Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Công tác quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là nội dung cơ bản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN QUANG MẬU
VAI TRò CủA ủY BAN NHÂN DÂN Xã, PHƯờNG, THị TRấN
ĐốI VớI NGƯờI THI HàNH áN TREO, áN PHạT
CảI TạO KHÔNG GIAM GIữ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN QUANG MẬU
VAI TRò CủA ủY BAN NHÂN DÂN Xã, PHƯờNG, THị TRấN
ĐốI VớI NGƯờI THI HàNH áN TREO, áN PHạT
CảI TạO KHÔNG GIAM GIữ
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ OANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Quang Mậu
Trang 4DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 6 1.1 Khái niệm, đặc điểm và khái quát lịch sử lập pháp Luật hình sự
Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn đối với người thi hành án treo 6 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn đối với người thi hành hình án phạt cải tạo không giam giữ 10 1.1.3 Khái quát lịch sử lập pháp của Luật hình sự Việt Nam về vai trò của
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 14
1.2 Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định vai trò Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn trong quản lý, giáo dục người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ 17
1.2.1 Về chức năng, nhiệm vụ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với
quản lý nhà nước, quản lý xã hội 17 1.2.2 Về bản chất pháp lý của việc quản lý, giám sát người thi hành án treo,
án phạt cải tại không giam giữ 20 1.2.3 Ý nghĩa của quy định vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 21
1.3 Các cơ quan, tổ chức của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tham
gia quản lý, giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 23
Trang 51.3.1 Công an cấp xã 23
1.3.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở 24
1.3.3 Thôn, xóm, ấp, tổ dân phố 25
1.4 Những yếu tố tác động đến vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 26
1.4.1 Việc tổ chức quyền lực nhà nước 26
1.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 26
1.4.3 Năng lực của cán bộ ở Ủy ban nhân dân cấp xã 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 29
2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 29
2.1.1 Quy định về vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo 29
2.1.2 Quy định về vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ 30
2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục và nội dung quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn 31
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 35
2.2.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội và hoạt động chấp hành pháp luật hình sự của tỉnh Hà Tĩnh có tác động đến vai trò cuả Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong thi hành án 35
2.2.2 Những kết quả đạt được về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 38
Trang 62.2.3 Một số tồn tại, hạn chế về vai trò của Ủy ban nhân dân, xã, phường, thị
trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 47 2.2.4 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế đến vai trò của Ủy ban nhân dân, xã,
phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 52 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH
ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 62 3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò của Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo,
án phạt cải tạo không giam giữ 62
3.1.1 Đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước, xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế 62 3.1.2 Đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và khắc phục những hạn chế,
tồn tại trong quá trình thực hiện thi hành án 65
3.2 Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao việc áp dụng pháp luật về
vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 67
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 67 3.2.2 Tăng cường việc giải thích, hướng dẫn pháp luật về vai trò, nhiệm vụ
của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với việc quản lý, giám sát người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 72 3.2.3 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vai trò của Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn trong việc quản lý giám sát người thi hành án treo và
án phạt cải tạo không giam giữ 74 3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với
việc thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ 78
Trang 73.2.5 Nâng cao trách nhiệm của cán bộ chuyên môn, người đứng đầu Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn và các tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc quản lý, giám sát người thi hành án treo và án phạt cải tạo
không giam giữ 79
3.2.6 Tăng cường vai trò phối hợp giữa các chủ thể đối với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo, án phạt cải cạo không giam giữ 82
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát xử lý các vi phạm đối với vai trò của UBND xã, phường thị trấn trong quản lý, giáo dục người thi hành án treo, án phạt cải cạo không giam giữ 84
3.2.8 Đảm bảo các điều kiện cần thiết về chế độ, chính sách cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn để thực hiện việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo, án phạt cải cạo không giam giữ 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN CHUNG 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự THAHS: Thi hành án hình sự UBND cấp xã: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Trang 9DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Tình hình thực tế thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trên
Bảng 2.2: Bảng thống kê số liệu tổng số người phải thi hành án treo, án
cải tạo không giam giữ hàng năm (từ 2011- 2016) 41
Sơ đồ 2.1: Trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 33
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công tác quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là nội dung cơ bản trong công tác thi hành án hình sự đối với các loại án này, nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trong thực tế Thực hiện tốt công tác thi hành án là một trong những hoạt động nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN, các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân bị xâm hại, được thực thi một cách nghiêm túc Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công các thi hành án hình sự nên đã ban hành các chủ trương nghị quyết để lãnh đạo, chỉ chỉ đạo và hoàn thiện nhiều quy định của pháp luật để phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, công tác thi hành hình
sự nói chung và thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, cụ thể: Hệ thống các văn bản quy pháp pháp luật đã được ban hành ở các thời điểm khác nhau dẫn đến nhiều quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ, nhiều nội dung quy định chưa chi tiết, cụ thể nên gặp rất nhiều gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành Bên cạnh đó vai trò, trách nhiệm của các cơ quan trong công tác thi hành án chưa được phân công, phối hợp chặt chẽ, đặc biệt là vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án quy định cụ thể nên hiệu quả, tác dụng trong thi hành án đạt thấp Cơ chế giám sát, chế tài cưỡng chế đối với người bị kết án khi không chấp hành án chưa nghiêm, thiếu tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tái phạm Mặt khác, hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, trách nhiệm của UBND xã, phường thị trấn trong việc quản lý, giám sát người thi hành án treo, cải tạo không giam giữ một cách
có hệ thống, toàn diện, sâu sắc và sát với thực tiễn
