06/2013/TTLT-VKSNDTC-BCA-Tuy nhiên, trong thời gian qua, xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT HÀ
Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về
tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VIỆT HÀ
Kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về
tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Việt Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 8
1.1 Khái quát về tin báo, tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự 8
1.1.1 Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm 8
1.1.2 Vai trò của tin báo, tố giác về tội phạm 15
1.2 Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 19
1.2.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp 19
1.2.2 Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 25
1.2.3 Đặc điểm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiếm sát nhân dân 27
1.3 Quy định về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 32
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988 32
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 34
Kết luận chương 1 37
Trang 5Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH PHÚ THỌ 38 2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 38
2.1.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 38 2.1.2 Quy định về chủ thể và đối tượng của hoạt động kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 40 2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 46
2.2 Thực trạng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dâ tỉnh Phú Thọ 55
2.2.1 Một số đặc điểm về tỉnh Phú Thọ 55 2.2.2 Thực trạng công tác giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ 57 2.2.3 Thực trạng công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ 59 2.2.4 Những hạn chế, tồn tại của công tác kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm 71 2.2.5 Nguyên nhân của thực trạng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
gíac về tội phạm 78
Kết luận chương 2 83 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 84
Trang 63.1 Những điểm mới về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 84
3.2 Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 91
3.3 Một số giải pháp về tổ chức, thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân 92
3.3.1 Những kiến nghị về đảm bảo công tác nghiệp vụ 92
3.3.2 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 94
3.3.3 Kiến nghị bảo đảo điều kiện vật chất và nhân lực cho hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân 95
3.3.4 Tăng cường công tác tổ chức, chỉ đạo, điều hành về nghiệp vụ kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 96
3.3.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm 98
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
THQCT: Thực hành quyền công tố TTHS: Tố tụng hình sự
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ
Bảng 2.2: Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016 58 Bảng 2.3: Tổng số tin báo, tố giác về tội phạm Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Phú Thọ đã kiểm sát việc giải quyết 60
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với dân số khoảng 1,3 triệu người, 13 đơn vị hành chính cấp huyện và 277 đơn vị hành chính cấp xã Tỉnh có diện tích tự nhiên không lớn nhưng có vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mố i giao thông với nhiều tuyến đư ờng huyết ma ̣ch chạy qua như đường bô ̣, đường sắt , đường thủy nô ̣i đi ̣a , là trung tâm kinh tế của các tỉnh trong vùng kinh tế tro ̣ng điểm Tây Bắc Bô ̣ , có hệ thống núi đồi tạo nên vị trí quốc phòng quan trọng , cửa ngõ của thủ đô Hà Nô ̣i Những năm gần đây, Phú Thọ đã có những bư ớc phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, xã hội Hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, đồng
bộ theo cấu trúc của một đô thị hiện đại Đời sống nhân dân, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao
Cùng với sự phát triển, Phú Thọ cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng Trung bình mỗi năm, cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh tiếp nhận hơn 2.000 tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong đó khởi tố hình sự khoảng hơn 1.000 vụ Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) hai cấp tỉnh Phú Thọ với chức năng là cơ quan tiến hành tố tụng thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Trong đó, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là một trong những hoạt động quan trọng của ngành Kiểm sát nhân dân Thực hiện tốt công tác này, đảm bảo hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan điều tra (CQĐT) đúng trình tự pháp luật, có căn cứ, khách quan và triệt để; mọi hành
vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; bảo đảm sự tuân thủ
Trang 10pháp luật của CQĐT và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Sự ra đời của thông tư liên tịch số BQP-BNNPTNT-BTC hướng dẫn quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một bước ngoặt quan trọng trong hành lang pháp lý nhằm giúp các cơ quan thống nhất nhận thức, áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng hiệu quả trong công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đảm bảo đúng quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003
06/2013/TTLT-VKSNDTC-BCA-Tuy nhiên, trong thời gian qua, xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND các cấp tỉnh Phú Thọ đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định như: vẫn chưa quản lý chặt chẽ, đầy đủ các tin báo,
tố giác về tội phạm; tình trạng vi phạm pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của CQĐT vẫn còn xẩy ra nhưng chưa khắc phục một cách hiệu quả; chất lượng công tác kiểm sát còn hạn chế, các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn vẫn còn lúng túng khi thực hiện, dẫn đến quá trình phối hợp giải quyết, đôi khi không có sự thống nhất, tình hình tội phạm ẩn còn nhiều, lượng tin tồn, tin quá hạn giải quyết vẫn chiếm tỷ lệ không nhỏ Điều này chưa phát huy tốt nhất vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Kiểm sát
việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ )" làm đề tài luận văn
thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là giai
Trang 11đoạn tiền đề, đóng vai trò then chốt, quyết định việc khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự, đảm bảo thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các giai đoạn tiếp theo
Vì vậy, vấn đề này đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đặc biệt là các cán bộ làm công tác chuyên môn như:
Các công trình nghiên cứu khoa học là luận văn thạc sĩ: Dương Tiến
Mạnh, Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam, Khoa Luật trường ĐH Quốc Gia HN, 2015; Ngô Quốc
Hưng, Kiểm sát hoạt động tư pháp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và thực tiễn công tác trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên,
Khoa Luật trường ĐH Quốc Gia HN, 2016; Hà Thị Thu Phương, Kiểm sát
việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Yên Bái, Học viện Khoa học xã hội
VN, 2017; Các công trình này nghiên cứu dưới góc độ luật tố tụng hình sự
và hoạt động kiểm sát nói chung
Các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên báo, tạp chí: ThS
Nguyễn Duy Giảng, Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong công tác
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 18-20/2008; Phạm Đình Sự, Những kinh nghiệm tổ chức, thực hiện và biện pháp trong công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm
sát, số 12/2009; Lưu Trọng Nguyên, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009; Nguyễn Quang Thành, Nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp giữa viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội với Cục điều tra trong việc phát hiện và giải quyết tố giác, tin báo về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Tạp chí kiểm sát số 11/2012;
Trang 12Các bài viết này mới luận giải một số vấn đề mang tính lý luận căn bản về giải quyết tin báo, tố giác và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác của VKSND và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà chưa đi sâu phân tích thực trạng, nguyên nhân của thực trạng công tác này
Qua nghiên cứu tình hình trên cho thấy chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đặc biệt là trên cơ sở một địa bàn cụ thể là tỉnh Phú Thọ Chính vì vậy, việc tác giả chọn vấn đề kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ) làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và áp dụng chúng trong thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề trên theo pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) Việt Nam trong bối cảnh BLTTHS năm 2015, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn áp dụng của VKSND tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp các quan điểm của các tác giả về chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND, làm sáng tỏ một số vấn
đề chung như: Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm; phân biệt tin báo, tố giác về tội phạm với các khiếu nại, tố cáo;
Trang 13- Khái quát sự phát triển của chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của VKSND từ khi có BLTTHS năm 1988 đến nay để rút
ra những nhận xét, đánh giá;
- Phân tích cơ sở lý luận, khái niệm, thẩm quyền, căn cứ pháp luật giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm;
- Phân tích các quy định cụ thể về chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS hiện hành và các văn bản có liên
quan của Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND tỉnh Phú Thọ đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS hiện hành và các văn bản có liên quan, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong luật TTHS Việt Nam và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trên của VKSND trên đi ̣a bàn Phú Thọ, những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế để đề xuất những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn Luận văn không nghiên cứu về thực tiễn kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát quân sự các cấp
Về phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong 06 năm (2011 – 2016) trên địa bàn tỉnh Phú Tho ̣
Trang 144 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan chức năng của VKS trong TTHS Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong nước về công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND từ đó xây dựng khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm tạo cơ sở áp dụng pháp luật thống nhất và có căn cứ Đồng thời luận văn chỉ ra những đặc điểm công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND;
- Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội phạm của VKSND, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác kiểm sát này của VKSND
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
Trang 15dành cho các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, học viên và người làm thực tiễn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tin báo, tố giác về tội phạm và
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2002 về kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM
VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC
VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Khái quát về tin báo, tố giác về tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm
Theo luật TTHS, trình tự giải quyết một vụ án hình sự được bắt đầu từ giai đoạn điều tra, truy tố đến giai đoạn xét xử Điều 100 Bộ luật TTHS năm
2003 quy định: "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1
Tố giác của công dân; 2 Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; " [35, tr 36.] Như vậy, khởi tố vụ án hình
sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, thể hiện quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người phạm tội, hành vi
do người phạm tội gây ra Việc khởi tố vụ án hình sự đúng, kịp thời có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề mở ra hàng loạt những hoạt động tố tụng sau này
Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là khi xác định có dấu hiệu của tội phạm xảy ra dựa trên năm cơ sở được quy định tại Điều 100 Bộ luật TTHS, trong số đó tố giác của công dân, tin báo của cơ quan, tổ chức, tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng là những căn cứ rất quan trọng Để làm rõ vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm
Theo Từ điển tiếng Việt thì các thuật ngữ: Tố cáo, tin báo, tố giác được hiểu là:
Khái niệm “Tố cáo” được hiểu với hai nghĩa: Thứ nhất, tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm
Trang 17pháp nào đó Thứ hai, tố cáo là vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn [28, tr.1199]
Khái niệm “Tố giác” được hiểu là báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó [28, tr.1200]
Khái niệm “Tin” cũng được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất là, điều được truyền đi, báo đi cho biết sự việc, tình hình xảy ra Thứ hai là, sự truyền đạt,
sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó
Khái niệm “Báo” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là, cho biết việc
gì đó đã xảy ra Thứ hai là, cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy
ra có thể hại đến trật tự an ninh chung… là dấu hiệu biết trước
Đối với tin báo về tội phạm thì có nhiều cách hiểu: có quan điểm xác định: chỉ có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức cung cấp, kiến nghị mới là tin báo, tố giác về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác
Trên bình diện pháp lý, Luật Tố cáo năm 2011 quy định:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 1 Điều 2) [36, tr.1]
Tố cáo ở đây là khái niệm chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Tùy theo lĩnh vực pháp luật bị
vi phạm mà người ta phân biệt các loại tố cáo khác nhau Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm do cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 3 Điều 31) [36, tr.15]
Trang 18Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật về TTHS (khoản 1 Điều 3)
Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định:
- Thứ nhất, về nội hàm của khái niệm: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm; tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có thể cấu thành tội phạm đã được qui định trong Bộ luật hình sự Do đó, khái niệm tố cáo rộng hơn và bao hàm cả khái niệm tố giác về tội phạm theo luật TTHS
- Thứ hai, về quyền của chủ thể thực hiện: tố cáo là quyền của công dân, tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân
Theo Khoản 1 Điều 25 BLTTHS năm 2003: “Các tổ chức, công dân có
quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” [35, tr.5]
- Thứ ba, việc phát sinh quan hệ pháp luật: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác nếu đã biết rõ về một tội phạm qui định tại Điều
313 BLHS năm 1999 đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện Công dân có thể bị truy cứu trách nhiệm HS về tội: “Không tố giác tội phạm” theo điều
314 BLHS, nếu biết mà không tố giác tội phạm
Như vậy, trong TTHS, tố cáo hành vi phạm tội được hiểu là tố giác về tội phạm Đây chính là một trong những nội dung khái niệm tố giác, tin báo
về tội phạm
Ở phương diện điều tra tội phạm, tố giác, tin báo về tội phạm là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn cho các cơ quan pháp luật xem xét tính
Trang 19chất nghiêm trọng hay không của sự việc đã được những chủ thể báo tin, tố giác đến; tính chính xác và độ tin cậy của các thông tin đến đâu; có dấu hiệu của tội phạm hay không… là căn cứ để CQĐT mở ra những hoạt động điều tra, xác minh theo luật định
Theo quy định tại điều 101 BLTTHS năm 2003 quy định “Công dân có thể tố giác tội phạm với CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác…” [35, tr.37] Như vậy, tại Điều 101 BLTTHS năm 2003 không nêu lên được khái niệm tố giác tội phạm mà chỉ nêu lên công dân có thể tố giác hành vi phạm tội với cơ quan chức năng có thẩm quyền
Theo giáo trình luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì “tố giác tội phạm là việc công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng đó là tội phạm” [48, tr.245] Kể từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực cho đến năm 2013 thì chưa có một văn bản hướng dẫn định nghĩa tố giác, tin báo về tội phạm Có nhiều cách hiểu về tố giác, tin báo tội phạm Có quan điểm xác định: chỉ có tin báo do nhân dân, đài báo, cơ quan, tổ chức các cấp, kiến nghị mới là tố giác, tin báo về tội phạm; hoặc có quan điểm cho rằng: mọi thông tin liên quan đến tội phạm đều là tin báo, tố giác Có quan điểm nêu:
Tố giác về tội phạm là việc công dân tố giác về hành vi tội phạm được quy định trong BLHS, còn tin báo về tội phạm là những thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú [53, tr.14]
Trang 20Quan điểm khác cho rằng: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 100, Điều 101
và Điều 103 của BLTTHS Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội phạm xảy ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 100, Điều 101
và Điều 103 của BLTTHS” [44, tr.12]
Khắc phục vướng mắc này, năm 2013, liên ngành tư pháp trung ương
đã ban hành Thông tư liên tịch số BTC-BQP ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố (sau đây gọi tắt là Thông tư số 06) giải thích cụm từ này
06/2013/TTLT-VKSTC-BCA-BNNPTNT-Theo đó:
Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho
cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết [67, tr.1]
Mọi cá nhân đều có quyền tố giác về tội phạm, mọi cơ quan, tổ chức đều có quyền thông tin cho với các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền Đây đều
là cơ sở xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
Như vậy, trong khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đều đã chỉ ra, tin báo, tố giác đều là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, do các chủ thể khác nhau (cá nhân hay cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
