Lược sử quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra qua các thời kỳ .... Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ NGỌC MƠ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
GÂY RA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ NGỌC MƠ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
LÊ THỊ NGỌC MƠ
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 7 1.1 Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 7 1.1.1 Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 7 1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 14 1.2 Những nội dung pháp lý chủ yếu của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 16 1.2.1 Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 16 1.2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 19 1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 22 1.3.1 Pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 22 1.3.2 Pháp luật Cộng hòa Pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 24 Kết luận Chương 1 26 Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 27
Trang 52.1 Lược sử quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra qua các thời kỳ 27 2.1.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thời Lê, Nguyễn 27 2.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thời kỳ Pháp thuộc 29 2.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến Bộ luật dân sự 2005 31 2.1.4 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam hiện hành 33 2.2 Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 35 2.2.1 Quy định pháp luật hiện hành về điều kiện thiệt hại 35 2.2.2 Quy định pháp luật hiện hành về điều kiện mối quan hệ nhân quả giữa tác động của nhà cửa, công trình xây dựng với thiệt hại xảy ra 36 2.2.3 Quy định pháp luật hiện hành về điều kiện lỗi 37 2.3 Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về chủ thể chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 38 2.3.1 Các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong quá trình khai thác, sử du ̣ng 38 2.3.2 Các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra khi nhà cửa, công trình xây dựng đang trong quá trình thi công, hoàn thiện 47 2.3.3 Các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng là tài sản của vợ chồng gây ra 53 2.4 Các quy định pháp luật hiện hành về xác định thiệt hại trong bồi thường thiệt hại
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 57
Trang 62.4.1 Xác định thiệt hại về tài sản 57
2.4.2 Xác định thiệt hại về sức khỏe 58
2.4.3 Xác định thiệt hại về tính mạng 60
2.5 Các quy định pháp luật hiện hành về những trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 61
2.5.1 Thiê ̣t ha ̣i xảy ra do lỗi của người bi ̣ thiê ̣t ha ̣i 61
2.5.2 Thiê ̣t ha ̣i xảy ra do sự kiê ̣n bất khả kháng 62
2.6 Giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 64
Kết luận Chương 2 74
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 75
3.1 Phương hướng hoàn thiê ̣n quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m bồi thường thiê ̣t ha ̣i do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 75
3.2 Mô ̣t số kiến nghi ̣ nhằm hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m bồi thường thiê ̣t ha ̣i do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra 80
Kết luận Chương 3 87
KẾT LUẬN CHUNG 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật dân sự
BTTH: Bồi thường thiệt hại
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiê ̣n Nghị quyết số 48 - NĐ/TW của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
và Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lươ ̣c cải cách tư pháp đến năm 2020 Nhà nước đã có những thay đổi về mặt nhận thức cũng như vận dụng vào thực tiễn , ban hành nhiều văn bản pháp quy có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đưa đất nước mở cửa , hô ̣i nhâ ̣p và phát triển nền kinh tế thi ̣ trường đi ̣nh hướng xã hô ̣i chủ nghĩa Góp phần ổn định và hài hòa hóa quan hệ giao lưu dân sự giữa các bên , đồng thời giải quyết triê ̣t để các tranh chấ p phát sinh trong quan hê ̣ ấy
Có thể thấy, bên ca ̣nh sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước hội nhập và phát triển nhanh chóng thì đời sống của con người cũng ngày càng được cải thiện Nhiều nhà cao tầng, khu công nghiệp, nhà máy, các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng nhằm phục vụ cho nhu cầu đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng trở nên phổ biến Vạn vật tồn tại trên trái đất luôn luôn chuyển động
và phát triển, có những tài sản tự thân chúng gây ra thiệt hại cho những người xung quanh mà không chịu tác động của các yếu tố khách quan hay hành vi của con người Trong quá trình vận hành, sử dụng, quản lý, chúng luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây thiệt hại cho con người Gây ra những tai nạn bất ngờ nằm ngoài sự kiểm soát, điều khiển của con người Từ đó, làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Nhận thấy những quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra vẫn còn nhiều hạn chế Thực tiễn áp dụng các quy định này vào một số trường hợp cụ thể còn nhiều vướng mắc; các cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn khi giải quyết các vu ̣ viê ̣c
Trang 9Hơn nữa, loại trách nhiệm này ngày càng trở nên phức tạp , vấn đề xác đi ̣nh chủ thể chi ̣u trách nhiê ̣m bồi thường là ai , trong trường hợp nào, yếu tố lỗi của các bên chủ thể xem xét ra sao,…đang là những câu hỏi cần phải được làm rõ Yêu cầu đă ̣t ra là phải có sự giải quyết kịp thời nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người bị thiệt hại Đồng thời, xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Đảm bảo sự điều chỉnh của pháp luật nói chung, pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế hô ̣i nhâ ̣p bạn bè quốc tế
Vì những lẽ trên , tác giả lựa chọn nghiên cứu “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Luật học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
BTTH ngoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra nói riêng là một trong những chế định dân sự quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Đây là một vấn đề phức tạp và không còn mới mẻ hay xa lạ với những nhà nghiên cứu, áp dụng pháp luật Mặc dầu, thời gian qua được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện, mức độ khác nhau; Có những công trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ hay các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Luật Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, chưa có nhiều đề tài hay công trình nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra theo pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam
Hiện nay, một số bài viết đăng trên các tạp chí Luật ho ̣c như : Nguyễn Văn
Cương, Chu Thi ̣ Hoa “Bồi thường thiê ̣t hại ngoài hợp đồng” , Nghiên cứu lâ ̣p pháp số 4/2005 Hay bài viết của Pha ̣m Kim Anh “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thườ ng
thiê ̣n” đăng trên ta ̣p chí Khoa ho ̣c pháp lý , số 6/2009 Và “Chế đi ̣nh bồi thường thiê ̣t
Trang 10hại ngoài hợp đồng – những vấn đề đặt ra khi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005” đăng
trên Ta ̣p chí Dân chủ và pháp luâ ̣t, số 4, năm 2013
Ngoài ra, một số sách chuyên khảo, chuyên đề của các giảng viên, học viên, cụ
thể như: PGS.TS Phùng Trung Tập (2009), “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về
tài sản, sức khỏe và tính mạng”, sách chuyên khảo, Nxb Hà Nội Hay bài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, sách
chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, 2013 do PGS.TS Trần Thị Huệ - Chủ biên
Trần Thi ̣ Huê ̣, Vũ Thị Hải Yến , Vũ Thị Hồng Yến , “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn” Nxb Tư pháp, Hà Nội
Nội dung của những cuốn sách chuyên khảo này là viết chung về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, hay những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng do tài sản gây ra Đối với trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra đư ợc các tác giả đề cập một cách khái quát trong tổng thể nội dung cuốn sách chứ không tập trung đi sâu tìm hiểu chi tiết
Chuyên đề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối , nhà cửa , công trình
xây dựng gây ra” của tác giả Vũ Thị Hồng Yến, Khoa pháp luật dân sự - trường Đại
học Luật Hà Nội, năm 2009
Luâ ̣n văn tha ̣c sỹ Luâ ̣t ho ̣c của ho ̣c viên Giang Văn Thi ̣nh “Trách nhiệm bồi
thường thiê ̣t hại do nhà cửa , công trình xây dựng khác gây ra theo pháp luật dân sự Viê ̣t Nam”, Khoa Luâ ̣t – Đa ̣i ho ̣c quốc gia Hà Nô ̣i, năm 2013 Khóa luận tốt nghiệp của
sinh viên Neang Sóc Thônh v ề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa , công
trình xây dựng gây ra” , Khoa Luâ ̣t - trường Đại học Cần Thơ, năm 2013 Có thể thấy,
các bài viết này mới chỉ nghiên cứu tổng quan về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo quy đ ịnh của Bộ luật dân sự 2005
Trang 11Nhìn chung, những đề tài trên được các tác giả nghiên cứu ở góc độ khái quát về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, do hành vi của con người hoặc do tài sản gây ra Đối với những nghiên cứu về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra mới chỉ đang dừng lại ở một khía cạnh nào đó của chế định này theo quy định tại Bộ
luật dân sự năm 2005 Thiết nghĩ, việc nghiên cứu quy định về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra the o pháp luật Viê ̣t Nam” là cần thiết và tất yếu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm BTTH gây ra bởi nhà cửa và công trình xây dựng Trên
cơ sở đó, đưa ra các kiến nghị mang tính thực tiễn và hoàn thiện pháp luật Bên cạnh đó, tác giả thông qua những vấn đề lý luận cơ bản về BTTH nói chung cũng như BTTH
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra để đánh giá và làm sáng tỏ thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan
Luận văn có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung trình bày và phân tích những quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam Từ đó, có cách nhìn tổng quan và đánh giá tình hình áp dụng quy định pháp luật vào thực tiễn hiện nay còn tồn tại những hạn chế gì? Vướng mắc ở đâu? Làm tiền đề giúp tác giả mạnh dạn đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước , phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế của đất nước thời kỳ đổi mới
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các quy định pháp luật hiện hành
về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra và việc áp dụng các quy định đó trong thực tiễn tư pháp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật trước đó của Việt Nam về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình gây ra Luận văn không mở rộng nghiên cứu toàn bộ cơ sở lý luận cũng như mô hình thi hành và áp dụng pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như áp dụng các quan điểm của Đảng, Nhà nước về pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp
cụ thể như: lịch sử, so sánh, bình luận, phân tích, chứng minh, tổng hợp,…để làm rõ nội dung luận văn
6 Kết cấu của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 Chương:
Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trang 13Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trang 14Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công
Trong xã hô ̣i , con người không thể xem nhẹ và có hành vi xâm pha ̣m đến quyền, lơ ̣i ích chính đáng của những người khác khi thực hiện các quyền và lợi ích của mình Ở Việt Nam, BTTH được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra[38] Vì vậy, người nào có hành vi vi phạm, gây tổn thất cho người khác thì pháp luật buộc người đó phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà họ đã gây ra Như vậy, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc không có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng
Trang 15Nhà ở và các công trình kiến trúc dân sinh hay nghề nghiệp luôn là nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội Bước sang thời kỳ đổi mới với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhanh chóng, tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp Đặc biệt ở các thành phố lớn, việc đầu tư xây dựng nhà ở, các công trình xây dựng rất được quan tâm Có thể thấy, nhà ở hay các công trình xây dựng đều là những tài sản có giá trị, mang lại cho con người những lợi ích sử dụng thiết thực, nhưng cũng là một trong những nguồn nguy hiểm có khả năng gây ra thiệt hại cho chính người sử dụng và những người xung quanh
Có nhiều khái niệm về nhà ở dựa vào từng góc độ nghiên cứu khác nhau Ở góc
độ xây dựng, nhà ở là sản phẩm của hoạt động xây dựng, không gian bên trong có kết cấu, tổ chức ngăn cách với không gian bên ngoài nhằm phục vụ nhu cầu ở cũng như sinh hoạt hàng ngày của con người Ở góc độ quản lý kinh tế, nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người, bảo vệ con người khỏi những hiện tượng tự nhiên, những sự cố bất thường như sóng thần, bão táp, mưa gió, lũ lụt,…Vì vậy, Điều 29,
Luật xây dựng năm 2013 đưa ra khái niệm “Nhà ở riêng lẻ là công trình xây dựng
trong khuôn viên đất ở thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật” Cho nên, nhà ở là một tài sản có giá trị, được xây dựng trên đất, gắn
liền với đất và không di dời hay dịch chuyển được
Đối với công trình xây dựng, Điều 10, Luật xây dựng năm 2013 quy định:
“Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người,
vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” [28]
Trang 16Ngoài ra, Điều 8, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng và Điều 5 Luật xây dựng năm 2014 quy định
về phân cấp và phân loại công trình được xác định theo công năng sử dụng của tài sản, gồm [10], [28]:
(i) Công trình dân dụng: bao gồm nhà ở (nhà chung cư, nhà ở tập thể, nhà ở riêng lẻ,…và công trình công cộng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cho cộng đồng dân cư như: công trình giáo dục, công trình y tế, thể thao, công tình văn hóa,…
(ii) Công trình công nghiệp: Là những công trình gắn liền với ngành công nghiệp như công trình sản xuất vật liệu xây dựng, công trình luyện kim và cơ khí chế tạo, công trình khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công trình dầu khí, công trình năng lượng, công trình hóa chất…
(iii) Công trình giao thông: Bao gồm công trình đường bộ, công trình thủy nội địa, công trình hàng hải và công trình hàng không
(iv) Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn: Bao gồm công trình thủy lợi, công trình đê điều
(v) Công trình hạ tầng kỹ thuật: Gồm công trình cấp nước, thoát nước, công trình xử lý chất thải rắn, công trình thông tin, truyền thông, bãi đỗ xe ô tô, xe máy, công cáp, hào và tuy nen kỹ thuật
Cấp công trình được xác định theo từng loại công trình căn cứ vào quy mô, mục đích, tầm quan trọng, thời hạn sử dụng, vật liệu xây dựng và yêu cầu kỹ thuật xây dựng công trình, bao gồm: cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và các cấp khác theo quy định của Chính Phủ