Để nâng cao vai trò của UBND xã, phường, thị trấn trong việc thi hành án treo và án cải tạo không giam giữ nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của việc
Trang 11xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập Quốc tế trong công tác thi hành
án theo tình thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XII, Hiến pháp năm
2013, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với các nội dung: Đề cao hiệu quả phòng ngừa, nâng cao tính hướng thiện trong việc xử
lý người phạm tội, giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm… Xác định rõ vai trò trách nhiệm của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành các hình phạt được cải tạo, giám sát ngoài xã hội nhằm thực hiện nghiêm túc các bản án, quyết định của Tòa án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc áp dụng các quy phạm pháp phát luật nhằm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra phương hướng, giải pháp để nâng cao hiệu qủa của công tác quản lý, giám sát người thi hành án treo, án cải tạo không
giam giữ trong thời gian tới, bản thân tôi lựa chọn đề tài "Vai trò của UBND xã,
phường, thị trấn đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)" làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật hình sự Việt Nam nói chung, trong đó có lĩnh vực về thi hành án hình sự nói riêng và đặc biệt là việc thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những mức độ, khía
cạnh và phương diện khác nhau như: Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật Thi hành án
hình sự, Nxb Lao động, năm 2011, của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tái bản lần thứ 5, năm
2009, của tập thể tác giả do TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Sách chuyên khảo:
Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Tư pháp, năm 2006, của tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh - PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng chủ biên Ngoài ra còn có một số đề tài, báo cáo, công trình
Trang 12nghiên cứu khoa học như: Một số vấn đề về hình phạt cải tạo không giam giữ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/1995 và Các căn cứ thi hành án, của Trần Văn Độ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/1998; Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình
sự ở nước ta hiện nay, của Nguyễn Trọng Hách, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
5/2002; Thi hành án: Bất cập từ cơ quan pháp luật, của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2003 Đề tài khoa học: Luận cứ khoa học và thực tiễn
của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới,
của Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2003; Thực trạng hình sự và những kiến nghị, của Nguyễn
Phong Hòa, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2006; Một số luận văn thạc sỹ như:
Hình phạt cải tạo không giam giữ theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, của Lê Thanh Hùng, Khoa luật Đại học Quốc gia,
năm 2014; Án treo thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương của Phạm Thanh phương, Khoa luật Đại học Quốc gia, năm 2014 và Một số vấn đề về thực tiễn thi
hành án treo, án cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Nam Định của Phạm Đức
Trung, Khoa luật Đại học Quốc gia, năm 2014 Tuy nhiên với nghiên cứu chuyên sâu về vai trò UBND cấp xã đối với người thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh một cách độc lập, đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể để việc thi hành án có hiệu quả hơn thì từ trước đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu và đề cập đến
3 Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ một số lý luận và thực tiễn về vai trò của UBND xã phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ, nhằm góp phần nâng cao công tác thi hành án hình sự và thực hiện nhiệm các vụ do pháp luật hình
sự Việt Nam quy định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Luận văn nghiên cứu những các quy định của pháp luật về vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ; đồng thời so sánh, đối chiếu với những điểm mới của BLHS
2015 Từ đó liên hệ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tìm ra nguyên nhân của
Trang 13những tồn tại, hạn chế để đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các giải pháp áp dụng một cách có hiệu quả trong thực tiễn
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan đến vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trong pháp luật hình sự Việt nam trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ năm 2011 đến 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng về thi hành án thông qua các nghị quyết như: Đại hội Đảng toàn quốc khóa VII, VIII, IX, X, XI và các chuyên đề gồm: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị và chính sách phát luật của nhà nước về thi hành án hình sự
5.2 Các phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học pháp luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; thi hành án điển hình Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, đã tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố, các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn, các bài nghiên cứu về các vấn đề riêng biệt trong các
tạp chí chuyên đề và các vấn đề có liên quan đến nội dụng trong luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Về lý luận: Việc nghiên cứu luận văn góp phần hoàn thiện về lý luận về
thi hành án hình sự nói chung và thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ nói riêng trong khoa học luật hình sự Việt Nam Cụ thể là làm rõ một số nội dung
về lý luận, thực tiễn của vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nhằm chỉ
ra một số mâu thuẫn, bất cập, để tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của phát luật hình sự về thi hành án nói chung và vai trò của UBND xã phường, thị trấn đối với người thi hành án treo
và án phạt cải tạo không giam giữ nói riêng trong thời gian tới
Trang 146.2 Về thực tiễn: Việc nghiên cứu vấn đề này là cơ sở lý luận, có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật luật hình sự Việt Nam liên quan đến vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án cải tạo không giam giữ, qua đó
góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án ở nước ta trong thời gian tới
7 Những điểm mới của đề tài
- Về lý luận và các quy định của pháp luật: Kết quả nghiên cứu của luận văn
nhằm giải quyết một số vấn đề về lý luận về vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ Đồng thời góp phần hoàn thiện các nội dung về thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam
giữ trong mối quan hệ so sánh với một số chế định pháp luật khác
- Về thực tiễn áp dụng: Việc nghiên cứu nội dung này sẽ sáng tỏ tình hình thực tiễn về vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người việc thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ trên địa bàn cả nước nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng; chỉ ra những tồn tại, hạn chế về vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với thi hành án treo, cải tạo không giam giữ cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ
trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay
8 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chương gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn về vai trò của Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam
giữ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Ủy ban nhân dân, xã,
phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH
ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và khái quát lịch sử lập pháp Luật hình sự Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo
Án treo là một chế định pháp luật được quy định ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên mỗi nước đều quy định một cách khác nhau như: Luật hình sự của các nước Anh, Mỹ coi án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lãnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền; Luật hình sự của Pháp và một số nước coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt; Trung Quốc lại coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Ở nước ta, chế định án treo được quy định ngay từ những năm đầu khi Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa mới ra đời, tại Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức của Tòa án quân sự thiết lập tại Bắc, Trung và Nam Bộ [12, tr 2] Đến Bộ luật hình sự 1985, BLHS 1999 án treo được xác định án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện [41] Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể về án treo, nhưng qua
nghiên cứu cho thấy nhiều tác giã thống nhất với quan điểm hướng dẫn, giải thích của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013, cụ thể: án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù
Về việc thi hành án treo cũng giống như THAHS là hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo một trình tự thủ
Trang 16tục do pháp luật THAHS quy định Người phải thi hành án treo họ không phải cách
ly khỏi xã hội mà được giao cho cơ quan quân đội hoặc UBND cấp xã nơi cư trú tổ chức quản lý, giám sát giáo dục và thực hiện việc thi hành án Xuất phát từ tính nhân đạo trong chế định án treo mà những người phải thi hành án không phải cách
ly khỏi xã hội, được cải tạo, giáo dục tại cộng đồng Trong thời gian chấp hành án, được gia đình, người thân và cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục tạo điều kiện cho
họ được cải tạo, học tập, lao động, được đối xử như những người bình thường khác,
họ chỉ bị hạn chế một số quyền do pháp luật quy định Phương pháp thực hiện thi hành án cũng chủ yếu bằng giáo dục thuyết phục, lấy việc cảm hóa, giáo dục động viên, khuyến khích là chính, giúp người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tự nguyện sửa chữa, cải tạo thành người có ích
Theo Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ thì việc thi hành án treo là biện pháp nhằm tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm
ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường
xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng
án treo làm việc, công tác, học tập hoặc cư trú và gia đình của người đó Theo Luật THAHS năm 2010, thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người bị phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách Từ hai quy định trên cho thấy thi hành án treo có một số đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất: Thi hành án treo là một bộ phận cấu thành của công tác THAHS,
là hoạt động hành chính - tư pháp của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền mà
ở đây là do UBND cấp xã hoặc cơ quan quân đội thực hiện theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định để đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực
tế, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Thứ hai: Thi hành án treo là một trong những hoạt động thi hành án phạt
không thực hiện việc giam giữ, xuất phát từ bản chất của chế định án treo trong
Trang 17pháp luật hình sự Việt Nam, kết hợp giữa trừng trị và giáo dục; người chấp hành án treo không bị cách ly hoàn toàn khỏi đời sống xã hội, quyền tự do thân thể của bị án vẫn được đảm bảo, họ chỉ bị hạn chế một số quyền nhất định do pháp luật quy định
và nhận được sự quan tâm tạo điều kiện tối đa để làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình, UBND cấp xã và các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội nơi người được hưởng án treo công tác, cư trú “Tính nhân đạo trong thi hành án treo còn thể hiện ở phương pháp thi hành án là lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa, động viên, khuyến khích là chính, hạn chế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc mệnh lệnh hành chính, giúp người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tự nguyện sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho xã hội” [10] và được thể hiện rất rõ tại Điều 65
Luật BLHS năm 2015
Thứ ba: Thi hành án treo có ý nghĩa xã hội to lớn, thể hiện chính sách nhân
đạo của Đảng, Nhà nước, phù hợp với xu thế chung của thế giới Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra: "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm
tội" [20, tr 3] Tại bộ các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện
pháp không giam giữ, gọi là các quy tắc Tôkyô năm 1990, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết số 45/110 ngày 14/12/1990 khẳng định:
Các quốc gia thành viên phải xây dựng những biện pháp không giam giữ trong hệ thống pháp luật của nước mình nhằm đưa ra các cách lựa chọn khác, từ đó giảm sử dụng biện pháp cầm tù và nhằm tạo cơ sở hợp lý cho những chính sách tư pháp hình sự, thông qua việc giám sát các quyền con người, các yêu cầu công bằng xã hội cũng như nhu cầu
phục hồi của người phạm tội [28, tr 759]
Thứ tư: Quá trình thi hành án treo diễn ra trong thời gian thử thách nhất định
do “Tòa án ấn định bằng hai lần mức hình phạt tù nhưng không được dưới 1 năm và
Trang 18không quá 5 năm, thời điểm bắt đầu ngay từ sau khi Tòa án tuyên bản án, quyết định sơ thẩm cho hưởng án treo Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng
án treo lại phạm tội mới thì biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù bị xóa bỏ, người được hưởng án treo buộc phải chấp hành hình phạt tù trong bản án đã cho hưởng án treo trước đó cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện [41]
Thứ năm: Khác với các hình phạt tù, việc thi hành án treo không giao cho
một cơ quan chuyên trách thực hiện, thể hiện rất rõ chính sách xã hội hóa của Đảng
và Nhà nước ta trong những năm gần đây Trong đó, UBND cấp xã hoặc đơn vị quân đội giữ vai trò là cơ quan trực tiếp được giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục người chấp hành án Sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cộng đồng dân cư và gia đình người bị kết án là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc thi hành án treo So với thi hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, thì việc thi hành án treo đã góp phần làm giảm bớt chi phí cho xã hội nhưng vẫn đạt được hiệu quả xã hội cao Đối với thi hành hình phạt tù thì người chấp hành án sẽ bị mất các khoản thu nhập từ các công việc
mà họ có trước khi phạm tội và mất đi nguồn thu nhập cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm trong thời gian bị cách ly khỏi xã hội; ngoài ra, chi phí hàng năm của Nhà nước cho công tác tổ chức thi hành hình phạt tù cũng rất lớn, bao gồm đầu tư cho hệ thống cơ sở nhà giam, bộ máy cán bộ làm công tác quản lý, bảo vệ, y tế, thực hiện chế độ chính sách, đảm bảo điều kiện ăn, mặc, sinh hoạt, y tế, giáo dục cho phạm nhân Mặc dù ở Việt Nam hiện nay chưa có một công bố chính thức về ngân sách dành cho việc thi hành hình phạt tù nhưng dễ nhận thấy là gánh nặng rất lớn cho đất nước, trong khi điều kiện kinh tế của đất nước chúng ta còn đang khó khăn Còn thi hành án treo, Nhà nước chỉ mất chi phí phát sinh liên quan đến việc quản lý, giáo dục người chấp hành án ở địa phương, một phần chi phí hỗ trợ đào tạo, học nghề, hướng nghiệp, khắc phục khó khăn do đó sẽ giảm bớt được rất nhiều chi phí so với thi hành hình phạt tù; mặt khác, người chấp hành án treo có điều kiện thuận lợi
để tìm kiếm việc làm và gia tăng thu nhập, đặc biệt có ý nghĩa đối với bị án là lao động duy nhất trong gia đình
Trang 19Thứ sáu: Không chỉ người chấp hành hình phạt tù mới tái hòa nhập cộng
đồng, mà việc tạo điều kiện cho người chấp hành án treo hòa nhập cộng đồng là vấn