Trang 21Trên cơ sở phân tích trên đây, có thể rút ra các định nghía tin báo và tố giác về tội phạm như sau:
Tin báo về tội phạm là việc các cơ quan, tổ chức cung cấp hoặc các phương tiện thông tin đại chúng thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm xảy
ra cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự
Tố giác về tội phạm được hiểu là việc cá nhân trực tiếp phát hiện người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm và tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự
Ngoài ra, cần phân biệt tin báo, tố giác về tội phạm với kiến nghị khởi
tố, đơn thư tố cáo nặc danh, đơn thư tố cáo của công dân về hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “kiến nghị” được hiểu là “Nêu lên ý kiến đề nghị về một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét” “Yêu cầu” là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy” [28, tr.1251] Hai thuật ngữ này đều có ý chung là đề nghị một cơ quan, một người nào đó làm một việc thuộc nhiệm vụ, quyền năng của họ
Dưới góc độ pháp lý, BLTTHS 1988 và BLTTHS 2003 đều không quy
định khái niệm thế nào là kiến nghị khởi tố Có quan điểm cho rằng: “Kiến
nghị khởi tố là văn bản kiến nghị khởi tố cùng hồ sơ, tài liệu về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng được gửi đến cơ quan
Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân” [60, tr.28] Quan điểm này
chưa xác định rõ chủ thể của kiến nghị khởi tố Quan điểm khác cho rằng:
“Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan Nhà nước thông qua công tác kiểm
Trang 22tra, thanh tra phát hiện có hành vi phạm tội, hành vi có dấu hiệu tội phạm và
có văn bản, kèm theo tài liệu liên quan, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền
để xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội” [71, tr.12] Quan điểm
này xác định chủ thể của kiến nghị khởi tố kiến nghị khởi tố là các cơ quan Nhà nước Cả hai quan điểm trên đều cho rằng thông qua công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm mới có kiến nghị khởi tố Khái niệm “kiến nghị khởi tố” được quy định tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố ở Điều 3: “Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự” [67, tr.1] Đến BLTTHS 2015, Khoản 3, Điều
144 quy định: “Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm” [39, tr.123] Như vậy, kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan nhà nước, thể hiện bằng văn bản kiến nghị gửi đến Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm, người phạm tội Kiến nghị khởi tố là một dạng đặc biệt của tin báo về tội phạm Trong thực tiễn các văn bản kiến nghị khởi tố thường là của cơ quan Thanh tra, Tòa án Về lý luận, cần phân biệt trường hợp nào cơ quan Nhà nước là chủ thể của tin báo tội phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi
tố “Cơ quan Nhà nước là chủ thể của kiến nghị khởi tố trong trường hợp thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử… phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gởi đến CQĐT, VKSND cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án Cơ quan
Trang 23Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội phạm trong trường hợp thông qua công tác quản lý hoặc công tác khác, phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết” [40, tr.12]
Đối với đơn thư tố cáo nặc danh, đơn thư tố cáo của công dân về hành
vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, về bản chất đều là hoạt động cung cấp thông tin giống như tin báo, tố giác tội phạm nhưng do chủ thể không rõ tên tuổi, địa chỉ thực hiện hoặc phạm vi tố cáo chỉ liên quan đến vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước Trình tự giải quyết không được quy định chặt chẽ như đối với tin báo, tố giác tội phạm Nhưng khi cơ quan chức năng được cung cấp thông tin và có chứng
cứ để xác minh nguồn thông tin đó thì phải có trách nhiệm xử lý, xem xét và giải quyết để tránh bỏ lọt, không xử lý hành vi vi phạm bị tố giác
1.1.2 Vai trò của tin báo, tố giác về tội phạm
Thứ nhất, tin báo, tố giác về tội phạm giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời phát hiện, nhanh chóng xử lý hành vi phạm tội, tránh bỏ lọt tội phạm
Trong giai đoạn hiện nay, tội phạm ngày càng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Hành vi, thủ đoạn phạm tội tinh vi, đa dạng, dưới nhiều hình thức Bộ luật hình sự quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ việc tội phạm được thực hiện bởi những người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành
Trang 24vi trong bối cảnh nền kinh tế thị trường nảy sinh nhiều mối quan hệ mới, hình thức mới mà pháp luật không dự trù hết được nên nhiều loại tội phạm mới, có tính chất nguy hiểm, công nghệ cao xuất hiện Các cơ quan nhà nước lại không đảm bảo hết việc nắm bắt thông tin về tình hình tội phạm đang diễn ra trong xã hội mà chỉ hạn chế về một số lượng thông tin nhất định Để các cơ quan nhà nước nắm bắt đầy đủ thông tin về tình hình tội phạm cần phải có sự
tố giác của công dân, tin báo về tội phạm
Tố giác tội phạm là cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 như sau:
“Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: Tố giác của công dân ” [35, tr.36]
Như vậy, khi một vụ án hình sự đã diễn ra hoặc đang diễn ra, nếu công dân biết được thì phải tố giác với cơ quan có thẩm quyền Nếu cấu thành tội phạm thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngay từ khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm, và phải ghi rõ những thông tin cần thiết về thông tin tố giác tội phạm của công dân
Việc tố giác, tin báo về tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm quyền phát hiện nhanh tội phạm Một số loại tội phạm xảy ra bất ngờ trong xã hội
mà các cơ quan có thẩm quyền không biết được như: tội giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích, tố giác tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng đến hiện trường nơi xảy ra vụ án để thu thập xác minh làm rõ sự việc phạm tội Trong một số trường hợp người phạm tội sau khi gây
