Tính cấp thiết của đề tài Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự, họ là những người trực ti
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU SƠN
NGƯờI Có THẩM QUYềN TIếN HàNH Tố TụNG CủA
VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỮU SƠN
NGƯờI Có THẩM QUYềN TIếN HàNH Tố TụNG CủA
VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hữu Sơn
Trang 4QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌ NH SỰ 9 1.1 Khái niệm, đă ̣c điểm, các nguyên tắc hoạt động của người có
thẩm quyền tiến hành tố tu ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân 9
1.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân 9 1.1.2 Vai trò của người có thẩm quyền tiế n hành tố tu ̣ng thuô ̣c Viê ̣n
kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hình sự 12 1.1.3 Các nguyên tắc hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hình sự 18
1.2 Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân 23
1.2.1 Một số vấn đề chung về vị trí , quyền hạn, trách nhiệm của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân 23 1.2.2 Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân 25
1.3 Lươ ̣c sử quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về người tiến hành tố tu ̣ng
của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hình sự 30
Trang 51.3.1 Giai đoa ̣n từ 1945 đến 1960 30 1.3.2 Giai đoa ̣n từ 1960 đến 1988 33 1.3.3 Giai đoa ̣n từ 1988 đến 2003 35
1.4 Người tiến hành tố tu ̣ng thuô ̣c Viê ̣n kiểm sát trong tố tu ̣ng
hình sự một số nước trên thế giới 36
1.4.1 Trong tố tu ̣ng hình sự Liên bang Nga 37 1.4.2 Trong tố tu ̣ng hình sự Trung Quốc 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH
TỐ TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 42 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vi ̣ trí , chức năng,
nhiê ̣m vu ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân 42 2.2 Quy đi ̣nh của pháp l uâ ̣t về người tiến hành tố tu ̣ng của Viê ̣n
kiểm sát trong tố tu ̣ng hình sự 46
2.2.1 Nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của Viê ̣n trưởng và Phó Viê ̣n trưởng Viê ̣n
kiểm sát nhân dân 46 2.2.2 Nhiê ̣m vu ̣, quyền ha ̣n của Kiểm sát viên 54
Chương 3: THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 73
3.1 Thực tiễn hoạt động tố tụng của những người có thẩm quyền
tiến hành tố tu ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng
hình sự tại tỉnh Phú Thọ 73
3.1.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ 73 3.1.2 Kết quả hoạt động của người tiến hành tố tu ̣ng của Viê ̣n kiểm sát
nhân dân tỉnh Phú Tho ̣ 76 3.1.3 Những ha ̣n chế, tồn ta ̣i và nguyên nhân 82
Trang 63.2 Quan điểm của Đảng , Nhà nước và của ngành Kiểm sát về
xây dựng đội ngũ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân 92
3.2.1 Sự cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện các quy định về người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân 92 3.2.2 Những điểm mới của BLTTHS 2015 về người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân 94
3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân 101
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật 101 3.3.2 Mô ̣t số giải pháp về nâng cao chất lượng đô ̣i ngũ Kiểm sát viên
Viê ̣n kiểm sát nhân dân 106
KẾT LUẬN 117 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự TTHS: Tố tụng hình sự
CQĐT: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm HĐND: Hội đồng nhân dân HĐXX: Hội đồng xét xử TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
XXST: Xét xử sơ thẩm
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động điều tra, truy tố trong 5
Bảng 3.2: Kết quả kiểm sát xét xử 5 năm (2011-2015) 80
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân
có vai trò quan trọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự, họ là những người trực tiếp tiến hành chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS của Viện kiểm sát nhân dân Để thực hiện các chức này, luật TTHS qui định quyền hạn, trách nhiệm cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, bao gồm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên Luật tố tụng hình sự, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và những văn bản pháp luật có liên quan đã hình thành hệ thống pháp luật về vai trò, chức năng, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ giữa họ với cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án Những qui định này của pháp luật là cơ sở pháp lý để người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình góp phần xẻ lý tội phạm khách quan, công bằng, đúng người đúng tội, bảo đảm công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong TTHS
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, còn bộ
lộ những hạn chế khi họ thực hiện quyền hạn, trách nhiệm đối với việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân Hạn chế đó được biểu hiện ở những khía cạnh sau: i) Còn để lọt tội phạm, làm oan người vô tội; ii) Vi phạm trong quá trình khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án chưa được phát hiện kịp thời, uốn nắn, xử lý đã ảnh hưởng tới tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm quyền
Trang 102
con người, quyền công dân trong hoạt động TTHS; iii) Việc Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra lại nhiều lần ảnh hưởng tới thời hạn giải quyết vụ án, cũng như dẫn đến những vi phạm khác trong quá trình tố tụng; iv) Việc áp dụng hoặc phê chuẩn áp dụng biện pháp ngăn chặn, nhất các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam còn có vi phạm về căn
cứ áp dụng, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn áp dụng nên gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, tài sản của người bị cáo buộc phạm tội, làm mất uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với công lý và pháp luật
Hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân chủ quan thuộc về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân Có thể kể đến những nguyên nhân chủ yếu sau: Pháp luật còn chưa hoàn hoàn thiện, chưa phù hợp với thực tế giải quyết vụ án; Qui định chưa được hướng dẫn, giải thích cụ thể, qui định của pháp luật còn trùng lắp, mâu thuẫn nên khó áp dụng; Quy định của pháp luật có liên quan đến địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân chưa đầy đủ; Do nhận thức, trình độ, năng lực của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân chưa đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra
Trước yêu cầu thực hiện Nghị quyết 49 về chiến lược cải cách tư pháp, triển khai thi hành Hiến pháp 2013 đòi hỏi phải nâng cao năng lực, phẩm chất của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , cũng như Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 đã khẳng đi ̣nh:
“Viê ̣n kiểm sát nhân dân thự c hành quyền công tố và kiểm sát hoa ̣t đô ̣ng tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” [27, Điều 3]
Trang 113
Trong điều kiê ̣n nước ta đang tiến hành chiến lược cải cách tư pháp trong giai đoa ̣n mới Trong đó, các Nghị quyết của Đảng đã nhấn ma ̣nh công cuô ̣c cải cách hê ̣ thống các cơ quan tư pháp , nhằm từng bước đổi mới cả về
mă ̣t tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng Bắt đầu từ Nghi ̣ quyết 08/2002/NQ-TW ngày 02 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Trong đó chỉ rõ:
Nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo chức năng quy định trong Hiến pháp, tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Việc điều chỉnh lại chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là một nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách tư pháp [6]
Tiếp đến là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị
về hoàn thiện pháp luật và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, lịch sử phát triển nền
tư pháp của nước ta đã có bước chuyển biến quan trọng Có thể khẳng định rằng, những nhiệm vụ do Nghị quyết số 08 đề ra có ý nghĩa rất quan trọng cho việc nghiên cứu, tiếp tục triển khai Nghị quyết số 49 Nghị quyết số 49 chỉ rõ:
Trước mắt Viện kiểm sát nhân dân vẫn giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp Viện kiểm sát nhân dân tổ chức cho phù hợp với hệ thống
tổ chức của Tòa án ; tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [8]
Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trên, trong thời gian qua ngành kiểm sát đã không ngừng nâng cao chất lượng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đặc biệt là việc giải quyết các vụ án hình sự Kết quả cho thấy, ngành Kiểm sát nhân dân đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các các hoạt động tư pháp, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời kỳ mới
Trang 124
Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong Tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ
sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p cao ho ̣c luâ ̣t của
mình nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành trong Viện kiểm sát nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Viê ̣c nghiên cứu về vấn đề người tiến hành tố tu ̣ng trong tố tu ̣ng hình sự nói chung ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay cũng đã có những công trình ngh iên cứu đầy đủ và tương đối cu ̣ thể, có thể kể đến như:
Đề tài nghiên cứu "Cơ quan điều tra, Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên" của tác giả Đỗ Ngọc Quang, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2000;
Luận án tiến sĩ Luật học của Đào Hữu Dân: "Mối quan hệ giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự", Học viện Cảnh sát nhân dân, 2006;
Luâ ̣n án tiến sĩ Luâ ̣t ho ̣c của Nguyễn Tiến Sơn : “Mối quan hê ̣ giữa cơ quan điều tra và Viê ̣n kiểm sát tr ong tố tụng hình sự Viê ̣t Nam ”, Học viện
Khoa ho ̣c xã hô ̣i, 2012
Nghiên cứu trực tiếp về vấn đề người có thẩm quyền tiến hành tố tu ̣ng của VKSND trong tố tu ̣ng hình sự cũng đã có mô ̣t số công trình đề câ ̣p đến như:
Năm 2009, tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Trần Mạnh
Đông đã công bố luận văn thạc sĩ với đề tài: "Tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng hình sự - Một yêu cầu tất yếu của tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam";
Đề tài nghiên cứu khoa học tại Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ
kiểm sát về: "Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự" năm 2003;
Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2008 của Nguyễn Trọng Hải về đề tài
Trang 135
"Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra - những vấn
đề lý luận và thực tiễn"
Ngoài ra, ở khía cạnh các bài viết nghiên cứu về vấn đề có thể kể đến
các công trình như : GS TSKH Lê Cảm, các mô hình lý luận về tổ chức hệ thống Viện công tố trong chiến lược cải cách tư pháp, kiểm sát, 2007; Những
vấn đề lý luận cơ bản về chế định nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, kiểm
sát, 2004; PGS TS Trịnh Quốc Toản, Nguyên tắc tranh tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số kiến nghị, Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN, Kinh tế-Luật, Số 4/ 2003; Trần Văn Độ, “Một số vấn đề về hoạt động tư pháp
và kiểm sát hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay”, kỷ yếu đề tài cấp bộ:
Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội, 2003;
Như vâ ̣y có thể nói , viê ̣c nghiên cứu về vấn đề những người có thẩm quyền tiến hành tố tu ̣ng trong Viê ̣n kiểm sát nhân dân theo Luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự chưa có mô ̣t công trình nào nghiên cứu ở cấp đô ̣ mô ̣t luâ ̣n văn tha ̣c sĩ, thêm vào đó trong bối cảnh BLTTHS năm 2015 mới được ban hành đang trong thời gian rà soát các quy định và chưa có hiệu lực thi hành trong thời điểm hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào về vấn đề người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo BLTTHS để từ đó rút ra những điểm hạn chế đã khắc phục được của BLTTHS 2003 để bổ sung sửa đổi hoàn thiện các quy định trước khi BLTTHS 2015 chính thức có hiệu lực thi hành Ngoài ra trong luận văn này , tác giả còn tìm hiểu vấn đề nghiên cứu dưới khía cạnh nghiên cứu về thực tiễn tại một địa phương cụ thể Do đó cho thấy viê ̣c nghiên cứu vấn đề càng có ý nghĩa cấp thiết
3 Mục đích, nhiê ̣m vu ̣, đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu
3.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích tiếp tục làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luâ ̣t tố
Trang 14- Nghiên cứu thực trạng về đội ngũ và hoạt động của Kiểm sát viên ở Viê ̣t Nam nói chung và tỉnh Phú Tho ̣ nói riêng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, tìm hiểu nguyên nhân tác động tiêu cực đến hoạt động đúng đắn của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân
- Phân tích những quy định mới của BLTTHS 2015 về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân Từ đó rút ra những điểm hạn chế trong quy định của BLTTHS 2003 về quy định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của VKSND đã được sửa đổi bổ sung trong BLTTHS 2015, những điểm hạn chế vướng mắc nào chưa được sửa đổi để có đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta, đặc biệt là việc cơ cấu, tổ chức lại cơ quan Viện kiểm sát nhân dân theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị mà trước hết là nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Kiểm sát viên trong giải quyết các vụ án hình sự
Trang 157
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về người có thẩm quyền tiến hành tố tu ̣ng của VKSND trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước như BLTTHS , Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân, các Nghị quyết, Pháp lệnh và Thông tư liên tịch Ngoài ra luận văn còn nghiên cứu thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng của người tiến hành tố tu ̣ng của VKSND
Phạm vi nghiên cứu là các quy định được thể hiện trong BLTTHS năm
2003, có so sánh , đối chiếu với các quy đi ̣nh trong các BLTTHS t rước đó và những quy định mới được sửa đổi bổ sung trong BLTTHS 2015
Về pha ̣m vi không gian nghiên cứu đề tài nghiên cứu thực tra ̣ng trên
đi ̣a bàn tỉnh Phú Tho ̣ thời gian nghiên cứu 5 năm từ 2011 – 2015
4 Phương pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh , quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý khác
nhau, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự và tố tụng hình sự
Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận cụ thể để làm sáng tỏ
về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê; nghiên cứu hồ sơ vụ án , báo cáo tổng kết , báo cáo chuyên đề Đề tài cũng đưa ra các đánh giá , bình luâ ̣n về các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t cũng như thực tiễn áp du ̣ng
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả luận văn góp phần xây dựng một cái nhìn toàn
diện về địa vị pháp lý và hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong VKSND đối với các vụ án hình sự, đồng thời thấy được trách
Trang 168
nhiệm cũng như vai trò của VKSND trong công cuộc đấu tranh phòng chống
tội phạm hiện nay
Về thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu,
học tập trong các cơ sở đào tạo, trong hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên
và lãnh đạo VKSND Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tổ chức, hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng các vụ án hình sự trong cơ quan VKSND
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n , danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo , luâ ̣n văn được kết cấu thành 03 chương
Chương 1: Một số đề về lý luận về người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự Viê ̣t Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng trong Viện kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hình sự trên đi ̣a bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Thực tiễn và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân
Trang 171.1.1 Khái niệm người tiến hành tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân
Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, ngoài các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu mà TTHS đặt ra Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong nhóm: Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tu ̣ng là mô ̣t trong những chủ thể thực hiê ̣n chức năng của tố tu ̣ng hình sự Theo các nhà nghiên cứu thì c hức năng TTHS là những định hướng cơ bản phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể khác nhau, có những mục đích khác nhau, có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự TTHS là một lĩnh vực hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, để duy trì trật tự pháp luật chung, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của người dân cũng như của nhà nước Mục tiêu chung của TTHS là giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, khách quan, công bằng Để đạt tới mục tiêu chung đó, TTHS được phân chia theo các phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu mang tính hệ thống, thống nhất nhằm thực hiện các chức năng chung của TTHS Mỗi chức năng cơ bản của TTHS được giao cho một hoặc một số chủ thể thực hiện
Trang 1810
Theo quy định của (BLTTHS 2003) Bộ luật tố tụng hình sự thì người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án Việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng là rất quan trọng,
vì nó liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong vụ án hình sự Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp do xác định không đúng tư cách tố tụng nên dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài, phải xét xử nhiều lần, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều là các chủ thể của tố tụng hình sự, quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được quy định trong luật Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là những chủ thể đại diện cho công quyền, trực tiếp thực hiện các chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng Còn người tham gia tố tụng là những người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án hoặc có nghĩa vụ tham gia để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án thông qua việc cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu, lập luận về tội phạm và người phạm tội
Như vâ ̣y , người có thẩm quyền tiến hành tố tu ̣ng trong tố tu ̣ng hình sự được hiểu là người thực hiện chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và
xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, theo qui định của BLTTHS 2003 Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS,
Trang 1911
nên người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong cơ quan Viện kiểm sát nhân dân là những người trực tiếp thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, Theo qui định của BLTTHS 2003, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên Theo qui định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, để được bổ nhiệm là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân, cần phải đáp ứng những yêu cầu về trình độ, thâm niên, năng lực công tác và sức khỏe theo quy định của pháp luật và được người có thẩm quyền