Theo tác giả, khái niệm công trình xây dựng còn mang tính chất thuật ngữ và chưa làm rõ được bản chất của công trình xây dựng là gì Đối với trường hợp dàn khoan, nhà hàng nổi, container cố định hoặc di động có được xem là công trình xây
Trang 17dựng hay không? Bản chất của các công trình này có kết cấu nhất định, có bánh xe và các bộ phận liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất, gắn liền với mặt đất hoặc mặt nước Trường hợp, các công trình trên gây ra sự cố và gây thiệt hại cho con người liệu có phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Hiện nay, pháp luật dân sự chưa đề cập đến những loại công trình trên là một thiếu sót
Pháp luật nước ta luôn đề cao , tôn tro ̣ng và bảo vê ̣ quyền sở hữu , sử du ̣ng, đi ̣nh đoa ̣t tài sản của mo ̣i công dân trong xã hội mà trong đó nhà ở, công trình xây dựng là một loại tài sản thiết yếu có vị trí quan trọng Bởi thế, Điều 32, Hiến pháp nước Cô ̣ng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhâ ̣n: “Mọi người có quyền sở hữu về
thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần
bảo vệ cộng đồng và người thứ ba, pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường khi người nào hoă ̣c tài sản của họ gây mô ̣t thiê ̣t ha ̣i nhất đi ̣nh cho người khác
Trong thực tiễn , không phải mo ̣i thiê ̣t ha ̣i xảy ra đều do hành vi hay do lỗi của con người, mà bản thân tài sản tự gây ra thiê ̣t ha ̣i cho những người xung quanh Nói
mô ̣t cách khác , xuất phát từ đă ̣c tính , cấu ta ̣o của tài sản đó mà trong quá trình hoạt động, khai thác tự thân chúng gây ra những tai na ̣n, tổn thất bất ngờ vượt tầm kiểm soát của con người như sụt lún , đỗ sâ ̣p , cây cối đỗ gã y, súc vật cắn , húc…Vì vâ ̣y, ngoài trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra , pháp luật cũng quy đi ̣nh trách nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra Tuy nhiên, trong các BLDS trước đó như BLDS năm
2005 chưa đưa ra bất kỳ mô ̣t khái niê ̣m hay quy đ ịnh cụ thể nào về trách nhiê ̣m BTTH
do tài sản gây ra , mà mới chỉ dừng la ̣i ở viê ̣c đưa ra mô ̣t cách khái quát về trách nhiê ̣m BTTH trong mô ̣t số trường hợp cu ̣ thể, nhất đi ̣nh
Từ những quy đi ̣nh về trách nhiê ̣m BTTH ngoài hợp đồng , đối chiế u với các trường hợp cu ̣ thể mà tài sản gây ra thiê ̣t ha ̣i , có thể hiểu: “Trách nhiê ̣m BTTH do tài
sản gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý mà theo đó , chủ sở hữu, người chiếm hữu,
Trang 18sử dụng để tài sản của mình gây ra t hiê ̣t hại; xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ thì phải chịu trách nhiệm BTTH do tài sản đó gây ra”
Nhà cửa, công trình xây dựng là bất đô ̣ng sản , có giá trị lớn Hiê ̣n nay, diê ̣n tích đất ở các khu kinh tế tro ̣ng điểm chủ yếu đã chuyển sang đất xây dựng các khu công nghiê ̣p, đô thi ̣ và xây d ựng cơ sở hạ tầng Thời gian qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm
và ban hành nhiều văn bản pháp luật cũng như các vă n bản hướng dẫn nhằm nâng cao hiê ̣u quả quản lý các công trình nhà ở , đảm bảo các công trình xây dựng được thực hiê ̣n đúng và đầy đủ theo quy chuẩn được đề ra Chủ đầu tư , ban dự án cũng như các
cơ quan chức năng luôn đặt chất lượng các công trình xây dựng lên hàng đầu Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi pha ̣m được tăng cường Về cơ bản đáp ứng được phần nào yêu cầu đặ t ra trong lĩnh vực thi ết kế, thi công nhà ở, công trình xây dựng Tuy nhiên, trong quá trình thi công hay trong quá trình sử du ̣ng , khai thác tính năng, nhà ở, công trình xây dựng luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra những sự cố bất ngờ không ai kiểm soát hay nhìn thấy trước được hâ ̣u quả Ảnh hưởng đến sự an toàn của các ngôi nhà xung quanh, những công trình xây dựng liền kề Hơn thế nữa, gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của con người Nhiều ngôi nhà của hàng xóm bi ̣ nghiêng, tường nhà nứt nẻ, nền nhà su ̣p lún, thâ ̣m chí là đổ sâ ̣p Sự an toàn về tài sản , tính mạng, sức khỏe của nhiều người dân đang bị đe dọa nghiêm trọng b ởi hiê ̣n tượng này vẫn luôn tồn tại và có xu hướng tăng lên
Điều 605, BLDS năm 2015 quy đi ̣nh :“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người
được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác” [30]
BLDS năm 2015 chưa đưa ra đươ ̣c khái niê ̣m như thế nào là trách nhiê ̣m BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Bộ luật vẫn đang dừng la ̣i ở viê ̣c liê ̣t kê các chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường khi tài sản gây thiê ̣t ha ̣i Đây có thể xem là mô ̣t trong
Trang 19những ha ̣n chế mà BLDS năm 2015 còn tồn tại, chưa rút ra kinh ngh iê ̣m từ các BLDS trước đó để khắc phu ̣c
Từ những khái niê ̣m nói chung về trách nhiê ̣m BTTH do tài sản gây ra và quy
đi ̣nh của pháp luâ ̣t ta ̣i Đ iều 605, BLDS năm 2015, khái niệm về trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra có thể được định nghĩa như sau: “Trách nhiệm
BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra là trách nhiệm phát sinh khi nhà cửa , công trình xây dựng gây ra thiê ̣t hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng cho người k hác”
Khái niệm cho thấy bản chất và một số đặc điểm của trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng Đó là trách nhiệm phát sinh khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra một thiệt hại xác định cho những người thứ ba Và thiệt hại đó có thể là thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khỏe của người bị thiệt hại
Thực tế có nhiều nhà ở, công trình xây dựng được thi công, đưa vào khai thác và sử du ̣ng Nhiều trường hợp thiê ̣t ha ̣i do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra mà con người không lường trước, đồng thời các nhà làm luâ ̣t cũng chưa thể dự liê ̣u hết được tất
cả các tình huống có thể xảy ra như thế nào Nên trong quá trình áp du ̣ng pháp luâ ̣t, các
cơ quan nhà n ước có thẩm quyền đã gặp không ít khó khăn và trở ngại Viê ̣c xác đi ̣nh trách nhiệm của chủ sở hữu , người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiê ̣t ha ̣i cho người khác có vai trò và ý ngh ĩa hết sức quan tro ̣ng Các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH do nhà cử a, công trình xây dựng gây ra là cơ sở pháp lý cơ bản , cần thiết để giải quyết tranh chấp liên quan đến thiệt hại do nhà cửa , công trình xây dựng g ây ra Viê ̣c thi hành và áp du ̣ng các quy
đi ̣nh của pháp luâ ̣t về trách nhiê ̣m BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra đã phát huy vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Nhà cửa, công trình xây dựng gây thiê ̣t ha ̣i là những sự kiê ̣n pháp lý phát sinh trong đời sống hàng ngày Đây là mô ̣t vấn đề cần được giải quyết ki ̣p thời nhằm bảo vê ̣
Trang 20quyền và lợi ích hợp pháp , chính đáng của những người bị thiệt hại Đồng thời xác
đi ̣nh trách nhiê ̣m đối với những người có hành vi vi pha ̣m , trực tiếp hoă ̣c gián tiếp gây
ra thiê ̣t ha ̣i Quy đi ̣nh về trách nhiê ̣m BTTH do nhà cửa , công trình xây dựn g gây ra một lần nữa khẳng đi ̣nh : Pháp luật luôn tuân thủ , bảo đảm thực hiê ̣n nguyên tắc công bằng, tôn tro ̣ng và bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp , chính đáng của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đó Hơn nữa, các quy đi ̣nh này còn là chuẩn mực pháp lý để các chủ thể có cách nhìn nhận và thể hiện cách ứng xử phù hợp khi tham gia vào các quan hệ
xã hội cũng như về trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra Góp phần tuyên truyền , phổ biến, giáo dục và răn đe đối với những cá nhân , tổ chức trong