án xong lại bỏ trốn khỏi hiện trường, gây khó khăn cho việc truy bắt hung thủ gây án cũng như công tác điều tra phá án
Tố giác, tin báo tội phạm sẽ hạn chế xảy ra tình trạng tội phạm ẩn Nguyên nhân của vấn đề bỏ lọt tội phạm có nhiều, song cơ bản tập trung
Trang 25vào: Chủ thể của hành vi phạm tội đã sử dụng thủ đoạn gây án mới tinh vi nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng như tính toán kỹ lưỡng trước, trong và sau khi gây án; hợp thức hóa hành vi phạm tội; xóa sạch mọi dấu vết hành vi phạm tội Người bị hại, nhân chứng không muốn tố giác hành vi phạm tội, cung cấp tài liệu về hành vi phạm tội với cơ quan chức năng do tính chất hậu quả hành vi phạm tội không lớn; do mối quan hệ ruột thịt, dòng họ, quan hệ công tác, cấp trên, cấp dưới, sợ ảnh hưởng đến danh
dự, nhân phẩm, sợ bị trả thù Để khắc phục tình trạng lọt tội phạm, thực hiện được nguyên tắc tối cao của pháp luật là “mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh” Vì vậy, việc tố giác tội phạm sẽ góp phần làm cho các hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm
Thứ hai, tin báo, tố giác về tội phạm góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm của công dân
Mọi hành vi vi phạm pháp luật, mọi hoạt động của tội phạm đều xuất phát từ đời sống xã hội, từ trong dân Công dân là tai mắt của cơ quan công
an Phần lớn các tin báo, tố giác về tội phạm do công dân cung cấp Nếu công dân không tố giác thì các cơ quan chức năng chậm tiếp cận nguồn tin, khó khăn trong việc ngăn chặn tội phạm, thu thập các chứng cứ, dấu vết quan trọng, xử lý tội phạm Công dân và các cơ quan có thẩm quyền có mối quan
hệ chặt chẽ Khi công dân tố giác đều muốn các cơ quan phải giải quyết đúng quy định pháp luật và nhanh chóng Để tạo được niềm tin của nhân dân, đẩy mạnh công tác phòng ngừa tội phạm các cơ quan chức năng cần tăng cường thực hành chức năng, nhiệm vụ của mình Chính vì thế, tố giác, tin báo về tội phạm không chỉ giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời xử lý nhanh chóng, tránh bỏ bọt tội phạm mà còn giúp cho mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và công dân gắn bó hơn, cùng đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Trang 26Tin báo, tố giác về tội phạm là một dạng phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có sự đầu tư nhằm hạn chế sự hình thành và phát triển của tội phạm Thời gian qua, phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam cũng được xây dựng thành các chương trình, kế hoạch cụ thể bên cạnh các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Có rất nhiều cách phòng, chống tội phạm trong đó tố giác tội phạm cũng là cách phòng, chống tội phạm nhằm hạn chế sự gia tăng của tội phạm Qua tố giác tội phạm người dân nêu cao tinh thần phòng, chống tội phạm, làm giảm sự gia tăng của tội phạm hiện nay, làm cho nhà nước và công dân gắn bó nhau hơn cùng nhau
đấu tranh chung vì mục tiêu xã hội lành mạnh, trong sạch, hạn chế tội phạm
Thứ ba, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm bảo đảm quyền con người khi quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Mặc dù quyền con người có tính "bẩm sinh" nhưng nó không thể thành hiện thực nếu không có pháp luật Trước hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con người là nó ghi nhận (xác lập), củng cố, hoàn thiện quyền con người
Bảo vệ quyền con người là một quá trình Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ Pháp luật đưa ra những quy định cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa, chống lại các hành vi vi phạm quyền con người Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh
Pháp luật TTHS đã quy định các nguyên tắc cơ bản để bảo vệ các quyền con người trong giai đoạn giải quyết tố giác , tin báo về tội phạm như : Bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa trong Tố tụng hình sự ; Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi
Trang 27ích hợp pháp của cá nhân; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người; Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở , an toàn và bí mâ ̣t thư tín , điê ̣n thoa ̣i, điê ̣n tín của công dân,…
Trong pháp luật TTHS Việt Nam, quyền con người không chỉ gói gọn trong quyền công dân mà còn là quyền của các cá nhân khác không phải là công dân Việt Nam Đồng thời, bảo vệ quyền con người trong TTHS không phải là bảo vệ những giá trị chung chung của quyền con người mà là sự bảo vệ những quyền con người cụ thể của một người cụ thể khi tham gia vào quá trình TTHS Quyền con người được bảo vệ ở đây không chỉ của người bị hại hay nguyên đơn dân sự, mà còn của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tố cáo, người bị buộc tội Pháp luật TTHS Việt Nam bảo vệ quyền con người đến mức không cho phép đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Trước mỗi tin tố giác, sau khi tiếp nhận và giải quyết, cơ quan tiến hành tố tụng buộc phải ra một trong hai quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
Pháp luật TTTHS mang tính pháp chế , làm cho toàn bộ quá trình TTHS phải theo đúng trình tự , thủ tục , thẩm quyền nhằm không xuất hiê ̣n tình trạng xâm phạm đến các quyền và lợi ích chính đáng của con người , công dân, lợi ích của Nhà nước , của cơ quan và tổ chức Mă ̣t khác, pháp luật TTHS bắt buô ̣c các chủ thể tiến hành tố tu ̣ng hình sự phải tuân thủ chă ̣t chẽ các quy định của phá p luật khi ho ̣ thi hành công vu ̣ , không được thực hiện các hành vi xâm phạm đến các lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng Nếu có bất kỳ vi phạm nào thì cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
1.2 Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, chức năng của
Trang 28VKS là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Đây là hai mặt hoạt động chức năng Hiến định mà VKSND được Nhà nước giao cho Trong khoa học pháp lý, khi bàn đến chức năng tố tụng của VKS cũng như của các cơ quan tư pháp nói chung, các thuật ngữ thường được sử dụng là: “chức năng Hiến định”, “chức năng tố tụng cơ bản”, “chức năng tố tụng chuyên ngành - chức năng tố tụng chuyên môn”