bổ nhiệm
Những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có quyền hạn, trách nhiệm khi tiến hành TTHS để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật Tuy cùng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân nhưng mỗi loại người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có phạm vi, mức độ quyền hạn, trách nhiệm khác nhau trong hoạt động TTHS Quyền hạn, trách nhiệm của của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân được đặt trong mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau, hướng mục tiêu phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân của quá trình giải quyết vụ án
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân như sau:
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân là
Trang 2012
những người được bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền hạn, trách nhiệm khi tiến hành tố tụng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS nhằm phát hiện, xử lý kịp thời tội phạm và người phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm công
lý, quyền con người, quyền công dân, lợi ích nhà nước và trật tự pháp luật
1.1.2 Vai trò của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
Trong bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí đặc biệt Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát nhân dân quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong phạm vi luật định
Về mặt lý luận, vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật như cơ quan,
tổ chức, cá nhân… được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật làm cơ
sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn cứ để phân biệt, tạo nên sự độc lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác
Vai trò của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân, về nguyên tắc, phải thống nhất, không thể tách rời vai trò của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân nói chung Trong lĩnh vực tố tụng hình
sự, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông qua những
cá nhân đại diện thường xuyên Những cá nhân này chính là Viện trưởng, Phó Viện trưởng và những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong
Trang 21Tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội “Theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất có trách nhiệm tham gia các giai đoạn (khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án)” [36, tr.125]
Trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tố tụng hình sự; có trách nhiệm áp dụng các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo việc điều tra truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật, góp phần đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Khi thực hiện chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân mà đại diện trực tiếp là các Kiểm sát viên giữ vai trò đầu mối và là chủ thể xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi kiểm sát hoạt động xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra đến khi xét xử, thi hành án
Trang 2214
Việc xác định vai trò của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết vụ án hình sự xuất phát từ vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước, chức năng đặc thù của ngành này, vừa thực hành quyền công tố vừa kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước có
bộ máy tổ chức từ trung ương đến địa phương theo ngành dọc, do Quốc hội -
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thành lập và giao quyền Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý rộng lớn trong việc giải quyết các vụ án hình sự
1.1.2.2 Vai trò của người có thẩn quyền tiến hành tố tụng trong Viện
kiểm sát nhân dân đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự
- Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân
có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS Về mặt lý luận, vai trò của một chủ thể quan hệ pháp luật như cơ quan, tổ chức, cá nhân… được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật làm cơ sở cho sự tồn tại, tổ chức, hoạt động cũng như thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể đó; làm căn
cứ để phân biệt, tạo nên sự độc lập của chủ thể đó so với các chủ thể khác Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuần theo pháp luật trong hoạt động TTHS- là người trực tiếp tham gia quá trình THTT của các vụ án hình sự
Trong lĩnh vực TTHS, quá trình hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân không thể triển khai tác nghiệp tập thể mà phải thông qua những cá nhân đại diện thường xuyên Những cá nhân này chính là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp trong viên
Trang 2315
kiểm sát nhân dân: Viện trưởng, Phó viện trưởng và những Kiểm sát viên được phân công thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng công việc cụ thể thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân [11, tr.9]
- Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân
có mối quan hệ mật thiết, biện chứng thống nhất với những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra, Tòa án hướng tới mục đích chung của TTHS Viện kiểm sát nhân dân có vai trò rất quan trọng trong TTHS Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và đã được thể chế hóa bằng BLTTHS thì VKSND thực hiện quyền công tố trong hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án; kiểm việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan THTT, người THTT và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Vì vậy việc phối hợp với CQĐT, Tòa án rất quan trọng đòi hỏi người THTT của Viện kiểm sát nhân dân phải có mối quan hệ mật thiết, biện chứng thống nhất với những người THTT trong các cơ quan này, nhằm đảm bảo cho quá trinh THTT được diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác
- Thông qua việc thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ công lý.Viện trưởng, Phó viện trưởng và kiểm sát viên phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can bị cáo Người THTT của VKSND không được thiên vị, để tình cảm cá nhân chi phối khi làm nhiệm vụ Việc thực hiện quyền hạn của mình người THTT của VKSND đã góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ công lý
Trang 2416
- Thông qua việc thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ pháp chế Các quy định của pháp luật nêu trên cho phép Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng hình sự có trách nhiệm áp dụng các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo việc điều tra truy tố, xét xử nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật góp phần đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Trong thực hiện chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân mà đại diện là các Kiểm sát viên giữ vị trí vai trò đầu mối và là chủ thể xuyên suốt quá trình giải quyết
vụ án từ khi kiểm sát hoạt động xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT đến khi xét xử, thi hành án Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố đối với các vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó viện trưởng và Kiểm sát viên phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS và BLHS, đảm bảo tất cả các hành vi phạm phải được truy cứu TNHS, việc truy tố phải đảm bảo tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án của CQĐT, Tòa án và cơ quan THA, người THTT trong VKSNDD không chỉ tự mình phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, mà còn đảm bảo những người THTT khác cùng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật TTHS, tuân thủ pháp chế XHCN
- Thông qua việc thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ quyền con người, quyền công dân Người THTT trong Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Qua đó góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo cho
Trang 2517
công lý được thực thi trên thực tế, đem lại sự công bằng xã hội Theo quy định của BLTTHS, khi tiến hành tố tụng, Viện trưởng, Phó viện trưởng và Kiểm sát viên trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có trách nhiệm kiểm trả tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu thấy có vi phạm pháp luật hoặc không cần thiết nữa Trong tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS, ngoài việc thức hiện quyền công tố, VKSND mà đại diện là người THTT trong VKSND phải thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của CQĐT, Tòa án, Cơ quan THA để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không bị xâm phạm góp phần bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân
- Thông qua việc thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ chế độ nhà nước và trật tự pháp luật Việc xác định vai trò của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong VKSND và vai trò của VKSND trong việc giải quyết VAHS xuất phát từ vị trí của VKSND trong bộ máy nhà nước, chức năng đặc thù của ngành này, vừa thực hành quyền công tố vừa kiểm sát việc tuần thủ pháp luật trong các hoạt động TPHS VKSND là một hệ thống cơ quan nhà nước có bộ máy tổ chức từ trung ương đến địa phương theo ngành dọc, do Quốc hội- cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thành lập và giao quyền Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKSND có phạm vi hoạt động và quyền năng pháp lý rộng lớn trong việc giải quyết các vụ án hình sự Chính vì vậy thông qua việc thực hiện quyền hạn trách nhiệm của mình Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân có vai trò bảo vệ chế độ nhà nước và trật tự pháp luật
Trang 26án hình sự cần phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc đó, trong đó cần chú trọng các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan nhà nước và công dân được ghi nhận tại Điều 12 Hiến pháp năm 2013 Nguyên tắc này là nguyên tắc bao trùm, được thể hiện trong tất cả các giai đoạn giải quyết một vụ án hình sự từ khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố cho đến giai đoạn cuối cùng là kiểm sát xét xử và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho cuộc đấu tranh chống tội phạm được kiên quyết, triệt để, kịp thời, bảo đảm giáo dục người thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời ngăn chặn việc làm oan sai cho người vô tội và ngăn ngừa việc hạn chế các quyền tự do dân chủ của công dân một cách trái pháp luật
Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm
Trang 2719
tất cả hành vi tội phạm phải được truy cứu trách nhiệm hình sự; việc truy tố phải bảo đảm tính khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án của Cơ quan điều tra, Tòa án và cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân không chỉ tự mình phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, mà còn đảm bảo để những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác cũng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tuân thủ nghiêm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc thứ hai, tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, khi tiến hành tố tụng, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa
Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên chỉ được áp biện pháp ngăn chặn hoặc phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ pháp luật Khi kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam, nếu thấy lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra không có căn cứ pháp luật thì Viện kiểm sát nhân dân kiên quyết không phê chuẩn hoặc ra quyết định hủy bỏ, đồng thời phải trả tự
do ngay cho người bị bắt, tạm giữ, tạm giam
Trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, ngoài chắc năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát nhân dân mà đại diện là Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên phải thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, Tòa án để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng và của cá
Trang 2820
nhân khác không bị xâm phạm Kiểm sát việc giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện; bảo đảm mọi quyền lợi hợp pháp của họ được tôn trọng theo quy định của pháp luật
Để áp dụng nguyên tắc này, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân trước hết phải tôn trọng và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự
và nhân phẩm của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín của công dân Việc hạn chế các quyền và tự do nói trên chỉ được tiến hành trên cơ sở và trong sự phù hợp với các quy định của pháp luật