đề hết sức quan trọng, bởi lẽ về bản chất, ý nghĩa của thi hành án treo đã hàm chứa nội dung nhằm tạo tối đa cho người bị kết án có điều kiện thuận lợi nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng ngay từ sau khi tuyên án, chứ không phải sau khi chấp hành xong án, như thi hành hình phạt tù Do đó, việc thi hành án treo đòi hỏi phải gắn bó, lồng ghép hết sức chặt chẽ giữa công tác giám sát, quản lý, giáo dục với tạo điều kiện cho người bị kết án được tái hòa nhập cộng đồng Đây là hai vấn đề có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nếu tái hòa nhập cộng đồng tốt sẽ tạo điều kiện, làm giảm
áp lực, khó khăn cho việc quản lý, giáo dục người hưởng án treo, phòng ngừa họ tái trở lại con đường phạm tội và ngược lại “Người bị kết án treo có nhanh chóng tái hòa nhập xã hội ngay sau khi bị kết án và có được điều kiện tốt nhất để cải tạo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội hay không, thì bản án, quyết định của Tòa án và công tác THAHS mới đạt được đến đích cuối cùng” [30]
Như vậy, từ những đặc điểm trên cho thấy thi hành án treo là một hình thức THAHS có tính nhân đạo sâu sắc, do UBND cấp xã, đơn vị quân đội phối hợp với
tổ chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và giáo dục, khuyến khích, tạo điều kiện để người chấp hành án treo tự lao động, học tập, cải tạo trở thành người lương thiện và nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, xã hội trong môi trường cuộc sống bình thường, nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế và đạt được hiệu quả cao, bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành hình án phạt cải tạo không giam giữ
Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ là việc buộc người phạm tội phải
tự cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc cư trú và phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định Cũng như các chế định
về án treo, án cải tạo không giam giữ được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trang 20quy định rất sớm và có sự kế thừa phát triển các quy định đó cho đến ngày nay, cụ thể Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981, có quy định: Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì tùy mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba
tháng đến hai năm [36] Tại Điều 6 Pháp lệnh Trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu,
làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 1982 có ghi: Người nào kinh doanh không
có giấy phép hoặc không đúng với nội dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng hóa hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước và người tiêu dùng thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp [28] Bộ luật Hình sự năm 1985 ghi nhận hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính Tại Điều 24 BLHS 1985 và khoản 1, khoản
3, Nghị quyết 02/1986/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định hình phạt này được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng So với quy định trong BLHS năm 1985, quy định về cải tạo không giam giữ theo BLHS năm 1999 có mở rộng diện áp dụng và tăng cường nghĩa vụ, trách nhiệm của người chấp hành án, phù hợp định hướng cải cách tư pháp và xu thế chung hiện nay
Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ là một bộ phận của THAHS được
cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định Việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho người kết án phạt cải tạo không giam giữ lao động, học tập và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc UBND cấp xã nơi người bị kết án cư trú và gia đình người đó Người phải thi hành hình phạt cải tạo
Trang 21không giam giữ không bị tước tự do, không buộc phải cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như xã hội nói chung mà phải chịu sự giám sát, giáo dục của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo, tự kiểm điểm định kỳ và có thể phải nộp 5% đến 20% thu nhập để sung quỹ nhà nước Thời hạn cải tạo không giam giữ từ 6 tháng đến 3 năm Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi làm việc hoặc nơi thường trú rõ ràng và khi các điều kiện khác cho thấy họ có thể tự cải tạo, giáo dục cải tạo ở ngoài xã hội Giống với việc thi hành án treo là không cách ly người bị kết án khỏi xã hội, nhưng khác ở chỗ cải tạo không giam giữ
là hình phạt chính
Trên cơ sở phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau: Thi hành phạt cải tạo không giam giữ là việc thi hành hình phạt chính trong hệ thống hình phạt tù, nhằm tạo điều kiện cho người bị phạt tù được cải tạo, học tập trong môi trường xã hội bình thường để khuyến khích họ tích cực cải tạo nhanh chóng thành người có ích cho xã hội; do cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội hoặc UBND cấp xã nơi người
bị thi hành án quản lý giáo dục giám sát việc thi hành án và được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng đang có nơi làm việc
ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng và xét thấy không cần phải cách ly họ ra khỏi
xã hội Mặt khác theo quy định tại Điều 3 Luật THAHS năm 2010: "Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại xã, phường, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản án đã có hiệu lực pháp luật" [42] Đây là loại hình phạt được xử lý phù hợp với đường lối tội phạm trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, thể hiện tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cụ thể:
"Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm" [20, tr.3]
* Về đặc điểm của thi hành án phạt cải tạo không giam giữ:
Một là: Thi hành hình phạt này người phải thi hành án không cần phải cách
Trang 22ly khỏi xã hội mà được thi hành trong môi trường bình thường trước sự giám sát giáo dục của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương Người phải thi hành án được sinh hoạt bình thường, được quyền tham gia lao động, được bố trí việc làm trong những vị trí hợp lý, được trả công lao động và được hưởng các chế độ xã hội giống như họ đã tường được hưởng trước khi bị kết án và phải thi hành án
Hai là: Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là quá trình thi hành hình
phạt chính nên đồng thời còn bao gồm cả việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện sẽ thực hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án (từ 5% đến 20% thu nhập) mà Tòa án đã ấn định để sung quỹ nhà nước, bên cạnh đó còn có thể phải thi hành hình phạt bổ sung kèm theo bản án hoặc quyết định của Tòa án có thẩm quyền (nếu có)
Ba là: Khác với hình phạt tù, thi hành án phạt cải tạo không giam giữ không
phải do một cơ quan tổ chức giám sát, cải tạo mà thầm quyền được giao quản lý, giáo dục, cải tạo đối với người bị kết án ở đây là do các cơ quan, tổ chức nơi người
đó lao động, học tập hoặc chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú thực hiện Hình phạt này thể hiện rất rõ chính sách xã hội hóa trong công tác thi hành án của Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây, đó là nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và gia đình trong là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả thi hành án
Bốn là: Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là quá trình hiện thực
hóa một trong những hình phạt chính nhưng có tính nhân đạo sâu sắc, do cơ quan không chuyên trách (Ủy nhân dân cấp xã, các cơ quan, tổ chức xã hội, người có thẩm quyền) thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và giáo dục, khuyến khích, tạo điều kiện để người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tự lao động, học tập, rèn luyện trở thành người lương thiện và nhanh chóng tái hòa nhập xã hội trong môi trường cuộc sống bình thường, nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế và đạt được hiệu quả xã hội cao