Chức năng tố tụng chuyên môn có phạm vi hẹp được sử dụng để chỉ các hoạt động có cùng tính chất, phương hướng, mục đích của một cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự Khi bàn về chức năng
tố tụng chuyên môn (hay còn gọi là chức năng tố tụng chuyên ngành, gọi tắt
là chức năng tố tụng) của VKS trong TTHS có quan điểm cho rằng VKS có chức năng tố tụng là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm thực hiện chức năng tố tụng cơ bản là chức năng buộc tội Theo pháp luật Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, hoạt động của VKS hiện nay, có thể thấy rõ đây là hai chức năng tố tụng hoàn toàn độc lập của VKS nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các vấn đề có liên quan đến chức năng thứ nhất - THQCT, đã được làm rõ qua phần phân tích nêu trên Khác với mặt hoạt động THQCT được đa số các quan điểm cho rằng chỉ xuất hiện
và tồn tại trong lĩnh vực hoạt động TTHS, mặt hoạt động kiểm sát hoạt động
tư pháp có phạm vi bao quát, rộng hơn và đã từng được xem là hoạt động nền tảng, cốt lõi của tất cả các dạng hoạt động nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS nói riêng và của HĐTP nói chung Ngoài ra, còn có quan điểm khác nhau về lĩnh vực hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kiểm sát hoạt động tư pháp
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật với ý nghĩa là hoạt động mang tính chất kiểm tra và giám sát nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật là một khái niệm rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội được giao cho nhiều
Trang 29chủ thể thực hiện Hoạt động tư pháp là hoạt động do cơ quan tư pháp thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định và không bao gồm các hoạt động có tính chất bổ trợ cho hoạt động tư pháp của cơ quan công chứng, giám định, bào chữa… cũng như hoạt động tham gia tố tụng Có thể hiểu khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp của các cơ quan tư pháp Vấn đề kiểm sát hoạt động tư pháp hiện còn nhiều ý kiến khác nhau về phạm vi, đối tượng, nội dung… của
nó Tuy nhiên, để có nhận thức đúng đắn về chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp, cần phải xác định rằng kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng của VKS và phải lưu ý đến các đặc trưng cơ bản của hoạt động chức năng này của VKS, cụ thể:
- Kiểm sát hoạt động tư pháp là một dạng giám sát về tư pháp, là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng
- Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do Quốc hội giao cho VKS nhằm mục đích bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư pháp
Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo Điều 23 BLTTHS năm 2003 có thể hiểu rằng kiểm sát hoạt động
tư pháp trong tố tụng hình sự nhằm mục đích phát hiện kịp thời để loại trừ vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Nói cách khác, mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm đảm bảo tính pháp chế của hoạt động tư pháp - đảm bảo cho hoạt động tư pháp được thực thi một cách thống nhất, đúng pháp luật
Trang 30Chủ thể kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo Điều 113 BLTTHS năm 2003, chủ thể chung của hoạt động tư pháp là VKS có thẩm quyền Trên thực tế, thực hiện qui định của Điều 36, 37,
113 BLTTHS năm 2003, chủ thể của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp là Viện trưởng, Phó Viện trưởng và KSV VKS có thẩm quyền Tuy nhiên theo
cơ cấu qui định trên của BLTTHS năm 2003, khác với chủ thể thực tế của hoạt động THQCT, chủ thể thực tế chủ yếu của hoạt động kiểm sát hoạt động
tư pháp là KSV được phân công thụ lý vụ án
Đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo qui định của pháp luật (BLTTHS), đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án
Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu
từ khi khởi tố vụ án, và kết thúc tại thời điểm cơ quan tư pháp có thẩm quyền ban hành quyết định tố tụng có hiệu lực không bị VKS hủy bỏ, kiến nghị hay yêu cầu khắc phục vi phạm
Nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp
Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự và các hoạt động tư pháp khác theo qui định của pháp luật
Công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp là một mặt, một khía cạnh của chức năng Hiến định được phân công cho VKSND, được tổ chức thực
Trang 31hiện trên thực tế bằng hai loại công tác khác nhau gắn liền với hai lĩnh vực hoạt động khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động tuân theo pháp luật trong TTHS và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong các trường hợp được qui định trong thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động v.v Gắn liền với lĩnh vực hình sự, TTHS là các công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự Cả ba lĩnh vực công tác đó hợp thành lĩnh vực kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS trong lĩnh vực hình sự, TTHS
Hình thức thể hiện của kiểm sát hoạt động tư pháp
Điều 23 và Điều 113 BLTTHS năm 2003 chỉ qui định chung về chức năng nhiệm vụ THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS mà không qui định cụ thể hình thức thể hiện Xét về hành vi của chủ thể kiểm sát hoạt động tư pháp, căn cứ thực tế tổ chức thực hiện qui định của Điều 37 và Điều
113 BLTTHS hiện hành có thể thấy chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được thể hiện một cách phổ biến thông qua hành vi của KSV được phân công thụ lý vụ án khi trực tiếp kiểm sát các hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra (bao gồm cả hành vi tham gia tố tụng và hành vi kiểm sát hồ sơ vụ án) Hình thức thể hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ít phổ biến nhưng thể hiện tính quyền uy là quyết định, kiến nghị, yêu cầu do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền thực hiện khi thực hiện kiểm sát hoạt động