Nguyên tắc này được coi trọng trong tố tụng hình sự, bởi lẽ nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, coi con người luôn là yếu tố trung tâm, là chủ thể quan trọng nhất, việc tôn trọng và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng được nhà nước giao
Nguyên tắc thứ ba, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật xác định vị trí của mọi người như nhau trong lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như trong hoạt động tố tụng hình sự, không phân biệt đối xử
Pháp luật tố tụng hình sự quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phải bảo đảm rằng: Bất cứ người nào thực hiện hành vi phạm tội đều bị xử lý theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Pháp luật không quy định cho từng công dân cụ thể mà quy định chung và được áp dụng cho tất cả mọi người Tài sản và địa vị xã hội không mang lại
Trang 2921
đặc quyền trước tòa án và trước pháp luật Do vậy, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân phải "công minh, chính trực, khách quan, thận trọng" để việc giải quyết vụ án và hậu quả pháp lý của những người thực hiện hành vi trái pháp luật giống nhau phải chịu mức hình phạt như nhau
Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng hình sự còn được thể hiện cụ thể hơn như: bất kỳ người nào khi tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo thì họ đều có quyền và nghĩa vụ được đi định tại Điều 49, 50 Bộ luật Tố tụng hình sự Nếu họ tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bị hại thì họ đều có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự
Nguyên tắc thứ tư, bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân
Tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản của công dân là những giá trị xã hội cao nhất được ghi nhận trong hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Hiến pháp nước ta quy định "công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm" Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta quy định đó là nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự
Hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng và bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản của công dân Việc hạn chế quyền nói trên chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở và trong sự phù hợp của pháp luật [60, tr.22]
Khi giải quyết vụ án hình sự, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ khi tính mạng, sức khỏe của người đó bị đe dọa, danh dự, nhân phẩm, tài sản của họ bị xâm phạm
Trang 3022
Nguyên tắc thứ năm, xác định sự thật khách quan của vụ án
Theo nội dung của nguyên tắc này, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Kiểm sát viên không được thiên vị, để tình cảm cá nhân chi phối khi làm nhiệm vụ Nếu không đảm bảo tính vô tư khách quan khi giải quyết một vụ án hình sự thì Kiểm sát viên đó phải được phân công, thay đổi bằng một Kiểm sát viên khác
Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và tòa án
Nguyên tắc thứ sáu, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Để nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình
Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý
kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Có thể nói đây là một đảm bảo pháp lý hết sức quan trọng giúp cho hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành đúng pháp luật, đặc biệt là với những người bị tạm giữ, tạm giam khi mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ
dễ bị vi phạm nếu hoạt động tố tụng không được tiến hành đúng pháp luật
Trang 31Để nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, tại Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp cũng đã xác định: nơi nào để xảy ra tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam oan sai, thì Viện kiểm sát nhân dân nơi đó phải chịu trách nhiệm bồi thường Cụ thể hóa nội dung này, Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009, có hiệu lực từ 01/01/2010 cũng quy định rõ những trường hợp Viện kiểm sát nhân dân phải bồi thường khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng các vụ án hình sự ở cơ quan mình để xảy ra oan sai
1.2 Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Một số vấn đề chung về vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viê ̣n kiểm sát nhân dân
Hành chính và tư pháp là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Đặc trưng của hành chính là thừa hành, căn cứ vào pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật, mang đặc thù chỉ huy – phục tùng, ban hành những mệnh lệnh có tính điều hành, quản lý để mọi người chấp hành Tư pháp là quá trình áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật nên đòi hỏi tính độc lập, tính công bằng cao
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có hai loại thẩm quyền cơ bản là thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng Thẩm quyền quản
Trang 3224
lý hành chính do người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để tổ chức, quản lý, điều hành, phân công, kiểm tra, đôn đốc người bị quản lý như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc thụ lý, giải quyết vụ án,được thực hiện bằng phương pháp quyền uy – phục tùng Thẩm quyền tố tụng là quyền hạn của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện một cách độc lập và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.Các thẩm quyền tố tụng chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các quy định của luật tố tụng hình sự trong khi các thẩm quyền quản lý hành chính chịu sự điều chỉnh và phải tuân theo luật hành chính
Thẩm quyền tố tụng phải được độc lập với thẩm quyền quản lý hành chính, nhưng giữa hai thẩm quyền này có mối quan hệ biện chứng, tương tác lẫn nhau Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thẩm quyền quản lý hành chính có tác động rất lớn, thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện các thẩm quyền tố tụng Nếu người có chức danh quản lý phân biệt rõ ranh giới, phạm
vi giữa hai thẩm quyền này sẽ tạo điều kiện cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện thẩm quyền của mình để xử lý vụ án được khách quan, kịp thời, toàn diện và đúng đắn Nếu sử dụng thẩm quyền quản lý hành chính lấn át thẩm quyền tố tụng sẽ phát sinh tình trạng làm thay, bao biện, biến người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thành những cỗ máy chỉ biết làm theo, thụ động, không phát huy hết trách nhiệm đối với công việc, dựa dẫm Thẩm quyền tố tụng cũng tác động đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính Nếu người bị quản lý mà không chấp hành đầy đủ, đúng các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị hành chính của người có thẩm quyền quản lý hành chính, tất yếu phát sinh tình trạng vô chính phủ, trên bảo dưới không nghe, như vậy sẽ hạn chế chất lượng giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng
Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của lãnh đạo Viện
Trang 3325
kiểm sát nhân dân Sau khi được phân công thụ lý vụ án, quan hệ giữa các chức danh này với lãnh đạo của họ chỉ là mối quan hệ tố tụng chứ không còn là mối quan hệ hành chính Do đó, nếu lãnh đạo dùng quyền hành chính tác động, chi phối hoạt động tố tụng của kiểm sát viên sẽ hạn chế hoặc làm mất đi tính độc lập của những người này trong việc tìm kiếm sự thật khách quan của
vụ án hình sự
Hoạt động của ngành kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là một loại hoạt động đặc thù được quy định bởi cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được quy định theo luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.Theo quy định của BLTTHS năm 2003, các loại người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đảm bảo yêu cầu giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình theo quy định của pháp luật
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND là chức danh pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng VKSND được quy định rất cụ thể trong TTHS, trong đó phân biệt rõ chức năng quản lý hoạt động tố tụng hình sự và chức năng tiến hành tố tụng
1.2.2 Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Viê ̣n kiểm sát nhân dân
1.2.2.1 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
Là người đứng đầu VKSND, Viện trưởng VKSND có những nhiệm
vụ và quyền hạn tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố
Trang 3426
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS; quyết định phân công Phó Viện trưởng, KSV thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động TTHS của Phó Viện trưởng và KSV; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của pháp luật;quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng và KSV; quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới; quyết định thay đổi KSV; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKSND
Khi thực hiện chức năng tiến hành tố tụng, trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với
vụ án hình sự, Viện trưởng VKSND có những nhiệm vụ và quyền hạn: quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố
bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn;quyết định gia hạn điều tra, quyết định gia hạn tạm giam; yêu cầu CQĐT truy nã bị can; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; quyết định hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định chuyển vụ án; quyết định việc truy tố, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định trưng cầu giám định; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi điều tra, quyết định xử
lý vật chứng; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của VKSND
Về trách nhiệm của Viện trưởng VKSND: cũng như những người có
Trang 35Khi được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án hình sự, Phó Viện trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn giống như Viện trưởng trong việc thực hiện chức năng tiến hành tố tụng
Về trách nhiệm, ngoài trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình, Phó Viện trưởng VKSND còn phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao
Mối quan hệ giữa Viện trưởng và Phó Viện trưởng VKSND trong các hoạt động tố tụng là mối quan hệ tố tụng Nếu trong quan hệ quản lý hành chính được thực hiện theo chế độ ký thay thì trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự được thực hiện theo chế độ ủy quyền Với tư cách là người giúp Viện trưởng trong việc quản lý hoạt động tố tụng của VKSND thì trường hợp Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy quyền thực hiện quyền hạn của Viện trưởng Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng VKSND
Trang 361.2.2.3 Kiểm sát viên
Là người THTT trong VKSND, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS Khi thực hiện những chức năng này,Kiểm sát viên có các quyền hạn và trách nhiệm pháp luật quy định trong quá trình giải quyết vụ
án Như vậy, có thể hiểu Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.KSV là một chức danh
tố tụng, là người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của KSV liên quan đến hoạt động thực hành quyền công
tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự
Pháp luật TTHS quy định, Kiểm sát viên chỉ có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với
vụ án hình sự khi được phân công Vì vậy, quyền của Kiểm sát viên theo pháp luật tố tụng hình sự nước ta chỉ phát sinh khi họ được phân công
Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT; đề ra các yêu cầu điều tra; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên
Trang 3729
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; tham gia phiên tòa, đọc cáo trạng,quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra những chứng
cứ và thực hiện việc luận tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham giam tố tụng tại phiên tòa; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án, của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa và kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của VKSND theo sự phân công của Viện trưởng
Về trách nhiệm, Kiểm sát viên có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình giống như những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác Ngoài ra, Kiểm sát viên còn phải chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về các hành vi, quyết định của mình
Theo quy định của BLTTHS, Kiểm sát viên là người thực hiện chủ yếu và phần lớn các hoạt động tố tụng, nhưng chịu sự quản lý về hành chính và hoạt động nghiệp vụ trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Do vậy, Kiểm sát viên bị điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính như: Luật tổ chức VKSND, Pháp lệnh về công chức, các quy định của ngành Ngoài ra, trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Kiểm sát viên vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng thoe quy định của pháp luật TTHS gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội và gây thiệt hại thì có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và Luật bồi thường thiệt hại
Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp luôn có sự đan xen giữa thẩm quyền tố tụng và thẩm quyền quản lý hành
Trang 3830
chính trong mối quan hệ giữa các chức danh quản lý và đối tượng bị quản lý Để thực hiện được thẩm quyền tố tụng của mình, các chức danh Viện trưởng, Phó Viện trưởng phải có mối liên hệ tác động qua lại một cách chặt chẽ với KSV thông qua mối quan hệ về tổ chức.Do tính chất đặc thù của việc quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, hoạt động quản lý của các chức danh quản lý trong ngành Kiểm sát nhân dân mang tính chất quản lý hành chính – tư pháp Một người được bổ nhiệm để trở thành người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong VKSND, cần phải đáp ứng những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ, thâm niên, năng lực công tác và sức khỏe theo quy định của pháp luật và phải qua thi tuyển
1.3 Lươ ̣c sử quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về người tiến hành tố tu ̣ng của Viê ̣n kiểm sát nhân dân trong tố tu ̣ng hình sự
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1960
Ngay sau khi nước ta giành độc lập bằng cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, ngày 13/9/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 33C về việc thành lập tòa án quân sự, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của nhà nước dân chủ nhân dân, đánh dấu sự ra đời của hệ thống tòa án, đồng thời cũng là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố trong
bộ máy nhà nước ta Tại Điều V Sắc lệnh này quy định rõ chức năng công tố
được tổ chức trong Tòa án quân sự: "Đứng buộc tội là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên của ban Trinh sát" [38, tr.5] Theo sắc lệnh này thì nội dung
của quyền công tố là "đưa một người phạm tội ra xét xử tại Tòa án và thực hiện việc buộc tội trước Tòa án" [38, tr.5]
Ngày 14/02/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 21 thay thế sắc lệnh
số 33C, theo đó, Tòa án quân sự được quyền xét xử tất cả các tội xâm hại đến nền độc lập của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trừ các tội phạm do binh sỹ thực hiện thì do tòa án binh xét xử Thành phần Hội đồng xét xử của Tòa án
Trang 3931
quân sự gồm Chánh án và hai Hội thẩm là ủy viên quân sự và ủy viên chính trị đảm nhiệm Chức năng công tố do một Công cáo ủy viên quyết định truy tố một người phạm tội ra xét xử tại tòa án và thực hiện buộc tội trước tòa Người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện chức năng công tố như Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hiện nay do một Công cáo ủy viên tiến hành
Ngày 17/11/1950, sắc lệnh số 155 do Chính phủ ban hành thay thế sắc lệnh 21, theo đó thành phần hội đồng xét xử bao gồm: Chánh án chuyên trách hoặc phó chánh án; Hội thẩm chính trị chuyên môn hoặc phó hội thẩm; Hội thẩm chuyên môn chuyên trách hoặc phó hội thẩm chuyên môn phụ trách Chức năng công tố được giao cho Công tố ủy viên hoặc Phó Công tố ủy viên phụ trách việc buộc tội
Đối với tổ chức hoạt động của hệ thống công tố trong cơ quan tòa án thường được quy định như sau: Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 21/01/1946 của Chính phủ thì Ở tòa thượng thẩm có Công tố viên do Chưởng lý đứng đầu và chịu sự quả lý của Bộ trưởng Tư pháp Ở Tòa đệ nhị cấp không có cơ quan công tố mà chỉ có cán bộ làm công tác công tố đó là Biện lý, Tham lý Thẩm phán buộc tội hợp thành một bộ phận độc lập với bộ phận thẩm phán xét xử và chịu sự lãnh đạo của người đứng đầu cơ quan công tố viện là Chưởng lý Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định quyền hạn và nhiệm vụ của cán
bộ thuộc công tố viện, đó là: quyền tư pháp cánh sát, thực hiện sự buộc tội của nhà nước; thực hiện những công việc hành chính như việc quản trị của tòa án; thực hiện việc giám sát công tác điều tra của tư pháp cảnh sát và hoạt động xét xử của tòa án Các cán bộ công tố nằm trong hệ thống các cơ quan tòa án và chịu sự quản lý về tổ chức của Bộ tư pháp
Đến đầu những năm 1950, trong xã hội hình thành nhiều luồng tư tưởng về tư pháp Trước tình hình đó, yêu cầu của cuộc cách mạng là phải xây dựng được một nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng một nền tư pháp mới Ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 85/SL về cải
Trang 4032
cách tư pháp và luật tố tụng hình sự; Sắc lệnh số 103/SL ngày 05/6/1950 quy định mối liên hệ giữa Ủy ban kháng chiến hành chính với các cơ quan chuyên môn Vị trí, thẩm quyền và chức năng công tố pháp luật giao cho Biện lý có quyền xem xét hồ sơ vụ án có cần phải thâm cứu thêm nữa hay không Biện
lý chỉ giao hồ sơ sang phòng dự thẩm để thẩm cứu khi xét thấy thật cần thiết, chứ không phải mọi trường hợp Biện lý bắt buộc phải đưa sang phòng dự thẩm để thẩm cứu một số việc hình sự mặc dù xét thấy không cần thiết
Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 256-TTg quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố Theo Nghị định này thì Viện công tố được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập, tách khỏi Bộ tư pháp và chỉ trực thuộc Phủ Thủ tướng, có trách nhiệm, quyền hạn ngang Bộ
Viện công tố có nhiệm vụ:
Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theo pháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế
độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản của công dân, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi [38, tr.5]
Như vậy, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg thì việc tham gia của Viện công tố trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự được xác định rõ là khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và nhân dân Đối với vụ án hình sự, ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước toà, Viện công tố còn được giao một nhiệm vụ qua trọng là giám sát việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp (giám sát hoạt động của Toà án; hoạt động thi hành các bản án hình sự của Toà án; giám sát hoạt động giam giữ, cải tạo) Đây là cơ sở để hình thành chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân ở các giai đoạn sau này