xã hội Nhắc nhở họ phải có ý thức, trách nhiệm tự bảo vệ tài sản của mình , đồng thời biết bảo vê ̣ và không gây phương ha ̣i đến tài sản của người khác Mă ̣c dù pháp luâ ̣t luôn bảo vê ̣ quyền , lợi ích chính đáng cho ho ̣ nhưng bên ca ̣n h đó ho ̣ phải thực hiê ̣n nghĩa vụ, tuân thủ những quy đi ̣nh mà pháp luâ ̣t cấm Khi các chủ thể gây thiê ̣t ha ̣i cho những người xung quanh tất yếu ngư ời đó phải gánh nhận những hậu quả bất lợi và chịu sự trừng phạt nghiêm min h từ pháp luật Do đó, bản thân luôn luôn ý thức được mình nên làm gì , đươ ̣c làm gì và không nên làm gì Có tinh thần phòng ngừa thiệt hại xảy ra nhằm hạn chế tối đa mức tổn thất
Đối với chủ sở hữu , người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng sẽ hiểu biết đươ ̣c những nghĩa vu ̣ mình phải thực hiê ̣n Đó là trông coi, quản lý và sử du ̣ng đúng mục đích, đúng tính năng của tài sản Có phương
án sửa chữa nhà cửa, công trình xây dựn g khi có hiện tượng xuống cấp hoặc hư hỏng, tránh gây thiê ̣t ha ̣i cho người khác Ngay từ lúc b ắt đầu tiến hành thi công , xây dựng nhà cửa , công trình xây dựng , chủ sở hữu cần phải tính toán , xem xét kỹ lưỡng các thông số, khảo sát hiê ̣n tra ̣ng của các khu nhà liền kề có kết cấu như thế nào , tường gạch chịu lực hay kết cấu móng nhà có đô ̣ sâu ra sao để có đường lối xây dựng nhà ở, công trình xây dựng phù hợp , cân đối mà không ảnh hưởng đến những nhà liền kề ,
Trang 21những công trình xây dựng xung quanh Tránh trường hợp chủ quan, không tuân thủ quy đi ̣nh về an toàn, quy chuẩn trong xây dựng Không những vâ ̣y , khi phát hiê ̣n nhà cửa, công trình xây dựng đang sử dụng, khai thác tính năng có nguy cơ gây ra thiệt hại thì phải kịp thời kiểm tra , báo cáo với cơ quan chức năng và có những biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại xảy ra
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Đối với trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra, có một số câu hỏi pháp lý được đặt ra là: (1) Xác định thiệt hại như thế nào? (2) Những đối tượng nào chịu sự tác động của nhà ở, công trình xây dựng khi nó gây thiê ̣t ha ̣i? Các câu hỏi này chỉ có thể có câu trả lời một phần khi tìm hiểu kỹ về các đặc điểm pháp lý của chế định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra cũng là mô ̣t loa ̣ i trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung , nên ngoài những đă ̣c điểm vốn có của trách nhiệm BTTH, bản thân nó cũng mang một số đặc điểm riêng biê ̣t, cụ thể:
Nếu như trách nhiê ̣m BTTH ngoài hợp đồng nói chung c ó đối tượng bị xâm phạm là tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, thì đối tượng bị xâm phạm của trách nhiệm BTTH do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra mang pha ̣m vi hẹp hơn, chỉ gồm tài sản, sức khỏe và tính mạng của người bị thiệt hại Bởi lẽ, danh dự, nhân phẩm và uy tín là những pha ̣m trù thuô ̣c về giá tri ̣ nhân thân cơ bản , gắn liền với mỗi cá nhân, tổ chức cu ̣ thể, là một quyền tuyệt đối được pháp luâ ̣t tôn tro ̣ng và bảo vê ̣ Các giá trị nhân thân trên bị xâm phạm thường thông qua những hành vi cụ thể của con người dưới da ̣ng hành đô ̣ng nhất đi ̣nh nào đó Còn thiệt hại do nhà cửa , công trình xây
Trang 22dựng gây ra là thiê ̣t ha ̣i mà bản thân tài sản đó gây ra tổn thất , hâ ̣u quả cho người khác Không gắn liền với hành vi hành đô ̣ng của con nguời nên đối tượng bi ̣ xâm pha ̣m của nó chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính ma ̣ng
Hoạt động xây dựng những công trình cao tầng, những ngôi nhà chọc trời còn
được gọi là “thành phố theo chiều đứng” trở nên phổ biến Do bản thân công trình xây
dựng chịu ảnh hưởng từ những phản ứng b ởi kết cấu của nó hay bi ̣ tác đô ̣ng bởi các yếu tố tự nhiên như đô ̣ng đất , bão, gió,…gây ra những thiê ̣t ha ̣i cho các công trình nhà
ở, công trình xây dựng liền kề Đó đều là những vâ ̣t vô tri vô giác, không di chuyển hay xê di ̣ch được Hơn nữa, phạm vi tác động của nó là những ngôi nhà , công trình xây dựng liền kề Có thể thấy, sức ảnh hưởng của chúng là rất đa dạng và vô kể Phần lớn nhà đều xây dựng sát nhau, vì vậy sự cố về xây dựng như làm lún, nứt nhà hàng xóm, công trình kế cận xảy ra là chuyện thường gặp Sự cân bằng hiện có của ngôi nhà bị phá vỡ, cộng thêm tác động từ lực bên ngoài có thể xảy ra hiện tượng như nén đất, biến dạng cấu trúc, hạ mức nước ngầm dẫn đến nghiêng, thấm, dô ̣t, sụt lún, sâ ̣p đổ nhà ở, công trình xây dựng đó và những công trình xây dựng liền kề,…Tạo tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân và cũng chính là nguyên nhân n ảy sinh ra việc tranh chấp, khiếu kiện
Theo nguyên tắc chung , người nào có lỗi để cho nhà cửa , công trình xây dựng gây thiê ̣t ha ̣i thì người đó phải chi ̣u trách nhiê ̣m bồi thường Điều 605, BLDS năm
2015 quy đi ̣nh:“Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà
cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác” [30] Như vâ ̣y, chủ sở hữu là chủ thể được
liê ̣t kê trước tiên phải chịu trách nhiệm bồi thường khi nhà cửa , công trình xây dựng
Trang 23gây thiê ̣t ha ̣i Tuy nhiên, điều luâ ̣t này mới chỉ dừng la ̣i ở cách liê ̣t kê các chủ thể chi ̣u trách nhiệm bồi thường nên không tránh được thiếu sót Ở đây, chúng ta có thể chia ra hai trường hợp 1) Đối với trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng đã được đưa vào sử du ̣ng, khai thác tính năng thì chủ sở hữu , người chiếm hữu, người được chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng giao quản lý, sử dụng phải chịu trách nhiệm BTTH 2) Trường hợp nhà cửa , công trình xây dựng đang trong quá trì nh thi công , hoàn thiện , ngoài chủ sở hữu công trình nhà cửa, công trình xây dựng đó phải chi ̣u trách nhiê ̣m còn
mô ̣t số chủ thể khác chưa được pháp luâ ̣t quy đi ̣nh và điều chỉnh như bên thi công , bên thiết kế công trình , người giám sát thi công , ban quản lý dự án hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền có lỗi trong lộ trình xem xét , đánh giá, phê chuẩn, cấp phép, kiểm đi ̣nh chất lượng thi công nhà cửa, công trình xây dựng
1.2 Những nội dung pháp lý chủ yếu của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
1.2.1 Điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trên cơ sở khoa ho ̣c pháp lý và kinh nghiê ̣m từ thực tiễn áp du ̣ng pháp luâ ̣t để xét xử các vụ án, khi xác đi ̣nh trách nhiê ̣m BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra đều phải căn cứ vào những điều k iê ̣n phát sinh trách nhiê ̣m đó Theo nguyên tắc, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: 6
1) Có hành vi vi phạm; 2) có thiệt hại xảy ra; 3) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại; 4) có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại Đây được xem là những điều kiện chung nhất để xác định một người phải chịu trách nhiệm BTTH khi gây ra thiệt hại cho người khác
Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra chỉ phát sinh khi và chỉ khi có 3 điều kiện, đó là: 1) Có thiệt hại xảy ra; 2) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng đối với thiệt hại xảy ra; 3) Có
Trang 24lỗi Các yếu tố hay điều kiện xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là những nội dung chủ yếu của chế định pháp luật này được trình bày dưới đây
1.2.1.1 Điều kiện về thiệt hại
Thiệt hại là yếu tố tiên quyết để nhận định xem đó có phải là quan hệ pháp luật