Trang 231.1.3 Khái quát lịch sử lập pháp của Luật hình sự Việt Nam về vai trò của
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
* Khái quát lịch sử lập pháp của luật hình sự Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn đối với người thi hành án treo
- Giai đoạn từ 1945 đến 1985: Án treo là chế định được hình thành rất sớm
trong Luật hình sự Việt Nam và được quy định lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 33C của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 13/9/1945, sau đó đến Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về "tổ chức Tòa án quân sự" Tuy nhiên, để đảm bảo việc áp dụng án treo được thống nhất ngày 01/12/1961 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 2308/NCPL về việc áp dụng chế độ án treo, theo đó án treo là "một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không cần thiết phải thi hành ngay hình phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động, cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu còn tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tùy trường hợp sẽ buộc phải chấp hành án cũ Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách họ không phạm tội gì mới, án trước sẽ được xóa bỏ" Về thi hành án giai đoạn này nhà nước chưa có một quy định cụ thể cơ quan, tổ chức nào có trách nhiệm quản lý giáo dục những người được hưởng án treo nhưng với vai trò quản lý nhà nước, quản lý xã hội của chính quyền địa phương, qua nghiên cứu cho thấy UBND cấp xã đã tham gia quản lý ngay từ thi có các quy định nói trên Mặt khác, khi nghiên cứu về lịch sử thi hành án hình sự ở giai đoạn này cho thấy: Sắc lệnh số 13/SL, ngày 24/0l/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho tổ chức THAHS ở Việt Nam Tại khoản 3, Điều 3 Sắc lệnh quy định, “Ban tư pháp xã” có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên, bao gồm các bản án, quyết định của Tòa án Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp về việc thi hành án hình và hộ, đã xác định: Trách nhiệm THAHS là
Trang 24của “chính quyền cấp xã” Tuy, các văn bản trên chưa quy định rõ, cụ thể là vai trò của UBND cấp xã trong quản lý, giáo dục, cải tạo đối với người thi hành án treo nhưng đã quy định tương đối rõ về vai trò trách nhiệm của UBND cấp xã trong thi hành án hình sự
- Giai đoạn từ năm 1985 đến nay
Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra đời và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 đã đánh dấu một bước trưởng thành trong quá trình hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam Án treo đã kế thừa, phát triển theo Sắc lệnh số 21 và Thông tư số 2308-NCPL Ngày 21/12/1999 và được quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 1985 với một nội dung khá đầy đủ và toàn diện Vai trò của UBND cấp xã đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ đã được quy định cụ thể tại khoản 2, Điều 44: “Toà án giao người bị án treo cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi, giáo dục”
Ngày 2/6/1988, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự, tại Điều 227 BLTTHS năm 1988 đã quy định: “Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Tòa án là chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú làm việc có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ”
Đến năm 1999, Bộ luật hình sự sửa đổi thì vai trò của của UBND cấp xã trong quan quản lý giám sát người thi hành án được quy định tại khoản 2 Điều 60 Ngày 30/10/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2000/NĐ-CP, về việc hướng dẫn thi hành án treo tại các Điều 1,2,3 đã quy định cụ thể về vai trò của UBND cấp xã trong quản lý, giám sát đối với người thi hành án
Năm 2010, Luật thi hành án hình sự được ban hành: Tại Điều 18 và Điều 65
đã nêu rõ: "Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án treo và Công an cấp xã tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này"
Trang 25Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 tại Điều 5 quy định: Giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Bộ luật hình sự năm 2015: Vai trò của UBND cấp xã trong quản lý, giám sát giáo dục được quy định cụ thể hơn Tại khoản 2 Điều 65 ghi rõ:
Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết
án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa
phương trong việc giám sát, giáo dục người đó [44, Điều 65]
* Khái quát lịch sử lập pháp của luật hình sự Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân, xã phường, thị trấn đối với người thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
- Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất, Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985: Hình phạt cải tạo không giam
giữ được đề cập lần đầu tiên trong Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981 (Khoản 1 Điều 69) Tiếp theo đó, ngày 30/6/1982, tại Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, một lần nữa hình phạt cải tạo không giam giữ lại được đề cập tới Cũng giống như án treo vai trò của cơ quan quản lý giáo dục người thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được quy định chưa rõ nét, trên thực tế việc này UBND xã, phường, thị trấn đã thực hiện việc quản lý, giám sát người thi hành án nhưng do chưa có các quy định cụ thể nên hiệu quả chưa cao, chưa chặt chẽ
- Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay
Theo Bộ Luật hình sự năm thì vai trò của UBND cấp xã trong quản lý, giáo dục người thi hành án cải tạo không giam giữ được quy định rõ tại khoản 2 Điều 24:
“Toà án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục” Năm
1999 khi sửa đổi Bộ Luật hình sự thì vai trò của UBND xã, phường, thị trấn trong quản lý giáo dục và thi hành án vẫn không thay đổi so với Bộ luật hình sự năm
Trang 261985, tuy nhiên có quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về trách nhiệm giám sát Ngày 30/10/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2000/NĐ-CP về việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, tại điều 1,2,3 quy định rất rõ về vai trò của UBND cấp
xã trong việc giáo dục quản lý đối với người bị án phạt cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho họ(sau đây gọi là người bị kết án) lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ
sở giáo dục, đào tạo hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án
cư trú Ngày 17/6/2010 Luật thi hành án hình sự được ban hành, có hiệu lực thi hành 01/7/2011, tại Điều 1 ghi rõ: Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
và đến năm 2015 khi sửa đổi Bộ luật Hình sự, tại khoản 2 Điều 36 quy định rõ:
Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó [44]
1.2 Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định vai trò Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn trong quản lý, giáo dục người thi hành án treo, án phạt cải
tạo không giam giữ
1.2.1 Về chức năng, nhiệm vụ Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, là cầu nối chuyển tải và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương; đảm bảo cho các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc
Trang 27sống Việc thực hiện các nhiệm vụ trên được thể hiện thông qua hoạt động quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền của cấp xã (quản lý nhà nước, quản lý của tổ chức, cộng đồng và người dân) nhằm huy động tối đa các nguồn lực thực hiện mục tiêu phát triển kính tế - xã hội, phát triển đất nước [45] Hoạt động của UBND cấp
xã có ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, củng cố sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội, đảm bảo dân chủ công bằng và nâng cao đời sống nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ: “Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [24, tr.371]
Ủy ban nhân dân cấp xã có một số chức năng, nhiệm vụ như sau: (1) quản lý,