tư pháp trực tiếp tại các cơ quan tư pháp theo qui định của pháp luật hoặc khi
xử lý các vi phạm nghiệm trọng pháp luật TTHS Tuy nhiên, luận văn không nghiên cứu vấn đề này bằng góc độ nghiệp vụ kiểm sát nên không bàn sâu, chi tiết về các hình thức thể hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trên thực tế cũng như trình tự thực hiện chúng
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các
Trang 32văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02 /1/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2002, Nghị quyết 49/N1-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng: Trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực tư pháp thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học Điều đó đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp [58, tr.4-5]
Trong đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Cho nên hiện nay xung quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án" [57, tr.18]
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần
"tư pháp" trong thi hành án" [57, tr.18]
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát
tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong
Trang 33lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002) Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định [12, tr.12-15]
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các
cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát
Từ nội dung phân tích nêu trên, có thể khẳng định khái niệm kiểm sát
hoạt động tư pháp là “Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm
sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp ”
1.2.2 Khái niệm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa
Trang 34thống nhất về khái niệm: "kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm" bởi lẽ, chúng ta mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở cấp độ kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung hoặc cụ thể là kiểm sát một giai đoạn nào đó trong quá trình TTHS như khái niệm kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra
"Kiểm sát" theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: "Là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước" Theo đó, nội dung của khái niệm "kiểm sát" là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp hành pháp luật Như vậy định nghĩa này vẫn chưa chỉ ra được chủ thể của hoạt động kiểm sát Theo pháp luật thực định, chỉ có một loại chủ thể có chức năng kiểm sát việc giải quyết, tin báo tố giác tội phạm, đó là VKS Khoản 4 Điều 103 BLTTHS quy định: "Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố" [35, Điều 103, Khoản 4] Như vậy theo BLTTHS năm 2003, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đối với VKS là một chức năng, một nghĩa vụ luật định của VKS
Tham gia vào “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” nói chung, hay kiểm tra việc chấp hành pháp luật của CQĐT trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng không chỉ có VKS mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền "kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước" của CQĐT trong hoạt động giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm của các chủ thể khác xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp
và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội " [37, tr.7] Điều 13 Luật tổ chức
Cơ quan điều tra hình sự quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Trang 35nhiên đối với các chủ thể này việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là quyền, nghĩa vụ phái sinh từ những chức năng, hoạt động khác hay các quyền, các hoạt động mang tính tự nguyện Về bản chất, các hoạt động của những chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm cũng hướng tới việc phát hiện kịp thời để loại trừ việc vi phạm pháp luật của cơ quan hoặc cá nhân trong việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm tuy nhiên nó chỉ là hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật
Sự khác nhau cơ bản giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện mà cụ thể là phương thức và các quyền năng mà pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện
Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là hoạt động giám sát liên tục, cụ thể, trực tiếp các hoạt động tố tụng của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm như sau: "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, có nội dung kiểm tra, giám sát Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra trong việc xem xét, xử lý những thông tin phản ánh hành vi hoặc người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự"
1.2.3 Đặc điểm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiếm sát nhân dân
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2013 thì chỉ duy nhất VKSND có chức năng kiểm sát các hoạt động tư
Trang 36pháp Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND thực hành quyền công
tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Đồng thời Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm
2014 quy định VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND như sau:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [34, tr.2]
Như vậy, chủ thể thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp trong hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chỉ có thể là VKSND Điều này xuất phát từ chức năng của VKSND là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp
Thứ hai, đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
Để xác định đối tượng, phạm vi kiểm sát, cần trả lời hai câu hỏi: Thứ nhất, chủ thể nào thực hiện giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm sẽ là đối tượng của hoạt động kiểm sát? Thứ hai, hệ thống pháp luật được sử dụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm ở đây là toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung hay chỉ một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó?
Chủ thể thực hiện giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 06 bao gồm hệ thống các cơ quan: CQĐT trong Công
Trang 37an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân; CQĐT của VKSND tối cao; CQĐT của VKS quân sự Trung ương; Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan,
cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đó [67, tr.4] Tương ứng với hệ thống các
cơ quan trên là hoạt động của người tiến hành tố tụng là thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, điều tra viên
Hệ thống pháp luật được sử dụng ở đây trước hết là pháp luật TTHS, quy định về trình tự tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm Do vậy, kiểm sát hoạt động của các chủ thể giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chính là kiểm sát việc các chủ thể có tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục cũng như cách xử sự luật định trong quan hệ phát sinh giữa các bên trong quá trình giải quyết hay không
Như vậy, đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chính là hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Theo quy định của Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thì VKS thực hiện một số hoạt động như sau:
- Tiếp nhận đầy đủ tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến và chuyển ngay cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết
Trang 38- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận cho VKSND
- Trực tiếp kiểm sát; kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo đầy đủ, kịp thời kết quả xác minh, giải quyết cho VKSND
- Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKSND yêu cầu CQĐT,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện
- Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của
Bộ luật TTHS
Hoạt động kiểm sát bắt đầu kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm Kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ ba, đặc điểm về hình thức kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm
Hình thức kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là cách thức thực hiện hoạt động kiểm sát, trong đó bao gồm: 1 Phương thức kiểm sát (trực tiếp hay gián tiếp); 2 Các quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng trong quá trình kiểm sát
Trang 39Một là, về phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là sự kiểm tra, giám sát một cách trực tiếp, liên tục trong quá trình giải quyết Phương thức này cho phép phân biệt hoạt động kiểm sát của VKS với hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, công dân, cơ quan dân cử hay báo chí… Quyền giám sát của các chủ thể này chỉ là quyền phái sinh từ các quyền
tố tụng và quyền chủ thể của họ Như chúng ta biết giám sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS chủ yếu là những hoạt động được pháp luật ghi nhận dưới dạng quyền theo đó, theo đó đối với những chủ thể khác có quyền giám sát (ngoài VKS) thì tùy vào vị trí, sự quan tâm của mỗi chủ thể mà họ sẽ sử dụng các quyền này ở những mức độ khác nhau (ví dụ: việc giám sát của cơ quan báo chí đối với quá trình giải quyết một tin báo hay tố giác về tội phạm nào đó chỉ được đặt ra khi có đơn thư khiếu nại trong quá trình giải quyết, hoặc cũng có thể đó là vẫn đề đang được dư luận xã hội quan tâm…) Nhưng chỉ có VKS mới có thể tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm một cách trực tiếp, liên tục do có đủ các cơ sở, điều kiện cần thiết (vị trí pháp lý đặc biệt với chức năng, nhiệm vụ, bộ máy…) Trong quá trình Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm từ lúc tiếp nhận, phân loại, xác minh cho đến khi có kết quả giải quyết, bất kỳ lúc nào VKS đều có quyền hạn
áp dụng những biện pháp tác động trực tiếp đến đối tượng bị kiểm sát để đảm
bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất
Hai là về nhóm quyền năng pháp lý mà VKS được sử dụng trong quá
trình kiểm sát được thể hiện thông qua các quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên (KSV) Có thể được phân loại thành những nhóm sau:
- Nhóm các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật đó là quyền kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình giải quyết Quyền kiểm sát tổng
Trang 40thể việc giải quyết theo định kỳ hằng tháng, quý, năm Quyền tiếp nhận trực tiếp các khiếu nại, tố cáo liên quan
- Nhóm các quyền nhằm khắc phục, xử lý vi phạm như: Quyền yêu cầu khắc phục vi phạm, quyền yêu cầu xử lý Điều tra viên và những người có thẩm quyền khác đã vi phạm pháp luật, quyền kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục vi phạm, quyền yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại tố cáo, kiểm tra, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.3 Quy định về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà
án và trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Phó Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định: "Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra
và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT ” [5, tr.5], như vậy ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Từ giai đoạn này trở đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố, điều tra vụ án hình sự trong đó có kiểm sát hoạt động xử lý tin báo, tố giác tội phạm của Viện công tố bắt đầu được hình thành và thực hiện Đến năm
1959, Quốc hội ban hành Hiến pháp 1959 đã quy định tổ chức cơ quan VKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức