minh Hải (2009), “Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí tòa án nhân dân, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đối với người chưa thành niên phạm tội”, "Tạp chí tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Minh Hải
Năm: 2009
19. Nguyễn Kim Hiền (2009), Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam - Những vẫn đề lý luận và thực tiễn xét xử , Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ Luâ ̣t ho ̣c , Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam - Những vẫn đề lý luận và thực tiễn xét xử
Tác giả: Nguyễn Kim Hiền
Năm: 2009
20. Nguyễn Thị Thu Hiền (2010), Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Năm: 2010
21. Nguyễn Tiến Hoàn (2013), Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật - Trường đại học Quốc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Hoàn
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w