tổ chức mọi mặt hoạt động đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội ở cơ sở; giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong địa giới hành chính cấp xã trên cơ sở hài hòa các lợi ích nhà nước với nhân dân và giữa nhân dân với nhau; chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi hàng ngày của nhân dân địa phương và giải quyết các nhu cầu phát sinh
từ cơ sở (2) Tuyên truyền, thực thi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bằng phương pháp giáo dục thuyết phục và mệnh lệnh hành chính; tiếp tiếp thu, lắng nghe các ý kiến, đề xuất, kiến nghị của nhân dân, kịp thời phản ánh nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu đó lên các cơ quan cấp trên, đồng thời đề xuất những giải pháp để giải quyết vướng mắc của nhân dân (3) Là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân: Cán bộ đại diện cho chính quyền xã là người gắn bó với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương, các mối quan hệ trong cộng đồng dân
cư thường được điều chỉnh bằng quy định của pháp luật, các thiết chế, quy định đều
do cộng đồng lập ra, gắn bó chặt chẽ, đan xen với nhau Cán bộ thực hiện các nội trên thể hiện có sự gắn kết rất chặt chẽ giữa Đảng, nhà nước và nhân dân
* Các chức năng, nhiệm vụ có liên quan đến quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ của Ủy ban nhân dân cấp xã
Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc thực thi pháp luật là lấy giáo dục, thuyết phục là chính, trong đó việc thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ
Trang 28là loại án thi hành ngoài tù, do đó đòi hỏi phải có sự quản lý, giám sát, giáo dục một cách nghiêm khắc đảm bảo cho bản án được thực thi theo các nguyên tắc pháp luật XHCN Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp hành chính nhà nước cuối cùng có đầy đủ các thiết chế quản lý nhà nước, nhằm đưa mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người dân Vì vậy, việc giao người thi hành án treo và án cải tạo không giam giữ cho UBND cấp xã quản lý giáo dục nó vừa đảm bảo được các yêu cầu về quản lý nhà nước, thực thi quyền tư pháp và xã hội hóa trong công tác thi hành án Tại Luật thi hành án hình sự năm 2010, nêu rõ:
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân và án treo Công an cấp xã tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này [42, Điều 18]
Ủy ban nhân dân cấp xã có một số vai trò, nhiệm vụ trong công tác thi hành
án treo và án cải tạo không giam giữ như sau:
Một là: Tổ chức tuyên tuyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của nhà nước về công tác thi hành án hình sự nói chung và công tác thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ nói riêng, nhằm nâng cao nhận thức tạo sự chuyển biến trong hành động cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân, đặc biệt là gia đình và bản thân của người bị kết án để họ thực hiện nghiêm túc việc thi hành
án Đồng thời lồng ghép công tác vận động quần chúng tích cực tham gia quản lý, giáo dục người chấp hành án hình sự tại xã, phường, thị trấn, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự ở địa phương
Hai là: Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với
người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng do Bộ luật hình sự quy định, với mức hình phạt từ sáu tháng đến ba đối với những người có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi xã
hội Sau khi Toà án ra quyết định thi hành bản án tuyên phạt cải tạo không giam giữ
Trang 29và giao cho UBND cấp xã giám sát, giáo dục người bị kết án, thì UBND cấp xã thực hiện các biện pháp cần thiết bảo đảm hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không
giam giữ Trong trường hợp người bị kết án đang phải chấp hành hình phạt chuyển đi
nơi khác, thì UBND cấp xã có trách nhiệm phải thông báo ngay cho Toà án đã ra quyết định thi hành án kèm theo hồ sơ của người đó để Toà án làm thủ tục cần thiết
giao cho cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục
Ba là: Tổ chức quản lý, giáo dục, giám sát thời gian thử thách của người phải
thi hành án treo, tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương ngay trong môi trường xã hội bình thường ở địa phương nơi họ đang công tác, học tập, cư trú theo Nghị định số 60, 61/2000/NĐ-CP/2000 của Chính phủ
1.2.2 Về bản chất pháp lý của việc quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tại không giam giữ
Với quan điểm của đa số nhà khoa học hiện nay, trong đó tiêu biểu GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng: THAHS là một lĩnh vực hành chính - tư pháp độc lập, do ngành luật THAHS điều chỉnh Vì hoạt động THAHS có quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự nhưng thuộc phạm trù chấp hành do pháp luật hành chính điều chỉnh, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện Nội dung THAHS bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội và thực hiện chế độ chính sách đối với người bị kết
án Hoạt động THAHS nói chung là đưa bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật giao cho các cơ quan, tổ chức thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm mục đích quản lý, giáo dục, cải tạo người phải thi hành án
có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc XHCN nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới Thông qua hoạt động tổ chức quản lý, giáo dục người bị kết án để tăng cường
ý thức tôn trọng pháp luật và pháp chế XHCN, tạo tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Quá trình quản lý các đối tượng này đòi hỏi cơ quan quản lý phải tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ như: hình sự, hành chính, kinh tế
Trang 30Đối với các loại đối tượng bị kết án khác nhau thì phải chấp hành các loại hình phạt khác nhau, nhằm mục đích đấu tranh có hiệu quả với những hành vi vi phạm pháp luật của họ Trên cơ sở chính sách hình sự của Đảng, các quy định của pháp luật về THAHS, các cơ quan chức năng phải kịp thời giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, sớm hoàn lương để trở thành người có ích cho xã hội Người bị kết án hình sự (người phạm tội) có hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến một khách thể cụ thể (quan hệ xã hội) mà pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ làm tổn hại đến lợi ích nhà nước, quyền, tự do, lợi ích của công dân , đe dọa sự an toàn, ổn định của xã hội thì tùy theo mức độ phạm tội mà họ phải thi hành án bằng các hình thức khác nhau như cách ly khỏi xã hội hoặc đưa về nơi cư trú, cơ quan, tổ chức nơi làm việc học tập công tác để giám sát, giáo dục và cải tạo như hình phạt tù cho hưởng án treo, phạt cải tạo không giam giữ
1.2.3 Ý nghĩa của quy định vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng
và Nhà nước ta, nhằm mục đích cảm hóa tư tưởng , giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng sống, kỹ năng lao động giúp người phải thi hành án trở th ành một công dân tốt cho xã hội, đồng thời thể hiện sự răn đe , ngăn ngừa chung [7] Sau các hoạt động tố tụng hình sự thì thi hành án là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm đưa quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, nếu mục đích thi hành án đạt được thì công
lý được bảo vệ và thực thi, công bằng xã hội được đảm bảo còn nếu không đạt được thì toàn bộ hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng trở nên vô nghĩa, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường Thi hành án treo và
án cải tạo không giam giữ là loại án mà người thi hành án không phải thi hành ở trại giam mà được quản lý, giáo dục ngoài cộng đồng, do vậy để hoạt động thi hành án
có hiệu quả thì không thể thiếu một cơ quan hoặc tổ chức quản lý đó là vai trò của UBND cấp xã vì đây là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, trực tiếp, gần dân nhất