về BTTH hay không Xác định thiệt hại là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình giải quyết, xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là những thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người bị thiệt hại Hơn nữa, đó là những thiệt hại đụng chạm trực tiếp hay gián tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người bị thiệt hại Đó là những thiệt hại thực tế, tồn tại, được xác định và thừa nhận một cách khách quan Dựa vào thiệt hại cụ thể đó, các nhà áp dụng pháp luật xác định được mức bồi thường Làm sao để cân xứng với tổn thất mà người bị thiệt hại phải chịu đựng Đồng thời, ấn định mức BTTH cho người gây thiệt hại phù hợp, khách quan
1.2.1.2 Điều kiều về mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng đối với thiệt hại xảy ra
Theo triết học, nguyên nhân và kết quả là một trong số những cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh mối liên hệ hình thành giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Thật vậy, mọi sự vật luôn vận động
và phát triển Trong quá trình đó, nguyên nhân luôn là cái có trước để hình thành một kết quả nhất định và kết quả là cái có sau Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật, hiện tượng vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên những biến đổi nhất định Có thể, nhà cửa, công trình xây dựng có sự ảnh hưởng, tác động với các yếu tố bên ngoài hay chính bản thân nội tại tài sản tự tác động,
tự diễn biến gây ra thiệt hại cho những người xung quanh và cho chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng như sự chênh lệch hoặc bị xáo trô ̣n về địa tầng và sự khác nhau rõ
Trang 25rệt giữa tải trọng tác dụng lên mỗi công trình làm cho nhà cửa, công trình bị sụp lún, đỗ sập, nghiêng,…Đó là nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan dẫn đến thiệt hại cho những người xung quanh Đặc biệt là những nhà cửa, công trình xây dựng liền kề
Cho nên, để xác định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra cần quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng đối với thiệt hại xảy ra trên thực tế Sự tác động đó có phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại hay không? Đây là điều kiện để xác định thiệt hại xảy ra do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra, làm cơ sở để xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa tác động của nhà cửa, công trình xây dựng và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn và phức tạp Do vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách cẩn trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân gây ra thiệt hại và xác định đúng trách nhiệm BTTH cũng như mức bồi thường đúng đắn
1.2.1.3 Điều kiện về lỗi
Từ trước đến nay, yếu tố lỗi luôn là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều luật gia quan tâm, tìm hiểu và đưa ra những nhận định ở các góc độ khác nhau
Có nhiều quan điểm về lỗi trong pháp luật dân sự Theo đó, lỗi được hiểu là yếu tố chủ quan, phản ánh thái độ tâm lý của con người Nếu pháp luật hình sự coi yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, xác định tội danh thì trong pháp luật dân sự lỗi là một trong số những điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
Có quan điểm cho rằng: Đối với BTTH ngoài hợp đồng do tài sản gây ra nói chung hay BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nói riêng không xem xét đến yếu tố lỗi Bởi lỗi là yếu tố phản ánh trạng thái, thái độ tâm lý của một chủ thể cụ thể tồn tại trong thế giới khách quan Rõ ràng nhà cửa, công trình xây dựng là những tài sản nên việc xác định lỗi đối với tài sản khi chúng gây ra thiệt hại cho con người và tài sản khác là điều hoàn toàn không phù hợp Tuy nhiên, có quan điểm khác lại giải thích
Trang 26rằng: Mặc dầu, nhà cửa, công trình xây dựng là tài sản Có trường hợp tự thân chúng gây ra thiệt hại một cách khách quan, không liên quan đến con người Thế nhưng cũng có trường hợp, nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp là do sự quản lý, sử dụng không tốt, không đúng mục đích, không theo quy trình hoặc do sự chủ quan của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản
lý, trông coi nhà ở, công trình xây dựng trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo quản dẫn đến việc gây thiệt hại cho người khác Vậy trách nhiệm BTTH lúc này sẽ được xác định như thế nào? Lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng, trông coi nhà cửa, công trình xây dựng sẽ phải xem xét và xác định trách nhiệm BTTH tùy vào mức độ lỗi để thiệt hại xảy ra
Với nhìn nhận của mình, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai Bản thân tài sản gây ra thiệt hại là những vật vô tri vô giác nhưng khi có sự tác động của con người một cách trực tiếp hay gián tiếp; cố ý hay vô ý thì yếu tố lỗi của con người vẫn phải được xem xét
Pháp luật dân sự từ trước đến nay luôn coi yếu tố lỗi là một trong những điều kiện phát sinh và căn cứ để áp dụng trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm BTTH nói riêng Cho đến nay, BLDS không đưa ra khái niệm cụ thể, rõ ràng về lỗi Điều này khiến cho việc xác định lỗi và áp dụng trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn Đòi hỏi thời gian tới, các cơ quan lập
pháp, những nhà nghiên cứu pháp luật cần có sự bổ sung và xây dựng khái niệm “lỗi”
ở góc độ pháp luật dân sự
1.2.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Như đã phân tích ở trên, nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại là trường hợp mà con người không lường trước và không kiểm soát được Hơn nữa, có trường hợp tài sản gây thiệt hại kể cả khi con người không có lỗi Tuy nhiên, như một cách
Trang 27thức nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của chủ sở hữu cũng như các chủ thể liên quan khác trong quá trình thi công, xây dựng đến quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, pháp luật xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng của mình gây ra thiệt hại
Chủ thể được xác định trách nhiệm đầu tiên là chủ sở hữu nhà cửa, công trình xây dựng Đây là điều dễ hiểu và công bằng bởi chủ sở hữu là người có quyền cao nhất đối với tài sản Chủ thể tiếp theo là người trông coi, quản lý nhà cửa, công trình xây dựng Có trường hợp chủ sở hữu đồng thời là người quản lý, trông coi nhà cửa, công trình xây dựng khác Nhưng cũng có trường hợp, họ là hai chủ thể tách biệt nhau
Như vậy, khi nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì chủ sở hữu đồng thời là người quản lý, trông coi phải chịu trách nhiệm BTTH trừ trường hợp họ chứng minh được lỗi để thiệt hại xảy ra thuộc về người khác hay hoàn toàn do lỗi của người
bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng Ở đây, người khác được hiểu là chủ đầu tư, đơn vị thi công nhà ở, công trình xây dựng Đó là những người thực hiện chuyên môn nghề nghiệp về xây dựng nhưng không tuân thủ các điều kiện về quy chuẩn, tiêu chuẩn
kỹ thuật cũng như các nguyên tắc trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
Trường hợp chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng, trông coi là những chủ thể khác biệt thì việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH sẽ được xem xét ở khía cạnh nào? Trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng được chủ sở hữu cho người khác
ủy quyền, cho thuê, cho mượn,…Lúc này, chủ sở hữu đã chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho người khác Khi nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại thì trước hết chúng ta phải xác định người chiếm hữu, sử dụng, trông coi có lỗi hay không
Rõ ràng, người chiếm hữu, sử dụng, trông coi có lỗi thì họ phải có trách nhiệm BTTH Nhưng trường hợp họ không có lỗi mà bản thân nhà cửa, công trình xây dựng tự động đổ sập, lún nứt, nghiêng,…gây thiệt hại cho những nhà ở xung quanh, công trình xây dựng liền kề thì chủ sở hữu là người phải chịu trách nhiệm BTTH
Trang 28Trường hợp chủ sở hữu giao cho người khác trông coi, quản lý nhà ở, công trình xây dựng thì người trông coi, quản lý phải chịu trách nhiệm BTTH khi có thiệt hại xảy
ra
Để xây dựng và hoàn thiện nên những ngôi nhà, công trình xây dựng, một chủ thể không thể không nhắc đến đó là người thi công, đơn vị thi công Người thi công, đơn vị thi công nhà ở, công trình xây dựng là những người đáp ứng các tiêu chuẩn cần
và đủ để chủ đầu tư, chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đồng ý giao trách nhiệm thi công, xây dựng cho họ Trong quá trình xây dựng, đơn vị thi công có lỗi để thiệt hại xảy ra như: không tuân thủ các quy chuẩn, điều kiện xây dựng, thực hiện sai bản vẽ thiết kế ban đầu, bớt xén nguyên vật liệu,…gây lún nứt, nghiêng, đỗ sập nhà ở, công trình xây dựng làm ảnh hưởng đến nhà ở, công trình xây dựng liền kề thì phải chịu trách nhiệm liên đới BTTH với chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đó
Như vậy, những chủ thể có trách nhiệm BTTH khi nhà ở, công trình xây dựng gây thiệt hại cho người khác bao gồm chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng; đơn vị thi công, người thi công có lỗi
để thiệt hại xảy ra thì phải chịu trách nhiệm, liên đới chịu trách nhiệm BTTH cho người bị thiệt hại
Hiện nay, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trên thực tế còn nhiều khó khăn Xác định nguyên nhân gây thiệt hại
do lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu, sử dụng, quản lý, trông coi hay lỗi xuất phát từ đơn vị thi công, xây dựng còn khá phức tạp Mức độ lỗi xác định như thế nào để áp dụng hình thức và khung BTTH phù hợp đối với các cơ quan chức năng, có thẩm quyền vẫn là một câu chuyện nan giải
Trang 291.3 Kinh nghiệm của một số nước về quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nh iệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là mô ̣t chế đi ̣nh dân sự có lịch sử ra đời khá sớm Ở mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới, tùy vào từng thời kỳ lịch sử và điều kiê ̣n kinh tế, tình hình chính trị -
xã hội khác nhau mà quy định của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra cũng khác nhau Các quốc gia tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm của nha u về cách lâ ̣p pháp hay áp dụng pháp luật Trong đó có quy đi ̣nh về trách nhiê ̣m BTTH
do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Tiêu biểu phải kể đến Nhâ ̣t Bản và Pháp Đó là hai quốc gia có quy định pháp luật tiến bộ, có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luâ ̣t Việt Nam, đặc biệt là quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
1.3.1 Pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra
Nhật Bản là một trong những quốc gia ở Châu Á có nền kinh tế phát triển vượt
bậc trong thời gian trở lại đây Phát triển cơ sở hạ tầng luôn được Đất nước “Mặt trời
mọc” quan tâm và ưu tiên hàng đầu Ở bất kỳ một quốc gia nào đều không thể tránh
khỏi những xung đột giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức Hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác vì lợi ích của bản thân cũng là điều luôn tồn tại ở mọi lúc, mọi nơi Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình giao lưu dân sự, Nhật Bản chú trọng vào cách thức hoạt động của hệ thống cơ quan áp dụng pháp luật và xây dựng các văn bản pháp quy chuẩn mực Đồng thời, Nhật Bản quan tâm đến trách nhiệm của người và tài sản đã gây ra thiệt hại cho người khác
Trách nhiệm BTTH được quy định tại Chương V – Hành vi không hợp pháp trong BLDS Nhâ ̣t Bản Điều 709, BLDS Nhâ ̣t Bản quy đi ̣nh nguyên tắc chung về trách
nhiê ̣m BTTH như sau : "Một số người do cố ý hoặc do vô ý mà vi phạm quyền,lợi ích
Trang 30hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ vi phạm ấy" [17]
Quy đi ̣nh này chỉ ra cơ sở chi ̣u trách nhiê ̣m bồi thường khi có hành vi vi phạm Đó là
yếu tố “lỗi” Người xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người
khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ thì sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH tương ứng với hậu quả từ hành động thực tiễn của mình Đó có thể là hành vi cố ý hoặc vô ý, không có chủ đích
Điều 717 BLDS Nhật Bản quy định:
“Nếu việc xảy ra thiệt hại đối với người khác vì nguyên nhân sai sót trong xây dựng hoặc bảo quản cấu trúc trên đất thì người chiếm hữu cấu trúc chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối với bên bị thiệt hại, song nếu như người chiếm hữu đã thể hiện sự quan tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại thì chủ của cấu trúc đó phải bồi thường” [17]
Quy đi ̣nh này chứng tỏ rằng , từ khi bắt đầ u khởi công xây dựng nhà cửa , công trình xây dựng , chủ sở hữu – người có quyền gần như tuyê ̣t đối đối với tài sản đó phải chuẩn bi ̣ các điều kiê ̣n cần và đủ để đảm bảo quá t rình thi công được diễn ra an toàn, thuâ ̣n lợi Đồng thời, họ cũng phải dự trù một vài biện pháp phòng ngừa , khắc phu ̣c khi có sự cố xây dựng xảy ra đột xuất , có khả năng gây tổn thất về tài sản , sức khỏe, tính mạng của người khác Vậy nên, khi có sự cố xảy ra và gây thiê ̣t ha ̣i thực tế cho người khác thì việc xác định trách nhiệm thuộc về ai ? Chủ sở hữu hay người chiếm hữu cấu trúc phải chịu trách nhiệm Quy đi ̣nh này giúp chúng ta trả lời được câu hỏi trên
Đối với nhà cửa , công trình xây dựng đã được đưa vào sử du ̣ng nhưng gây ra thiê ̣t ha ̣i thì cơ quan ch ức năng phải tìm hiểu đâu là nguyên nhân dẫn đến sự cố xảy ra Quá trình sử dụng, khai thác, vận hành nhà ở, công trình xây dựng gặp những trục trặc
gì về tính năng, thông số kỹ thuật; thiệt hại xảy ra do tác động của các hiện tượng, yếu
tố tự nhiên bên ngoài hay do lỗi của bên thi công xây dựng không đảm bảo các thông
số kỹ thuật, kết cấu nhà ở, công trình xây dựng bị sai lệch Như vậy, trách nhiệm BTTH thuộc về bên thi công nhà ở, công trình xây dựng do bên thi công bất cẩn, tắc
Trang 31trách để thiệt hại xảy ra Còn trường hợp bên thi công không có lỗi và chủ sở hữu trong quá trình sử dụng, khai thác, vận hành nhà ở, công trình xây dựng thiếu thận trọng để xảy ra thiệt hại thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm BTTH cho người bị thiệt hại
Hoặc trường hợp người chiếm hữu có thể hiện sự quan tâm đến vấn đề ngăn ngừa, phòng tránh thiệt hại nhưng thiệt hại thực tế vẫn xảy ra thì chủ sở hữu - tức chủ cấu trúc phải chịu trách nhiệm BTTH Quy định này là hoàn toàn phù hợp, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại
1.3.2 Pháp luật Cộng hòa Pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cử a, công trình xây dựng gây ra
Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - chính trị - xã hội ở từng quốc gia
mà Nhà nước đưa ra những chính sách pháp luật phù hợp Tuy nhiên, Việt Nam là nước có thời gian chịu sự đô hộ của thực dân Pháp khá lâu Những ảnh hưởng của Pháp từ xưa đến nay luôn tồn tại ở nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực khác nhau Từ văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật,…đến chính sách pháp luật của Nhà nước lúc bấy giờ Việt Nam đã tiếp thu và chọn lọc những điểm tích cực, phù hợp của BLDS Napoleon
1804 của Pháp Trên cơ sở đó, ban hành BLDS của Việt Nam mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời học hỏi, đúc kết những tinh hoa của BLDS Pháp nói riêng, các quốc gia trên thế giới nói chung
Điều 1384 BLDS Pháp quy định: "Mỗi người phải chịu trách nhiệm không
những về thiệt hại do mình gây ra mà cả về thiệt hại do những người mà mình chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ gây ra" [22]
Như vậy, người gây ra thiệt hại đương nhiên phải chịu trách nhiệm BTTH cho người bị thiệt hại bởi hành vi vi phạm của mình Không những vậy, họ còn phải chịu trách nhiệm BTTH do người mà họ có trách nhiệm quản lý, giám hộ hay đại diện nhưng gây thiệt hại, kể cả thiệt hại xảy ra do những vật mà họ trông coi, giữ gìn
Trang 32Tiếp đó, Điều 1386 BLDS Pháp ghi rằng: "Chủ sở hữu công trình xây dựng
phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra do công trình bị đổ vì thiếu bảo dưỡng hoặc
vì khuyết tật trong khi xây dựng" [22]
Trường hợp công trình xây dựng bị đổ sập do quá quá trình sử dụng, khai thác chủ sở hữu thiếu sự bảo dưỡng, sửa chữa; hay trường hợp công trình xây dựng bị đổ sập, lún nứt do quá trình thi công, xây dựng bị khuyết tật, không đáp ứng đầy đủ quy chuẩn, điều kiện theo quy định thì chủ sở hữu là chủ thể có trách nhiệm BTTH Như vậy, việc xác định trách nhiệm BTTH dựa vào chủ thể có quyền năng cao nhất với tài sản đó, chứ không hẳn là căn cứ hoàn toàn vào yếu tố lỗi để tìm ra người phải BTTH
Có thể thấy, quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong các Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đều giống BLDS Pháp Bởi quy định trên là phù hợp, đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trang 33Kết luận Chương 1
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra là một trong những chế định ra đời từ khá sớm Có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Với nội dung Chương 1 – Khái quát về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra, tác giả làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
Một là, tác giả đưa ra khái niệm về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Từ đó,
làm rõ khái niệm, bản chất, đặc điểm cũng như làm rõ những ý nghĩa lý luận, giá trị áp dụng thực tiễn của trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Hai là, tác giả tìm hiểu cụ thể những nội dung pháp lý chủ yếu của trách nhiệm
BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra, bao gồm điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH và chủ thể chịu trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây
ra
Ba là, chỉ ra những kinh nghiệm mà pháp luật dân sự Việt Nam học hỏi, tiếp thu
từ những quốc gia phát triển trên thế giới Tiêu biểu là pháp luật của Nhật Bản và Cộng hòa Pháp
Khái quát một số vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra tại chương này là tiền đề giúp tác giả làm rõ những nội dung ở Chương 2 – Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Trang 34Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
2.1 Lược sử quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra qua các thời kỳ
2.1.1 Trách nhiê ̣m bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thời
Lê, Nguyễn
Ở thời kỳ phong kiến lúc bấy giờ, vấn đề luật lệ luôn được coi trọng và đề cao bởi nó là một trong những công cụ để bảo vệ vương quyền, củng cố địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị Triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn là hai triều đại có bộ luật lệ riêng, thể hiện rõ bản chất giai cấp Cũng là hai bộ luật tiêu biểu nhất trong lịch sử lập pháp nước ta Đó là Bộ Quốc triều Hình Luật (hay còn gọi là Luật Hồng Đức) của nhà
Lê và Hoàng Việt Luật lệ dưới thời nhà Nguyễn với tên gọi khác là Bộ Luật Gia Long
Luật Hồng Đức tiếp thu nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục Luật Hồng Đức được ghi chép trong 06 quyển, gồm 13 chương với 722 Điều Theo đó, trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra được quy định tại quyển V, Chương Tạp luật, điều 568 Luật Hồng Đức như sau:
“Khi có việc xây dựng hoặc phá hủy gì mà phòng bị không cẩn thận để đến lỗi xảy ra chết người thì bị xử biếm một tư và chịu tiền mai táng 5 quan, còn thợ thuyền, chủ ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội” [31]
Quy định này thể hiện quan điểm, để xây dựng hay phá hủy công trình xây dựng nào đó cần có quá trình chuẩn bị và thi công Điều này đòi hỏi chủ sở hữu nhà ở, công
Trang 35trình xây dựng phải chuẩn bị các điều kiện cần và đủ nhằm đảm bảo an toàn, chính xác trong quá trình thi công Đồng thời, phải có kế hoạch và phương pháp nhằm ứng biến với những nguy cơ có thể bất ngờ xảy ra trong lúc xây dựng, phá hủy công trình Ngăn chặn và hạn chế thiệt hại cho những người xung quanh Nếu trong quá trình xây dựng, phá hủy công trình, chủ sở hữu không đáp ứng được những yêu cầu trên, gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu phải BTTH
Trách nhiệm BTTH trong trường hợp này được xác định dựa trên cơ sở lỗi vô ý của chủ sở hữu hoặc lỗi của người trực tiếp xây dựng, bên nhà thầu công trình Các chủ thể này đã cẩu thả, chủ quan, không thận trọng trong lúc xây dựng, tháo dỡ, phá bỏ nhà cửa, công trình gây thiệt hại cho người khác như chết người, bị thương,…thì bị xử biếm một tư Ngoài ra, còn phải bồi thường chi phí cho mai táng là 5 quan Đối với
“thợ thuyền” hay “chủ ty” trong lúc thực hiện việc xây dựng, phá dỡ công trình để xảy
ra thiệt hại thì trước hết chủ sở hữu là người chịu trách nhiệm bồi thường Trường hợp những người này có lỗi thì hình quan sẽ xem xét lỗi do ai? Mức độ lỗi như thế nào để định tội và đưa ra hình phạt phù hợp
Như vậy, Luật Hồng Đức đã quy định trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu khi tài sản của họ gây ra thiệt hại cho những người xung quanh Mặc dù, mức phạt còn tương đối nhẹ nhưng nó phù hợp với điều kiện kinh tế, tình hình xã hội lúc bấy giờ
Đối với triều đình nhà Nguyễn, sau khi lên ngôi hoàng đế, nhận thấy tình hình đất nước còn nhiều rối ren, vua Gia Long đã quan tâm đến việc dùng pháp luật để cai trị đất nước Do nhà Nguyễn chịu ảnh hưởng của chế độ phong kiến phương Bắc sâu sắc nên Bộ luật Gia Long được xây dựng chủ yếu là sao chép lại Bộ luật của nhà Thanh
trong Đại Thanh luật lệ
Bộ luật Gia Long là Bộ luật chính thức của nước ta thời đầu nhà Nguyễn, được ban hành năm 1815, gồm 22 quyển, 398 điều Trong đó, chưa có điều luật nào quy định
Trang 36cụ thể về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra Quyển 6 chỉ đưa
ra quy định trách nhiệm BTTH nếu gây thiệt hại về tài sản của giai cấp thống trị là vua quan triều đình mà không có BTTH đối với tài sản của người dân trong xã hội Điều này chứng tỏ, pháp luật nhà Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cực đoan đối với nhân dân Có sự phân biệt đẳng cấp, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị một cách tuyệt đối Mặc dù, luật có quy định trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nhưng chế định này còn khá mờ nhạt, chưa thật sự được chú trọng
2.1.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa , công trình xây dựng gây ra thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi người Pháp xâm chiếm thành công Đông Dương Trong đó, có Việt
Nam, Pháp đã chia Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ
Từ đó, các BLDS được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện BLDS Nam Kỳ giản yếu năm 1883, bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) năm 1936
Điều 711 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định
nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm bồi thường như sau: “Người ta phải chịu
trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người
mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải trông coi nữa” [3], [5]
Quy định này thể hiện nguyên tắc, người nào gây thiệt hại thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường Trường hợp một người bảo lãnh cho người khác nhưng
để người được bảo lãnh gây thiệt hại thì người bảo lãnh phải BTTH vì không thực hiện tốt nghĩa vụ bảo lãnh của mình Bên cạnh đó, nội dung ở đoạn một điều luật này còn chỉ ra rằng, người nào trông coi tài sản mà để nó gây thiệt hại thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường
Trang 37Đoạn hai điều luật quy định:
“Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá sự phỏng đoán đó thì phải có bằng chứng trái lại mới được…” [3], [5]
Vật vô hồn là những vật vô tri, vô giác như: tủ, bàn, ghế, nhà ở, công trình xây dựng,…Trường hợp người trông coi những vật đó có lỗi vô ý trong quá trình sử dụng, khai thác, trông nom, quản lý để chúng gây thiệt hại thì phải BTTH Có thể, người trông nom tài sản phải BTTH trong trường hơp bản thân nội tại tài sản tự gây thiệt hại
mà không cần biết có sự tác động của người trông coi, quản lý hay không Tuy nhiên, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thứ ba thì người trông nom không phải BTTH Ở đây người trông coi vật vô hồn có thể là chủ sở hữu, người trực tiếp quản lý,
sử dụng hay đơn giản là người có nghĩa vụ trông nom thông qua hợp đồng gửi giữ,…
Trách nhiệm BTTH chỉ được loại trừ khi người trông coi tài sản đưa ra được những lý lẽ, bằng chứng xác thực để chứng minh mình không có lỗi dẫn đến thiệt hại
mà thiệt hại xảy ra là do bất khả kháng, không thể ngăn cản được hoặc do lỗi của người thứ ba
Ngoài quy định nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm BTTH do tài sản gây
ra, Điều 716, Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 767, Bộ Dân luật Trung Kỳ có đưa ra quy định cụ thể về trách nhiệm BTTH do nhà ở gây ra, đó là:
“Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại cho người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về sự tổn hại đó” [3], [5]
Khi nhà ở bị sụp đổ gây ra thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng cho người khác thì trách nhiệm BTTH trước hết là chủ nhà Trường hợp này, nhà làm luật áp
dụng nguyên tắc “lỗi suy đoán” đối với chủ nhà Chủ nhà là người ở, sinh hoạt, sử
Trang 38dụng và khai thác ngôi nhà nhằm phục vụ cuộc sống hàng ngày nên phải nắm bắt, phát hiện được những hư hỏng hay dấu hiệu bất thường để sửa chữa, khắc phục kịp thời Nhưng chủ nhà không chịu tu bổ, sửa chữa để mặc cho ngôi nhà càng xuống cấp nghiêm trọng và gây thiệt hại cho người khác thì phải BTTH do lỗi vô ý của mình Chủ
sở hữu còn phải chịu trách nhiệm BTTH khi nhà sụp đổ do xây dựng không đảm bảo chất lượng công trình, chủ quan khi nhận thức về đất nền và các yếu tố liên quan trong các khâu khảo sát địa chất, thiết kế và thi công nhà ở, công trình xây dựng
Như vậy, hai bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định trách nhiệm BTTH trên cơ sở lỗi của chủ sở hữu hay người quản lý, trông coi tài sản Điều này bảo đảm xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm BTTH và bảo vệ được quyền lợi của người bị thiệt hại Vào thời điểm lúc đó, có thể thấy, quy định về trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra còn chưa nhiều, vì điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc xây dựng nhà cửa hay các công trình còn ít, chưa phổ biến Tuy vậy, quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra tương đối phù hợp với tình hình kinh tế
- xã hội ở thời điểm đó
2.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến Bộ luật dân sự 2005
Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, Đất nước còn gặp nhiều khó khăn nên Chính phủ vẫn áp dụng các bộ dân luật này Ngày 22 tháng 5 năm 1950, chủ tịch Hồ Chí
Minh ký sắc lệnh số 97/SL để “sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật” Việt Nam Ngày 10 tháng 7 năm 1959, Tòa án tối cao ra chỉ thị số 772/TATC để “đình chỉ
việc áp dụng luật pháp cũ của phong kiến đế quốc” Từ thời điểm đó trở đi, tại miền
Bắc Việt Nam thiếu hẳn BLDS thực thụ Một số mảng của luật dân sự được tách ra
Trang 39thành các bộ luật khác như Luật hôn nhân và gia đìnhhay các văn bản pháp quy dưới luật như thông tư, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh
Đến năm 1972, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa - Nguyễn Văn Thiệu ký Sắc lệnh số 028 TT/SLU ngày 20 tháng chạp năm 1972 ban hành Bộ Dân luật gồm thiên
mở đầu, 5 quyển và điều khoản tổng quát, đính kèm Sau đây gọi là Bộ Dân luật Sài Gòn 1972
Điều 739 Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 quy định BTTH do nhà cửa gây ra như sau:
“Người sở hữu chủ một công trình kiến trúc bị sụp đổ vì thiếu tu bổ hay vì xây cất có khuyết điểm phải chịu trách nhiệm về sự thiệt hại do sự sụp đổ gây ra” [4]
Điều luật này cũng xác định người trước tiên phải chịu trách nhiệm BTTH khi
để công trình kiến trúc bị sụp đổ gây thiệt hại cho người khác là chủ sở hữu Chủ sở hữu là người dễ dàng để biết được công trình kiến trúc của mình đang ở trong tình trạng như thế nào Hư hỏng ra sao Mức độ nghiêm trọng đến đâu Từ đó, có sự tu bổ phù hợp nhằm khắc phục hoặc làm mới, xây mới để thay thế công trình kiến trúc cũ Tránh gây hậu quả làm sụp đổ, ảnh hưởng đến người khác Nhưng chủ sở hữu xem nhẹ, chủ quan, không có sự dự liệu hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nên phải BTTH
là điều tất yếu Nếu việc xây cất, thi công công trình có khuyết điểm dẫn đến sụp đổ và gây thiệt hại cho người khác thì chủ sở hữu cũng phải bồi thường
Như vậy, lỗi là cơ sở phát sinh trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong các Bộ dân luật Việt Nam Tuy nhiên, quy định trong các Bộ Dân luật cũng giống như quy định trong Cổ luật là chưa dự liệu đến các khả năng khác như công trình xây dựng không bị sụp đổ nhưng vẫn có khả năng gây ra thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc xung quanh và người khác
Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLDS (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1996) Sau 10 năm thi hành, BLDS năm
Trang 401995 tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc Nhiều quy định còn mang tính chung chung, mang tính thủ tục hay chưa rõ ràng, cụ thể Chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Một số bộ luật khác được ban hành, có nội dung liên quan đến BLDS năm 1995 và gây sự chồng chéo, không thống nhất Đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung BLDS sao cho phản ánh đúng với thực tiễn và mang đúng bản chất là BLDS
Ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua BLDS năm
2005 có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 nhằm sửa đổi, bổ sung BLDS năm
1995 Điều 627, BLDS năm 2005 quy định về trách nhiệm BTTH như sau:
“Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng” [24]
Điều luật trên liệt kê những chủ thể chịu trách nhiệm BTTH khi nhà cửa, công trình xây dựng sụp đổ, hư hỏng, sụt lở,…gây thiệt hại cho người khác là chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng Trừ trường hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng Các nhà làm luật lại một lần nữa xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH dưới dạng liệt kê Và không lường trước được những trường hợp khác có thể xảy ra như do người thi công, đơn vị thi công, chủ đầu tư - những chủ thể tham gia bắt đầu từ quá trình thi công đến lúc hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng Đây là một
điểm hạn chế của BLDS 2005
2.1.4 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam hiện hành