Trang 31Việc giao cho UBND cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người thi hành án treo và án cải tạo không giam giữ là một tất yếu khách quan, vì ở nước ta sự hình thành các cấp quản lý nhà nước rất sớm trong lịch sử, từ các thôn, tổ tự quản, làng,
ấp ở thời phong kiến đến thời Pháp thuộc là một đơn vị hành chính cấp cơ sở, các hoạt động quản lý nhà chính đều diễn ra ở đây và đặc biệt là cấp này có vai trò rất lớn trong việc quản lý, giáo dục và răn đe các thành viên thông qua người đứng đầu như già làng, trưởng bản Hiện nhà nước ta quản lý hành chính theo 4 cấp, trong đó cấp xã, phường, thị trấn là cấp cuối cùng việc quản lý nhà nước nên việc giao người thi hành án treo và án cải tạo không giam giữ cho UBND cấp xã quản
lý, giáo dục là hợp lý vì nó vừa đảm bảo tính kế thừa của lịch sử vừa đảm bảo nguyên tắc bắt buộc quản chế hành chính và nguyên tắc giáo dục thuyết phục trong công tác thi hành án
Ủy ban nhân dân cấp xã là chủ thể quản lý, giám sát và giáo dục người thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ có hiệu quả nhất trên thực tế vì đây là cấp quản lý hành chính trực tiếp đối với nhân dân, có đầy đủ các thiết chế theo quy định của pháp luật, có điều kiện tốt nhất trong quản lý, giáo dục các người thi hành án nhanh chóng giúp họ tái hòa nhập cộng đồng Người bị kết án được giám sát tại gia đình, nơi cư trú của mình có điều kiện tốt nhất để tự học tập, lao động
và tham gia các hoạt động khác mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập cho gia đình, đồng thời giảm được các chi phí tốn kém của Nhà nước so với việc cải tạo, giáo dục tội phạm bằng cách tập trung ở các nhà tù nhưng vẫn đảm bảo được quản lý giáo dục một cách có hiệu quả đối với những người bị thi hành án và nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác đấu tranh phòng ngừa các hành vi
vi phạm pháp luật Hiện nay, chúng ta đang thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, cụ thể:
"Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm" [20, tr 3] nên vai trò và nhiệm vụ của UBND cấp xã trong công tác thi hành án càng quan trọng và yêu cầu đòi hỏi cao để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn và hội nhập Quốc tế
Trang 321.3 Các cơ quan, tổ chức của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tham
gia quản lý, giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
án treo cư trú trên địa bàn xã” Công an xã được bố trí tại các xã, gọi là Ban công an
xã do một trưởng công an, phó trưởng công an xã và các công an viên được bố trí theo thôn, xóm, bản, buôn, ấp Trước đây việc quản lý giám sát người thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ khi chưa có Luật THAHS năm 2010 ra đời thì ở nhiều địa phương đã rất lúng túng, chưa thống nhất trong việc phân công tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục nên có địa phương thì giao cho Tư pháp, có địa phương thì giao cho Công an xã Nguyên nhân do Nghị định số 60, 61/2000/NĐ-
CP của Chính phủ không quy định rõ bộ phận, cá nhân nào chịu trách nhiệm trong việc tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ Hiện nay, theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Luật THAHS năm 2010 đa số đã giao cho Công an cấp xã, mà cụ thể là Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý, giám sát người thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Trang 331.3.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài [47]
Mặt trận cũng như các đoàn thể chính trị- xã hội có vai trò, trách nhiệm trong việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức quản lý, giám sát, giáo dục, giúp đỡ người bị kết án và tạo điều kiện thuận lợi cho họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho
xã hội, không tái phạm Tại Luật THAHS quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong thi hành án hình sự và các cơ quan, tổ chức khác liên quan đến hoạt động thi hành án hình sự nói chung và thi hành án treo, cải tạo không giam giữ theo quy định của pháp luật" [42, Điều 6] Ngoài ra, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức ở cơ sở có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã trong việc tổ chức các cuộc họp tại cộng đồng dân cư nơi người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ
cư trú, để kiểm điểm trong trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 64,
75 Luật THAHS và bị nhắc nhở từ hai lần trở lên mà tiếp tục vi phạm nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 341.3.3 Thôn, xóm, ấp, tổ dân phố
Thôn, xóm, ấp, tổ dân phố là một cộng đồng dân cư gồm nhiều hộ gia đình cùng chung sống, gắn bó với nhau trên một địa bàn nhất định Cộng đồng dân cư này có mối quan hệ liên kết chặt chẽ trong lao động sản xuất và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần, phòng chống thiên tai, địch họa, bảo vệ khu vực lãnh thổ địa giới được xác định hoặc được quy ước Ngoài sự hình thành theo địa lý tự nhiên, thôn, xóm, ấp, khối phố còn có mối quan hệ về huyết tộc (dòng họ), về phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa và tôn giáo… [32] Thôn, xóm là đơn vị tụ cư truyền thống của nhân dân Việt Nam, có vai trò đặc biệt quan trọng trong chính quyền cấp
cơ sở, là nơi thực hiện quản lý trực tiếp đến người dân Việc quản lý thôn sẽ tạo tiền
đề cơ bản, quyết định chính quyền cơ sở mạnh hay yếu như "Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn" đã khẳng định: Thôn, làng,
ấp, bản sóc (gọi chung là thôn) là địa bàn quan trọng để phát huy các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư trên cơ sở quan hệ truyền thống gắn bó trong đời sống vật chất và văn hóa Khu phố hoặc tổ dân phố (tổ chức dưới phường) cũng có điều kiện và khả năng thực hiện một số hoạt động tự quản như giúp đỡ nhau sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa nơi khu dân cư Là nơi cộng đồng dân cư bền vững, liên kết chặt chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa
- xã hội, họ tộc và huyết thống Ở nước ta, thôn được hình thành cách đây hàng nghìn năm Trong thời kỳ phong kiến và Pháp thuộc, nhà nước ta luôn lấy thôn làm đơn vị hành chính cấp cơ sở
Hiện nay, thôn, xóm, tổ dân phố không phải là một cấp chính quyền nhưng đây là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư chịu sự quản lý của cấp hành chính xã, phường, thị trấn Trưởng thôn, trưởng bản là người đại diện cho nhân dân của thôn
và địa diện cho chính quyền xã đứng ra tổ chức quản lý mọi mặt hoạt động trong thôn mình Thường là trưởng thôn hoặc công an viên là người được giao quản lý giáo dục người thi hành án còn thôn, xóm, khối phố, cộng đồng dân cư có trách nhiệm động viên, thăm hỏi và giúp đỡ trực tiếp đối với người thi hành án trong quá
Trang 35trình cải tạo và tổ chức kiểm điểm, giáo dục khi bị án có khuyết điểm vi phạm theo quy định của pháp luật
1.4 Những yếu tố tác động đến vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
1.4.1 Việc tổ chức quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước được thể hiện là hệ thống các thiết chế, quy định pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích chung của nhà nước và toàn xã hội Việc tổ chức quyền lực nhà nước ta được dựa trên quan điểm của Đảng là xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân trong đó có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan quyền lực nhà nước Thực hiện quyền lực nhà nước nó tác động đến quá trình phát triển của xã hội được thể hiện thông qua việc đề ra chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển của đất nước Do vậy, việc tổ chức quyền lực nhà nước nó sẽ tác động đến vai trò của UBND cấp xã đối với người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ đó là
nguyên tắc, quan điểm, cách phức và phương pháp thi hành án, còn nội dung thi
hành án được thể hiện ở các quy định của Luật, nghị định và các thông tư hướng dẫn Ngoài ra các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính các cấp và Điều lệ, chương trình hành động của các tổ chức chính trị - xã hội nói cũng tác động đến vai trò của UBND xã, phường, thị trấn quản lý, giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
1.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
Kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất lớn trong việc thi hành án nói chung và thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ nói riêng Trước hết các khoản tài chính để mua sắm đầy đủ cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết để phục vụ cho công tác thi hành án; dùng để bố trả lương, phụ cấp cho các cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách và trợ cấp cho những cán bộ ở UBND cấp xã trực tiếp quan lý, giáo dục người thi hành án; hỗ trợ vốn kinh doanh và xây dựng các trung tâm đào tạo, giới thiệu việc làm cho những người đang trong quá trình chấp hành án tại các
xã, phường, thị trấn Mặt khác, do điều kiện kinh tế mà nhà nước có thể quy định
Trang 36mở rộng hay thu hẹp các điều kiện cho hưởng án treo và khung hình phạt cho án cải tạo không giam giữ để tăng số lượng giáo dục, quản lý ở ngoài xã hội nhằm giảm bớt gánh nặng về kinh phí cho nhà nước Ngoài yếu tố về kinh tế thì văn hóa - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý, giám sát người thi hành án hình sự
mà ở đây là cách thức, phương pháp hay quan điểm giáo dục người bị kết án, sự quan tâm giúp đỡ của gia đình và xã hội; không kỳ thị, không có tâm lý nặng nề với người phải thi hành án thì dẫn đến hiệu lực, hiệu quả thi hành sẽ cao hay ngược lại
1.4.3 Năng lực của cán bộ ở Ủy ban nhân dân cấp xã
Đội ngũ cán bộ cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước vì họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức cho nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Thực tế đã chứng minh, đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Đối với việc quản lý, giám sát người thi hàn án treo và án cải tạo không giam giữ thì năng lực của đội ngũ cán bộ công an xã, của các cán bộ chuyên môn cấp xã, tổ dân phố và người được phân công giám sát ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý, giám sát người thi hành án, mà cụ thể ở đây là uy tín trong cộng đồng dân cư, công tác tuyên truyền, vận động người thi hành án thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho người phải thi hành án sớm tái hòa nhập cộng đồng
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ là một bộ phận của THAHS,
do cơ quan không chuyên trách, tổ chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế, đạt hiệu quả xã hội cao, bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ là hoạt động hành chính - tư pháp nên có nhiều chủ thể cùng tham gia, có trình tự, thủ tục tương đối phức tạp, mỗi chủ thể có quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, song quá trình thi hành án đều có sự kết hợp chặt chẽ với nhau để quản
lý, giáo dục, khuyến khích, tạo điều kiện để người chấp hành án tự lao động, học tập, cải tạo trở thành người lương thiện và nhanh chóng tái hòa nhập xã hội Ủy ban nhân dân cấp xã là chủ thể đặc biệt trong việc quản lý, giám sát người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ, những năm qua vai trò của chủ thể này trong công tác thi hành án tuy đã được phát huy nhưng hiệu quả nhưng vẫn chưa cao, do chưa có các quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế quản lý, giám sát đối với người thi hành án chưa cụ thể; Nghị định 60, 61/2000/NĐ-CP về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ sau hơn 17 năm thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế Năm
2010, Quốc hội đã ban hành Luật THAHS, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng, góp phần tăng cường pháp chế, đáp ứng yêu cầu
về công tác thi hành án trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên bản thân tác giả muốn làm rõ hơn vai trò của UBND cấp xã đối với người thi hành án treo, án cải, tạo không giam giữ trên phương diện lý luận để có cơ sở đề ra các giải pháp thực hiện việc thi hành án có hiệu quả hơn trong thời gian tới Đó là toàn bộ nội dung của Chương 1 về một số vấn đề thi hành án treo, án cải tạo không giam giữ và vai trò của UBND xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án
Trang 38Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về vai trò của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
2.1.1 Quy định về vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong việc quản lý, giáo dục người thi hành án treo
Tại Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:
Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người
bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó [38, Điều 60, Khoản 2] Nghị định số 61/2000/NĐ-CP quy định về thi hành án treo, tại điều 1,2,3 đã quy định:
Việc thi hành án treo nhằm tạo điều kiện cho người được hưởng
án treo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo làm việc, công tác, học tập hoặc cư trú (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục) và gia đình người đó [14]
Luật thi hành án hình sự năm 2010, có hiệu lực ngày 01/7/2011 nêu rõ:
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án treo và Công an cấp xã tham mưu, giúp
Trang 39Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này Khác với các quy định trước đây việc quản lý, giáo dục đối với người được hưởng án treo là chỉ do hai cơ quan chịu trách nhiệm đó là UBND cấp xã và đơn vị quân đội nơi người phải thi hành án làm việc [42, Điều 18, 63]
Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 tại Điều 5 quy định giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách:
(1) Khi cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo, Tòa án phải ghi rõ trong bản án việc giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục (2) Khi giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, Tòa án phải ghi rõ tên Ủy ban nhân dân cấp xã [51, Điều 5]
Bộ Luật hình sự năm 2015 ghi rõ:
Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó [44, Điều 65, Khoản 2]
2.1.2 Quy định về vai trò Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với người thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Tại Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:
Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó [38, Điều 31, Khoản 2]
Trang 40Nghị định chuyên đề số 60/NĐ-CP ngày 31/10/2000, Quy định việc thi hành phạt cải tạo không giam giữ:
Việc giáo dục quản lý đối với người bị phạt án cải tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho người bị phạt cải tạo không giam giữ (sau đây gọi là người bị kết án) lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ
sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú [13, Điều 1-3]
Luật thi hành án hình sự năm 2010, tại điều 18, 74 quy định:
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người chấp hành án phạt cai tạo không giam giữ [42]
Bộ Luật Hình sự 2015 quy định:
Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc UBND cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó [44, Điều 36, Khoản 2]
2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục và nội dung quản lý, giám sát người thi hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Thi hành án treo, cải tạo không giam giữ là qúa trình được xác định bởi ngay sau khi Tòa án xét xử quyết định thi hành án đến khi kết thúc việc thi hành án Với
đề tài này chỉ xin nêu các nội dung có liên quan đến vai trò của UBND cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án, cụ thể như sau:
* Các bước quản lý giáo dục người thi hành án treo và án phạt cải tạo không giam giữ
Bước 1: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi